Thứ tư, 22 Tháng 1 2014 00:00

Kinh nghiệm giải quyết đói nghèo cho Việt Nam của một số nước

Với các nước nghèo trên thế giới, chính phủ các quốc gia này đều quan tâm xây dựng và thực hiện chiến lược giảm nghèo phùhợp với điều kiện của mình. Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam cũng đã thực hiện một loạt các giải pháp tấn công nghèo đói. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các giải pháp đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết. Bởi vậy, để chuẩn bị xây dựng chiến lược tấn công đói nghèo thời gian tới, trong đó có giai đoạn 2011-2015, bên cạnh việc đánh giá hệ thống chính sách giảm nghèo hiện tại, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế là việc cần thực hiện.

1. Tạo cơ hội cho người nghèo- trường hợp của Trung Quốc và Băng la đét

1.1. Trung Quốc

Chương trình giảm nghèo của Trung Quốc được đề xướng và thực hiện qui mô lớn sau khi có chính sách cải cách và mở cửa. Từ năm 1978 đến năm 2000, chương trình này cơ bản trải qua 3 giai đoạn chính: (i) giai đoạn 1: cải cách cơ cấu đẩy mạnh công tác giảm nghèo (1978-1985), (ii) giai đoạn 2: nỗ lực giảm nghèo theo định hướng pháttriển trên qui mô rộng (1986-1993), (iii) giai đoạn 3: xử lý các vấn đề quan trọng trong công tác giảm nghèo (1994-2000).

Trong đó, giai đoạn đầu tiên Trung Quốc đã thực hiện một loạt các chính sách cải cách như cải cách hệ thống quản lý ruộng đất, nới lỏng kiểm soát giá nông sản phẩm, tập trung phát triển xí nghiệp ở cácthị trấn nhằm mở ra các hướng mới giải quyết đói nghèo ở vùng nông thôn. Những cải cách này đã đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế, đồng thời đem lại lợi ích cho người nghèo theo ba khía cạnh: nâng giá nông sản phẩm, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và định hướng theo giá trị gia tăng cao hơn,tận dụng nguồn lao động phi nông nghiệp ở nông thôn, nhờ đó tạo điều kiện ngườinghèo thoát đói nghèo, trở lên giàu có và góp phần giảm tỷ lệ nghèo ở các vùng nông thôn. Ở giai đoạn 2, bên cạnh việc xác định vùng thuộc phạm vi được hỗ trợ trực tiếp của chính phủ, chính phủ thực hiện hàng loạt các chương trình như: (i) chương trình viện trợ trực tiếp bằng việc đưa kinh phí từ chính quyền trung ương xuống các vùng được lựa chọn, (ii) chương trình “lao động đổi lấy lương thực” sử dụng lao động người nghèo để xây dựng CSHT và dịch vụ công cộng; (iii) chương trình vay vốn bao cấp - hộ gia đình nghèo được vay khoản vốn nhỏ với điều kiện ưu đãi. Các chương trình này có điểm chung đều chú trọng đến hỗ trợ thôn nghèo và hộ nghèo, đặc biệt các nhóm đặc biệt khó khăn như dân tộc thiểu số, người tàn tật và phụ nữ . Giai đoạn 3, chính phủ tập trung hướng tới việc cảithiện hơn nữa các điều kiện sản xuất nông nghiệp, cải tạo CSHT và các dịchvụ xã hội; tiếp tục và tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, xã hội dân sự và cộng đồng quốc tế trong nỗ lực XĐGN. Một loạt các chính sách cụ thể đ ược triển khai như tăng cường huy động và tổ chức mọi thành phần xã hội tham gia hỗ trợ người nghèo; đẩy mạnh hợp tác khu vực Đông và Tây trong công táchỗ trợ người nghèo; hỗ trợ người nghèo qua hình thức khuyến khích di cư; chuyển lao động từ các khu vực nghèo; kết hợp giảm nghèo với bảo vệ môi trườngsinh thái và kế hoạch hoá gia đình; thúc đẩy trao đổi quốc tế và hợp tác trong công tác hỗ trợ người nghèo.

Đặc biệt để nâng cao hiệu quả đầu tư cho giảm nghèo, Trung Quốc đã chú trọng đến phương thức giảm nghèo. Kinh nghiệm Trung Quốc là giảm nghèo theo hình thức cuốn chiếu trên cơ sở đúng đối tượng hỗ trợ. Xác định đối tượng hỗ trợ là huyện nghèo bao gồm huyện nghèo trọng điểm quốc gia, huyện nghèo trọng điểm tỉnh đã giúp cho việc phân cấp hỗ trợ thuận lợi hơn. Cụ thể, ngân sách trung ương hỗ trợ cho các huyện/thôn nghèo quốc gia. Các huyện/thôn nghèo cấp tỉnh do ngân sách tỉnh hỗ trợ.

1.2. Bănglađét

Bănglađét là một quốc gia được cộng đồng quốc tế nhắc đến với sự thành công trong cung cấp tín dụng vi mô của ngân hàng Grameen Ngân hàng Grameen do chính những người vay làm chủ thông qua việc góp cổ phần của khách hàng. Mục đích chính là để đem tín dụng đến với những người nghèo ở vùng nông thôn, chủ yếu là phụ nữ trong nỗ lực XĐGN.

Ngân hàng cung cấp những khoản vay phục vụ mục đíchsản xuất kinh doanh và nhà ở. Tất cả các khoản vay đều không cần thế chấp và không áp dụng các công cụ pháp lý. Bên cạnh khoản vay phục vụ cho sảnxuất và nhà ở, Ngân hàng Grameen thiết kế chương trình cho vay đặc biệt dành cho những người ăn mày muốn kiếm kế sinh nhai ổn định. Ngoài ra để nhằm khuyến khích các thành viên của Grameen dành cho con em họ điều kiệngiáo dục tốt nhất, Grameen trao học bổng cho con em họ. Với một cơ cấu tổ chức và mô hình quản lý hợp lý cũng như mạng lưới rộng khắp (phụ lục 1.1), Grameen đã cung cấp tín dụng cho một số lượng lớn người nghèo. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là nguồn vốn của Ngân hàng Grameen 100% là từ tiền dư tiết kiệm, trong đó hơn 63% là tiết kiệm từ các thành viên vay vốn ngân hàng. Từ năm 1995, Grameen đã không nhận thêm bất kỳ nguồn vốn tài trợ nào. Trong tương lai, ngân hàng cũng không có chủ trương nhận tài trợ hoặc thậm chí là vay từ các nguồn bên ngoài . Số tiền tăng trưởng từ hoạt động của Grameen đủ để bù đắp chi phí hoạt động vàmở rộng các chương trình tín dụng. Tiền tiết kiệm ở Grameen được huy động th eo hai hình thức bắt buộc và tự nguyện, tiền tiết kiệm bắt buộc được hưởng lãi s uất và có thể rút ra sau ba năm. Để chủ động nguồn vốn, Grameen huy động tiết kiệm với lãi suất cao hơn Ngân hàng thương mại và cho vay với lãi suất thấp hơn Ngân hàng thương mại. Lãi suất huy động tiết kiệm trung bình của Grameen là 8.5%/năm, mức lãi suất huy động cao nhất là 12%/năm.Lãi suất cho vay của Grameen còn thấp hơn lãi suất nhà nước áp dụng.

Mô hình của ngân hàng Grameen thành công và đạt được sự bền vững nhờ những yếu tố: Thứ nhất về nguồn vốn: Grameen áp dụng hình thức tiết kiệm bắt buộc và huy động tiết kiệm với mức lãi suất cạnh tranh so với ngân hàng thương mại vì vậy thu hút được nguồn tiết kiệm rất lớn từ không chỉ người nghèo mà còn từ trong dân cư. Ngoài tiết kiệm, Grameen còn thu hút vốn thông qua các chương trình bảo hiểm, quỹ lương hưu như một nguồn thu tiết kiệm thời hạn dài.

Thứ hai về bảo đảm lợi nhuận:Grameen áp dụng mức lãi suất cho vay cao đủ để bù đắp chi phí hoạt động và thu được lợi nhuận. Grameen sử dụng hình thức tiết kiệm bắt buộc và thu phí bảohiểm tiền vay để đảm bảo luôn có nguồn bù đắp cho những tổn thất tín dụng. Ngoài ra, tuy không bắt buộc trách nhiệm liên đới trong các tổ nhóm, Grameen vẫn đảm bảo mức thu nợ cao nhờ phân kỳ trả nợ ngắn (trả hàng tuần) và cung cấp nhiều dịch vụ và cơ hội phụ thêm cho khách hàng nhưcổ phần, lương hưu, học bổng nhằm giữ khách hàng luôn muốn sinh hoạt với Grameen trong dài hạn. (xem chi tiết các hoạt động đã và đang được tiến hành ở Grameen trong phụ lục 1.2).

Thứ ba về quản lý: Grameen xây dựng hệ thống sổ sách đơn giản, mỗi khách hàng có một quyển sổ tiết kiệm vay vốn, hàng tuần trả nợ đều được cán bộ tín dụng ký xác nhận, một tháng giám đốc chi nhánh kiểm tra một lần và ba tháng giám đốc khu vực cùng với kiểm toán ngân hàng kiểm tra một lần nữa. Tiền mặt được quay vòng ngay trong ngày, sáng cán bộ tín dụng đi thu nợ và chiều giải ngân tại chi nhánh giúp ngân hàng không bị đọng vốn.

2. Cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản – trường hợp Campuchia, Côlômbia và Mêhicô

2.1 Campuchia

Campuchia là một quốc gia nghèo ở khu vực Đông Nam Á. Thời gian qua, chính phủ Campuchia đã có nhiều nỗ lực trong giảm nghèo. Một kinh nghiệm được cộng đồng quốc tế đánh giá cao đó là hợp đồng cải thiện dịch vụ y tế ở Campuchia.

Cuối thập kỷ 90, các chỉ số về y tế của nước này thuộc loại tồi ở Đông Nam Á. Tuổi thọ bình quân người dân tính từ khi sinh là 55 năm. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em là 95 trên 1000 ca sinh. Và tỷ lệ tử vong của bà mẹ là 437 trên 100.000 ca sinh. Hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng đồng vẫn còn thô sơ, bệnh nhân than phiền chất lượng rất thấp. Đứng trước thực tế đó, chính phủ Campuchia đã thực hiện một loạt các giải pháp nhằm quyết tâm cải thiện tình trạng hiện tại, trong số đó phải kể đến hình thức hợp đồng thuê ngoài. Vào năm 1998, chính phủ đã ký hợp đồng với các tổ chức phi chính phủ để cung ứng dịch vụ y tế ở một số huyện. Ký hợp đồng thuê dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu bao gồm hai hình thức hoặc thuê trong hoặc thuê ngoài. Để thấy được hiệu quả do ký hợp đồng thuê dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, chính phủ đã đưa ra ba vùng sử dụng hình thức cung ứng khác nhau. Nhà thầu được chọn thông qua một quá trình cạnh tranh dựa trên chất lượng đề xuất kỹ thuật và giá cả của họ. Có ba cách tiếp cận được sử dụng:

Thuê ngoài, nhà thầu có toàn bộ trách nhiệm cung ứng dịch vụ đã nêu cụ thể trong huyện, trực tiếp tuyển dụng nhân viên và có t oàn quyền kiểm soát quản lý. Thuê trong, nhà thầu chỉ hỗ trợ quản lý cho các nhân viên y tế dịch vụ công, và các chi phí hoạt động thường xuyên được chính phủ cung cấp thông qua những kênh thông thường của chính phủ. Vùng đối chứng,duy trì hình thức chính phủ cung ứng bình thường. Điểm lưu ý ở đây đó là ngân sách chỉ hỗ trợ cho haiđịa bàn nơi áp dụng hình thức thuê trong và đối chứng. Sau một thời gian vận hành, kết quả cho thấy ở tất cả các địa bàn áp dụng hình thức thuê dịch vụ như sau:

- Tăng được diện phục vụ trong một thời gian ngắn, điều đáng quan tâm hơn là người nghèo đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế nhiều hơn và chất lượng hơn. Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là do mức độ thường xuyên sẵn có thuốc men và nhân viên có trình độ đã tăng cường được việc cung ứng dịch vụ tại các trung tâm y tế làng xã, nơi mà hầu hết người nghèo tập trung. Ngoài ra, khi ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ, một loạt các chỉ số y tế dùng để đánh giá mức độ hoàn thành cũng như chấtlượng của dịch vụ được cung ứng đã được thoả thuận giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Thêm vào đó, mức độ sẵn có các dịch vụ y tế ở các làng xã đã làm giảm chi phí đi lại để khám chữa bệnh. Điều này một lần nữa làm cho người nghèo được tiếp cận với dịch vụ y tế nhiều hơn.

- Cải thiện dịch vụ y tế cho người nghèo đòi hỏi nhân viên y tế phải được đãi ngộ thoả đáng, được hỗ trợ và chỉ đạo hiệuquả. Các tổ chức phi chính phủ đã giải quyết tốt vấn đề này. Đối với hình thức thuê ngoài, mặc dù không qui định phí sử dụng chính thức, không khuyếnkhích nhân viên y tế lấy phí “không chính thức” nhưng các tổ chức phi chính phủ vẫn thu hút và giữ chân các nhà cung ứng dịch vụ y tế, đội ngũ y, bác sĩ bằng cách trả lương căn cứ vào mức lương thị trường và các khoản thưởngkhuyến khích theo mức độ hoàn thành và chất lượng công việc của họ. Đổi lại, các tổ chức phi chính phủ yêu cầu người cung ứng phải làm việc trong ngàytại các cơ sở y tế, không được khám bệnh riêng tại nhà. Mặt khác, ở những nơi áp dụng hình thức thuê trong, các tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ tiền lương cho người cung ứng bằng kinh phí riêng của mình. Việc làm đó đã hạn chế được tình trạng khá phổ biến ở những vùng đối chứng, đó là cho phép nhân viên được theo đuổi hành vi tối đa hoá thu nhập cá nhân thôngqua các khoản phí không chính thức và khám riêng tại nhà. Điều này đã làm tổn hại đến dịch vụ chăm sóc y tế công cộng cho những người nghèo nhất trongsố người nghèo.

- Cơ cấu phí minh bạch và có thể dự đoán trước đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụy tế. Ở nơi áp dụng hình thức thuê trong- nơi duy nhất trong ba vùng- xây dựng hệ thống phí sử dụng chính thức. Mức phí này được ban hành có sự tham khảo ý kiến của cộng đồng có tác dụng khuyến khích nhân viên y tế rất lớn. Mức phí này được niêm yết ở nơi công cộng đã hạn chế được phần nào hiện tượng đưa tiền cho nhân viên y tế, do đó chi tiêu từ tiền túi cho y tế có giảm hơn vùng đối chứng nhưng không bằng vùng thuê ngoài. Như vậy, với việcgiảm chi phí tiền túi cá nhân cho dịch vụ và cơ cấu phí minh bạch đã làm tăng cầu về dịch vụ chăm sóc y tế của người nghèo.

2.2. Côlômbia

Vớichương trình cấp thẻ đi học, Côlômbia là một trong số ít các quốc gia trên thế giới đã thành công trong cải thiện khảnăng tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo. Chương trình cấp thẻ đi học toàn quốc được thực hiện từ năm 1991 là một phần trong chính sách cải cách nhằm phi tập trung hoá cách tổ chức và quản lý hệ thống giáo dục ở Cômlômbia. Chiến lược then chốt của chương trình này là nhằm khuyến khích việc người dân tham gia quản lý các tổ chức giáo dục công. Chương trình cấp thẻ đi học đã giải quyết được tính phi hiệu quả trong hoạt động của hệ thống giáo dục công, đặc biệt là tỷ lệ chuyển đổi thấp giữa cấp tiểu học và trung học của học sinh nghèo. Năm 1991, chỉ có 51% số thiếu niên trong độ tuổi 13-19 ở các vùng nghèo nhất theo học trung học, so với tỷ lệ 75% ở các vùng giàu nhất. Mục tiêu ban đầu của Bộ Giáo dục là thu hút 10 thành phố lớn nhất tham gia vào chương trình. Hầu hết các thẻ đi học này được dành cho các vùng thành thị rộng lớn, nơi tập trung nhiều trườngtư. Các chính quyền địa phương tài trợ 20% chi phí, chính phủ trung ương tài trợ 80% chi phí còn lại của chương trình này. Thẻ học này bao gồm học phí cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 11. Bộ Giáo dục sẽ đề ra giá trị tối đa của thẻhọc trong từng năm. Ví dụ năm 1995, giá trị tối đa của thẻ học là 180 USD, vàgiá trị thực của mỗi thẻ phụ thuộc vào học phí thực của các trường mà người có thẻ đăng ký học. Mức giá trị của thẻ này lớn hơn mức học phí hàng năm của các trường có học phí rẻ nhất, nhưng chỉ bằng một nửa mức học phí của cáctrường đắt nhất. Năm 1991, Bộ Giáo dục chính thức ban hành chương trình,sau đó được phát triển ra toàn quốc, và đến năm 1995 đã có 217 khu tự trị ở 27 trong số 30 bang của Côlômbia đăng ký tham gia chương trình. Kết quả năm 1995, chính phủ cấp 90.000 thẻ đi học cho 1.800 trường tư. Các học sinh được cấp thẻ chiếm 8% tổng số học sinh ở các trường trung học tư.

Chương trình cấp thẻ đi học của Côlômbia nổi bật với hai ưu điểm: (i) thứ nhất, chương trình này không làm giảm nguồn lựcdành cho các trường công. Chính phủ duy trì mức tài trợ hiện có cho cáctrường công, mặc dù trường công và trường tư sẽ vẫn phải cạnh tranh để thu hút học sinh được cấp thẻ; (ii) thứ hai, để tránh chỉ trích cho rằng việccấp thẻ đi học là một trợ cấp ròng cho người giàu với những chi phí của người nghèo, chỉ có những học sinh nghèo mới được cấp thẻ. Các hộ gia đình được chia thành 6 bậc, từ nghèo nhất đến giàu nhất. Chỉ có các hộ ở bậc một và bậc hai (nghèo nhất) mới đủ điều kiện xin cấp thẻ.

2.3. Mêhicô

Nếu như Côlômbia được biết đến với chương trình thẻđi học thì Mêhicô là chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng ( Progresa). Đây là một chương trình giảm đói nghèo tổng hợp được đề xướng năm 1997, nhằm trợ cấp giáo dục, y tế và dinh dưỡng chocác hộ gia đình ở nông thôn. Nó đặt mục tiêu vào giảm đói nghèo hiện tại và tăng đầu tư vào vốn con người, chấm dứt đói nghèo triền miên qua nhiều thế hệ. Chương trình này được ra đời trong điều kiện số lượng người nghèo được tiếp cận với dịch vụ y tế rất thấp, tỷ lệ trẻ em thất học và tình trạng trốn học, bỏ tiết ở các vùng nghèo rất cao. Với cách làm chuyển giao tiền mặt trực tiếp cho các gia đình với điều kiện các thành viên gia đình phải đi khám sức khoẻ, các bà mẹ phải tham gia các buổi phổ biến thông tin về vệ sinh và dinh dưỡng, và trẻ em phải đến trường. Cụ thể, chương trình Progresa trợ cấp cho những giađình nghèo để cho con em dưới 18 tuổi được đi học từ lớp thứ ba bậc tiểu học đến lớp thứ ba bậc trung học. Mức trợ cấp tăng theo cấp học và các bé gái được nhận cao hơn một chút so với các bé trai. Đối với học sinh năm thứ ba trung học, trợ cấp bằng khoảng 46% mức thu nhập trung bình của một người làm nông nghiệp. Những gia đình có trẻ em đã bị bỏ học hơn 15% số ngày đến trường trong một tháng hoặc bị lưu ban quá một lần sẽ không được nhận trợ cấp tiền của tháng đó. Các gia đình trong diện đói nghèo được nhận mứctrợ cấp nếu các thành viên đi khám sức khoẻ thường xuyên và các bà mẹ tham gia các buổi phổ biến thông tin về dinh dưỡng và sức khoẻ tổ chức hàng tháng. Điều đáng lưu ý đó là tiền trợ cấp được trao cho người mẹ, vì họ được coi là người chịu trách nhiệm chăm sóc chính con cái.Với tính tập trung cao, chương trình chỉ có một cầu nối duy nhất giữa cán bộ chương trình và những người thụ hưởng, đó là nữ tuyên truyền viên cộng đồng- người này có thể là liên lạc viên giữa những người thụ hưởng và nhà cung ứng, do một hội đồng các hộ gia đình chọn ra. Chương trình này có một loạt các ưu điểm như chống lại xu hướng trong các gia đình nghèo thiên về tiêu dùng hiện tại bằng cách khuyến khích đầu tư vào vốn con người; chương trìnhnày đã nhận thức được mối quan hệ giữa giáo dục, y tế và dinh dưỡng; để dàn rộng nguồn lực có hạn của chính phủ, chương trình đã gắn việc trợ cấp tiền mặt với hành vi của hộ gia đình, nhằm mục đích thay đổi thái độ; với mục đích, qui chế và yêu cầu của chương trình cũng như phương pháp đánh giá đã được công bố rộng rãi đã giảm bớt sự can thiệp chính trị. Kết quả chương trình Progresa đã làm tăng số lượng học sinh đi học ở tất cả các cấp, đặc biệt tỷ lệ nhập học của các bé gái. Ngoài ra, chương trình đã cải thiện được tình trạng còi xương, suy dinh dưỡng của trẻ em ở các hộ nghèo. Cuối cùng, chương trình không chỉ tạm thời tăng thu nhập mà nó còn giúp tăng năng suất và thu nhập trong tương lai củanhững đứa trẻ thụ hưởng.

3. Quản lý rủi ro, hạn chế nguy cơ bị tổn thương- trường hợp của Singapore, Indonesia

3.1. Singapore

Singapore là một trong các quốc gia thành công trong quản lý rủi ro cho người nghèo thông qua hệ thống bảo hiểm y tế phổ cập hỗ trợ người nghèo. Từ năm 1984 đến năm 1993 Singapore đã thành lập mộthệ thống ba cấp về bảo hiểm y tế: Medisave, Medishield, Medifund. Chương trình bảo hiểm này nhằm đề phòng những rủi ro sức khoẻ ở cấp trung bình thông qua các tài khoản Medisave của cá nhân và hộ gia đình. Những tài khoản tiết kiệm bắt buộc vốn là một bộ phận trong hệ thống bảo hiểmxã hội bắt buộc của Singapore, được tài trợ bằng thuế quỹ lương 40% (dongười lao động và người sử dụng lao động chia đều với nhau). Trong sốđóng góp này, 6-8% được phân bổ vào các tài khoản Medisave, mà tài khoản này có thể được sử dụng để chi trả các chi phí liên quan đến bệnh việncho đến mức tối đa là 170 USD một ngày. Cá nhân dự kiến sẽ phải trả một phần nhỏ chi phí y tế bằng tiền túi hoặc thông qua bảo hiểm tư nhân.

Rủi ro bị ốm nặng được bảo đảm thông qua Medisheld.Đây là một chương trình bảo hiểm bổ sung tuỳ chọn cho những phí tổn vượt quá mức đền bù tối đa trong Medisave. 80% những người có tài khoản Medisave đã tham gia Medisheld. Tỷ lệ đóng bảo hiểm là 20% và số tiền được khấu trừ thay đổi tuỳ theo thứ hạng tiện nghi của các cơ sở y tế.

Việc bảo đảm tính công bằng dọc được thực hiện thông qua các khoản trợ cấp từ Medifund, nhằm khắc phục tính chất phi luỹ tiến của các khoản Medisave và Medisheld. Một số nghiên cứu cho biết, cú sốc nghiêm trọng về sức khoẻ sẽ tiêu tốn 55% chi tiêu trên đầu người hàng năm của các hộ gia đình trong ngũ phân vị nghèo nhất, và chỉ tốn 21% của các hộ gia đình thuộc ngũ phân vị giàu nhất. Trợ cấp của Medifund được phân biệt theo thứ hạng của các cơ sở y tế và vì thế đã tự định hướng vào những người sử dụng nghèo. Giống như một người trợ giúp cuối cùng, khi bệnh nhân không có khả năng trả viện phí thì có thể xin trợ cấp một khoản, dựa vào tiêu chuẩn mức sống, từ Uỷ ban Medifund đặt tại các bệnh viện của họ. Khoảnviện phí đó sẽ được tài trợ từ thặng dư ngân sách của chính phủ.

3.2. Indonesia

Là một nước nghèo nhưng chính phủ Indonesia rất quan tâm đến chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt người nghèo. Từ đầu thập kỷ 70, Bộ Y tế Indonesia đã khuyến khích chương trình quỹ xây dựng sức khoẻ thôn bản. Mục tiêu của chươngtrình là mở diện rộng bao phủ các dịch vụ y tế qua việc khuyến khích cộngđồng tham gia đóng góp kinh phí duy trì các cơ sở y tế của họ. Quỹ sức khoẻ nông thôn là một chương trình chăm sóc sức khoẻ rất đơn giản dựa vào cộng đồng trên nguyên tắc thanh toán trước. Từ đầu thập kỷ 80, chương trình xây dựng y tế thôn bản đã gắn liền với các nguyên tắc công bằng xã hội, phổ cập có chú trọng đến chất lượng khám chữa bệnh, y tế dự phòng cùng với thúc đẩy nâng cao sức khoẻ. Bên cạnh phát triển y tế thôn bản, chính phủ đồng thời tiến hành bảo hiểm y tế cộng đồng nhằm tập trung vào chăm sóc sứckhoẻ ban đầu, bao gồm thúc đẩy nâng cao sức khoẻ (dự phòng, dịch vụ điều trị và phục hồi chức năng) và đảm bảo chất lượng. Mặc dù về nhiều phươngdiện bảo hiểm y tế cộng đồng ở Indonesia tương tự như các phương thức bảo hiểm khác nhưng sự khác nhau đáng kể của nó là việc chủ động quản lý rủi ro và trực tiếp tham gia vào cung cấp các dịch vụ y tế. Để đảm bảo công bằng, bảo hiểm y tế cộng đồng dựa trên nguyên tắc thanh toán trước theo đầu người, chia sẻ rủi ro và lợi ích giữa những người đóng góp trong cộng đồng, cơ quan quản lý bảo hiểm y tế cộng đồng và cơ sở y tế, thoả thuận bằng hợp đồng, cơ chế rõ ràng cho việc khiếu nại và giải quyết tranh chấp, bảo đảm chất lượng giám sát qui trình và cơ cấu dịch vụ y tế. Để chương trình phát huy hiệu quả, bốn bên phải tham gia vào chương trình bảo hiểm y tế cộng đồng là: (i) các cộng đồng người sử dụng: Họ là thành viên của một gia đình, một nhóm hay một tổ chức thường xuyên thanh toán tiền để nhận được các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ; (ii) mạng lưới y tế có tổ chức: Mạng lưới này cung cấp các dịch vụ y tế một cách toàn diện và có hiệu quả. Các dịch vụ này bao gồm thúc đẩy nâng caosức khoẻ, phòng chữa bệnh và phục hồi chức năng; (iii) tổ chức chăm sóc sức khoẻ có quản lý chính thức: Các tổ chức này chịu trách nhiệm thực hiện công việc hàng ngày của chương trình bảo hiểm y tế cộng đồng; (iv) các tổ chức chuyên môn của trung ương hay địa phươnglà người giám sát sự phát triển và thực hiện chương trình bảo hiểm y tế cộng đồng.

Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào việc cung cấp tài chính và duy trì sức khoẻ và củng cố chương trình bảo hiểm ytế cộng đồng là một trong những chiến lược quan trọng nhất để đạt mục tiêu “một đất nước Indonesia khoẻ mạnh trong năm 2010”. Bảo hiểm y tế cộng đồng cũng sẽ được sử dụng như một chiến lược để khắc phục sự lệ thuộc của cộng đồng vào mạng lưới an sinh xã hội của chính phủ cho chương trình y tế - một chương trình cứu trợ nhằm duy trì tình trạng sức khoẻ của cộng đồng. Chính sách của Bộ Y tế là bảo hiểm y tế cộng đồng cần phải được triển khai trong khuôn khổ của chương trình cứu trợ này với việc nhànước trả phí bảo hiểm cho người nghèo. Bộ Y tế thành lập cơ quan chịu trách nhiệm ở tất cả các tỉnh để nhanh chóng giúp cho người tham gia chương trìnhbảo hiểm y tế cộng đồng và chương trình cứu trợ, qua đó duy trì tình trạng sức khoẻ của cộng đồng và hỗ trợ chương trình bảo hiểm y tế cộng đồnglồng ghép.

4. Tăng cường năng lực cho người nghèo – trườnghợp của Ấn Độ, Bănglađét

4.1. Ấn Độ

Ấn độ là một quốc gia nghèo ở châu Á và thường xuyên phải gánh chịu các thiệt hại do thiên tai gây ra. Chính vì vậy, để giảm thiểu gánh nặng cho NSNN cũng như giúp cho người nghèo có thể chủ động khắc phục thiên tai, Ấn độ đã rất thành công trong việc thu hút cộng đồng tham gia tái thiết sau thiên tai. Năm 1993, một trận động đất đã gây nhiều thiệt hại cho người dân ở bang Maharashatra của Ấn Độ. Trước tình hình đó, chính quyền Bang này quyết định lập một chương trình khôi phục động đất khẩn cấp. Chương trình này đã thể chế hoá sự tham gia của cộng đồng và chính thức tham khảo ý kiến của các đối tượng thụ hưởng ở mọi giai đoạn thực hiện. Đây không phải là điều mới lạ với các nước nghèo trên thế giới nhưng cần học hỏi kinh nghiệm đó là tính hiệu quả của chương trình rất cao. Với việc chia các cộng đồng trong vùng bị thiên taira làm hai loại: cộng đồng cần được bố trí lại- nơi bị thiệt hại nặng nề nhất, và cộng đồng cần được xây dựng lại, sửa chửa hoặc củng cố. Chương trình triển khai đã thực sự trở thành các dự án của người dân, từng bước sự tham gia của người dân được chấp nhận và phát huy hiệu quả. Nếu như ban đầu cáccán bộ quản lý dự án còn nghi ngờ sự tham gia của người dân thì khi triển khai các dự án có sự tham gia của người dân, mọi vấn đề được giải quyết nhanh chóng và thực sự mang lại lợi ích cho người dân đã làm cho họ đánh giá cao sự tham gia của cộng đồng, coi đây là công cụ hữu hiệu để xử lý cácvấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện. Sự tham gia này còn có tác động tâm lý tích cực đối với cộng đồng, nhận thức của người dân cũng cao lên. Quá trình tham gia của người dân đã giúp rút ngắn khoảng cách giữa chính phủ và người dân, đặc biệtngười dân biết được quyền lợi được hưởng của mình, và họ làm việc cần cù để đảm bảo điều đó. Bên cạnh đó, nếu như ý kiến củahọ không được giải quyết thoả đáng ở cấp làng xã thì họ có thể mang ý kiến đó lên cấp huyện hay bang yêu cầu giải quyết. Tính hiệu quả của chương trình đã tạo điều kiện thuận lợi cho chính phủ Bang kêu gọi các nhà tài trợ, tổ chức hảo tâm cùng tham gia vào khắc phục hậu quả của thiên tai. Chínhvới cách làm như vậy đã giải quyết được hai vấn đề cùng một lúc là huy độngđược nguồn lực từ các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện các dự án và các dự án này do người dân tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát nên thực sự phục vụ lợi ích người dân.

Như vậy, thông qua thu hút người dân địa phương vàocác hoạt động tái thiết có thể củng cố tinh thần lãnh đạo và tăng cường tình đoàn kết, điều này sẽ giúp giảm nhẹ những tồn thương tâm lý mà thiên tai đã gây ra. Điều quan trọng hơn cả đó là giúp cho cộng đồng đặc biệt là người nghèo trực tiếp tham gia vào các hoạt động trợ giúp nhằm đem lại lợi íchcao nhất cho họ.

4.2. Bănglađét

Cũng là giúp người nghèo chống đỡ với rủi ro và hạnchế các tổn thương, Bănglađét được nhắc đến nhiều với các tổ chức dịch vụ pháp lý giúp người nghèo có được sự bảo vệ của hệ thống pháp luật. Các tổ chức dân sự, như các tổ chức dịch vụ pháp luật, đóng một vai trò chủ chốt trong việc hỗ trợ những người nghèo tiếp cận các lợi ích và sự bảo vệ hệ thống pháp luật. Họ bảo vệ các cá nhân trước sự phân biệt đối xử phi pháp trong công việc, cuộc sống gia đình và giúp họthực thi quyền tài sản, quyền sử dụng các dịch vụ cơ bản và lấy lại trật tựtoà án để bảo vệ phụ nữ tránh khỏi sự thô bạo trong gia đình. Cộng đồng pháp lý ở Bănglađét đã thành lập một số tổ chức tư vấn pháp lý. Tổ chức Ain O Salin Kendra (ASK), được thành lập năm 1986, mong muốn thực hiện cải cách pháp luật thông qua việc đứng ra đại diện cho phụ nữ và trẻ em nghèo, các tầng lớp công nhân có tổ chức, những người nghèo nông thôn và dân cư trong các đô thị nghèo. Tổ chức này hỗ trợ pháp lý chủ yếu về các vấn đề gia đình bao gồm vấn đề bạo lực đối với phụ nữ. Việc đại diện cho các nạn nhân được sử dụng trong các vụ án hình sự và khi các quyền pháp lý cơ bản bị vi phạm. ASK điều tra và theo dõi sự vi phạm luật định, nhân quyền kể cả việc tratấn của cảnh sát, giết người và các vụ tử nạn ở các nhà máy.Tổ chức này giám sát hoạt động của các đồn cảnh sát để thu thập thông tin về sự vi phạm đối với phụ nữ và trẻ em và theo dõi các vụ được báo tại đồn công an.

5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua nghiên cứu các trường hợp cụ thể trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể tham khảo trong hoạch định chính sách XĐGN đến năm 2015 ở Việt Nam

5.1. Bài học về tạo cơ hội cho người nghèo

Thứ nhất là cần triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các chính sách giảm nghèo. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy bên cạnh việcthực hiện chính sách kinh tế vĩ mô thì cần phải kết hợp đồng bộ với các chính sách khác, đặc biệt chính sách có tác động trực tiếp đếngiảm nghèo có như vậy mới đảm bảo tăng trưởng mang lại lợi ích cho người nghèo và tránh được những tác động xấu không đáng có cho nền kinh tế như ở những năm cuối của giai đoạn đầu tiên của chương trình giảm nghèo Trung Quốc.

Thứ hai là tập trung đầu tư có hiệu quả vào các xã nghèo. Việc xác định đối tượng hỗ trợ xã nghèo là một ưu điểm nổi trội so với Trung Quốc và đây là điều Trung Quốc đã học hỏi ở ta. Tuy nhiên, trên thực tế việc đầu tư cho các xã nghèo còn mang tính dàn trải vì thế hiệuquả đầu tư chưa cao. Kinh nghiệm của Trung Quốc là tập trung đầu tư thông qua hình thức cuốn chiếu. Điều này cho phép tập trung nguồn lực đầu tưcho từng xã, tránh được tình trạng dàn trải, không đủ nguồn lực giải quyết dứt điểm. Hậu quả không cải thiện rõ rệt tình trạng nghèo của cộng đồng nhưhiện nay.

Thứ ba là có chính sách, giải pháp riêng cho nhóm đối tượng đặc biệt: dân tộc thiểu số, người tàn tật và phụ nữ để giúp họ thoát khỏi đói nghèo cùng với người nghèo khác. Cụ thể: Tăng cường sự đối xử đặc biệt với dân tộc thiểu số,tăng tiêu chuẩn trợ cấp và hỗ trợ nhiều hơn cho các vùng dân tộc thiểu số. Nên thành lập một quĩ riêng từ NSNN để hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số. Cần xác định NSNN chỉ nên đầu tư vào những vùng nghèo trọng điểm quốc gia như cáctỉnh miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên, đây là nơi tập trung cao dân tộc thiểu số. Các tỉnh thành không thuộc các vùng trên điều kiện về kinh tế phát triển hơn phải tự dùng ngân sách địa phương là chính để hỗ trợ cho người nghèo của địa phương mình.

Xác định vấn đề XĐGN cho người tàn tật là một phần quan trong chương trình XĐGN của quốc gia. Trên cơ sở đó có các khoản vay đặc biệt dành cho đối tượng này để tránh tình trạng họ khôngtiếp cận được với các nguồn tín dụng ưu đãi. Và để đảm bảo tính bền vững trong XĐGN cho đối tượng này cần lựa chọn các dự án và các biện pháp có thể trực tiếp giải quyết vấn đề ăn mặc cho người tàn tật nghèo ở nông thôn.

Thứ tư là tăng cường việc huy động và tổ chức mọi thành phần xã hội tham gia hỗ trợ người nghèo. Về vấn đề này, Việt Nam đã triển khai thực hiện, tuy nhiên ở một số địa phương còn mang tính hình thức. Cũng là huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp vào công cuộc giảm nghèo nhưng kinh nghiệm của Trung Quốc là mỗi tổ chức hay doanh nghiệp sẽ hỗ trợ một công trình cụ thể ở một địa phương nhất định, do đó đã cải thiện khá đồng bộ và căn bản bộ mặt của nông thôn. Và điều quan trọng là các công trình đó thực sự hữu ích cho đời sống của người nghèo.

Thứ năm là đẩy mạnh sự hợp tác trong XĐGN giữa vùngkinh tế phát triển và vùng nghèo. Cũng giống như Trung Quốc, bên cạnh một số tỉnh thành đã đạt được thành tựu lớn trong phát triển kinh tế-xã hội vẫn tồn tại một số vùng ở Việt Nam mà mức độ đói nghèo rất nghiêm trọng như các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên hay các tỉnh duyên hải miền Trung. Do đó việc huy động các tỉnh và thành phố lớn và phát triển ở miềnĐông để hỗ trợ cho miền Tây của Trung Quốc là bài học quý báu có thể áp dụng đối với Việt Nam.

Thứ sáu là tạo cơ hội cho người nghèo không nhất thiết phải bằng cách hỗ trợ vốn vay dưới hình thức ưu đãi. Điều mà người nghèo cần đó là làm thế nào sử dụng được vốn vay một cách hiệu quả để tự thoát nghèo. Kinh nghiệm cung cấp tín dụng vi mô của ngân hàng Grameen, người nghèo hoàn toàn thoát nghèo và thoát nghèo bền vững bằng các nguồn vốn vay với mức lãi suất thị trường. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người nghèo, bên cạnh việc được vay vốn, họ còn được tham gia các loại hình dịch vụkhác như gửi tiết kiệm, chương trình bảo hiểm hay quĩ lương hưu. Và quan trọng hơn đó là được hỗ trợ hướng dẫn cách quản lý vốn cũng như kiến thức sản xuất kinh doanh.

5.2. Bài học về cải thiện khả năng tiếp cận cácdịch vụ xã hội cơ bản

Thứ nhất là đa dạng hoá hình thức cung ứng dịch vụ y tế. Cung cấp dịch vụ cơ bản là một trong những nhiệm vụ mà chínhphủ cần đảm nhận nhằm khắc phục thất bại của thị trường, tuy nhiên, không phải lúc nào chính phủ cũng trực tiếp cung ứng. Với nguồn lực ban đầu, nhiệm vụ của chính phủ là tìm ra phương thức cung ứng hiệu quả nhất. Trường hợp ký hợp đồng thuê ngoài trong cung cấp dịch vụ y tế không chỉ làm cho diện phục vụ được mở rộng mà sự tồn tại của ba hình thứccung ứng đã làm tăng tính cạnh tranh của các nhà cung ứng và bản thân cơsở dịch vụ y tế của chính phủ cũng cần xem xét lại cách thức hoạt động của mình nếu như còn muốn tiếp tục được hoạt động. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng với Việt Nam vì hiện tại phần lớn cung ứng dịch vụ y tếvẫn do trực tiếp khu vực công đảm nhiệm nên diện phục vụ cũng như chất lượng còn nhiều bất cập. Đặc biệt, đối với đối tượng thu nhập trung bình hay thấp trong xã hội thì để tiếp cận được với dịch vụ tế có chất lượng là một vấn đề nan giải. Do đó, hình thức ký hợp đồng thuê dịch vụ trong lĩnh vực y tế ở Campuchia là bài học quí giá cho Việt Nam. Bước đầu áp dụng hìnhthức thuê trong để các nhà thầu có thể hỗ trợ quản lý cho các nhân viên y tế dịch vụ công vì hiện tại khâu quản lý trong lĩnh vực này còn nhiều yếu kém. Tiếp đến, từng bước áp dụng hình thức thuê ngoài dịch vụ ở các đô thị lớn và vùng đồng bằng vì ở đây có thể đáp ứng được yêu cầu trực tiếptuyển dụng nhân viên theo tiêu chuẩn của nhà cung ứng. Ngoài ra, khi áp dụng hình thức thuê dịch vụ, nhân viên y tế được trả lương theo lương thị trường nên hạn chế được tình trạng người hưởng dịch vụ phải trả thêm khoản tiền phi chính thức. Đây là một trong những trở ngại khiến cho nhiều người nghèo không muốn tới khám chữa bệnh ở các bệnh viện công khi bịốm đau.

Thứ hai là tạo ra tính cạnh tranh giữa nhà cung ứngkhu vực công và khu vực tư để nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục. Thông thường, cung ứng dịch vụ giáo dục thuộc về nhiệm vụ của chính phủ. Tuy nhiên, với xu hướng xã hội hoá lĩnh vực giáo dục, tư nhân đã thamgia vào cung ứng làm cho tính cạnh tranh giữa khu vực công và tư ngày càng cao. Chương trình cấp thẻ đi học ở Côlômbia là một trong các cách thức cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục đối với người nghèo. Thẻ đi học chỉ cấp cho người nghèo có giá trị cao hơn chi phí cho một năm học của một trường trung bình và thấp hơn với một trường nổi tiếng. Người có thẻ có thể vào học cả ở trường công và trường tư. Chính điều này đã tạo ra tính cạnh tranh

lớn giữa trường công và tư để thu hút đối tượng được cấp thẻ đi học. Cách làm này hoàn toàn có thể áp dụng được ở Việt Nam, đặc biệt ở các đô thị lớn nơi mà hiện nay hệ thống trường tư phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, khi áp dụng hình thức cấp thẻ đi học cho đối tượng người nghèo cần có cơ chế giám sát chất lượng dịch vụ giáo dục được cung ứng để tránh tình trạng bệnh “thành tích” trong giáo dục- một căn bệnh nguyhiểm trong giáo dục ở Việt Nam.

Thứ ba là trợ cấp trực tiếp có điều kiện cho đối tượng thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản. Thực tế ở một số địa phương Việt Nam đã áp dụng hình thức trợ cấp gần như chương trình Progresa ở Mêhicô. Điểm khác biệt với Progresa là thay vì trợ cấp bằng tiền cho ngườinuôi những đứa trẻ và thường là người mẹ, ở một số tỉnh hỗ trợ giáo dục cho người nghèo bằng hiện vật. Cụ thể, nếu đứa trẻ đi học thì gia đình đó sẽ được nhận một số lượng gạo nhất định. Bên cạnh đó, chính phủ Việt Nam cũng đã có chính sách hỗ trợ về giáo dục, y tế cho người nghèo. Cáchthức hỗ trợ chủ yếu vẫn là hiện vật như: sách giáo khoa và đồ dùng học tập ở vùng miền núi, vùng sâu vùng xa; cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; miễn giảm học phí cho đối tượng người nghèo. Thực tế, các chính sách này đã được triển khai trong một thời gian dài nhưng tác động chưa lớn. Với cách thức đưa tiền trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng các dịch vụ cơ bản, chương trình Progresa ưu việt hơn nhiều với cách hỗtrợ hiện tại ở Việt Nam. Tuy nhiên, điều kiện để áp dụng kinh nghiệm này đòi hỏi phải có cơ chế giám sát chặt chẽ đối tượng thụ hưởng cũng như chất lượng ở những nơi cung ứng dịch vụ.

5.3. Bài học về quản lý rủi ro và giảm nguy cơ bị tổn thương

Thứ nhất là cần hỗ trợ người nghèo cách quản lý rủiro.Người nghèo luôn phải đối mặt với vô vàn rủi ro, tuy nhiên, khi những rủi ro họ rất lúng túng không biết phải giải quyết như thế nào. Chính vì vậy, cần có sự hỗ trợ người nghèo quản lý rủi ro sao cho hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro và giảm thiểu tác động của các cú sốc. Cách thứcđể quản lý rủi ro thì đa dạng và không giống nhau cho các quốc gia nhưng quanghiên cứu kinh nghiệm của hai quốc gia trên cho thấy có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách bảo hiểm.

Thứ hai là công cụ để quản lý rủi ro hữu hiệu nhất đó là bảo hiểm. Xuất phát từ các rủi ro mà người nghèo phải đối mặt, có nhiều công cụ hỗ trợ cho người nghèo quản lý rủi ro đó. Trong đấy, phải kể tới một công cụ có tác dụng phân tán rủi ro cao đó là bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tuổi già… Cách thức bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm này không giống nhau ở các nước. Với Singapore, ba cấp độ bảo hiểm y tế không những khắc phục được tính đa dạng rủi ro mà còn đảm bảo được công bằng trong chăm sóc sức khoẻ. Chính vì vậy, nếu Việt Nam áp dụng phổ biến loại hình bảo hiểm Medisave cho mọi đối tượng sẽ hạn chế được hiện tượng lựa chọn ngược trong thị trườngbảo hiểm. Bên cạnh đó, với hình thức bảo hiểm Medishield và Medifund sẽ đảm bảo công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế cho người nghèo. Indonesia với việc thực hiện bảo hiểm y tế qua phát triển quỹ y tế thôn bản đã góp phần chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân, đặc biệt là người nghèotrên phạm vi toàn quốc đã thực sự cải thiện được chất lượng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Điều này hoàn toàn có thể vận dụng ở vùng nôngthôn Việt Nam, nơi mà chiếm một tỷ lệ lớn dân số cũng như người nghèo nhưng hiện nay đang có mức sống cải thiện đáng kể nên hoàn toàn có khả năng đáp ứng được điều kiện đóng một phần kinh phí.

5.4. Bài học về tăng cường năng lực cho người nghèo

Thứ nhất là cần tạo cơ chế để người nghèo được thamgia.Sự tham gia vào các hoạt động của xã hội dường như là món ăn xaxỉ đối với người nghèo. Họ thường không được tham gia vào quá trình chính trị và cũng không phải là đối tượng được các chính khách quan tâm. Ngoài ra, nghèo thường đi liền với hèn nên họ luôn cảm thấy tự ti và không tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Tuy nhiên, để người nghèo thoát ra được cảnh bần hàn không chỉ là hỗ trợ về thu nhập hay giúp họ vượt qua những rủi ro mà còn là giúp họ tự tin hơn trong cuộc sống, có khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội vì người nghèo. Và quan trọng hơn cả họcần được tham gia vào xác định các nhu cầu gắn với các hoạt động do các tổ chức, cá nhân và chính phủ trợ giúp.

Thứ hai là cần có sự hỗ trợ dưới các hình thức khácnhau giúp người nghèo nâng cao năng lực của họ. Sự xuất hiện của các tổ chức hỗ trợ pháp lý hay tổ chức dịch vụ pháp lý sẽ là kinh nghiệm tốt cho Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của người nghèo cũng như tăng cường năng lực của họ trong xã hội. Thực tế, Việt Nam cũng đã có một vài tổ chức hỗ trợ pháp lý cho người dân trong đó có người nghèo. Tuy nhiên, nhữngtổ chức này chưa thực sự nhận được sự tin tưởng từ người dân vì hiệu quả mà tổ chức mang lại còn hạn chế. Vấn đề tham gia của người dân, đặc biệt người nghèo đã được triển khai ở Việt Nam trên cơ sở nền tảng của qui chế dânchủ cấp cơ sở trong các hoạt động XĐGN nhưng mức độ tham gia còn hạn chế, đôi khi mang nặng hình thức. Mô hình thu hút sự tham gia cộng đồng vào các hoạt động tái thiết có ý nghĩa quan trọng với các vùng thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai ở Việt Nam.

Đã xem 5130 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành