Dự toán ngân sách Nhà nước được lập trên cơ sở nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bình đẳng giới, cùng với các nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương. Bên cạnh đó, dự toán ngân sách Nhà nước phải tổng hợp theo từng khoản thu, chi và theo cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi dự trữ quốc gia, chi trả nợ và viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách. Để thực hiện đúng dự toán ngân sách Nhà nước theo kế hoạch thu chi ngân sách hàng năm, 3 năm và 5 năm thì việc dự báo thu ngân sách đóng vai trò quan trọng. Cũng giống như dự báo và phân tích cầu tại khu vực tư nhân đóng vai trò hết sức quan trọng do doanh số là chỉ tiêu đảm bảo sức khoẻ tài chính của doanh nghiệp, nguồn thu đầy đủ và có thể tiên liệu từ thuế và ngoài thuế là cơ sở để đảm bảo sự ổn định và bền vững về tài chính cho chính phủ. Dự báo thu còn có tầm quan trọng hơn nữa trong lập ngân sách ở khu vực công trong trường hợp chính phủ chuyển từ điều hành ngân sách trên cơ sở tiền mặt sang ngân sách trung hạn do các chính sách tài khoá được thiết kế và triển khai ngày càng chú trọng đến những hạn mức trung hạn và việc dự toán cho các cam kết tài chính trung hạn (ví dụ, cam kết đổi với chính quyền địa phương trong bối cảnh phân cấp tài khoá và đối với các đối tác khu vực tư nhân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công) ngày càng trở nên quan trọng. Một lý do nữa khiến cho dự báo thu ngày càng phức tạp là do chính phủ đang chuyển sang hạch toán cả chi tiêu thuế và dự toán cho các khoản đó trong trung hạn.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước do các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải quan và các cơ quan khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao hoặc ủy quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước (NSNN).

Các cơ quan có nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước cần phải phối hợp với cơ quan Nhà nước liên quan tổ chức thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Bộ tài chính, cơ quan quản lý cấp trên, Ủy ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu ngân sách địa phương, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước và các luật có liên quan.

Nguồn thu ngân sách Nhà nước chủ yếu từ thuế, phí và lệ phí, các khoản khí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan Nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ, các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp Nhà nước thực hiện nộp ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, nguồn thu ngân sách Nhà nước còn được tính từ các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Tổ chức lại doanh nghiệp hay cải tổ doanh nghiệp bao gồm các phương thức như: chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

Chia doanh nghiệp là việc công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần có thể chia các cổ đông, thành viên và tài sản công ty để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới[1].

Tách doanh nghiệp là việc công ty TNHH, công ty cổ phần có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty hiện có (sau đây gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công ty TNHH, công ty cổ phần mới (sau đây gọi là công ty được tách) mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách[2].

Hợp nhất doanh nghiệp là hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất[3].

Sáp nhập doanh nghiệp là một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập[4].

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.


[1] Điều 192 về “Chia doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Điều 193 vể ‘Tách doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[3] Điều 194 về “Hợp nhất doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4] Điều 195 về “Sáp nhập doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Doanh nghiệp bắt buộc phải có một số loại văn bản theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp phải có các văn bản như: Bộ hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp); Điều lệ Công ty; Thông báo chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu; Bộ hồ sơ các cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị; văn bản ủy quyền (của người đại diện theo pháp luật hoặc Chủ tịch công ty vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày, của Chủ tịch Hội đồng thành viên cho một thành viên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng thành viên, văn bản ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền của chủ sỏ hữu, thành viên, cổ đông là tổ chức),...

Pháp luật chuyên ngành cũng quy định một số văn bản bắt buộc phải có trong công ty. Ví dụ, tổ chức tín dụng phải xây dựng quy chế tài chính trình Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên phê duyệt để làm căn cứ thực hiện[1]; hay Hội đồng quản trị công ty đại chúng có trách nhiệm xây dựng và ban hành Quy chế nội bộ về quản trị công ty và trình Đại hội đồng cổ đông thông qua[2].

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Điều 28 về “Quy chế tài chính”, Nghị định số 93/2017/NĐ-CP ngày 07-8-2017 của Chính phủ về “Chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vến nhà nước tại tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nưóc”.

[2] Khoản 4 Điều 15 về “Trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị”, Nghị định số 71/2017/NĐ-CP ngày 06-6-2017 của Chính phủ “Hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng”.

Để hoạt động sản xuất, kinh doanh an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, doanh nghiệp cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Dù là doanh nghiệp lớn, vừa hay nhỏ, siêu nhỏ thì cũng đều phát sinh những vấn đề pháp lý thông thường về quản lý, điều hành, hợp đồng, lao động,...

Thực tế, rất nhiều doanh nghiệp không hề biết mình bị các cơ quan nhà nước, đối tác vi phạm quyền lợi và đặc biệt là đang vi phạm nhiều quy định của pháp luật như ban hành Điều lệ, quy chế hoạt động sai Luật doanh nghiệp; ban hành nội quy lao động, Thỏa ước tập thể, ký hợp đồng lao động, kỷ luật lao động sai Bộ luật lao động,... Chưa kể đến những vấn đề phức tạp hơn như quản lý sở hữu trí tuệ, hình ảnh, thương hiệu, nhãn hiệu, giao dịch với nước ngoài,... Đôi khi vì thiếu hiểu biết pháp luật mà doanh nghiệp phải chịu thiệt như chấp nhận điều khoản trong hợp đồng kinh doanh thương mại bất lợi hoặc đôi khi bị cán bộ quản lý bắt bẻ, đòi hỏi, vv…..

Rủi ro pháp lý là một vấn đề nghiêm trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và hệ thống pháp luật đang còn tồn tại nhiều bất ổn, bất cập, lạc hậu, mâu thuẫn, xung đột, chồng chéo, phức tạp ... Tuy nhiên, vì nằm trong bối cảnh chung chưa thực sự tuân thủ pháp luật nên đa số doanh nghiệp thường không nhận thấy sự nguy hiểm của việc không nắm bắt và tuân thủ pháp luật, đồng thời cũng không cảm nhận được sự cần thiết phải có tư vấn pháp luật.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng như năm 2005 không có quy định nào liên quan đến cổ đông nhỏ hay cổ đông lớn, ngoại trừ một lần nhắc đến cụm từ “cổ đông lớn”, nhưng không giải thích[1]. Còn theo quy định của Luật chứng khoán và Luật các tổ chức tín dụng, thì cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phần, cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty[2]. Luật doanh nghiệp chỉ quy định quyền đối với nhóm cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên (giống như Luật các tổ chức tín dụng năm 1997)[3].

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng không quy định về cổ đông thiểu số và cổ đông đa số, nhưng có thể coi cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu số cổ phần không đạt tỷ lệ biểu quyết cần thiết để thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông là cổ đông thiểu số. Như vậy, cổ đông nhỏ và nhiều cổ đông lớn, thậm chí sở hữu tới 49% số cổ phần vẫn có thể thuộc vào nhóm cổ đông thiểu số, tuỳ thuộc vào việc quy định của Điều lệ về tỷ lệ biểu quyết tối thiểu là cao hay thấp.

Quy định tỷ lệ dự họp và biểu quyết tốỉ thiểu phải đạt 65% và 75% đối với Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và Đại hội đồng cổ đông theo Luật doanh nghiệp năm 2005 là một trong các cơ chế hữu hiệu để bảo vệ cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, mặt trái của nó là gây ra nhiều trở ngại cho cơ chế vận hành của công ty và trái với nguyên tắc cơ bản về biểu quyết của các công ty khi chỉ cần biểu quyết quá bán.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


2 Khoản 2 Điều 151 về “Cơ cấu, tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Khoản 9 Điểu 6 về “Giải thích từ ngữ”, Luật chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); khoản 26 Điểu 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Khoản 6 Điều 20 về “Giải thích từ ngữ”, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997.

Quy định pháp lý của hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta được xác định tương đối sớm, có sự điều chỉnh, kế thừa và bổ sung, tạo nên một hệ các yếu tố cấu thành cho mô hình giải thích pháp luật của Việt Nam. Dưới đây là những thành tựu về xây dựng cơ sở pháp lý theo từng phương diện:

- Về đối tượng của giải thích pháp luật: bước đầu có sự phân biệt giữa giải thích Hiến pháp và giải thích luật, pháp lệnh. Từ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã quy định việc soạn thảo, công bố, sửa đổi và giải thích Hiến pháp được thực hiện theo một quy trình riêng. Sự phân biệt này đã phản ánh nhận thức vể vị trí đặc biệt của giải thích Hiến pháp, đồng thời, đặt tiền đề pháp lý để các quy định cụ thể, riêng biệt về giải thích Hiến pháp ra đời. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã dành hẳn một chương để quy định về giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh trong đó quy định cụ thể về các trường hợp và nguyên tắc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

- Về chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật: gần đây đã có các cơ quan giúp việc cho ủy ban thường vụ Quốc hội là Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quổc hội. Điều này cho thấy công việc giải thích pháp luật sẽ dần được đi theo hướng chuyên môn hóa.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền giải thích pháp luật. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc kiến nghị của đại biểu Quốc hội quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

Về cơ sở pháp lý, Chính phủ, các Bộ (Bộ trưởng), và các cơ quan khác là những chủ thể không được pháp luật trực tiếp quy định có quyền giải thích pháp luật. Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pliáp luật năm 2015, Chính phủ được quyền ban hành Nghị định để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Đối với những vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Quan hệ lao động là những tương tác giữa người sử dụng lao động và người lao động và các tổ chức của họ - chịu tác động can thiệp của chính phủ - tại nơi làm việc, hoặc phát sinh ngoài bối cảnh công việc. Các quan hệ lao động thường bị chi phối bởi sự phát triển của kinh tế thị trường, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động và các tổ chức của họ là không thể tránh khỏi, dẫn đến những bất đồng và tranh chấp cần phải giải quyết. Có thể phòng ngừa và giải quyết tranh chấp bằng các hành động dựa trên sự đồng thuận của chính người sử dụng lao động và người lao động hoặc thay bằng các hành động của các bên thứ ba thông qua các quy trình hòa giải và thương lượng. Chính vì vậy, việc xác lập các quy định cụ thể, rõ ràng và nâng cao tính trách nhiệm đối với chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cũng như quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động trong Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung là rất quan trọng đòi hỏi các đại biểu cần phân tích đầy đủ các yếu tố liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Về bản chất, kiểm toán nội bộ cung cấp sự bảo đảm khách quan về việc thiết kế, xây dựng, vận hành giúp các nhà quản trị kiểm soát được tất cả các bước công việc, các quy trình kiểm soát và quản trị của cơ quan, đơn vị mình phụ trách.

Kiểm toán nội bộ tại Việt Nam ra đời trên cơ sở Quyết định số 832/1997/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Bộ Tài chính và thông tư số 171/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 hướng dẫn thực hiện kiểm toán nội bộ (KTNB) tại các doanh nghiệp Nhà nước. Theo đó, kiểm toán nội bộ mới chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước về việc kiểm toán, đánh giá, đánh giá, quản lý và giám sát cho tất cả các cơ quan và tổ chức công để đảm bảo hiệu quả hoạt động, quản trị của đơn vị.

Mục tiêu của kiểm toán nội bộ là giúp các nhà quản trị tổ chức, vận hành tốt, nhận diện những rủi ro ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành mục tiêu của đơn vị, xác định mức rủi ro để từ đó chủ động đề xuất các biện pháp đối phó, giảm thiểu rủi ro.

Thực tế tại Việt Nam, hoạt động kiểm toán nội bộ chỉ được thực hiện với quy mô nhỏ ở các tổ chức bảo hiểm, tổ chức tín dụng, tổ chức quản lý quỹ theo quy định của pháp luật Việt Nam nhưng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, chưa phát huy được vai trò của kiểm toán nội bộ.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành