Trong thập kỷ 80, tốc độ tăng trưởng của các nước này tuy có chững lại tí chút song cái gọi là Bốn Con Rồng vẫn tiếp tục tăng trưởng. Thông qua mậu dịch hàng chế biến của mình, các NIE đã tác động mạnh vào các nước phát triển. Với quan hệ kinh tế đang ngày càng chặt chẽ giữa các NIE châu Á và Nhật Bản, ngày càng có nhiều công ty Nhật Bản mở các cửa hiệu ở các nước này. Không chỉ hàng may mặc, sản phẩm nhiệt đới và các hàng công nghiệp nhẹ khác mà cả tivi, máy ghi âm mà các hãng điện tử khác đều tìm được cách thâm nhập ngày càng sâu vào thị trường Nhật Bản. Sự quan tâm của Nhật Bản đến các NIE đang gia tăng nhanh chóng. Trong khi đó, do những mất cân đối thương mại đặt ra cho mình, một số nước phát triển – kể cả Mỹ - đang tỏ ra lo ngại và thậm chí bộc lộ những tâm lý bảo hộ trong quan hệ với các nền kinh tế mới đang tăng trưởng này.

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Công đoàn xí nghiệp đã đem lại cho giới quản lý một lực lượng lao động có tinh thần hợp tác để đổi lấy an ninh về việc làm và tiền lương tăng liên tục cùng với thâm niên. Chính nhờ có lực lượng lao động ổn định này, giới quản lý có thể an tâm đầu tư dài hạn, liên tục áp dụng những cải tiến mới và sẵn sàng đào tạo lại công nhân khi cần thiết. Hơn nữa, công đoàn xí nghiệp không đòi hỏi phải có sự phân loại việc làm cứng nhắc như công đoàn ngành, vì mức lương không phụ thuộc vào việc phân loại việc làm mà do thâm niên, chức vụ và việc đánh giá công trạng, có chú trọng đến những thuộc tính khách quan của mỗi cá nhân như thâm niên và số lượng thành viên gia đình quyết định. Nhờ vậy, lực lượng lao động có tổ chức ở Nhật Bản rất linh hoạt và được công ty đào tạo cho các nhiệm vụ đa năng. Ví dụ, vào những năm 70, ở Công ty General Motor có hơn 100 loại công việc, trong khi ở Công ty Toyota chỉ có 3. Lực lượng lao động đa năng đã giúp thực hiện được một hệ thống sản xuất “đúng giờ” (just-in-time) nổi tiếng.

       Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thứ ba, 31 Tháng 3 2020 08:07

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ Y TẾ TRUNG QUỐC

Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch tập trung, y tế Trung Quốc được phân chia quản lý trên bốn phương diện.

Thứ nhất, Y tế cộng đồng. Về mặt dịch vụ y tế cộng đồng, Chính phủ Trung Quốc coi trọng việc đảm bảo sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em, phòng tránh bệnh dịch tại các địa phương và trên cả nước, phòng tránh bệnh truyền nhiễm… Thời kỳ này, y tế Trung Quốc nhấn mạnh chủ trương “phòng tránh là chủ yếu”, ngoài ra còn có chủ trương “phong trào y tế yêu nước” đi sâu vào các tổ chức cơ sở, tổ chức khu phố. Do nhà nước chủ trương coi trọng việc phòng tránh đối với các căn bệnh lây lan nên hầu hết các căn bệnh truyền nhiễm đều được kiểm soát một cách hiệu quả. Việc phòng tránh các dịch bệnh như sán máng, nhiễm khuẩn…. đều được kiểm soát một cách triệt để.

Thứ hai, bảo hiểm lao động y tế: Năm 1951, Hội đồng chính phủ ban hành “Điều lệ về bảo hiểm lao động”, lấy đó làm căn cứ xây dựng chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm lao động cho những người đang làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp cũng như những người đã về hưu trong cả nước. Theo quy định của pháp luật, bảo hiểm lao động y tế do các tổ chức xí nghiệp trực tiếp thi hành, chi phí cho bảo hiểm lao động y tế sẽ được trích ra từ lợi nhuận hoặc tiền vốn của cơ quan. Đối tượng được đảm bảo y tế lao động là các nhân viên đang làm việc hoặc những nhân viên đã về hưu thuộc các tổ chức, cơ quan, xí nghiệp đó, những người thân của họ như cha mẹ, vợ (chồng), con cái còn đang ở tuổi vị thành niên mà không có chế độ đảm bảo về lao động y tế thì cũng được trợ cấp một nửa so với họ. Các nhân viên đang làm việc tại xí nghiệp hoặc những người đã về hưu và các thành viên trong gia đình họ cũng được hưởng ưu đãi chung, số người được hưởng chế độ bảo đảm y tế lao động này lên tới 200 triệu người.

          Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang ảnh hướng ngày càng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Sự bùng nổ của các công nghệ mới của cảnh mạng công nghiệp lần thứ tư, như: trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), internet vạn vật (lol), công nghệ số cái phân tần (DLT) hay công nghệ chuỗi khối (blockchain) và việc ứng dụng các công nghệ này đã làm xuất hiện nhiều loại hình sản phẩm, dịch vụ mới, chưa từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại, trong đó có tài sản áo, tài sản mã hóa và tiền ảo, tiền mã hóa.

Việc phát hành, lưu thông, trao đổi các loại tài sản ảo, tài sản mã hóa cũng như tiền ảo, tiền mã hóa ngày càng được mở rộng về quy mô, phạm vi ảnh hưởng, thu hút sự quan tâm của công chúng, các chuyên gia công nghệ, kinh tế, tài chính, pháp lý, các chính phủ và tổ chức quốc tế. Thế giới hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về tài sản ảo, cả về thuật ngữ và nội hàm, tuy nhiên, theo định nghĩa của Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO)[1], tài sản ảo (Virtual asset hay virtual property) là biểu hiện của tài sản trong không gian mạng (cyberspace), tức là trong môi trường phức hợp được hình thành bởi sự tương tác của người sử dụng, phần mềm và các dịch vụ trên internet thông qua các thiết bị kỹ thuật và mạng lưới được kết nối. Tài sản ảo còn được hiểu là một dạng tài sản số (digital asset).

 

        Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 


[1] ISO/ IEC 27032: 2012 (en): Information Technology - Security Techniques - Guidelines for Cybersecurity, Mục 4.49.

Việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ở Hoa Kỳ là điển hình của mô hình kinh tế thị trường tự do. Tuy nhiên, trong lịch sử, mô hình này cũng có những biến đổi, điều chỉnh cùng với những biến đổi, điều chỉnh trong chức năng kinh tế. Hình ảnh Nhà nước chỉ là “người gác đêm” cho giai cấp hữu sản phản ánh khá chính xác bức tranh về mối tương tác giữa Chính phủ và nền kinh tế ở Hoa Kỳ những năm nửa cuối thế kỷ XIX[1]. Trong những năm đầu của quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản ở Hoa Kỳ (đầu thế kỷ XIX), đã từng có quan điểm cho rằng, Nhà nước cần đóng vai trò bà đỡ, nuôi dưỡng và bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ, chống lại sự cạnh tranh của các nhà tư bản nước ngoài, thực chất là chống lại các nhà tư bản ở các quốc gia phát triển hơn, chẳng hạn, từ Anh Quốc. Nhưng rồi sau đó, mô hình chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh lại chiếm ưu thế, chí ít là cho tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

             Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Xem Linda Weiss: The State in the Economy: Neoliberal or Neoactivist? in Glenn Morgan, et.al: The Oxford Handbook of Comparative Institutional Analysis, at 183.

        Việc hội nhập kinh tế được xem là một yếu tố chính của việc hội nhập khu vực, theo đó biên giới kinh tế giữa các nước và/hoặc khu vực tham gia sẽ được phá bỏ, thay vào đó là sự tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các nhân tố sản xuất. Theo Balassa (1961), hội nhập kinh tế được phân thành các cấp độ: FTA, liên minh hải quan, thị trường chung, liên minh kinh tế và hội nhập kinh tế hoàn toàn. Ở cấp độ FTA, các nước thành viên sẽ gỡ bỏ hàng rào thuế quan đối với các nước trong nội khối và vẫn duy trì chính sách thuế riêng đối với những nước không phải thành viên. Khi chính sách thuế đối với nước thành viên và các nước không phải thành viên đã tương đồng như nhau thì mức độ hội nhập đã được nâng lên thành liên minh hải quan. Khi tất cả các hình thức phân biệt đối xử kinh tế với các nhà cung cấp nước ngoài trong khu vực hội nhập được loại bỏ thì đã thiết lập được thị trường chung. Khi đã đạt tới mức độ thị trường chung thì cộng đồng khu vực sẽ hướng tới liên minh kinh tế để xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt về các yếu tố chính sách giữa các nước tham gia. Khu vực sẽ đạt đến mức độ hội nhập kinh tế hoàn toàn (mục tiêu hướng tới của EU và AEC) khi thành lập được một thị trường thống nhất (Lloyd, 2004).

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Mô hình này được thiết kế theo nguyên tắc bảo đảm “sở hữu tư nhân, cạnh tranh, tự do hình thành giá cả, tự do di chuyển về lao động, vốn và dịch vụ”[1]. Trong nền kinh tế ấy, “thị trường lao động được hỗ trợ bởi một hệ thống dịch vụ an sinh xã hội dựa trên nguyên tắc công bằng về sự đóng góp và sự cân bằng xã hội[2]. Nói cách khác, mô hình nền kinh tế thị trường xã hội kiểu Đức có cái lõi vật chất là nền kinh tế thị trường tự do dựa trên chế độ sở hữu tư nhân, nhưng được đóng khung trong một thể chế chính trị “dân chủ, xã hội”. Mô hình đó thừa nhận tầm quan trọng của sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường, nhưng cũng coi trọng vấn đề công bằng và đoàn kết xã hội[3], một mô hình kết hợp giữa nguyên tắc “thị trường tự do” với “sự cân bằng/hài hòa xã hội”, kết hợp (và cân bằng) một cách biện chứng giữa “quyền tự do của con người” với “công bằng xã hội”. Mô hình này hướng tới ba mục tiêu chính: (1) Lấy “phúc lợi cho tất cả mọi người” làm mục tiêu kinh tế: (2) Lấy “công bằng xã hội” làm mục đích chính trị và kinh tế: và (3) Lấy “tương thích với môi trường” trong chính sách kinh tế làm mục tiêu sinh thái[4].

 


[1] Rolf H. Hasse, Hermann Schneider, Klaus Weigelt ( eds. ): Social Market Economy: Principles and Implementation: Economic Policy from A to Z, Singapore: Konrad Adenauer Stiftung, 2008, at 393-418: 393

[2] Rolf H. Hasse, Hermann Schneider, Klaus Weigelt ( eds. ): Social Market Economy: Principles and Implementation: Economic Policy from A to Z, Singapore: Konrad Adenauer Stiftung, 2008, at 393-418: 393

[3] Xem Patrick H. O'Neil, et.nl: Cases in Comparative Politics, 3a ed. New York: W.W. Norton & Company, 2010, at 190

[4] Xem Dieter W. Benecke: Tổng quan về nền kinh tế thị trường xã hội và sinh thái, trong Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: Nền kinh tế thị trường xã hội và sinh thái - Một mô hình phát triển cho sự phát triển của châu Á ?, Nxb. Tài chính, 2008, tr.24-31

Thực hiện quyền giám sát của mình, Quốc hội có thể trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho một số cơ quan khác thực hiện hoạt động giám sát khi thấy cần thiết. Do đó, khi đã phân định cho nhiều cơ quan chức năng của Nhà nước làm công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát thì Quốc hội chỉ giữ cho mình quyền giám sát đối với các cơ quan nhà nước cấp cao ở Trung ương, tức là các cơ quan do Quốc hội bầu ra hoặc phê chuẩn, mà trong đó giám sát hoạt động của Chính phủ là một đối tượng quan trọng trong việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội, Chính phủ với tư cách cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất. Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ được bảo đảm bởi việc quy định bằng Hiến pháp và pháp luật về quyền và cơ chế thực hiện quyền, thông qua các hình thức hoạt. động của các phiên họp toàn thể của Quốc hội, hoạt động của các Ủy ban, của từng đại biểu Quốc hội hoặc của tổ chức được Quốc hội giao nhiệm vụ thực hiện hoạt động này.

Trong thời gian qua, Quốc hội Việt Nam đã thực hiện việc giám sát các cơ quan nhà nước ở Trung ương và các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn, tuy đôi lúc còn sa vào việc xem xét một số vụ việc cụ thể nhưng nhìn chung, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội đã dành phần lớn thời gian cho việc giám sát hoạt động của các đối tượng bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu các cơ quan này và các thành viên Chính phủ.

           Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Một trong những phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội là chất vấn Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội. Hoạt động này giúp Quốc hội đánh giá năng lực, trình độ, trách nhiệm, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên Chính phủ. Mặt khác đây cũng là căn cứ để các đại biểu Quốc hội định kỳ lấy phiếu tín nhiệm hoặc kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Thời gian qua, Quốc hội đã có nhiều đối mới trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn. Đối với quy trình chất vấn, trước hết, Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo kết quả giám sát về việc giải quyết các kiến nghị của cử tri, sau đó tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn trực tiếp tại hội trường (trước đây chỉ có một phần là chất vấn và trả lời chất vấn, không có báo cáo kết quả giám sát). Nội dung chất vấn xuất phát từ thực tiễn và tập trung vào những vấn đề chung, mang tầm vĩ mô; những vấn đề bức xúc nổi cộm mà cử tri và dư luận xã hội quan tâm.

           Đồng thời, trước mỗi kỳ họp có hàng ngàn ý kiến, kiến nghị của cử tri được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban thường vụ Quốc hội tổng hợp. Thông qua hoạt động giám sát, tổng hợp ý kiến của cử tri và các câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội, chủ tọa kỳ họp lựa chọn, cân nhắc vấn đề có thể trả lời chất vấn tại kỳ họp để trao đổi thống nhất với Thủ tướng Chính phủ và đưa ra xin ý kiến của Quốc hội. Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội và hoạt động trả lời chất vấn tại phiên họp của Quốc hội được Quốc hội đánh giá bằng hình thức “ra nghị quyết" để nhân dân và đại biểu Quốc hội theo dõi việc thực hiện. 

Thông tư số 24/2014/TT - BTTTT ngày 29/12/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng được sửa đổi, bởi Nghị định số 27/2018/NĐ - CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ - CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng (sau đây gọi là Thông tư số 24/2014/TT - BTTTT, sửa đổi) đã đưa ra số quy định liên quan khái niệm “vật phẩm ảo”, “đơn vị ảo”, “điểm thưởng”. Thông tư số 24/2014/TT - BTTTT, sửa đổi khẳng định “vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng không phải là tài sản, không có giá trị quy đổi ngược lại thành tiền"[1]. Tuy nhiên trên thực tế, việc mua bán tài sản ảo đó vẫn đang diễn ra và chưa được sự kiểm soát[2]. Việc khẳng định “vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng không phải là tài sản” có thể đúng nếu hiểu tài sản theo nghĩa truyền thống, nhưng sẽ không phù hợp trong bối cảnh sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc đến đời sống vật chất, phương thức hoạt động của xã hội cũng như quan niệm pháp lý truyền thống. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2017, 2018 đã đề cao nguyên tắc quyền dân sự, quyền tự do kinh doanh chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[3]. Bên cạnh Quyết định số 1255/QĐ - TTg ngày 21/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo (sau đây gọi là Quyết định số 1255/QĐ - TTg), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT - TTg ngày 11/4/2018 về tăng cường quản lý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác (sau đây gọi là Chỉ thị số 10/CT - TTg). Chỉ thị này nhấn mạnh, cảnh báo các rủi ro, ảnh hưởng tiêu cực của các loại tiền ảo và hoạt động sử dụng tiền ảo để huy động vốn theo phương thức đa cấp; đồng thời giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành xử lý các vấn đề liên quan. Trên cơ sở đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 02/CT - NHNN ngày 13/4/2018 về các biện pháp tăng cường kiểm soát các giao dịch, hoạt động liên quan đến tiền ảo (sau đây gọi là Chỉ thị số 02/CT - NHNN). Cần lưu ý rằng trước khi có Chỉ thị số 02/CT - NHNN, ngày 27/02/2014 và nhiều lần sau đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có các thông cáo báo chí để khẳng định “Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác) không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp khác tại Việt Nam”.

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Điều 7 Thông tư số 24/2014/TT - BTTTT, sửa đổi

[2] Phạm Thanh Bình: Cấn luật hóa vấn đề “ tài sản ảo", Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 26/01/2015, http://baophapluat.vn/tu-phap/can luat - hoa - van - de - tai - san - ao - 207671.html.

[3] Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, khoản 2 Điều 2 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2017, 2018.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành