1. Hệ thống giáo dục quốc dân

Theo Luật Giáo dục (1995) của Trung Quốc quy định hệ thống giáo dục Trung Quốc bao gồm giáo dục trước tuổi học, giáo dục Tiểu học, giáo dục trung học và giáo dục đại học.

Đối với giáo dục trước tuổi học (pre-school education) đối với trẻ từ 3 đến 5 tuổi và được tính là 3 năm.

Đối với giáo dục Tiểu học (primary education) là giáo dục bắt buộc và áp dụng theo hai chế độ khác nhau là Tiểu học 5 năm ( lớp 1 – lớp 5) áp dụng ở các vùng dân tộc thiểu số có khó khăn, tiếp nhận học sinh (HS) ở độ tuổi 6 - 10 tuổi; và Tiểu học 6 năm (lớp 1 – lớp 6) áp dụng ở các vùng còn lại trên cả nước, tiếp nhận HS ở độ tuổi 6 - 11 tuổi.

Đối với giáo dục Trung học (secondary education) của Trung Quốc được chia thành 4 loại hình là trung học phổ thông, trung cấp nghề, trường công nhân kỹ thuật và trung cấp chuyên nghiệp.

Đối với trung học phổ thông được chia thành 2 cấp là Trung học sơ cấp (Sơ trung - Junior secondary schools) là giáo dục bắt buộc và Trung học cao cấp (Cao trung - Senior secondary schools): 3 năm (lớp 10 - lớp 12), tiếp nhận HS đã hoàn thành giáo dục Trung học sơ cấp ở độ tuổi 15 - 17 tuổi.

Trung học sơ cấp được chia thành 2 cấp độ là Trung học sơ cấp 4 năm (lớp 6 - lớp 9), áp dụng ở các vùng dân tộc thiểu số có khó khăn, tiếp nhận HS đã hoàn thành giáo dục Tiểu học theo chế độ tiểu học 5 năm ở độ tuổi 11 - 14 tuổi và Trung học sơ cấp 3 năm (lớp 7 - lớp 9), áp dụng ở các vùng còn lại trên cả nước, tiếp nhận HS đã hoàn thành giáo dục Tiểu học theo chế độ tiểu học 6 năm ở độ tuổi 12 - 14 tuổi.

Trung cấp nghề (vocational high schools): 2 - 3 năm, Trường công nhân kĩ thuật (skilled workers schools): 3 năm.

Riêng Trung cấp chuyên nghiệp (specialized secondary schools), được chia thành học chế 3-5 năm: áp dụng đối với HS tốt nghiệp Trung học sơ cấp và học chế 2 năm: áp dụng đối với HS tốt nghiệp Trung học cao cấp.

Đối với giáo dục đại học (higher education) gồm có Trường đại học (University), Học viện chuyên khoa (non - university tertiary), Học viện chuyên khoa (non - university tertiary), các cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh (institutions providing postgraduate programs). Trong đó, Trường đại học sẽ áp dụng theo học chế 4 năm đối với các đại học nói chung và học chế 6 năm đối với đại học Y, Dược và một số ít chuyên ngành khoa học kĩ thuật.

Học viện chuyên khoa áp dụng theo học chế 2 - 3 năm, bao gồm cả học viện kĩ thuật nghề nghiệp (tertiary vocational - technical colleges), Học viện chuyên khoa áp dụng theo học chế 2 - 3 năm, bao gồm cả học viện kĩ thuật nghề nghiệp và các cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh áp dụng theo học chế 2,5 - 3 năm.

Riêng đối với giáo dục bắt buộc theo Luật Giáo dục nghĩa vụ của Trung Quốc, giai đoạn giáo dục bắt buộc 9 năm gồm có giáo dục Tiểu học (6 năm) và giáo dục sơ trung (3 năm). Ngoài ra còn có giáo dục đặc biệt dành cho trẻ khuyết tật.

2. Tiến trình đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông

Nhìn tổng thể, từ khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (10/1949) đến nay, Chương trình giáo dục phổ thông Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn phù hợp với sự phát triển về kinh tế - xã hội của đất nước.

Ở giai đoạn đầu thời kì thành lập nước đến năm 1957 chương trình giáo dục của nhà trường cũ, cần có sự cải tạo và đổi mới thông qua xây dựng hệ thống chương trình nhà trường mới trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến của Liên Xô. Tôn chỉ của giáo dục phổ thông là làm cho học sinh phát triển toàn diện về các mặt đức, trí, thể, mĩ.

Năm 1958, quan hệ Trung - Xô xấu đi. Cùng với việc phê phán chủ nghĩa xét lại về mặt chính trị và sự ngộ nhận, khuếch trương theo khuynh hướng "Tả” về mặt kinh tế, lĩnh vực giáo dục của Trung Quốc cũng bắt đầu phủ nhận toàn diện kinh nghiệm giáo dục của Liên Xô, tiến hành điều chỉnh toàn diện chế độ quản lí chương trình và sách giáo khoa, hệ thống môn học, nội dung chương trình và phân phối thời lượng.

Năm 1963, Nhà xuất bản Giáo dục nhân dân căn cứ vào kế hoạch dạy học 12 năm do Bộ Giáo dục ban hành, bắt tay biên soạn sách giáo khoa tiểu học và trung học, sách giáo khoa mới, tiếp tục lấy dạy học trên lớp là chính, nhấn mạnh tính khoa học, tính cơ sở, tính hệ thống của việc xây dựng chương trình, chú trọng tri thức và kĩ năng cơ bản. Đồng thời, để giảm bớt gánh nặng học tập cho học sinh và tránh tình trạng đơn nhất của chương trình bắt buộc, năm 1963, đã giảm bớt số giờ dạy học môn Lịch sử, Địa lí và xây dựng chương trình tự chọn ở cao trung (trung học phổ thông, THPT). Tuy nhiên, chương trình cũng đã bộc lộ khuynh hướng coi trọng khoa học tự nhiên và coi nhẹ khoa học xã hội. Đây có thể được xem là giai đoạn xây dựng toàn diện chủ nghĩa xã hội từ 1958 đến 1965.

Tháng 5 năm 1966, "Đại cách mạng văn hoá" nổ ra, đưa Trung Quốc lún sâu vào thời kì hỗn loạn suốt 10 năm. Trong 10 năm đó, lĩnh vực giáo dục bị phá hoại nghiêm trọng. Kinh nghiệm giáo dục của 17 năm sau khi thành lập nước bị phủ nhận hoàn toàn, chương trình và sách giáo khoa trở thành công cụ tuyên truyền cho "Đại cách mạng văn hoá" và thủ đoạn đấu tranh chính trị. Trong nhà trường chỉ tồn tại hai loại chương trình: Chương trình đấu tranh sản xuất và Chương trình đấu tranh giai cấp.

Từ năm 1977 -1986 Trung Quốc được xem là giai đoạn chấn chỉnh, xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa trên cơ sở những ý kiến chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình: "Giáo trình phải phản ánh trình độ tiên tiến của văn hoá, khoa học hiện đại", "Bổ sung đầy đủ nội dung giáo dục Tiểu học, trung học bằng những tri thức khoa học tiên tiến", năm 1978, Bộ Giáo dục đã ban hành "Kế hoạch dạy học tiểu học, trung học cả ngày theo chế độ 10 năm" (Phương án tạm thời) giải quyết quan hệ giữa chính trị và chuyên môn, lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa, yêu cầu việc bố trí môn học và lựa chọn nội dung chương trình phải lấy tri thức cơ bản là chính, chú trọng rèn luyện kĩ năng cơ bản, phát triển trí lực của học sinh, bồi dưỡng năng lực cho học sinh. Năm 1981, ban hành "Đề án sửa đổi kế hoạch dạy học trung học theo chế độ 5 năm" và "Đề án sửa đổi kế hoạch dạy học tiểu học theo chế độ 5 năm". Năm 1984 ban hành "Dự thảo kế hoạch dạy học tiểu học theo chế độ 6 năm". Sau năm 1985, toàn bộ tiểu học và trung học đều đổi thành chế độ 6 năm. Năm 1986, nhà xuất bản (NXB) Giáo dục nhân dân biên soạn bộ sách giáo khoa (SGK) tiểu học và trung học theo chương trình 12 năm. Các môn học ở Tiểu học gồm những môn bắt buộc là: Ngữ văn, Toán, Phẩm chất đạo đức, Xã hội (Lịch sử và Địa lí), Tự nhiên, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Lao động. Trung học gồm các môn bắt buộc là: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ, Chính trị, Lịch sử, Địa lí, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật, Kĩ thuật lao động. Ở cao trung (THPT) còn có các môn tự chọn. Việc bố trí chương trình và lựa chọn nội dung được thực hiện theo nguyên tắc lí luận kết hợp thực tiễn, tôn trọng quy luật phát triển thể chất và tâm lí của HS. Thông qua việc dạy học theo chương trình này, các trường phổ thông Trung Quốc đã cung cấp cho giáo dục đại học một lượng lớn sinh viên đủ tiêu chuẩn, phục vụ xây dựng hiện đại hoá đất nước.

Từ năm 1986 đến nay Trung Quốc thực hiện Quyết định cải cách thể chế giáo dục của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đây được xem là giai đoạn giao trách nhiệm phát triển giáo dục phổ thông cho các địa phương, từng bước thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm, điều chỉnh cơ cấu giáo dục, ra sức phát triển giáo dục kĩ thuật - nghề nghiệp và thực hiện cải cách giáo dục đại học, giáo dục người lớn.

Mốc quan trọng của giai đoạn này là năm 1993, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện ban hành "Chương trình cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc”. Chương trình này đề ra hai nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là: quán triệt toàn diện phương châm giáo dục và nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục. Để thực hiện được hai nhiệm vụ đã nêu, Trung Quốc đã đổi mới tư tưởng giáo dục, quan niệm giáo dục, tăng cường giáo dục tố chất, khắc phục mô hình giáo dục ứng thí đã hình thành lâu nay, thay đổi khuynh hướng chạy theo tỉ lệ lên lớp một cách phiến diện, quán triệt phương châm giáo dục hướng tới toàn thể học sinh, nâng cao tư tưởng đạo đức, trình độ văn hoá khoa học, kĩ năng lao động và tố chất sức khoẻ, tâm lí của học sinh, thúc đẩy sự trưởng thành lành mạnh của thanh thiếu niên. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của trường học không chỉ căn cứ vào tỉ lệ lên lớp mà còn căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ căn bản của giáo dục phổ thông là làm cho toàn thể học sinh nâng cao được trình độ về các mặt đức, trí, thể, mĩ.

Như vậy, chu kì cải cách Chương trình giáo dục phổ thông của Trung Quốc hoàn toàn phụ thuộc vào định hướng chính trị, yêu cầu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vòng đời của chương trình thường là từ 8 - 10 năm.

Một năm học kéo dài khoảng 36 tuần, chia làm 3 học kì, học 2 buổi/ngày. Từ 2014, tiểu học học 9 buổi/tuần (trước kia 8 buổi). Trong năm có nhiều kì nghỉ dài 1-2 tuần (thường là sau khoảng 6-8 tuần học có một kì nghỉ).

1. Chương trình bậc mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở

1.1. Chương trình 2008 - 2016

Theo quy định chương trình 2008-2016 bậc mầm non cần đạt được sự phát triển tổng thể các tư chất, hiểu nhà trường là gì, trải nghiệm lần đầu cuộc sống học đường thành công, trong đó nội dung ưu tiên như học, làm giàu ngôn ngữ, khám phá việc viết, thế giới con số, học cách sống chung. Các nội dung được chia theo lĩnh vực như nắm bắt ngôn ngữ, chuẩn bị cho đọc và viết; học trở thành học sinh; hoạt động, biểu đạt bằng cơ thể; khám phá thế giới và nhận thức, cảm giác, tưởng tượng, tạo ra.

Đối với cấp tiểu học theo quy định của chương trình 2008-2016 với thời lượng hàng tuần 24 giờ (mỗi giờ có 60 phút), tổng thời lượng mỗi năm 864 giờ cho chương trình chung.

Đến cấp tiểu học thì chương trình 2008-2016 quy định thành 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Học nền tảng (lớp 1 - 2): Ưu tiên là: tiếng Pháp và toán; bổ sung thêm một số môn. Gồm 6 môn/hoạt động Toán, Tiếng Pháp, ngoại ngữ, giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Khám phá thế giới (có thể có thêm ngôn ngữ địa phương)[1].

- Giai đoạn 2 (lớp 3 - 5): Có thêm Lịch sử - Địa, Khoa học thực nghiệm và công nghệ (CN). Gồm 7 môn/hoạt động Toán, Tiếng Pháp, Ngoại ngữ, Giáo dục thể chất, Khoa học thực nghiệm và công nghệ, Nhân văn (Nghệ thuật và Lịch sử - Địa - Giáo dục công dân và Đạo đức)[2].

Trừ Toán + Tiếng Pháp quy định thời lượng theo tuần, các môn học khác chỉ quy định tổng thời lượng theo năm học để nhà trường có thể bố trí phù hợp với điều kiện riêng.

Sử dụng TIC là công cụ, phục vụ cho các hoạt động khác nhau, yêu cầu phải đưa tới trình độ 1 của chứng chỉ tin học và internet (B2i).

Với những học sinh có vấn đề, có kèm riêng 2h/tuần. Ngoài ra, với học sinh lớp 4, 5 học kém toán và tiếng Pháp, có lớp phụ đạo trong 3 kì nghỉ, mỗi đợt 5 ngày, mỗi ngày 3 giờ.

Đối với cấp sơ trung mục tiêu của chương trình 2008 -2016 giúp học sinh đạt SOCCOM, chuẩn bị cho học tiếp cao trung (đại cương, công nghệ hay nghề). Thời lượng hàng tuần từ 25,5 giờ đến 28 giờ tuỳ bậc lớp, trong đó nội dung cấu trúc rõ theo môn. Số môn học bắt buộc thay đổi tuỳ bậc lớp từ 9 đến 11 môn, gồm Toán, Tiếng Pháp, ngoại ngữ 1, ngoại ngữ 2 hoặc tiếng địa phương (bắt đầu từ lớp 8), Lí - Hoá (bắt đầu từ lớp 7), Khoa học sự sống và Khoa học Trái Đất, Công nghệ, Sử - Địa - Giáo dục công dân, Nghệ thuật tạo hình, Giáo dục âm nhạc. Riêng ở lớp 7 và 8 có thêm Hành trình khám phá là hoạt động mang tính phối hợp tối thiểu 2 môn, thường là tổ chức theo dự án. Ngoài ra, từ lớp 7 học sinh có thể chọn học thêm một số môn hoặc môđun tự chọn như tiếng Latin, khám phá nghề nghiệp... nhưng rất ít.

Chương trình 2008-2016 cấp sơ trung được chia làm 3 giai đoạn[3]:

- Giai đoạn 1 (lớp 6) - thích nghi: Mục tiêu là củng cố kết quả của tiểu học (TH), cho học sinh làm quen với phương pháp làm việc ở Trung học. Một số học sinh bắt đầu ngoại ngữ 2.

- Giai đoạn 2 (lớp 7, 8) - trung tâm: Mục tiêu là đào sâu kiến thức, kĩ năng và savoir etre. Đặc trưng: sự nhất quán về nội dung phân bố trên 2 năm học và sự đa dạng hoá lộ trình bằng việc bắt đầu đưa vào thêm tự chọn. Học sinh có thể chọn môđun khám phá các nghề và các ngành đào tạo. Từ lớp 7 có thể chọn tiếng Latin. Từ lớp 8 bắt đầu ngoại ngữ 2 (hay tiếng địa phương).

- Giai đoạn 3 (lớp 9) - định hướng: Mục tiêu là hoàn thiện học vấn sơ trung và chuẩn bị cho quá trình đào tạo tiếp theo. Có thể tuỳ chọn thêm một từ ngữ hoặc "khám phá nghề nghiệp" 3h/tuần.

(1) 30 phút cho các nhóm nhỏ.

(2) Phối hợp tối thiểu 2 môn, tính tăng giờ cho những môn đó.

(3) Có thể tăng thêm nhất là với những trường có những học sinh rất kém. SGD và trường quyết định.

(4) Nhằm giúp học sinh thâm nhập, làm quen với thế giới nghề nghiệp. Những trường hợp học sinh kém, không muốn tiếp tục học lên có thể theo môđun 6h/tuần và có thể không cần học ngoại ngữ 2 nếu gia đình cho phép.

(5) Học sinh đã chọn môn bắt buộc là ngoại ngữ 2 có thể chọn ngôn ngữ địa phương như tự chọn và ngược lại.

1.2. Chương trình mới từ 2016

Trong chương trình mới từ 2016 cấp Tiểu học được chi thành giai đoạn 2 và giai đoạn 3[4]

• Giai đoạn 2 - Giai đoạn học tập cơ sở/nền tảng (lớp CP, CE1,CE2 - tương đương lớp 1,2,3 của Việt Nam[5].

• Giai đoạn 3: Giai đoạn củng cố (gồm các lớp CM1, CM2 ở Tiểu học và lớp 6e - tương đương lớp 4, 5, 6 của Việt Nam)[6] quy định thời lượng mỗi lĩnh vực môn hàng tuần thực tế có thể thay đổi tuỳ đề án các trường, miễn sao tổng số giờ cho từng môn trong năm học không đổi.

Đối với lớp 9 thuộc cấp sơ trung (Trung học cơ sở), một số học sinh dự kiến theo định hướng nghề học lớp 9 "dự bị đào tạo nghề". Ngoài chương trình như các học sinh khác, họ sẽ phải học thêm phần đào tạo bổ sung[7].

2. Chương trình bậc cao trung (trung học phổ thông - THPT) đối với các học sinh chọn luồng đại cương và công nghệ

Đối với lớp 10 – lớp xác định hướng (détermination): Chung cho cả THPT và Trung học công nghệ, không phân ban. Hết lớp 10 học sinh phải chọn luồng (đại cương hay công nghệ) và chọn ban.

Mục tiêu: Đem tới văn hoá chung cho tất cả học sinh và cho phép khám phá các lĩnh vực mới: văn chương, nghệ thuật, khoa học hay công nghệ để chọn lựa, chuẩn bị cho giai đoạn chọn tiếp theo.

Chương trình phần văn hoá chung gồm 9 môn học bắt buộc, chiếm 80% thời lượng là Toán, Tiếng Pháp, ngoại ngữ 1, ngoại ngữ 2 (bắt buộc), Lí - Hoá, Khoa học sự sống và Khoa học Trái Đất, Sử - Địa, Giáo dục công dân pháp luật và xã hội, Giáo dục thể chất.

Phần khám phá các lĩnh vực/ngành mới: Bắt buộc phải chọn 2 môn “thăm dò", trong đó phải có 1 môn về kinh tế. Môn thăm dò thứ 2 có thể nằm trong các nhóm môn sau:

- Nhóm Khoa học và Công nghệ: Phương pháp và thực hành khoa học, Khoa học cho kĩ sư, Khoa học và phòng thí nghiệm, Sáng tạo và đổi mới công nghệ, Các nguyên tắc cơ bản của kinh tế và quản lí, Sáng tạo và văn hoá design;

+ Nhóm Văn chương: Văn học và xã hội, Ngôn ngữ và văn hoá Trung cổ (Latin, Hi Lạp).

+ Nhóm Nghệ thuật: Sáng tạo và hoạt động nghệ thuật...

Việc chọn môn "thăm dò" ở lớp 10 theo đúng nghĩa là thăm dò, tìm hiểu không phải là điều kiện để phân ban lớp 11, 12.

Đối với lớp 11 và 12 THPT học sinh theo luồng THPT đại cương học theo chương trình phân ban với 3 ban, THPT công nghệ 8 ban. Số lượng môn học ở từng ban không nhiều.

Chương trình THPT đại cương gồm 2 cấu phần chính:

- Phần chương trình chung gồm những môn bắt buộc cho tất cả học sinh. Ở lớp 11 phần này chiếm tới 60% thời lượng nhưng tới lớp 12 chỉ còn khoảng hơn 20%.

- Phần chương trình riêng cho từng ban: Gồm một số môn học bắt buộc mang tính chuyên ban (ở lớp 11 có cả thêm môn khoa học mang tính bổ sung cho các ban Văn và Kinh tế) và một số môn tự chọn mang tính phân ngành sâu ở từng ban.

Cụ thể:

- Lớp 11: Phần chung gồm 6 môn là Tiếng Pháp, 2 ngoại ngữ, Sử - Địa, Giáo dục thể chất, Giáo dục công dân. Ngoài ra học sinh phải học 3 môn riêng "chuyên ban":

+ Ban khoa học: Toán, Lí - Hoá, SVT hoặc các khoa học cho kĩ sư (KHKS) (chọn 1 trong 2 môn cuối).

+ Ban Văn: Văn học, Văn học nước ngoài bằng tiếng nước ngoài, Khoa học.

+ Ban Kinh tế - xã hội: Các môn khoa học kĩ thuật và xã hội, Toán, Khoa học.

- Lớp 12: Phần chung chỉ còn khoảng 25% gồm 4 môn: 2 ngoại ngữ, giáo dục thể chất và Giáo dục công dân. Phần riêng cho ban gồm Triết, 3 môn chuyên ban và một môn tự chọn bắt buộc chuyên ngành (1,5 đến 3 giờ).

Ngoài ra, học sinh có thể chọn thêm một số môn tự chọn tuỳ ý, thường là các môn nghệ thuật (kịch, điện ảnh, khiêu vũ...), thể dục thể thao, sinh ngữ... nhằm đáp ứng nhu cầu sở thích cá nhân ngoài chuyên ngành đã chọn.

Học sinh ban Văn lớp 11 bắt buộc phải chọn một trong các môn sau (3 giờ/tuần): Toán, Ngoại ngữ 3, Ngoại ngữ 1 hoặc Ngoại ngữ 2 chuyên sâu, Ngôn ngữ cổ đại (Latin hoặc Hi Lạp), Nghệ thuật (5h/tuần), Xiếc (8h/tuần).


Phụ lục

Bảng kế hoạch dạy học giai đoạn cơ sở CP - CE1 (tương đương lớp 1 và 2 Việt Nam)

Môn Tổng thời lượng/năm (giờ) Thời lượng/tuần (giờ)
Tiếng Pháp 360 h 10 h
Toán 180 h 5 h
Giáo dục thể chất 108 h 9 h
Ngoại ngữ 54 h
Thực hành nghệ thuật và lịch sử nghệ thuật 81 h
Khám phá thế giới 81 h
TỔNG CỘNG 6 môn = 864 h 24 h

 

Bảng kế hoạch dạy học giai đoạn nâng cao (CE2 - CM1 - CM2 tương đương lớp 3, 4, 5 của Việt Nam)

Môn Tổng thời lượng/năm (giờ) Thời lượng/tuần (giờ)
Tiếng Pháp 288 h 8 h
Toán 180 h 5 h
Giáo dục thể chất 108 h 11 h
Ngoại ngữ 54 h
Khoa học thực nghiệm và Công nghệ 78 h

Văn hoá nhân văn

- Nghệ thuật và Lịch sử nghệ thuật

- Sử - Địa - Giáo dục công dân và Đạo đức

78 h

78 h

TỔNG CỘNG 7 môn - 864 h 24 h

 

Bảng Kế hoạch dạy học cấp THCS

Thời lượng ( giờ/tuần)
Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9
Bắt buộc
Tiếng Pháp 4,5(1) hoặc 5 4 4 4,5
Toán 4 3,5 3,5 4
Ngoại ngữ 1 4 3 3 3
Ngoại ngữ 2 ( hoặc tiếng địa phương ) 3 3
Sử - Địa – Giáo dục công dân 3 3 3 3,5
Khoa học và Công nghệ gồm:
Lí – Hoá 1,5 1,5 2
Các khoa học sự sống và khoa học Trái Đất 1,5(1) 1,5 1,5 1,5
Công nghệ 1,5(1) 1,5 1,5 2
Giáo dục nghệ thuật gồm:
Nghệ thuật tạo hình 1 1 1 1
Giáo dục âm nhạc 1 1 1 1
Giáo dục thể chất và thể thao 4 3 3 3
Hành trình khám phá ( 2 ) 2 2
Trợ giúp cá nhân hoá 2
Thời lượng do trường tự phân bổ thêm 0,5 0,5
Sinh hoạt lớp 10h/năm 10h/năm 10h/năm 10h/năm

Số môn học

Tổng thời lượng/tuần

9 môn 28h (3) 10 môn + 25h30min 11 môn + 28h30min 11 môn + 28h30min(3)
Tự chọn không bắt buộc
Tiếng Latin 2 3 3
Tiếng Hi Lạp 3
Ngoại ngữ 2 ( 5 ) 3 3
Ngôn ngữ địa phương (5) 3 3
Khám phá nghề nghiệp 3 hoặc 6 (4)


Bảng Giai đoạn 2: Giai đoạn cơ sở - Chương trình mới từ 2016

Lĩnh vực Thời lượng hàng tuần trung bình ( giờ )
Tiếng Pháp 360 10
Toán 180 5
Sinh ngữ (ngoại ngữ hoặc tiếng địa phương) 54 1,5
Giáo dục thể chất và thể thao 108 3
Giảng dạy nghệ thuật 72 2
Tìm hiểu thế giới (Questionner le monde)/Giáo dục đạo đức và công dân (EMC) 90 2,5
TỔNG CỘNG 864 h 24 h

 

Bảng Giai đoạn 3: củng cố (lớp CM1, CM2) – Chương trình mới từ 2016

Môn Tổng thời lượng/năm (giờ) Thời lượng hàng tuần (giờ)
Tiếng Pháp 288 8
Toán 180 5
Ngoại ngữ 54 1,5
Giáo dục thể chất và thể thao 108 3
Khoa học và Công nghệ 72 2
Giáo dục nghệ thuật 72 2

Lịch sử và Địa lí

Giáo dục đạo đức và công dân (EMC)

90 2,5
TỒNG CỘNG 7 môn - 864h 24 h

 

Bảng Kế hoạch dạy học giai đoạn 3 (lớp 6) và giai đoạn 4 (lớp 7, 8, 9)

Lĩnh vực/môn học Thời lượng các môn bắt buộc/tuần
Giai đoạn 3 Giai đoạn 4
Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9
Giáo dục thể chất, thể thao 4h 3 3 3
Giáo dục nghệ thuật (tạo hình và giáo dục âm nhạc) 1h + 1h 1h + 1h 1h + 1h 1h + 1h
Tiếng Pháp 4,5h 4,5h 4,5 h 4
Lịch sử - Địa lí - Giáo dục đạo đức và Công dân 3h 3 3 3,5
Sinh ngữ 1 4h 3 3 3
Sinh ngữ 2 2,5 2,5 2,5
Toán 4,5h 3,5 3,5 3,5
Khoa học sự sống và Khoa học Trái Đất 4h 1,5 1,5 1,5
Vật lí - Hoá học 1,5 1,5 1,5
Công nghệ 1,5 1,5 1,5
Tổng thời lượng bắt buộc 23h + 3h dành cho trợ giúp cá nhân hoá 22h + 4h cho trợ giúp cá nhân hoá ( 1-2h/tuần) và giáo dục thực hành liên môn ( 2-3h/tuần )
Tự chọn tuỳ ý
Tiếp tục ngoại ngữ tiểu học 2
Nhập môn ngôn ngữ địa phương 2
Ngôn ngữ và văn hoá cổ đại (latin, Hi Lạp) hay ngôn ngữ và văn hoá địa phương 1 2 2

 


[1] Xem thêm Bảng kế hoạch dạy học giai đoạn cơ sở CP - CE1 (tương đương lớp 1 và 2 Việt Nam)

[2] Xem thêm Bảng kế hoạch dạy học giai đoạn nâng cao (CE2 - CM1 - CM2 tương đương lớp 3, 4, 5 của Việt Nam)

[3] Xem thêm Bảng Kế hoạch dạy học cấp THCS

[4] Giai đoạn 1 thuộc giáo dục mầm non trong bài “Giới thiệu về hệ thống giáo dục Cộng hòa Pháp”

[5] Xem thêm Bảng Giai đoạn 2: Giai đoạn cơ sở - Chương trình mới từ 2016.

[6] Xem thêm Bảng Giai đoạn 3: củng cố (lớp CM1, CM2) – Chương trình mới từ 2016

[7] Xem thêm Bảng Kế hoạch dạy học giai đoạn 3 (lớp 6) và giai đoạn 4 (lớp 7, 8, 9)

Ở Pháp năm 2016 là năm đầu tiên áp dụng Chương trình giáo dục phổ thông mới ở một vài lớp của giáo dục bắt buộc. Trong chuyên đề này xin giới thiệu cả 2 chương trình giáo dục phổ thông cũ và mới để thấy rõ hơn về tư tưởng và xu hướng phát triển giáo dục của Cộng hòa Pháp.

1. Mục tiêu phát triển chương trình giáo dục phổ thông

Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ (finalités, objectifs, missions) của giáo dục phổ thông và của các bậc học không được chỉ rõ một cách tường minh trong 1 mục, một văn bản mà được nêu lên rải rác trong Luật Giáo dục trong các phân nhiệm vụ, nguyên tắc chung... và trong các văn bản SOCCOM.

Bản hiến chương về chương trình năm 2013 tóm tắt lại một vài yêu cầu được nêu trong Luật Giáo dục của Cộng hòa pháp như: nhiệm vụ truyền thụ tri thức; nhiệm vụ "làm cho học sinh lĩnh hội các giá trị của nền Cộng hoà"; mục tiêu "làm cho học sinh thụ đắc được sự tôn trọng nhân phẩm của mọi con người, sự tự do về ý thức, về "thế tục" (theo nghĩa tôn trọng các tôn giáo khác nhau...; mục tiêu "tạo điều kiện cho sự hợp tác giữa các học sinh"; đảm bảo cho mỗi cá nhân quyền được giáo dục để phát triển nhân cách, nâng cao trình độ đào tạo ban đầu và thường xuyên, hội nhập trong đời sống nghề nghiệp và thực hiện quyền công dân"; mục tiêu phát triển các kiến thức và năng lực, văn hoá cần thiết để thực hiện vai trò công dân trong xã hội hiện đại của thông tin và truyền thông"; tạo điều kiện cho phát triển, sự trưởng thành của trẻ em, phát triển tư duy sáng tạo và hành động...

Riêng với giáo dục cơ sở, Luật Giáo dục 2005 của Cộng hòa Pháp chỉ rõ vấn đề giáo dục bắt buộc tối thiểu phải đảm bảo cho từng học sinh các công cụ cần thiết để làm chủ một nền tảng chung được cấu thành bởi một tổng thể kiến thức và năng lực nhất thiết phải làm chủ để có thể thành công trong học hành, tiếp tục quá trình đào tạo, xây dựng tương lai cá nhân và tương lai nghề nghiệp, thành công trong cuộc sống trong xã hội.

Bản SOCCOM 2015 khẳng định: Giáo dục bắt buộc có mục tiêu kép: đào tạo và "xã hội hoá". "Nó cung cấp cho học sinh một văn hoá chung, dựa trên các kiến thức và năng lực thiết yếu, cho phép phát triển hài hoà tột bực cá nhân, phát triển tính xã hội, thành công trong các lộ trình đào tạo tiếp theo, hội nhập vào xã hội mà họ sẽ sống và tham gia với tư cách là một công dân vào sự vận động của nó nhằm mở cánh cửa đến với tri thức, hình thành khả năng đánh giá và óc phản biện dựa trên dựa trên các yếu tố tri thức có tính liên kết (hệ thống) về thế giới; cung cấp một sự giáo dục đại cương chung, mở cho tất cả, dựa trên những giá trị cho phép sống được trong một xã hội bao dung và tự do; tạo điều kiện cho sự phát triển cá nhân trong quan hệ tương tác với thế giới xung quanh; phát triển các khả năng thông hiểu và sáng tạo, khả năng tưởng tượng và hành động; đi kèm và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thể chất, nhận thức và trực giác của học sinh (HS)... và cung cấp cho học sinh các phương tiện để tham gia vào các hoạt động học đường, hành động, trao đổi với người khác, đạt được sự tự chủ và thực hiện dần sự tự do và vai trò của công dân có trách nhiệm”.

Các mục tiêu được cụ thể hoá, mô tả chi tiết hơn bằng những năng lực và kiến thức cần đạt (chuẩn) ở cuối giáo dục bắt buộc trong từng lĩnh vực đào tạo trong SOCCOM và các mục tiêu xác định cho từng giai đoạn trong văn bản chương trình của mỗi giai đoạn đào tạo (giai đoạn 2,3,4 đối với giáo dục bắt buộc): mục tiêu chung, mục tiêu cho từng lĩnh vực đào tạo trong SOCCOM, cùng với mục tiêu của từng môn học, ứng với mỗi giai đoạn đào tạo.

Một trong các mục tiêu được đặt ra cho hệ thống giáo dục: đảm bảo "bằng cấp” cho tất cả (với mục tiêu đảm bảo 100% học sinh có một bằng cấp hoặc trình độ nghề được công nhận [được cấp chứng chỉ hành nghề], 80% có bằng tú tài PT hoặc nghề, 50% có bằng sau tú tài).

2. Tiêu chí đánh giá Chuẩn

Tiêu chí đánh giá chuẩn có 3 cấp độ chuẩn trong chương trình như chuẩn chung cho toàn Bộ Giáo dục bắt buộc, trình bày trong bản Khung năng lực và kiến thức nền tảng SOCCOM. Ở một góc độ nào đó, nó “mô tả yêu cầu học tập qua những gì mà học sinh phải đạt tới ở cuối giai đoạn học tập cơ sở (leaming outcomes) (O. Rey 2010); chuẩn cho từng giai đoạn: Mô tả năng lực/thành tố năng lực, kiến thức cần đạt ở từng giai đoạn (nhóm lớp) và chuẩn chi tiết (kiến thức, kĩ năng, năng lực mong đợi) ở từng môn học (theo cấp, hay theo lớp).

Đối với tiêu chí đánh giá chuẩn theo chương trình 2008 được phân ra các cấp độ chuẩn chung cho giáo dục bắt buộc – SOCCOM 2006 và SOCCOM 2015 và chương trình 2016.

2.1. Chương trình 2008

Cấp độ chuẩn chung cho giáo dục bắt buộc - SOCCOM 2006 được mô tả khá chi tiết cho từng thành tố đối với các “năng lực lớn” như kiến thức (connaissance), khả năng/kĩ năng (capacité) và thái độ (attitude); không chia thành môn học riêng biệt.

Ví dụ minh hoạ một vài thành tố của năng lực văn hoá khoa học và công nghệ trong SOCCOM 2006 về mặt kiến thức phải đảm bảo sự nhận biết của vật chất tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như phải chịu các sự biến đổi và các phản ứng và được tổ chức từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, từ vật chất chết đến vật chất sống...

Về khả năng học sinh cần phải đảm bảo thực hiện hoàn thiện một tiến trình khoa học như kỹ năng quan sát, đặt câu hỏi, nêu giả thuyết và chứng minh nó, lập luận, mô hình hoá một cách sơ đẳng; hiểu mối liên hệ giữa các hiện tượng của tự nhiên và ngôn ngữ toán học, công cụ có thể được sử dụng và có thể giúp đỡ mô tả các hiện tượng...

Học sinh phải biết thể hiện thái độ phê phán tích cực như phân biệt giữa cái đã được chứng thực với cái có thể hay cái không chắc chắn...

Khi hướng dẫn triển khai dạy học và đánh giá, năng lực này lại được xem xét với những thành tố cơ bản sau:

Thứ nhất về, thực hiện một tiến trình khoa học và công nghệ - giải quyết một vấn đề như tìm kiếm, tách, tổ chức thông tin; thực hiện, thao tác, đo đạc, tính toán, áp dụng một quy trình; tập luận, thực hiện một tiến trình thực nghiệm hay công nghệ; trình bày tiến trình đã thực hiện, các kết quả, giao tiếp với ngôn ngữ thích hợp; biết sử dụng các kiến thức trong các lĩnh vực khoa học khác nhau của khoa học vũ trụ và Trái Đất; vật chất; cơ thể sống; năng lượng; các đối tượng kĩ thuật; môi trường và Phát triển bền vững, trong đó học sinh phải biết huy động kiến thức để hiểu các vấn đề liên quan...

Về cấp độ giai đoạn (nhóm năm học) được biên soạn theo nhóm chuẩn chung của 3 bậc. Cuối lớp CE1 (tương tương lớp 2 của Việt Nam) cuối cấp Tiểu học và cuối trung học cơ sở (THCS). Cuối THCS chính là bản SOCCOM.

Chuẩn chung mỗi giai đoạn được phát biểu theo từng năng lực lớn như trong SOCCOM nhưng không còn chia thành 3 thành tố kiến thức, kĩ năng, thái độ mà chia thành các thành tố kĩ năng/biểu hiện hành vi gắn với kiến thức và tình huống.

Ví dụ chuẩn cho Năng lực 1 "Làm chủ tiếng Pháp” cuối giai đoạn 1 giáo dục bắt buộc (lớp 2):

HS có khả năng diễn đạt rõ ràng khi nói với từ vựng thích hợp; tự đọc to một văn bản với những từ quen thuộc hay mới lạ; tự đọc to và nghe một văn bản về di sản văn hoá và các tác phẩm hoàn chỉnh cho thiếu niên, phù hợp lứa tuổi; tự đọc và hiểu một phát biểu, một câu lệnh đơn giản; xác định chủ đề của một đoạn hay một văn bản ngắn; chép lại không mắc lỗi một văn bản ngắn viết tay rõ ràng, trình bày cẩn thận; viết không mắc lỗi một bài chính tả ngắn 5 dòng, sử dụng các hiểu biết từ vựng, chính tả và ngữ pháp; sử dụng hiểu biết để viết tốt một văn bản ngắn; tự soạn thảo một văn bản từ 5 đến 10 dòng.

Đối với tiêu chính đánh giá chuẩn về cấp độ chương trình môn học, được xác định đối với từng môn học. Tiêu chí đánh giá chuẩn được phát biểu trong chương trình dưới dạng các kết quả mong đợi theo chủ đề ở từng giai đoạn (Chương trình Trung học) hay từng lớp (THCS, THPT). Cách trình bày ở các môn khác nhau có những sự khác biệt rõ rệt. Nếu ở môn công nghệ, lối trình bày theo năng lực khá rõ ràng thì ở môn Lí - Hoá, chủ yếu vẫn trình bày theo cấu trúc khái niệm, kiến thức được phát biểu thành mệnh đề, các kĩ năng/khả năng được biểu đạt bằng cách động từ hành động, thường là khả năng làm được một việc, ví dụ: Tách các thông tin về cấu tạo không khí và vai trò của oxi từ một tài liệu; Đề xuất một phương án thí nghiệm cho phép làm rõ tính nén được của không khí...

2.2. SOCCOM 2015 và chương trình 2016

Tiêu chí đánh giá chuẩn cấp độ chuẩn cuối giáo dục bắt buộc SOCCOM 2015 xác định các yếu tố của một văn hoá chung nhất thiết phải có cuối giáo dục bắt buộc, dựa trên các hiểu biết và năng lực, đạt được với 5 lĩnh vực đào tạo như các ngôn ngữ để tư duy và giao tiếp (tiếng mẹ đẻ; ngoại ngữ hay tiếng địa phương; các ngôn ngữ toán học, khoa học và tin học; các ngôn ngữ nghệ thuật và cơ thể); các phương pháp và công cụ để học tập; đào tạo cá nhân và công dân; các hệ thống tự nhiên và kĩ thuật; các biểu tượng về thế giới và hoạt động của nhân loại;

Mục tiêu (chuẩn) được trình bày không theo kiểu 7 nhóm năng lực lớn như cũ mà theo từng lĩnh vực. Năng lực cũng không được mô tả dưới dạng các thành tố kiến thức, kĩ năng và thái độ.

Ví dụ: Mục tiêu năng lực và kiến thức ở lĩnh vực 4 “Các hệ thống tự nhiên và kĩ thuật” được chia làm 3 nhóm về các tiến trình, phương pháp khoa học; thiết kế, sáng tạo, thực hiện và trách nhiệm cá nhân và cộng đồng;

Mục tiêu nhóm "Thiết kế, sáng tạo và thực hiện" được mô tả như sau: HS tưởng tượng, thiết kế và chế tạo các đồ vật và các hệ thống kĩ thuật. HS tiến hành quan sát, sự tưởng tượng, tính sáng tạo, óc thẩm mĩ và chất lượng, tài năng và sự khéo léo thao tác chân tay, tư duy thực tiễn và huy động các kiến thức, kĩ năng khoa học, công nghệ và nghệ thuật thích hợp.

Đối với tiêu chí đánh giá chuẩn cấp độ giai đoạn được xác định trong chương trình mới không phát biểu tường minh chi tiết chuẩn chung cho giai đoạn, chủ yếu mô tả mục tiêu, cách nhìn khái quát về đóng góp của các lĩnh vực đào tạo.

Đối với tiêu chí đánh giá cấp độ chương trình môn học ở từng giai đoạn cần đạt được như nêu những năng lực, thành tố năng lực chung mà môn học đóng góp cho SOCCOM. Thường nêu những thành tố năng lực mong đợi đạt được ở cuối giai đoạn ứng với từng chủ đề. Ví dụ môn Khoa học và Công nghệ ở giai đoạn 2 (lớp 4,5,6), chủ đề "Vật chất, chuyển động, năng lượng, thông tin" như mô tả các trạng thái và cấu tạo vật chất ở mức độ vĩ mô; quan sát và mô tả các loại chuyển động; nhận biết các nguồn năng lượng khác nhau; nhận biết một tín hiệu và một thông tin; chuẩn chi tiết của từng chủ đề mô tả rõ các biểu hiện hành vi của các năng lực trên, gắn với kiến thức và tình huống.

Ví dụ: Yêu cầu đối với mô tả các trạng thái và cấu tạo vật chất ở mức vĩ mô được mô tả cụ thể cách triển khai các quan sát và thí nghiệm để chỉ rõ các đặc trưng của một mẫu vật chất; xác định, từ các nguồn khác nhau, các cấu phần của một hỗn hợp và thực hiện một quy trình tách các thành phần của một hỗn hợp.

Theo xu thế quốc tế về phát triển chương trình giáo dục và xem xét những vấn đề cụ thể về phát triển chương trình giáo dục phổ thông của một số nước, có thể thấy các quốc gia trên thế giới đã có nhiều điểm chung về quan điểm tiếp cận và cách thức phát triển chương trình, mặt khác, mỗi quốc gia lại có những đặc điểm riêng trong quá trình xây dựng và triển khai chương trình phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội. Từ xu thế chung về phát triển chương trình giáo dục phổ thông của thế giới và kinh nghiệm phát triển chương trình của một số nước, có thể rút ra những kinh nghiệm, những định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông cho Việt Nam. Đồng thời khi tiến hành xây dựng chương trình tổng thể và chương trình môn học của Việt Nam, cần tiếp tục phân tích từng vấn đề để thấy những nội dung nào có thể vận dụng được và vận dụng như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới.

Khi tìm hiểu về định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam trước hết cần phân tích về bối cảnh kinh tế xã hội của quốc tế và nước ta cũng như các yêu cầu đặt ra đối với giáo dục phổ thông.

Có thể xem xét tình hình kinh tế xã hội trên thế giới hiện nay theo nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta chỉ xem xét các yếu tố kinh tế xã hội có tác động lớn tới sự phát triển giáo dục ở từng nước. Chẳng hạn các yếu tố liên quan đến quan niệm của Chính phủ, của xã hội về tầm quan trọng của giáo dục, các chính sách lớn khuyến khích phát triển giáo dục, tiềm năng đầu tư tài chính, kinh tế cho giáo dục...

Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện để từng bước hình thành một nền kinh tế tri thức (Knowledge Economy). Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế học hỏi, bởi ở bất kỳ trình độ phát triển nào của nền kinh tế thế giới thì con người có tri thức khoa học, có năng lực sáng tạo vẫn là nhân tố quyết định sự phát triển. Sự không cập nhật tri thức mới, sự bất cập với công nghệ mới, công nghệ cao là yếu tố hàng đầu của sự phân hoá phát triển - kém phát triển.

Trong nền kinh tế tri thức, tri thức, trí tuệ của con người và kỹ năng lao động trở thành lợi thế phát triển lớn nhất, quyết định nhất. Phát triển kinh tế tri thức sẽ tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm bớt nặng nhọc trong lao động. Vì vậy, hiện nay, các nước đều dành sự quan tâm hàng đầu cho việc xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về tri thức và phát triển đội ngũ trí thức. Ở đâu có nhiều tri thức hơn, ở đó có nền kinh tế phát triển hơn; những công ty, đơn vị nào có nhiều tri thức sẽ phát triển mạnh hơn; những cá nhân nào có tri thức, có trình độ sẽ nhận được việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn. Phát triển kinh tế tri thức là xu thế tất yếu của mọi nền kinh tế, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã hội. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chiến luợc phát triển kinh tế tri thức theo những cách thức riêng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước. Các nước phát triển tập hợp thu hút lao động trí tuệ, thành tựu khoa học công nghệ ở nhiều nước, nghiên cứu sâu vào lĩnh vực năng lượng mới, vật liệu mới, hoá sinh học, khám phá vũ trụ... để phát triển nền kinh tế. Các nước đang phát triển chọn hướng đi tắt, tạo động lực phát triển nhanh nhằm rút ngắn khoảng cách đối với các nước phát triển.

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển và tăng trưởng kinh tế xã hội, bao gồm truy cập vào kho tri thức toàn cầu đồng thời làm chủ và sáng tạo tri thức mới cần thiết cho riêng mình (WB, UNDP, 2004).

Nền kinh tế tri thức trở thành một mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Đó là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân tích và sử dụng các tri thức thông tin. Kinh tế tri thức bao gồm nhiều ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông, các khu vực sử dụng lao động có kĩ năng cao như tài chính, giáo dục. Sự tăng trưởng trong các ngành công nghiệp dựa vào tri thức đòi hỏi đầu tư không chỉ vào tài sản cố định mà còn cả vào việc tạo ra tri thức. Nền kinh tế tri thức khuyến khích con người thu thập, sáng tạo, truyền bá và sử dụng tri thức có hiệu quả tạo tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Đặc trưng nổi bật nhất của nền kinh tế tri thức là nhân tố tri thức trong nền kinh tế đã trở thành nhân tố quan trọng nhất tạo nên sự tăng trưởng và phát triển của xã hội. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế yêu cầu Việt Nam phải quan tâm đặc biệt tới phát triển những cơ sở ban đầu để phát triển kinh tế tri thức.

Giáo dục có trách nhiệm tạo ra nền tảng tri thức, đào tạo nguồn nhân lực, tức là trực tiếp tạo ra vốn con người. Trong bối cảnh kinh tế tri thức, dịch chuyển kinh tế toàn cầu, sự cạnh tranh giữa các nước sẽ là cạnh tranh về giáo dục.

Có thể thấy rằng, giáo dục, đào tạo có vai trò thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, vì nền giáo dục trực tiếp tác động đến việc nâng cao trí tuệ sự hiểu biết và vận dụng những tri thức khoa học vào sản xuất. Trong thời đại ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là con đường tốt nhất để con người có những tri thức cơ bản cần thiết, có năng lực học suốt đời, tiếp cận kịp thời những thông tin mới nhất cập nhật làm giàu thêm nguồn tri thức của mình. Thông qua giáo dục, đào tạo mới tạo dựng, động viên và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực mà trước hết là nguồn lực của con người cho sự phát triển kinh tế xã hội không những thế giáo dục còn là động lực cho sự phát triển của kinh tế tri thức, giáo dục giúp người lao động nâng cao trình độ học vấn ứng dụng và sáng tạo khoa học công nghệ tốt hơn. Chính vì vậy, giáo dục là yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển kinh tế xã hội bền vững. Đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội bền vững cũng chính là động lực cho sự phát triển kinh tế tri thức. Trong kinh tế tri thức, tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, so với các yếu tố khác tri thức khi tham gia vào quá trình sản xuất không những không bị hao mòn, cạn kiệt mà còn luôn được nâng cao. Khi chuyển giao và chia sẻ tri thức cho người khác người sở hữu tri thức vẫn giữ nguyên tri thức của mình. Theo đó nguồn vốn tri thức được tăng lên gấp bội và sử dụng có hiệu quả là nhờ giáo dục. Với tư cách là động lực cho sự phát triển, giáo dục chuẩn bị cho con người phát triển cả về trí tuệ, tay nghề, kĩ năng. Hơn nữa, giáo dục bảo đảm phát triển dân trí, góp phần quan trọng trong việc nâng cao trình độ học vấn của mọi người lao động. Hàm lượng trí tuệ trong lao động do giáo dục mang lại là cái làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt trong sản xuất, nguồn lực duy nhất tạo ra lợi thế so sánh dài hạn. Tri thức là xương cốt của nền kinh tế hiện đại, xong tri thức chỉ được thực hiện thông qua kĩ năng của cá nhân. Giáo dục là yếu tố đầu vào của sản xuất, tầm nhìn xa cho đất nước cho dân tộc là giáo dục, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.

Tuy nhiên, kinh tế tri thức cũng có tác động tích cực tới giáo dục. Nền kinh tế tri thức đòi hỏi mỗi người phải luôn bổ sung tri thức mới. Trong thời đại thông tin kinh tế tri thức tạo ra những biến đổi rất sâu sắc và nhanh chóng cho nên giáo dục phải nhằm mục tiêu phát triển toàn diện con người một cách bền vững. Nền kinh tế tri thức đòi hỏi và tạo điều kiện cho con người phát triển, coi trọng cá tính và bản lĩnh, phát huy tiềm năng cực kì phong phú của con người.

Đồng thời, quá trình toàn cầu hoá cũng là quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá và kinh tế tri thức thúc đẩy nhau, gắn quyện với nhau, là hai anh em sinh đôi của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Việc chuyển giao, học tập kinh nghiệm về quy trình công nghệ, về sử dụng công cụ lao động mới, cập nhật tri thức mới... trở nên ngày càng thường xuyên hơn cho mỗi quốc gia. Trong lĩnh vực giáo dục và khoa học công nghệ cũng vậy, việc vận dụng các kinh nghiệm tốt, tiên tiến trong giáo dục và khoa học công nghệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là một yêu cầu tất yếu, nó giúp đất nước không bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh quyết liệt ở phạm vi toàn cầu. Việc nghiên cứu kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới sẽ tạo cơ hội lớn để nắm bắt vận dụng tri thức mới, phát triển kinh tế tri thức, rút ngắn khoảng cách với các nước.

Hội nhập là hợp tác và đấu tranh, phải biết tận dụng cơ hội, phát huy lợi thế của nước đi sau, hạn chế tối đa sự thua thiệt. Hội nhập để tiếp nhận tri thức mới, phát triển kinh tế tri thức, rút ngắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Hội nhập để hợp tác cùng các nước, các khối nước đấu tranh chống lại sự bất bình đẳng của toàn cầu hoá.

Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta là một chuyển biến chiến lược trọng đại: chuyển nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên sang dựa chủ yếu vào tri thức và năng lực sáng tạo của con người. Với những nguồn lực sẵn có, sử dụng tri thức mới, công nghệ mới để làm ra được nhiều hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn.

Tạo ra của cải và nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ là nhờ tối ưu hoá và hoàn thiện cái đã có, mà chủ yếu là do sáng tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới, cách làm mới. Đổi mới sáng tạo là động lực trực tiếp của sự phát triển.

Vốn người, vốn tri thức xã hội là nguồn lực cơ bản của phát triển kinh tế. Cạnh tranh kinh tế là cạnh tranh về giáo dục. Kinh tế tri thức là nền kinh tế học hỏi (leaning economy). Xã hội học tập là tiền đề cho nền kinh tế tri thức, ở đó, người lao động phải học tập suốt đời, không ngừng nâng cao kiến thức và kĩ năng, năng lực.

Kinh tế tri thức cho ta cơ hội nắm bắt và vận dụng sáng tạo những tri thức mới, cách thức kinh doanh mới để đổi mới nền kinh tế nước ta. Kinh nghiệm thành công của các nước phát triển cho thấy, việc đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nhiệm vụ tất yếu của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), sự phân hoá giữa các nước phát triển và chậm phát triển ngày càng gia tăng. Tại diễn đàn kinh tế OECD năm 2001, Ban Thư kí OECD đã có một báo cáo, trong đó nói rằng, những quốc gia có chính sách phát triển kinh tế tri thức đã tăng trưởng rất nhanh, còn những quốc gia khác đã tụt hậu ngày càng rõ rệt hơn.

Có thể xem xét chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thông qua so sánh năng suất lao động với một số nước Á Đông. Dựa trên chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới, năm 2009 - 2010, Việt Nam xếp thứ 75/133 quốc gia về năng suất lao động, trong khi đó vị trí của Singapore là 3, Malaysia là 24, Thái Lan là 36... Báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 2013 xếp Việt Nam đứng thứ 70 trong số 148 quốc gia xếp hạng. Năng suất lao động của Việt Nam cũng ở hàng thấp nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đánh giá về chất lượng lao động Việt Nam thông qua năng suất lao động, tổ chức ILO đã so sánh: "năng suất lao động của lao động Việt Nam hiện thấp hơn Thái Lan 4 lần, Singapore 15 lần và Hàn Quốc tới 30 lần". Năng suất lao động thấp có nguyên nhân là chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kém, và một phần không nhỏ do chất lượng giáo dục phổ thông chưa cao. Nghiêm khắc mà nói, có thể thấy chất lượng giáo dục phổ thông đang là vấn đề thách thức từ các góc nhìn khác nhau.

Có khoảng cách lớn giữa giáo dục phổ thông với yêu cầu lao động sản xuất, đào tạo nghề, đào tạo ở đại học, cao đẳng, không chỉ về kiến thức, kĩ năng, mà còn về các yếu tố năng lực khác.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những nước đầu tư cho giáo dục, biết học tập những kinh nghiệm từ những nền giáo dục tiên tiến, biết vận dụng và luôn sáng tạo hợp lí trong điều kiện cụ thể của nước mình thì sẽ tạo ra được một nền giáo dục hiệu quả, cung cấp được nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kì. Việc cải cách giáo dục phải trên cơ sở bảo tồn và phát huy truyền thống dân tộc là một điểm đặc sắc trong sự thành công của cải cách giáo dục Hàn Quốc dưới thời kì công nghiệp hoá.

Rõ ràng rằng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phát triển nền kinh tế tri thức, Việt Nam cần thiết phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng để góp phần nhanh chóng phát triển kinh tế xã hội, đưa Việt Nam tiến lên theo kịp các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực.

Vật lý là khoa học thực nghiệm nhằm hiểu biết và giải thích cấu trúc và các hiện tượng tự nhiên, sử dụng các thông tin từ tự nhiên qua các phương pháp thực nghiệm. Nhiệm vụ của vật lí là khám phá các quy luật có tính phổ quát và trình bày chúng theo các mô hình toán học.

Bản chất thực nghiệm của vật lí có thể tuỳ thuộc vào chủ đề, các giai đoạn dạy học và công cụ mà có thể được thực hiện thông qua các công việc độc lập, trình bày của giáo dục, tham quan, xem video... Thực nghiệm có thể được sử dụng để hỗ trợ học sinh tiếp thu các khái niệm, định luật, mô hình mới. Các nghiên cứu về vật lí phát triển các kĩ năng vật lí và các kĩ năng hợp tác của học sinh. Thực nghiệm giúp học sinh nhận thức được bản chất của khoa học tự nhiên (KHTN) và phát triển tư duy khoa học.

Học sinh sẽ học đề khám phá cấu trúc và các hiện tượng tự nhiên dưới ánh sáng của các kiến thức và hiểu biết hiện tại. Học sinh học để nhận thức và đặt câu hỏi về những tiền khái niệm và làm rõ cách nhìn nhận thế giới của mình trên cơ sở những kiến thức mới đạt được. Học sinh sẽ học để giải thích theo nhóm và thảo luận thông tin hoặc các tư liệu đạt được thông qua thực nghiệm, xử lí chúng và mô hình hoá và đánh giá độ tin cậy.

Các nghiên cứu về khoa học tự nhiên sử dụng các phương pháp thực nghiệm, các nguồn thông tin khác nhau và các cách trình bày thông tin khác nhau. Nguồn sơ cấp của các thông tin chính là thế giới tự nhiên. Ở nhà trường, các nguồn thông tin khoa học bổ sung bao gồm sách giáo khoa và các nguồn thông tin số, các chuyên gia trong lĩnh vực vật lí...

Mục tiêu dạy học môn vật lý ở trung học phổ thông nhằm giúp học sinh:

- Nhận thức được con người như là một phần của tự nhiên và hiểu ý nghĩa của vật lí trong mô hình hoá các hiện tượng tự nhiên.

- Hiểu được ý nghĩa của thí nghiệm và nghiên cứu lí thuyết trong xây dựng kiến thức khoa học.

- Nhận thức được ý nghĩa của vật lí đối với khoa học, nghệ thuật, công nghệ, truyền thông và cuộc sống kinh tế cũng như môi trường sống hàng ngày của con người.

- Đóng góp tích cực và có trách nhiệm đối với việc tạo ra môi trường an toàn và lành mạnh.

- Xây dựng hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên bằng các khái niệm và nguyên lí vật lí.

- Có khả năng giải quyết vấn đề về khoa học tự nhiên và công nghệ bởi sử dụng sáng tạo các khái niệm và định luật vật lí.

- Thu thập và xử lí thông tin cùng với những học sinh khác theo cách như cộng đồng khoa học.

- Lập kế hoạch và thực hiện những đo đạc đơn giản và có khả năng giải thích, đánh giá và áp dụng kết quả.

    - Sử dụng các nguồn khác nhau để thu thập thông tin và có khả năng trình bày và thông tin theo những cách đa dạng bao gồm sử dụng các hỗ trợ kĩ thuật.

- Khám phá ý nghĩa của vật lí đối với các cá nhân và xã hội, làm quen với các ứng dụng vật lí và sử dụng một cách có đạo đức, có kĩ năng trong việc tạo ra các sản phẩm và tạo thuận lợi cho cuộc sống hàng ngày và hiểu được các tác động của các ứng dụng công nghệ.

Đánh giá trong vật lí sẽ tập trung vào các kĩ năng vật lí đạt được trong các khoá chuyên biệt nêu trong Chương trình và các kĩ năng áp dụng, sử dụng các mô hình toán học nói riêng. Mục đích của đánh giá đồng thời bao gồm sự phát triển các kĩ năng xử lí thông tin của học sinh, kĩ năng thực nghiệm và các kĩ năng khác hỗ trợ cho việc học tập, cũng như khả năng áp dụng các tiến trình giải quyết vấn đề vật lí.

Các khóa học bắt buộc như:

* Vật lí như là khoa học tự nhiên (KHTN) nhằm giúp học sinh:

+ Thoả mãn nhu cầu nhận thức và hiểu biết, nhận thức được những tác động nảy sinh và làm tăng cường hứng thú vật lí.

+ Trang bị các khái niệm cơ bản liên quan tới cấu trúc vật chất và vũ trụ và có khả năng xây dựng hiểu biết các hiện tượng tự nhiên bằng các khái niệm và nguyên lí vật lí.

+ Hiểu biết các kiến thức được xây dựng trong KHTN qua thực nghiệm và mô hình hoá.

+ Lập kế hoạch và thực hiện các thí nghiệm khoa học đơn giản và có khả năng giải thích, đánh giá các kết quả từ kinh nghiệm và trình bày chúng cho những người khác.

+ Giải thích và mô hình hoá các kết quả thực nghiệm bằng đồ thị.

+ Sử dụng ICT (Information & Communication Technologies có nghĩa là Công nghệ thông tin và Truyền thông) để hỗ trợ việc học tập.

- Các nội dung cốt lõi:

+ Ý nghĩa của vật lí tại các giai đoạn lịch sử và hiện tại.

+ Những tương tác cơ bản giữa vật chất và vũ trụ.

+ Sự hấp thu và toả năng lượng trong các bức xạ cơ bản, trong các quá trình tự nhiên và nhân tạo.

          + Thực nghiệm và mô hình hoá như là nền tảng cho việc xây dựng kiến thức vật lí; đo lường, trình bày kết quả và đánh giá tính tin cậy của chúng.

+ Lực là nguyên nhân gây biến đổi chuyển động.

+ Các khái niệm cơ bản cần để mô tả chuyển động và trình bày chuyển động bằng đồ thị.

Đối với các khóa học chuyên biệt nhằm nhằm giúp học sinh:

   - Các khả năng tìm hiểu KHTN và các lĩnh vực áp dụng KHTN.

- Khám phá các hiện tượng tự nhiên và mô hình hoá, trình bày chúng, sử dụng các phương pháp toán và đồ thị.

- Xây dựng các mô hình vật lí và sử dụng chúng để tạo ra dự đoán.

- Khám phá các mô hình sử dụng ICT.

- Trang bị kiến thức các nhánh của vật lí cổ điển và các khái niệm ban đầu của vật lí hiện đại.

- Hiểu biết về các công nghệ liên quan tới các lĩnh vực khác nhau của vật lí

- Hiểu biết ý nghĩa của vật lí trong các lĩnh vực xã hội khác nhau.

- Hiểu biết những ứng dụng của vật lí và các mối quan tâm về an toàn có liên quan.

* Nhiệt

- Mục tiêu

Mục tiêu khoá học nhằm giúp HS:

+ Làm quen với các hiện tượng về nhiệt.

+ Khám phá các hiện tượng liên quan tới trạng thái nhiệt động lực hoặc các định luật nhiệt động lực học cơ bản.

+ Có khả năng tham gia tranh luận và ra quyết định liên quan tới môi trường và công nghệ.

- Các nội dung cốt lõi:

+ Thay đổi trạng thái trong các chất khí và sự nở vì nhiệt.

+ Áp suất; áp suất thuỷ tĩnh.

+ Làm nóng và lạnh cơ thể; chuyển pha và nhiệt năng.

+ Năng lượng cơ học, công, công suất, và hiệu suất.

+ Các định luật cơ bản về nhiệt động lực học; nội năng.

+ Các nguồn năng lượng.

Ngoài ra còn có các khoá học (các chuyên đề) về: Sóng; Các định luật về chuyển động; Sự quay và hấp dẫn; Điện; Điện từ; Vật chất và phóng xạ có cấu trúc cũng tương tự như các khoá học ở trên.

Như vậy, cấu trúc văn bản chương trình môn Vật lí ở trung học phổ thông bao gồm:

- Tên môn.

- Phần giới thiệu môn học: trong đó trình bày những vấn đề về đặc điểm, vị trí, vai trò của môn học; khái quát về phương pháp học tập môn học.

- Mục tiêu dạy học: trong mục tiêu đề cập tới cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ. Như ví dụ với môn vật lí ở trên, ngoài các khái niệm, định luật, thuyết thì các kiến thức về phương pháp nghiên cứu, về vai trò của vật lí đối với xã hội cũng được chú trọng; các kĩ năng nghiên cứu vật lí, vận dụng sáng tạo kiến thức vật lí để giải quyết vấn đề được nhấn mạnh.

- Hướng dẫn đánh giá.

- Phần các khoá/chuyên đề bắt buộc.

Mỗi chuyên đề có các mục về: Mục tiêu; Các nội dung cốt lõi.

- Phần các khoá/chuyên đề chuyên sâu

Mỗi chuyên đề cũng có các mục về: Mục tiêu; Các nội dung cốt lỗi.

Thứ hai, 25 Tháng 2 2019 09:13

Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Cụm từ doanh nghiệp nhỏ ngày nay được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cả ở Việt Nam. Nói tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, vô hình chung các quốc gia thường xem xét doanh nghiệp dựa trên quy mô của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá loại hình doanh nghiệp theo quy mô và định lượng các doanh nghiệp theo các tiêu chí cụ thể.

Các quốc gia nhìn chung chưa có một khái niệm mang tính chuẩn mực cho việc xác định thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa các quốc gia trên thế giới chủ yêu là việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô doanh nghiệp và việc lượng hóa các tiêu chí đó thông qua các chi tiêu cụ th. Trên thực tế hiện nay, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và tùy thuộc vào đặc điểm ngành, nghề kinh doanh, trình độ phát triển trong từng thi kỳ mà mỗi nước có th sử dụng các tiêu chí cụ thể hoặc kết hợp các tiêu chí khác nhau như: tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp, tổng vốn hoặc giá trị tài sản, doanh thu.

Như vậy, có thể nêu khái quát khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô được giới hạn bởi các tiêu thức lao động, vốn hoặc giá trị tài sản, hoặc doanh thu tùy theo quy định của mỗi quốc gia. Việc sử dụng các tiêu thức để nhận diện doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia cũng có một số điểm khác biệt, thể hiện ở số lượng các tiêu thức và việc lượng hóa các tiêu thức ở mỗi nước, do vậy, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa là mang tính tương đối, thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vào đặc điểm phát triển của mỗi loại ngành, nghề[1].

Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và các cách xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước: Trước năm 1998, Việt Nam chưa có văn bản pháp luật chính thức nào quy định tiêu chí cụ thể của doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó, mỗi tổ chức, địa phưong đưa ra một quan niệm riêng về doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ của tổ chức, địa phương mình. Ngày 20-6-1998, Chính phủ ban hành Công văn số 681/1998/CP-KTN về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ởViệt Nam, đã đánh dâu bước khỏi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa ởViệt Nam. Theo Công văn số 681/1998/CP-KTN, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành công nghiệp là các doanh nghiệp có quy mô vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 387.600 USD) và số lao động trung binh hằng năm dưới 300 người; doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành thương mại, dịch vụ là những doanh nghiệp có quy mô vốn kinh doanh dưới 3 tỷ đồng và số lượng lao động bình quân năm nhỏ hơn 200 người. Tiêu thức phân loại theo Công văn số 681/1998/CP-KTN không tính đến hình thức sởhữu, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay doanhnghiệp tư nhân.Tuy nhiên, Công văn lại khẳng định, các tiêu thức này chủ yếu mang tính chất quy ước hành chính đế phục vụ cho việc quản lý và vận dụng chính sách hỗ trợ phát triển.

Năm 1999, với sự ra đời của Luật doanh nghiệp và các luật thuế, với các chính sách hỗ trợ, ưu đãi doanh nghiệp, môi trường kinh doanh được cải thiện đáng kể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh về số lượng và có những chuyển biến đột phá. Đế phù hợp với xu thế mới, ngày 23-11- 2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP nhằm trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đã đưa ra tiêu chuẩn chính thức, áp dụng thông nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa đ các ban, ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đốitượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp phát triển. Theo Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người.

Như vậy, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn một trong hai tiêu thức lao động hoặc vốn đã nêu trong Nghị định đều được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tiêu thức phân loại đã nêu trong Nghị định là căn cứ vào quy mô chứ không căn cứ vào loại hình sở hữu, đã tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian này nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong điều kiện phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn cònchung chung, chưa xác định rõ quy mô doanh nghiệp theo ngành, nghề hoặc khu vực kinh doanh nên trong quá trình vận dụng vẫn còn nhiều vướng mắc. Chính vì vậy, ngày 30-6-2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế cho Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, trong đó, khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được đề cập rõ nét hơn, cụ thể hơn.

Theo đó, khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa ờ Việt Nam được áp dụng thông nht như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa theo quy mô tổng nguồn vốn (tống nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên.

Ngày 12/6/2017 Quốc hội đã ban hành Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó, luật quy định doanh nghiệp nhỏ vừa doanh nghiệp số lao động tham gia bảo hiểm hội không quá 200 người tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc doanh thu năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Đến tháng 3 năm 2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vừa quy định các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo đó, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sảnvàlĩnhvựccôngnghiệp, xây dựng số lao động tham gia bảo hiểm  hội bình quân năm không quá 10 người tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng; doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực trên không quá 100 người tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng; doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ số lao động tham gia bảo hiểm hội bình quân năm không quá 10 người tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng; doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực này có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷđồng. Bêncạnhđó, doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng.

Như vậy, có thể thấy quan điếm và tiêu thức xác định cũng như việc đo lường tiêu thức xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước thường không giống nhau do điều kiện và trình độ phát triển của các nước là khác nhau. Tuy nhiên, việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đều sử dụng những tiêu thức có định lượng phù hợp với điều kiện cụ thế của từng nước trong từng thời kỳ phát triển, chính vì vậy, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa thường được thay đổi và ít được dùng như một định nghĩa mang tính học thuật, có tính chất bắt buộc và tồn tại lâu dài.

Bảng Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.


Nước
Các tiêu chí áp dụng
Số lao động Tổng vốn hoặc giá trị tài sản Doanh thu

1. Mỹ

Trong tất cả các ngành

<500 hoặc

<1.000

Không quantrọng

Không quan

trọng

2.Nhật Bản

- Bán lé

- Bán buôn

- Dịch vụ

- Các ngành sản xuất

<50

<100

<100

<300

<10 triệu yên

<100 triệu yên

<50 triệu yên

<300 triệu yên

Không quan

trọng

3. Các nước EU <250 <27 triệu euro <40 triệu euro

4. Australia

- Công nghiệp và dịch vụ

- Các ngành khác

<500

<300

Không quan trọng

Không quan trọng

5.Canada(ngành sản xuất và dịch vụ) <500 Không quan trọng <20 triệu đôla Canada

6. Đài Loan

- Các ngành chế tạo, xây dựng và khai mỏ

- Các ngành khác

<200

<50

<2,3 triệu USD

Không quan trọng

Không quan trọng

<2,9 triệu USD

7. Hàn Quốc

- Công nghiệp xây dựng

- Thương mại dịch vụ

<300

<50

<0,6 triệu USD

<0,25 triệu USD

<1,4 triệu USD

8. Malaysia

(sản xuất công nghiệp)

<150

<25 triệu ringit

9. Indonesia Không quan trọng <100.000 USD <500.000 USD
10. Philippines Từ 10 - 199 1,5- 60 triệu peso Không quan trọng

11. Thái Lan

- Sản xuất

- Bán buôn

- Bán lẻ

<200 triệu baht

<100 triệu baht

<60 triệu baht

12. Brunei(Các ngành) 1-100 đôla Singapore Không quan trọng Không quan trọng

 


[1] Xem Bảng Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

Các quy định về giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải, từng bước thiết lập khung pháp lý cho việc thực hiện hoạt động giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải cũng như giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan.

Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại Hòa giải viên lao động hiện hành được căn cứ theo Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012; các qui định tại Nghị định 46/2013, Thông tư số 08/2013 hướng dẫn Nghị định số 46/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật lao động về tranh chấp lao động, trình tự tiến hành hòa giải cụ thể như sau: Mỗi bên có thể làm đơn yêu cầu hòa giải (Mẫu số 6 Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23/10/2007) gửi tới phòng Lao động thương binh và xã hội. Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp, phòng Lao động thương binh và xã hội có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện để cử hòa giải viên lao động tham gia giải quyết tranh chấp lao động. Sau đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định cử hòa giải viên lao động tham gia giải quyết tranh chấp lao động trong vòng 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được báo cáo của phòng Lao động thương binh và xã hội (Quyết định cử hòa giải viên lao động theo mẫu 04/HGV). Trong một số trường hợp cấp thiết, phòng Lao động thương binh và xã hội có thể báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện khác trong tỉnh đề cử Hòa giải viên lao động hỗ trợ giải quyết tranh chấp. Sau khi tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ hai bên tranh chấp, những đối tượng có liên quan, người làm chứng, thu thập tài liệu, chứng cứ, Hòa giải viên lao động phải tổ chức một cuộc họp để thảo luận phương án hòa giải dự kiến trong vòng 05 ngày làm việc tính từ ngày nhận đơn yêu cầu hòa giải. Theo pháp luật cũng như yêu cầu thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp lao động qua hoà giải, 05 ngày làm việc là khoảng thời gian hòa giải viên lao động phải thu thập tài liệu, chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị phương án hòa giải và chuẩn bị các điều kiện khác để tổ chức phiên họp hòa giải chính thức giữa các bên. Tuy nhiên, Bộ luật lao động không quy định cụ thể về các vấn đề: liệu hòa giải viên lao động có quyền gặp gỡ các bên tranh chấp trước khi mở phiên họp hòa giải hay không? Có được xin ý kiến chỉ đạo của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội khi xây dựng phương án hòa giải hay không?

Nếu đây là những việc cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp lao động và pháp luật không có quy định cấm thì hòa giải viên lao động vẫn nên và có quyền thực hiện các hoạt động nói trên trước khi tiến hành hòa giải. Tại phiên họp hòa giải, cần có sự tham gia của hai bên tranh chấp hoặc đại diện được ủy quyền của họ (Hòa giải viên sẽ kiểm tra giấy ủy quyền). Nếu một trong hai bên tranh chấp không có mặt mà không có ủy quyền cho người khác làm đại diện bằng văn bản thì phiên họp được hoãn sang ngày làm việc tiếp theo. Khi đã tập trung đầy đủ thành phần theo đúng quy định, Hòa giải viên sẽ tiến hành hòa giải theo trình tự sau:

- Tuyên bố lý do của phiên họp hòa giải và giới thiệu thành phần tham dự phiên họp;

- Đọc đơn của nguyên đơn;

- Bên nguyên đơn trình bày;

- Bên bị đơn trình bày;

- Hòa giải viên chất vấn các bên, đưa ra các chứng cứ và yêu cầu nhân chứng phát biểu;

- Người bào chữa của một hoặc hai bên tranh chấp phát biểu;

- Căn cứ vào pháp luật lao động, các tài liệu chứng cứ, ý kiến của các bên tranh chấp, Hòa giải viên phân tích đánh giá vụ việc, nêu điểm đúng sai của hai bên để họ tự hòa giải với nhau hoặc đề xuất phương án hòa giải để hai bên xem xét, thương lượng và chấp thuận;

Trường hợp 1: Bên nguyên đơn chấp thuận rút yêu cầu hoặc hai bên tự hòa giả được hoặc hai bên chấp thuận phương án hòa giải của Hòa giải viên thì Hòa giải viên lập biên bản hòa giải thành (Mẫu số 7 Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23/10/2007), có chữ ký của hai bên tranh chấp và Hòa giải viên. Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thỏa thuận ghi trong biên bản hòa giải thành.

Trường hợp 2: Hai bên không chấp nhận phương án hòa giải thì Hòa giải viên tiến hành lập biên bản hòa giải không thành trong đó ghi rõ ý kiến của hai bên, bao gồm những nội dung đã thống nhất, những nội dung chưa thống nhất. Biên bản cũng phải có chữ ký của hai bên và Hòa giải viên. Mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

Trường hợp 3: Một trong hai bên vắng mặt không có lý do chính đáng sau hai lần triệu tập thì Hòa giải viên lập biên bản hòa giải không thành, trong đó ghi rõ kiến của bên có mặt, chữ ký của bên có mặt và Hòa giải viên. Mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

- Trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân:

Các vụ việc tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải được giải quyết bởi Tòa án nhân dân cấp huyện nếu hai bên đương sự đều là công dân Việt Nam, còn Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp trong trường hợp một trong hai bên có yếu tố nước ngoài. Trình tự giải quyết các tranh chấp lao động tại tòa án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự bởi Tòa án nhân dân được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể như sau:

- Tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải là một trong số các trường hợp có thể được khởi kiện ra Tòa án nhân dân mà không cần thông qua hòa giải tại cấp cơ sở. Trong trường hợp các bên thống nhất đề nghị hòa giải viên tiến hành hòa giải thì vụ việc sẽ được giải quyết bởi Tòa án nhân dân nếu phiên họp hòa giải do Hòa giải viên tổ chức không thành công.

- Các chủ thể trong quan hệ lao động có quyền khởi kiện làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp lao động để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người sử dụng lao động và người lao động. Theo điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hồ sơ khởi kiện tại Tòa án nhân dân bao gồm:

Đơn khởi kiện (theo mẫu) và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện;

Bản sao giấy chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu), Sổ hộ khẩu gia đình (có sao y bản chính);

Các tài liệu liên quan đến quan hệ lao động như: Hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề, quyết định xử lý kỷ luật sa thải hoặc quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, biên bản họp xét kỷ luật người lao động, …

Biên bản hoà giải không thành của hoà giải viên lao động đối với tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động (NLĐ) bị sa thải (nếu có);

Nếu người sử dụng lao động khởi kiện thì phải nộp thêm các giấy tờ tài liệu về tư cách pháp lý của doanh nghiệp như giấy phép đầu tư, giấy đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp; Điều lệ, nội quy lao động, biên bản họp xét kỷ luật người lao động, …

Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (ghi rõ số lượng bản chính, bản sao);

Sau khi nhận hồ sơ khởi kiện, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ khởi kiện, tòa án phải xem xét và đưa ra một trong các loại quyết định căn cứ theo khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đó là: Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn kiện; Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục; Chuyển hồ sơ khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền hoặc thông báo cho nguyên đơn nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; Trả lại hồ sơ khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 192). Tòa án chấp nhận hồ sơ khởi kiện và thụ lý vụ án lao động sau khi xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đã thỏa mãn điều kiện. Trong vòng ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án, đồng thời Tòa án có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới bị đơn, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết vụ án cho Viện Kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án (Điều 195 đến điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Trong vòng hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, toà án phải chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với tranh chấp lao động theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa ra một trong số các quyết định sau: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trước khi mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm, hai bên nguyên đơn và bị đơn cần tiến hành hòa giải với nhau trừ trường hợp vụ án liên quan đến thiệt hại tài sản của Nhà nước theo quy định tại điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng thì thời hạn có thể kéo dài tối đa là hai tháng. Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân… Đối với vụ án lao động thì phải có Hội thẩm nhân dân là người đã và đang công tác trong tổ chức đại diện tập thể người lao động hoặc người có kiến thức về pháp luật lao động. Quy định này đã được bổ sung tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhằm đảm bảo được sự kiểm tra, giám sát của nhân dân trong quá trình xét xử sơ thẩm của Tòa án đồng thời cũng đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp, đảm bảo cho việc giải quyết được công bằng, khách quan và hiệu quả. Trình tự phiên tòa xét xử sơ thẩm được tiến hành như sau:

- Khai mạc phiên tòa; Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định hoặc người phiên dịch; Xem xét quyết định hoãn phiên tòa khi người văn mặt, đảm bảo tính khách quan của của người làm chứng căn cứ theo Điều 239 đến Điều 242 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm được quy định chi tiết từ Điều 243 đến

Điều 258 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm giúp Hội đồng xét xử tối ưu hóa kết quả xem xét, đánh giá tính chính xác của chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án.

- Tranh tụng tại phiên tòa là hoạt động để các đương sự bảo vệ quyền và lợi ích của mình (Từ điều 260 đến Điều 263 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

- Nghị án và tuyên án là bước cuối cùng tại phiên Tòa lao động sơ thẩm được quy định từ Điều 264 đến Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nếu quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền trực tiếp xét xử lại vụ án. Tòa án chỉ giải quyết án lao động khi có đơn kháng cáo hoặc quyết định kháng nghị hợp lệ và chỉ xem xét lại phần bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Trong vòng hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, căn cứ quy định tại Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm phải ra quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử. Các trình tự, thủ tục của phiên tòa phúc thẩm được tiến hành tương tự như phiên tòa lao động sơ thẩm. Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền của Hội đồng xét xử như sau: “Giữ nguyên bản án sơ thẩm; Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ xét xử phúc thẩm; Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý”.

Án phí được miễn cho người lao động trong các hoạt động tố tụng để đợi tiền lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, tiền bồi thường, bảo hiểm xã hội để giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc bị sa thải trái pháp luật. Trong quá trình xét xử, nếu Tòa án nhân dân phát hiện hợp đồng lao động trái với quy định pháp luật lao động thì tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ. Theo đó, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên ghi trong hợp đồng lao động bị vô hiệu được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy, mặc dù đã có sự sửa đổi các quy định chưa phù hợp và chặt chẽ song vẫn khó tránh khỏi được một số tồn tại rủi ro trong thực tế. Để khắc phục những hạn chế trên, cần có sự thống nhất và cụ thể hóa pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải, sự nghiêm minh trong việc vận dụng pháp luật của các chủ thể trên thực tế (người sử dụng lao động, tổ chức sử dụng lao động: Công đoàn, Ban giám đốc), nhằm tiến tới hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải trên cơ sở điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động được quy định tại Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/01/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động, Thông tư số 29/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh Xã hội (LĐTBXH) ngày 31/7/2015 thực hiện một số điều về thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao. Theo các văn bản pháp luật này thì việc giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động (NLĐ) bị sa thải thuộc thẩm quyền của các tổ chức, cơ quan: Hoà giải viên lao động (nếu các bên có yêu cầu) và Toà án. Tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải có thể được các bên khởi kiện thẳng ra tòa án mà không cần tiến hành hòa giải bởi Hòa giải viên lao động (điểm a khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012).

- Hoà giải viên lao động (HGVLĐ)

Các quy định của pháp luật về Hòa giải viên lao động được ghi nhận ở BLLĐ, Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động và Thông tư số 08/2013/TTBLĐTBXH ngày 10 tháng 6 năm 2013 hướng dẫn Nghị định số 46/2013/NĐ-CP. Khoản 1 Điều 200; điểm a Khoản 1 và điểm a Khoản 2 Điều 203 BLLĐ đã nêu rõ Hòa giải viên lao động là người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, trong đó có tranh chấp lao động trong trường hợp NLĐ bị sa thải và tranh chấp lao động tập thể về quyền và lợi ích. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên lao động theo nhiệm kỳ 05 năm để hòa giải tranh chấp lao động và tranh chấp về hợp đồng đào tạo nghề theo quy định của pháp luật. Tiêu chuẩn và điều kiện của hòa giải viên được quy định tại Điều 4 Nghị định 46/2013 như sau: Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt, hiện đang không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án, có hiểu biết về pháp luật lao động và pháp luật có liên quan và có đủ ba năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan hệ lao động, có kỹ năng hòa giải tranh chấp lao động.

Nghị định 46/2013 quy định cụ thể quy trình bổ nhiệm Hòa giải viên lao động theo hai bước:

Bước 1: Tự đăng ký hoặc được giới thiệu/đề cử.

Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền xem xét và bổ nhiệm hòa giải viên lao động. Tại Nghị định 46/2013, pháp luật cũng quy định điều kiện đảm bảo hoạt động của Hòa giải viên lao động. Kinh phí hoạt động của Hòa giải viên lao động do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định phân cấp quản lý ngân sách hiện hành. Việc lập dự toán, quản lý và quyết toán kinh phí đảm bảo hoạt động của Hòa giải viên lao động được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Trong thời gian được bổ nhiệm, Hòa giải viên lao động có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp hợp đồng đào tạo nghề và được hưởng chế độ bồi dưỡng như đối với Hội thẩm theo quy định về chế độ bồi dưỡng với những người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết dân sự, được thanh toán công tác phí trong những ngày thực hiện công tác hòa giải theo chế độ công tác phí hiện hành và được cung cấp đầy đủ tài liệu, văn phòng phẩm, phòng họp phục vụ công tác hòa giải tranh chấp lao động. Trong trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có đơn xin thôi tham gia hòa giải viên thì miễn nhiệm theo quy định tại Điều b Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ.

- Toà án

Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012, trong đó có trường hợp xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải. Điều đó có nghĩa là, khi bị sa thải, NLĐ được xét xử tại Tòa án nhân dân mà không nhất thiết phải qua thủ tục hòa giải theo quy định tại khoản 1 Điều 201         BLLĐ năm 2012 và khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo quy định của Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2015, tổ chức Tòa án nhân dân bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự. Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động sau đây khi có yêu cầu:

- Tranh chấp lao động cá nhân xảy ra trên địa bàn quận, huyện... sau khi hoà giải thất bại tại Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động hoặc quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhân đơn yêu cầu mà không tiến hành hòa giải.

- Tranh chấp lao động cá nhân về kỉ luật sa thải, về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, tranh chấp giữa người giúp việc gia đình và người sử dụng lao động, tranh chấp về bảo hiểm xã hội, tranh chấp giữa NLĐ với doanh nghiệp đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài.

- Tranh chấp lao động tập thể về quyền xảy ra ở những doanh nghiệp được đình công sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện đã có quyết định giải quyết mà các bên vẫn tiếp tục tranh chấp hoặc đã hết 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu mà Chủ tịch UBND cấp huyện không giải quyết.

-Tranh chấp lao động tập thể (về quyền và về lợi ích) xảy ra tại các doanh nghiệp không được đình công theo danh mục do Chính phủ quy định sau khi Hội đồng trọng tài lao động (HĐTTLĐ) đã có quyết định giải quyết mà các bên vẫn tiếp tục tranh chấp hoặc đã hết 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn yêu cầu mà HĐTTLĐ không giải quyết.

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân theo thủ tục sơ thẩm. Còn các vụ việc tranh chấp lao động cá nhân có đương sự ở nước ngoài hoặc có tài sản ở nước ngoài hoặc phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện. Ngoài ra, một số vụ việc tranh chấp lao động nghiêm trọng dù thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, nhưng tòa án nhân dân cấp tỉnh có quyền lấy lên để giải quyết.

Theo quy định tại Điều 36, Điều 35 và khoản 4 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp lao động trong một số trường hợp nhất định. Thông thường, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở làm việc. Hai bên chủ thể trong tranh chấp lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn Tòa án để giải quyết.

Trong một hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp lao động thường có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Tùy vào mức độ nghiêm trọng và đặc biệt của vụ việc, Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể có hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.

Như vậy tính đến hiện nay, các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp NLĐ bị sa thải ở Việt Nam gồm hòa giải viên lao động và tòa án nhân dân.

Hòa giải viên lao động có thể là công chức của phòng Lao động thương binh xã hội cấp huyện, viên chức của Liên đoàn lao động huyện, cán bộ của các tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Tuy nguồn nhân sự không được tổ chức theo cơ cấu ba bên nhưng hoạt động của hòa giải viên lao động theo quy định hiện nay đã tạo nhiều cơ hội để tham vấn ba bên trong việc hòa giải tranh chấp lao động được thực hiện. Hòa giải viên lao động được coi là phổ biến nhất hiện nay tại nước ta cũng như các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á. Ở các quốc gia này, hòa giải viên thường là một quan chức nhà nước. Tuy nhiên tại Việt Nam, do số lượng công chức của phòng Lao động thương binh xã hội cấp huyện không đủ để thực hiện nhiệm vụ này nên Nhà nước đã quyết định mở rộng đối tượng tham gia công tác hòa giải tranh chấp lao động kể từ ngày 01/01/2007.

Tại tòa án nhân dân, hội đồng xét xử sơ thẩm vụ việc tranh chấp lao động thông thường gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân có khả năng tạo thành một cơ cấu ba bên trong việc xét xử vụ án lao động, trong đó thẩm phán là đại diện cho Nhà nước, một Hội thẩm nhân dân là đại diện của người sử dụng lao động và một Hội thẩm nhân dân đại diện cho NLĐ. Tuy nhiên, trong quy định hiện hành không có điều khoản bắt buộc thành viên Hội thẩm nhân dân phải theo cơ cấu này, khác với Hội đồng xét xử vụ việc lao động tại các nước khác trong khu vực. Ví dụ như Tòa án trọng tài của Indonesia, của Philippines, Tòa án công nghiệp của Malaysia, Tòa án trọng tài công nghiệp của Singapore… đều được thiết lập theo cấu trúc ba bên.

Từ những tài liệu tham khảo và thực tiễn trên, ta có thể thấy trong khi việc sử dụng cơ chế ba bên tại các nước phát triển và các quốc gia trong khu vực đã trở nên thông dụng và họ đang nỗ lực tăng cường phương pháp này để tăng cao hiệu quả trong công tác giải quyết tranh chấp lao động, ở Việt Nam hiện nay, pháp luật chưa có quy định về việc sử dụng cơ chế ba bên trong việc thiết kế các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động. Báo cáo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam từ năm 1995 đến hết Quý 2 năm 2007 cho biết chỉ có khoảng 30% các doanh nghiệp có thành lập Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và thành phần chỉ có đại diện của người sử dụng lao động và NLĐ tại đơn vị (Không có đại diện là Nhà nước). Vì vậy, nhìn chung cơ chế ba bên không được sử dụng trong việc hòa giải tranh chấp lao động tại cơ sở. Ngày 01/01/2005, Bộ Luật tố tụng dân sự bắt đầu có hiệu lực thi hành đã quy định Hội đồng xét xử vụ việc tranh chấp lao động theo thủ tục sơ thẩm là một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân thay vì hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân như trước đây. Sự thay đổi này được cho là phù hợp để thiết kế cấu trúc ba bên trong giải quyết các vụ việc về tranh chấp lao động (Trong đó Thẩm phán sẽ đại diện cho Nhà nước và hai Hội thẩm nhân dân là đại diện của người sử dụng lao động và NLĐ). Tuy nhiên, sau hơn mười năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự, việc lựa chọn Hội thẩm nhân dân là những người trong tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và NLĐ vẫn chưa được chú trọng. Đến Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng không có quy định này. Vì vậy, việc áp dụng cơ chế ba bên trong Hội đồng xét xử vụ án lao động trong thời gian qua là chưa thực sự có hiệu quả, chưa bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia giải quyết quan hệ lao động trong trường hợp NLĐ bị sa thải.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành