Thứ hai, 26 Tháng 6 2017 10:13

Một số góp ý hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

(Ảnh minh họa) (Ảnh minh họa)

1. Về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng

Hầu hết các nghiên cứu về chính sách và pháp luật bảo vệ và phát triển rừng đều đề cập việc quy hoạch lâm phận quốc gia ổn định. Đây được xem là điều kiện để phát triển một ngành Lâm nghiệp ổn định và bền vững. Nếu như diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp liên tục bị thay đổi bởi những chính sách hoặc bị chuyển đổi mục đích sử dụng thì khó có thể phát triển rừng một cách bền vững. Quy hoạch lâm phận không chỉ là diện tích đất trồng rừng mà yêu cầu các diện tích đất trồng rừng đó không được phép thay đổi chỉ vì mục tiêu phát triển kinh tế như việc chuyển đất trồng rừng phòng hộ thành đất trồng rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất thành đất trồng cây công nghiệp.

Năm 2007, khi rà soát diện tích ba loại đất rừng thì: đất rừng phòng hộ là: 7.173.689,08 ha, đất rừng đặc dụng là: 2.068.863,73 ha và đất rừng sản xuất là: 5.434.856,29ha. Đến năm 2017 tổng diện tích rừng giao cho hộ gia đình, tổ chức và cá nhân là 14.377.682 ha trong đó rừng tự nhiên là 10.242.141 ha và rừng trồng là 4.135.541 ha, và rừng phòng hộ được giao cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình 2.985.678 ha và rừng đặc dụng là 2.043.019 ha. Như vậy, với địa hình ba phần tư là đồi núi của nước ta thì diện tích đất rừng phòng hộ vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong ba loại đất rừng, sau đó đến diện tích đất rừng sản xuất và cuối cùng là đất rừng đặc dụng. Tuy nhiên, với chủ trương phát triển kinh tế rừng, Nhà nước đã cho phép chuyển đổi một số diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang trồng rừng sản xuất. Một số diện tích đất trồng rừng sản xuất sang trồng cao su.

Như vậy, trên cả nước nhiều diện tích đất trồng rừng sản xuất và rừng sản xuất là rừng tự nhiên đã bị chặt phá để trồng cây cao su. Việc chuyển đổi này là nhằm mục tiêu phát triển kinh tế nhưng thu hoạch từ cao su chưa biết khi nào mới có nhưng thiệt hại kinh tế trước mắt thì rất rõ. Những diện tích rừng được xác định là “nghèo, chưa có trữ lượng” là rừng có trữ lượng cây đứng bình quân theo lô từ 10. – 100 m3 trên ha, đường kính bình quân < 8 cm. Tức là chúng ta đã mất bao nhiêu tiền và bao nhiêu thời gian mới trồng được loại “rừng nghèo đó”.

Nhiều chuyên gia cho rằng quy định trên chưa hợp lý. Đó là chưa kể đến nhiều chủ rừng đã lợi dụng chính sách trên đế phá rừng tự nhiên nhằm chuyển mục đích sử dụng đất, trong khi đó tính đến năm 2009 trên cả nước đang còn 4.314.427,91 ha đất đồi núi chưa sử dụng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm. 

Đã xem 194 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành