Chủ nhật, 25 Tháng 5 2014 00:00

Khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước: kinh nghiệm một số nước

I. Kinh nghiệm quốc tế:

1. Luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quốc gia:

Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của một số quôc gia trên thế giới có thể phân thành 2 nhóm: Nhóm nước không ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng mà các quy định về bảo vệ người tiêu dùng nằm rải rác tại các văn bản pháp luật chuyên ngành khác; và Nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành đạo luật riêng về bảo vệ người tiêu dùng như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hồng Kông, Ấn Độ, Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Anh.

Nhìn lại lịch sử quá trình phát triển của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở các nước phát triển, có thể thấy rằng, các đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng được ban hành đầu tiên chủ yếu vào thập niên 1950-1970. Đây là thời kỳ mà phong trào bảo vệ người tiêu dùng trở thành một trong những chủ điểm kinh tế, chính trị quan trọng. Tại Hoa Kỳ, trong thập niên 1960-1970 hàng loạt đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng sau đây được ban hành: Luật Liên bang về các chất nguy hại năm 1960, Luật về đóng gói và ghi nhãn công bằng năm 1966, Luật về tính trung thực trong hoạt động cho vay năm 1968, Luật về tiết lộ thông tin đầy đủ trong các giao dịch bất động sản liên bang năm 1968, Luật đảm bảo an toàn đồ chơi cho trẻ em năm 1969, Luật về báo cáo tín dụng công bằng năm 1970, Luật về san toàn sản phẩm tiêu dùng năm 1972, Luật về cơ hội tín dụng bình đẳng năm 1974, Luật bảo hành Magnuson Moss năm 1975, Luật về hành vi đòi nợ công bằng năm 1977…

Cũng trong giai đoạn đó, Nhật Bản ban hành Luật cơ bản về bảo vệ người tiêu dùng năm 1968 còn Úc ban hành Luật về các hành vi thương mại năm 1974 với nhiều quy định về bảo vệ người tiêu dùng. Tại Anh Quốc, hàng loạt đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng sau đây được ban hành: Luật thuê mua năm 1964, Luật về thông tin sai lạc trong thương mại năm 1967, Luật về các mô tả thương mại năm 1968, Luật về cung ứng hàng hoá, dịch vụ ngoài ý muốn của người tiêu dùng năm 1971, Luật thương mại công bằng năm 1973, Luật về các điều khoản mặc nhiên trong hợp đồng cung ứng hàng hoá năm 1973, Luật về tín dụng tiêu dùng năm 1974, Luật về các điều khoản hợp đồng không công bằng năm 1977, Luật về an toàn tiêu dùng năm 1978.

Luật bảo vệ người tiêu dùng của 15 nước trên thế giới, bên cạnh các nội dung mang tính đặc thù như: an toàn người tiêu dùng, xung đột pháp luật, trách nhiệm đối với sản phẩm… do sự khác nhau về điều kiện phát triển kinh tế, xã hội cũng như hệ thống pháp luật của mỗi nước thì pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của các nước đều có quy định đến một số nội dung cơ bản như:

Về khái niệm người tiêu dùng

- Cách quy định thứ nhất chỉ quy định là thể nhân, đây là cách quy định của Châu Âu và Quebec. Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ người tiêu dùng chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ người tiêu dùng không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ.

- Cách quy định thứ hai là quy định rõ cả thể nhân và pháp nhân, đây là cách quy định của Hàn Quốc. Theo quy định này thì người tiêu dùng bao gồm cả pháp nhân. Quy định này tuy có vẻ hơi rộng và có thể có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy định thứ nhất vì không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo vệ người tiêu dùng không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội.

Về các quyền của người tiêu dùng

- Ngày 9 tháng 4 năm 1985, nhờ có những cố gắng vận động không ngừng của Tổ chức Quốc tế Liên minh người tiêu dùng nay đã đổi tên thành Quốc tế người tiêu dùng, Liên Hợp Quốc đã thông qua một tập hợp Các Nguyên tắc chỉ đạo về Bảo vệ người tiêu dùng. Các nguyên tắc này sau đó được sửa đổi vào năm 1999. Các nguyên tắc này nêu lên các quyền lợi và nhu cầu của người tiêu dùng trên toàn thế giới và tạo ra một khuôn khổ mà theo đó các chính phủ, đặc biệt là chính phủ các nước đang phát triển hoặc vừa giành được độc lập, có thể sử dụng để soạn thảo, hay củng cố chính sách và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại quốc gia họ. Bản Nguyên tắc này của Liên Hiệp Quốc đã vạch ra tám lĩnh vực cơ bản có thể phát triển các chính sách bảo vệ người tiêu dùng, nay được chuyển thành tám quyền cơ bản của người tiêu dùng, bao gồm: Quyền được thoả mãn các nhu cầu cơ bản, Quyền được an toàn, Quyền được chọn lựa, Quyền được thông tin, Quyền được giáo dục tiêu dùng, Quyền được giải quyết và bồi thường thiệt hại, Quyền được đại diện, Quyền được hưởng một môi trường lành mạnh.

- Quy định của các quốc gia về các quyền cơ bản của người tiêu dùng có một điểm chung nhất là hầu hết đều tôn trọng và cố gắng đi sát các quyền đề ra theo Các nguyên tắc chỉ đạo về bảo vệ người tiêu dùng của Liên Hợp Quốc năm 1985. Điểm khác biệt giữa các quốc gia này chủ yếu ở hai điểm: Có quốc gia nêu vắn tắt các quyền cơ bản này như trường hợp của Liên bang Nga, hay Thái Lan, có quốc gia nêu cụ thể và giải thích chi tiết như trường hợp của Trung Quốc; và Các quốc gia chọn các tập hợp quyền khác nhau trong số 8 quyền cơ bản do Liên Hiệp Quốc đề xuất để đưa vào luật quốc gia của mình. Điểm khác biệt thứ hai có thể được lý giải là do điều kiện thực tế, ý thức hệ chính trị và ưu tiên của từng quốc gia. Các quyền được hầu hết các quốc gia phân tích đưa vào luật bảo vệ người tiêu dùng của họ gồm có quyền được an toàn, quyền được chọn lựa, quyền được thông tin, quyền được giao kết hợp đồng công bằng, quyền được giáo dục tiêu dùng, quyền được khiếu nại và bồi thường thiệt hại, và quyền được đại diện.

Trách nhiệm sản phẩm

Việc sản phẩm hàng hoá có khuyết tật ngay từ giai đoạn sản xuất được đưa vào lưu thông và sau đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng về tính mạng, sức khoẻ, tài sản… cũng là vấn đề được phản ánh trên báo chí nước ta thời gian qua. Chẳng hạn, trên thực tế đã từng xảy ra các vụ việc liên quan đến sử dụng vaccine tiêm chủng gây chết người, việc trẻ em sử dụng đồ chơi nguy hiểm, việc sử dụng các loại mỹ phẩm gây dị ứng…

Các quốc gia có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra thường loại bỏ nghĩa vụ chứng minh lỗi của sản phẩm cho người tiêu dùng. Nếu trước đây, người tiêu dùng phải chứng minh lỗi của nhà sản xuất vì đã gây ra thiệt hại thì nay người tiêu dùng chỉ phải chứng minh sự tồn tại của khuyết tật trong sản phẩm.

Rõ ràng, việc giảm nhẹ gánh nặng chứng minh đó sẽ làm cho việc quy kết trách nhiệm đối với nhà sản xuất được đơn giản hơn và do đó, người tiêu dùng có cơ hội nhiều hơn, có động lực tốt hơn để tiến hành khởi kiện quy trách nhiệm cho nhà sản xuất. Khi người tiêu dùng có động lực tốt hơn trong việc tiến hành khởi kiện quy trách nhiệm cho nhà sản xuất, hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm sẽ được nâng lên. Hệ quả dây chuyền sẽ là nhà sản xuất sẽ phải cẩn trọng hơn trong việc thiết kế, sản xuất sản phẩm của mình, đảm bảo rằng, sản phẩm làm ra ít hoặc không có khuyết tật, sản phẩm làm ra sẽ an toàn hơn đối với người tiêu dùng. Nhà sản xuất cũng phải làm tốt hơn trách nhiệm cảnh báo cho người tiêu dùng về các loại nguy hiểm có thể xảy ra đối với người tiêu dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm...

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm. 

Đã xem 224 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành