Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử được xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhà nước, cho nên tham nhũng cũng đã xuất hiện ở nhà nước Việt Nam trong lịch sử. Điều đó cũng có nghĩa rộng giai cấp thống trị nhà nước Việt Nam trong lịch sử cũng đã phải đấu tranh với tham nhũng. Để hiểu được cuộc đấu tranh chống tham nhũng của nhà nước Việt Nam trong lịch sử trước tiên cần thiết phải thông qua các quy định của pháp luật mà sử sách còn ghi chép lại.

Như chúng ta đã biết, từ thế kỷ 1 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ X sau công nguyên, sau khi An Dương Vương thất bại trong cuộc chiến tranh chống Triệu Đà, năm 179 trước Công nguyên, nhà nước Âu Lạc bị sát nhập vào Nam Việt và trở thành một huyện của các nhà nước phong kiến Phương Bắc. Trong khoảng thời gian 1000 năm đó, pháp luật được thực hiện với người Việt là pháp luật phong kiến đô hộ ở nhiều mức khác nhau, nhưng chủ yếu là pháp luật của nhà Hán giữ vai trò thống trị. Trong các vùng núi vẫn tồn tại luật tục. Tuy vậy, những hành vi tham nhũng trong thời gian này của các quan lại, chức sắc phong kiến phương Bắc đã gây nên sự phẫn nộ trong dân chúng, làm dấy lên các cuc khởi nghĩa. Để giải quyết hậu quả do tham nhũng gây nên, trong Hậu Hán Thư có chép lại rằng, chính quyền đô hộ đặt lệ phong hầu, cắt đất thưởng cho những kẻ có công trấn áp phản nghịch. Để hạn chế sự tham nhũng của quan lại làm thiệt hại đến việc thu thuế và cống nạp cho chính quyền trung ương và có thể làm bùng lên sự nổi dậy của nhân dân thuộc địa, đồng thời để xoa dịu lòng căm phn của nhân dân ta, nhà Hán có ban hành sáu điu lệnh quy định cấm quan lại không được làm một số việc như dùng thế lực chiếm đọat ruộng đất giết hại dân, vơ vét của cải gian tham.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt phạt tù

Mặc dù trong thời gian gần đây, chúng ta đã đạt được một số thành tựu trong việc hoàn thiện Quản lý nhà nước nói chung và Quản lý nhà nước về thi hành hình phạt tù (THHPT) nói riêng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Riêng về lĩnh vực Thi hành án hình sự, pháp luật điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực này còn quá ít. Cho đến nay, ngoài BLTTHS năm 1988. Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, BLTTHS năm 2003, chúng ta chưa có văn bản pháp luật quy định trực tiếp các nội dung Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự. Một số văn bản pháp luật về thi hành hình phạt tù chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa thật phù hợp. Nhiều vướng mắc nảy sinh trong hoạt động quản lý và tổ chức thi hành hình phạt tù chưa được điều chỉnh kịp thời bằng các quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt tù hoặc đã được điều chỉnh nhưng không còn phù hợp, cụ thể như sau:

Một là , về việc phân loại trại giam

Trước đây, căn cứ vào BLHS năm 1985 phân loại tội phạm thành tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng. Pháp lệnh thi hành án phạt tù đã chia trại giam thành 3 loại: trại giam loại I, trại giam loại II, trại giam loại III.

BLHS năm 1999 đã thay đổi cách phân loại tội phạm, chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; bỏ khái niệm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia: nâng mức hình phạt tù trong trường hợp tổng hợp hình phạt tù từ 20 năm đến 30 năm. Do đó, các quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 về trại giam loại I, trại giam loại II, trại giam loại III đã không còn phù hợp với BLHS năm 1999, dẫn tới việc phân loại, chuyển phạm nhân đến các trại có cùng tính chất gặp khó khăn, vướng mắc.

Về mặt lý luận, quan niệm về hệ thống nhà tù (hay gọi là trại giam) cho đến nay vẫn chưa thực sự thống nhất: Nhà tù là công cụ bạo lực của Nhà nước hay nhà tù là nơi giam giữ phạm nhân, nhà tù được tổ chức theo nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất hay phân cấp, phân tán theo đơn vị hành chính... không được làm rõ những quan niệm này dẫn đến lúng túng trong việc tổ chức thi hành án.

Hai là, về một số thủ tục sau khi xét xử

Trong thực tế, nhiều người bị kết án tù, bản án và quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật, nhưng họ chưa đi chấp hành hình phạt tù ở trại giam vì còn thiếu các thủ tục thi hành án: bản sao bản án, quyết định chấp hành hình phạt tù hoặc nhiều người có nhiều bản án nhưng không được Tòa án tổng hợp hình phạt nên vẫn phải giam giữ ở các trại tạm giam. Điều này đã gây khá nhiều khó khăn cho cơ quan Thi hành án hình sự và trại giam bị quá tải. Nguyên nhân của việc bị án chờ làm đủ thủ tục để đi chấp hành là do Tòa án chậm chuyển bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Ba là: về thi hành hình phạt tù đối với người nước ngoài

Hiện nay, số phạm nhân là người nước ngoài và mang hộ chiếu nước ngoài đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam ngày càng tăng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn việc thi hành hình phạt tù đối với phạm nhân là người nước ngoài và mang hộ chiếu nước ngoài. Việc quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo, thực hiện chế độ chính sách đối với phạm nhân là người nước ngoài đã gặp khó khăn, lúng túng, nhất là đối với những nước mà Nhà nước ta chưa có quan hệ hợp tác tư pháp. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ đa phương hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự đang trở thành vấn đề hết sức cần thiết. Trong khi đó, những chế định của pháp luật về Thi hành án hình sự như việc quản lý, giam giữ, giáo dục, chế độ sinh hoạt, thăm gặp, nhận quà tiếp tế... chưa được quy định cụ thể. Vì vậy, hiện nay, trong thi hành án phạt tù với loại đối tượng này chúng ta đang gặp những rắc rối phức tạp, phí tổn rất lớn, nhất là việc thi hành phần dân sự trong bản án hình sự, đặc xá, tha tù và trao trả khi hết hạn tù đối với phạm nhân là người nước ngoài hoặc liên quan đến người nước ngoài.

Bốn là, về việc phòng, chống HIV/AIDS trong trại giam

Một thực trạng nảy sinh trong những năm gần đây là người bị nhiễm HIV/AIDS chấp hành trong các trại giam ngày càng nhiều và họ còn bị lây nhiễm các căn bệnh khác như lao, giang mai, nghiện hút, một số bị AIDS giai đoạn cuối.

Pháp luật Thi hành án hình sự hiện hành chưa quy định điều chỉnh về các vấn đề: chế độ chăm sóc, tư vấn, quản lý, điều trị; chế độ, chính sách cho cán bộ, chiến sỹ cảnh sát trại giam làm việc, tiếp xúc chữa trị cho phạm nhân nhiễm HIV/AIDS. Khó khăn nhất là nếu để họ trong trại giam thì rất phức tạp, đưa về gia đình hoặc cho ra ngoài xã hội thì tăng sự nguy hiểm cho cộng đồng và trái với quy định; nhiều trường hợp thuộc diện tạm đình chỉ chấp hành hình phạt hoặc sắp chết chuyển giao cho gia đình bị từ chối. Sự mâu thuẫn giữa tính nguy hiểm có khả năng xảy ra đối với việc đối xử nhân đạo và tuân theo pháp luật trở thành trở ngại cho việc giải quyết vấn đề.

Thứ hai, về tổ chức thực hiện thi hành hình phạt tù

Các cơ quan nhà nước hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, hỗ trợ tư pháp vẫn chưa xem trọng chất lượng, hiệu quả của giai đoạn thi hành hình phạt. Thực tế chỉ mới chú trọng các khâu phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử, còn khâu thi hành hình phạt chưa được nhận thức, tổ chức thực hiện đúng với vai trò, vị trí quan trọng của nó.

Chúng ta chưa có bộ máy quản lý mang tính chuyên ngành, chuyên nghiệp hóa cao trong lĩnh vực Thi hành án hình sự, chưa phân định rõ chức năng của cơ quan xét xử (Tòa án) và cơ quan quản lý trong một số khâu, thủ tục Thi hành án hình sự.

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự bên cạnh những đặc điểm riêng, về cơ bản vẫn phải được nhận thức và thực hiện như đối với các lĩnh vực khác. Trước hết, thuộc chức năng của tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; trong đó Bộ Công an là cơ quan quản lý ngành, là lực lượng trực tiếp hướng dẫn, điều hành các ngành, lực lượng liên quan thực hiện trên cơ sở chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, do chưa có được một cơ chế kết hợp đồng bộ, hợp lý năng lực trách nhiệm của các ngành, các cấp, chưa đề cao và phát huy tác dụng nên tiêu cực, sơ hở còn khá phổ biến.

Công tác Quản lý nhà nước về thi hành hình phạt tù còn có những sơ hở, thiếu sót, số đối tượng có án phạt tù chưa đi thi hành án còn nhiều, số trốn thi hành án, trốn trại từ trước đến nay chưa được giải quyết, truy nã triệt để.

Hiện nay, tuy có giảm song mỗi năm vẫn còn tồn tại một số lượng lớn người bị kết án tù, bản án đã có hiệu lực nhưng người bị kết án vẫn chưa đi thi hành án với nhiều lý do khác nhau.

Việc thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân theo loại trại đã bộc lộ những bất cập, gây tốn kém, phức tạp cho việc dẫn giải phạm nhân đến các trại giam, gia đình phạm nhân đi thăm gặp khó khăn.

Chế độ giam giữ phạm nhân theo ba loại trại như hiện nay (loại I, II, III) chỉ mới thể hiện sự phân loại theo mức án, mà chưa phân loại triệt để theo tính chất tội phạm để giam giữ, làm cho công tác quản lý diện đối tượng nguy hiểm chưa tập trung và bị dàn trải quá rộng, việc giam giữ lẫn số lưu manh chuyên nghiệp với người phạm tội có mức án cao nhưng là phạm tội lần đầu, lịch sử nhân thân tốt là không có lợi cho công tác giáo dục, cải tạo. Các trại giam loại I chỉ giam giữ toàn số nguy hiểm sẽ không có phạm nhân án có mức án thấp để làm các việc phục vụ trại giam.

Việc phân bố và đặt địa điểm các trại giam theo khu vực chưa thật hợp lý, quy mô giam giữ phạm nhân của các trại giam không đồng đều.

Lao động sản xuất ở trại giam chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản, hiệu quả kinh tế thấp, quản lý phạm nhân khó khăn.

Điều kiện giam giữ, cải tạo phạm nhân tuy có được cải thiện, nhưng còn khó khăn; cơ sở y tế, kinh phí chưa đáp ứng được nhu cầu phòng, chữa bệnh, nhất là trong tình hình số phạm nhân mắc bệnh lao, viên gan B, nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng. Hoạt động giáo dục, chính trị, văn hóa, pháp luật chưa được quan tâm đúng mức. Hiệu quả dạy nghề chưa thích hợp với nhu cầu lao động xã hội. Nghề được dạy ở trại giam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, mộc, nề... rất khó kiếm việc sinh sống cho số phạm nhân có hộ khẩu thường trú ở các đô thị khi họ mãn hạn tù. Sự phối hợp trong quản lý, giáo dục phạm nhân ra trại ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng chưa chặt chẽ. Tỷ lệ tái phạm tội của phạm nhân được tha tù về cư trú ở các đô thị còn ở mức cao.

Tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan quản lý và tổ chức chấp hành hình phạt tù còn chưa tương xứng với trách nhiệm, phạm vi quản lý được giao, thẩm quyền pháp lý quy định. Do những điều kiện lịch sử để lại của nhiều năm chiến tranh và sau ngày đất nước được thống nhất, số lượng phạm nhân tăng nhanh, đòi hỏi phải bổ sung biên chế cho các trại giam nên phần đông số lượng cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng cảnh sát trại giam ít được đào tạo chính quy và cơ bản. Ngoài số cán bộ, chiến sỹ công tác ở Cục quản lý trại giam, số cán bộ, chiến sỹ công tác ở các bộ phận theo dõi, quản lý người bị kết án tù, tổ chức thi hành một số công tác thi hành án phạt tù ở Công an các tỉnh thành và Công an cấp huyện hầu như chưa được đào tạo chuyên ngành lĩnh vực thi hành án phạt tù. Công tác trong lĩnh vực thi hành án phạt tù nhưng hiện nay vẫn không có cơ sở đào tạo chính quy riêng về lĩnh vực này, mà chỉ có các chuyên khoa hẹp về nghiệp vụ cảnh sát trại giam ở các trường trung học cảnh sát và Học viện Cảnh sát nhân dân.

1. Khái quát sự hình thành các chế định liên quan đến thi hành án tử hình

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với việc xây dựng và ban hành Hiến pháp năm 1946, ghi nhận chế độ xã hội, chế độ nhà nước, các nguyên tắc pháp lý của nền dân chủ nhân dân, cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước, các quyền tự do dân chủ của công dân..., Nhà nước dân chủ nhân dân đã ban nhiều văn bản quan trọng về lĩnh vực hình sự quy định hệ thống tội danh và các loại hình phạt như: Sắc lệnh số 06/SL ngày 15/11/1946 về việc truy tố những người ăn trộm, ăn cắp, tự ý phá hủy, cắt dây điện thoại, điện tín; Sắc lệnh số 46/SL ngày 25/01/1946 về việc truy tố tội phá hủy công sản; Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ... Các hình phạt quy định trong thời kỳ này là tử hình, phạt tù, phạt tiền, quản chế, cấm làm một số nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản.

Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật trong lĩnh vực hình sự, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thi hành án hình sự, quy định thủ tục, trình tự, cách thức thi hành án các loại hình phạt, vừa tạo cơ sở pháp lý cho việc thi hành án hình sự, vừa từng bước xác định vị trí, vai trò quan trọng của công cụ pháp luật trong quản lý nhà nước về công tác thi hành án hình sự.

Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng kế thừa truyền thống lập pháp của các thời kỳ trước, pháp luật Thi hành án hình sự nước ta đã kịp thời có một số quy định cơ bản về tổ chức thi hành án tử hình.

Hình thức thi hành hình phạt tử mình đã có nhiều thay đổi mang tính nhân đạo của chế độ mới so với chế độ phong kiến, trong thông tư số 498 của Bộ Tư pháp ban hành ngày 31/10/1946 quy định Thi hành án tử hình từ nay dùng súng thay máy chém. Các quy định về chuẩn bị và kết thúc việc thi hành án cũng được quy định chi tiết trong Bản quy tắc trại giam được ban hành ngày 12/6/1951. Ngoài ra, trường hợp xét gảm án tử hình cũng được quy định cụ thể trong Thông tư số 335/ TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc báo cáo thỉnh thị các vụ án tử hình như sau: sau khi Tòa án nhân dân đã lên án tử hình, phạm nhân vẫn có quyền đệ đơn lên Chủ tịch nước xin ân xá, ân giảm. Đơn xin ân xá, ân giảm do Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu chuyển lên Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp làm tờ trình lên Chủ tịch nước.

Pháp luật Thi hành án hình sự đã có những quy định cụ thể hơn về công việc chuẩn bị thi hành án tử hình: trình tự, thủ tục từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc cuộc thi hành án; những điều cần chú ý trong việc thi hành án tử hình và những trường hợp đặc biệt cần hoãn thi hành án tử hình kể từ sau năm 1954.

Do hướng dẫn Công an các địa phương thống nhất trong việc thi hành án tử hình, ngày 13/02/1974, Bộ Công an đã ban hành Chỉ thị số 138/KCT1 về việc thi hành án phạt tử hình. Nội dung của Chỉ thị đã quy định một số vấn đề như: lãnh đạo Khu, Sở, Ty Công an có thẩm quyền thành lập Hội đồng thi hành án phạt tử hình. Hội đồng thi hành án phạt tử hình gồm: đại diện cơ quan Công an, đại diện Viện kiểm sát nhân dân, đại diện Tòa án nhân dân, bác sỹ pháp y, người chứng kiến việc thi hành án là một đại diện của Ủy ban hành chính cơ sở nơi bố trí pháp trường; trình tự, cách thức thi hành án phạt tử tình; các trường hợp đặc biệt cần hoãn thi hành án phạt tử hình:

Phạm nhân tự thú những tội phạm nghiêm trọng khác của y mà thấy những việc cần điều tra, xác minh thêm để có kết luận; phạm nhân tố giác tội phạm của người khác mà xét thấy những việc có tính chất nghiêm trọng và việc điều tra, kết luận nhất thiết phải có mặt phạm nhân; phạm nhân kêu oan mà xét thấy việc đó có thể có căn cứ

Chỉ thị trên cũng đã qui định cụ thể thủ tục hoãn thi hành án phạt tử hình:

Nếu xảy ra trường hợp phải hoãn thi hành án phạt tử hình thì Sở, Ty Công an phải đề nghị với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng nhau bàn bạc tập thể trước khi tạm hoãn và phải báo cáo hỏa tốc lên Bộ để Bộ đưa ra bàn bạc với các đồng chí lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao xét và quyết định ”.

Sau khi Bộ Công an ban hành Chỉ thị số 138/KCT1, ngày 13/02/1974, Tòa án nhân dân ra Chỉ thị số 07/TATC ngày 12/3/1975 hướng dẫn nhiệm vụ cua Tòa án nhân dân trong thi hành án phạt tử hình. Chỉ thị đã quy định nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tống đạt cho phạm nhân quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán: Tòa án nhân dân duyệt án tử hình (trường hợp phạm nhân không xin ân giảm) hoặc quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội (trường hợp phạm nhân có đơn xin ân giảm); nhiệm vụ công bố tóm tắt tội trạng của phạm nhân trước khi phạm nhân bị hành hình.

Trên cơ sở thực tiễ, kế thừa và phát triển những kinh nghiệm trong lĩnh vực Thi hành án hình sự từ những giai đoạn lịch sử đã qua, đồng thời quán triệt và thể hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành BLHS và BLTTHS.

Ngày 27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua BLHS. Bộ luật hình sự có hiệu lực từ ngày 01/01/1986. Việc ban hành BLHS là sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới trong kỹ thuật lập pháp ở nước ta nói chung và lĩnh vực hình sự nói riêng. Lần đầu tiên, chúng ta có một bộ luật mang tính pháp điển hóa cao. Kế thừa và trên cơ sở của BLHS năm 1985, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua BLHS mới. BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể chi tiết hệ thống hình phạt ở nước ta. Nó giúp cho việc áp dụng luật hình sự của các cơ quan bảo vệ pháp luật được thống nhất, đồng bộ hơn. Theo qui định của BLHS năm 1999, hệ thống hình phạt ở nước ta bao gồm các hình phạt chính như: cảnh cảo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình và các hình phạt bổ sung như: cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền khi không áp dụng hình phạt chính; trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính (Điều 28 BLHS năm 2003).

Kế tiếp sau việc ban hành BLHS ngày 28/6/1988, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua BLTTHS, Bộ luật tố tụng hình sự đã dành hẳn một phần ( Phần V) về thi hành bản án và quyết định của Tòa án. Đây là một sự kiện quan trọng ghi nhận sự phát triển của pháp luật về Thi hành án hình sự ở nước ta. Lần đầu tiên trong một văn bản có hiệu lực pháp lý cao quy định cụ thể cách thức thi hành và các cơ quan chịu trách nhiệm thi hành bản án và quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Kế thừa và phát huy trên cơ sở của BLTTHS năm 1988, ngày 26/11/2003 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ tư đã thông qua BLTTHS mới.

Trong BLTTHS năm 2003 việc thi hành án phạt tử hình được qui định tại Chương XXVI ( Điều 258 và Điều 259). Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành được qui định cụ thể tại Điều 258 với những nội dung chủ yếu sau đây:

1. Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay lên Chánh án TANDTC và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong thời hạn 7 ngày, Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

2. Bản án tử hình được thi hành, nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng VKSNDTC không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình, thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm án tử hình.

Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tích nước bác đơn xin ân giảm”.

Việc thi hành hình phạt tử hình được quy định tại Điều 259 với những nội dung chủ yếu sau:

1. Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình gồm đại diện Toà án, Viện kiểm sát và Công an. Hội đồng thi hành án phải kiểm tra căn cước của người bị kết án trước khi thi hành án.

Trong trường hợp người bị kết án là phụ nữ thì trước khi ra quyết định thi hành án, Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm phải tổ chức kiểm tra các điều kiện không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 của BLHS. Nếu có căn cứ người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 của BLHS thì Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.

Trước khi thi hành án đối với người bị kết án là phụ nữ thì Hội đồng thi hành án ngoài việc kiểm tra căn cước, phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình được quy định tại Điều 35 của BLHS.

Trong trường hợp Hội đồng thi hành án phát hiện người bị kết án có điều kiện quy định tại Điều 35 của BLHS thì Hội đồng thi hành án hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.

2. Trước khi thi hành án phải giao cho người bị kết án đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nếu người bị kết án có đơn xin ân giảm án tử hình thì giao cho họ đọc bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.

3. Hình phạt tử hình được thi hành bằng xử bắn.

4. Việc thi hành hình phạt tử hình phải được lập biên bản ghi rõ việc đã giao các quyết định cho người bị kết án xem, những lời nói của họ và những thư từ, đồ vật mà họ gửi lại cho thân thích.

5. Trong trường hợp có tình tiết đặc biệt, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao”.

Như vậy, lần đầu tiên việc thi hành án phạt tử hình được quy định tại văn bản luật có tính pháp lý cao - BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003. Đây là những sự kiện pháp lý quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp ở nước ta.

So với các quy định về thi hành án phạt tử hình được ban hành trong các văn bản pháp luật trước đó, các quy định trong BLTTHS năm 2003 mang tính nhân đạo hơn, đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp luật hơn. Từ BLTTHS năm 1988 đã bãi bỏ chế độ duyệt án tử hình được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và quy định thêm trình tự kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng VKSNDTC.

2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định về thi hành án phạt tử hình

Những năm gần đây, tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, số lượng người bị kết án tử hình đang giam giữ trong các trại tạm giam để chờ thi hành án còn nhiều đang gây khó khăn cho việc quản lý, giam giữ số người bị kết án tử hình ở các trại tạm giam.

Người bị kết án tử hình thường có những biểu hiện tâm lý không bình thường như chán nản, suy nhược thần kinh, liều lĩnh. Nếu không quản lý chặt chẽ, những người bị kết án tử hình rất dễ tự sát, trốn, hoặc có những hành động gây nên những hậu quả đáng tiếc khác. Thực tế cho thấy việc kéo dài thời gian đợi Viện kiểm sát nhân dân tối cao không phải để đảm bảo độ chính xác của bản án tử hình mà còn do một số nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, trong đó có sự bất cập của pháp luật thực định quy định về thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng và sự thiếu trách nhiệm, hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ của một số cán bộ làm các công việc liên quan đến hoạt động Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cụ thể như sau:

Thứ nhất, theo quy định của BLTTHS năm 2015 sau khi bản án tuyên phạt tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải ra quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái phẩm. Đối với người bị kết án, trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án có quyền gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước. Bản án tử hình chỉ được đưa ra thi hành, khi không có kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong thời hạn luật định và phải có quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước (nếu người bị kết án có đơn xin ân giảm). Tuy vậy, BLTTHS năm 2015, chưa quy định thời hạn ra quyết định ân giảm, cũng như thời hạn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải gửi ý kiến của mình về việc xin ân giảm án tử hình của người bị kết án lên Chủ tịch nước. Những bất cập nói trên là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng bản án tử hình chậm được thi hành, có nhiều trường hợp kéo dài đến hàng năm, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, giam giữ của trại tạm giam.

Thứ hai, những trường hợp người bị kết án tử hình không đề nghị xem lại bản án, không làm đơn xin tha tội chết mà làm đơn kêu oan thì việc xét giải quyết thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Toa án). Các cơ quan này phải tiến hành thẩm tra xác minh lại, mất nhiều thời gian. Có trường hợp do các cơ quan tiến hành tố tụng không cẩn thận về hồ sơ tài liệu (không thống nhất về tên gọi, tuổi, địa chỉ, nơi cư trú của người bị kết án tử hình..,) buộc phải tiến hành thẩm tra xác minh lại, mất nhiều thời gian.

Thứ ba, về hình thức thi hành hình phạt tử hình được BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 quy định thi hành bằng hình thức xử bắn, Tuy nhiên, nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất, kiến nghị nên thay hình thức xử bắn bằng hình thức như dùng ghế điện, tiêm thuốc độc... nhằm thể hiện hơn nữa tính nhân đạo của pháp luật XHCN, giảm bớt sự đau đớn về thể xác của người bị kết án, đồng thời khắc phục một số ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý cho cán bộ, chiến sỹ do không chịu nổi áp lực và căng thẳng về tâm lý cũng như những quan niệm đạo đức truyền thống nên đã không yên tâm công tác, thậm chí có cán bộ, chiến sỹ sau một số lần thi hành án đã có biểu hiện bất ổn về tinh thần Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/ 2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Mặt khác, việc thay hình thức thi hành hình phạt tử hình bằng xử bắn sang một hình thức tiêm thuốc độc cònthể giảm được một khoản chi phí đáng kể như xây dựng trường bắn.

Đối với gia đình, thân nhân người bị kết án tử hình xin thi thể về mai táng, nhằm loại bỏ khả năng có thể xảy ra những phức tạp, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự pháp luật Thi hành án hình sự hiện hành không cho gia đình, thân nhân người bị kết án tử hình đưa thi thể người bị thi hành hình phạt tử hình về mai táng. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, để thể hiện tính nhân đạo, nên cho phép gia đình, thân nhân người bị kết án tử hình được đưa thi thể người bị thi hành hình phạt tử hình về mai táng nhưng trước khi đưa phải có những điều kiện ràng buộc nhất định (như phải làm cam đoan với cơ quan có thẩm quyền).

1. Khái quát về sự hình thành các quy định thi hành án phạt tù

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến sau khi hòa bình lập lại năm 1954, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã rất quan tâm đến việc điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực thi hành án phạt tù. Ngày 03/6/1946, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 1735/P4, trong đó nêu rõ vai trò của Thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng:

Bản Bộ xét việc thi hành án là một việc rất cần, vì rằng nếu Tòa án đã xử phạt tù hoặc tiền một phạm nhân nào nếu án không được thi hành đến triệt để thì e rằng các Tòa án sẽ mất gía trị đối với dân chúng. Vì vậy, Bản Bộ đề nghị với Qúy Bộ ra chỉ thị cho các cơ quan hành chính khi nào nhận được trích lục án: Nếu phạt tù người nào, thì bắt ngay người phạm pháp rồi giao cho giám đốc đề lao”.

Ngày 07/11/1950, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 150/SL về tổ chức trại giam, trong đó có Điều 1 quy định “Phạm nhân phải giam giữ trong trại giam để trừng trị và giáo hóa”. Điều 2 quy định: “Bộ Nội vụ có nhiệm vụ tổ chức và kiểm soát các trại giam trong phạm vi toàn quốc”.

Thi hành Sắc lệnh này, liên bộ Nội vụ - Tư pháp đã ban hành Nghị định số 181-NV/06 ngày 12/6/1951 quy định việc thiết lập và quản trị trại giam. Điều 1 Nghị định số 181-NV/06 quy định:

Mỗi tỉnh hoặc thành phố có một trại giam để giam giữ:

a) Những phạm nhân thành án về tội chính trị hay tội thường;

b) Những người bị quyết nghị đưa đi an trí;

c) Những bị cáo giam lưu về tội chính trị hay tội thường”.

Nghị định số 181-NV/06 cũng đã quy định cụ thể việc sinh hoạt của phạm nhân, giáo hóa phạm nhân. Tại Điều 4 Chương 2 của Nghị định này quy định: “Trong thời gian bị giam cầm, phạm nhân được ăn đủ theo mức sống tối thiểu cần thiết, tùy theo hoàn cảnh kinh tế của mỗi địa phương”. Việc giáo hóa phạm nhân được quy định tại Điều 5: “Việc gíao dục phạm nhân về phương diện tư tưởng, tư cách nghề nghiệp phải được tổ chức trong mỗi trại bằng công tác lao động và đời sống tập thể. Phạm nhân ai cũng được đọc sách báo, hoc tập về văn hóa, chính trị, hướng dẫn về các thủ công nghiệp, tăng gia sản xuất”.

Ban hành cùng với Nghị định số 181-NV/06 là Bản quy tắc trại giam gồm 3 chương với 60 điều, quy định cụ thể những vấn đề tiếp nhận, di chuyển, phóng thích phạm nhân; cách sắp đặt phạm nhân trong trại giam, sổ sách kiểm tra, trật tự kỷ luật; ăn uống, áo quần, chỗ nằm; quân sự hóa; thăm hỏi phạm nhân; vệ sinh y tế; phương pháp giáo hóa phạm nhân; thể lệ dùng phạm nhân vào công tác.

Những văn bản quy phạm pháp luật về Thi hành án hình sự được ban hành trong giai đoạn từ tháng 8 -1945 đến năm 1954 về thi hành án phạt tù đã được ban hành theo một trình tự chặt chẽ. Từ sắc lệnh, nghị định đến quy tắc trại giam đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp thi hành án phạt tù ở nước ta. Đây là cơ sở pháp lý để thực hiện việc quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, góp phần vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sự điều chỉnh pháp luật việc thi hành án phạt tù khá đầy đủ, chi tiết, đã thể chế hóa được chính sách Thi hành án hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. Các nguyên tắc pháp chế, dân chủ, nhân đạo, phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa việc thi hành hình phạt đã được quán triệt sâu sắc trong các văn bản nói trên.

Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc, vấn đề kiểm tra việc thi hành án phạt tù đã được Nhà nước ta quan tâm. Hội nghị cán bộ trại giam toàn quốc lần thứ ba có Bộ Công an triệu tập đã kiểm điểm tình hình giam giữ ở các trại giam, trại cải tạo và phát hiện một số thiếu sót lệch lạc trong việc thi hành án phạt tù. Để chấn chỉnh tình trạng này, ngày 23/08/1956, liên bộ Công an - Tư pháp đã ban hành Thông tư số 1500-HCTP quy định: “Trại giam hoặc trại cải tạo chỉ nhận phạm nhân hoặc cho lấy phạm nhân đi khi có lệnh viết ký tên và đóng dấu của cán bộ có thẩm quyền”. Công tác kiểm tra các trại cải tạo, trại giam được quy định tại Phần 2 của Thông tư: “Công tố ủy viên Tòa án nhân dân tỉnh và khu cần phải kiểm tra trại giam và các trại cải tạo. Nếu trong khi kiểm tra, Tòa án thấy những khuyết điểm của trại về mặt thái độ đối xử với phạm nhân, chế độ ăn uống, bảo đảm sức khỏe. Tòa án cần phải thảo luận với Công an và Ban giám thị của trại để có kế hoạch sửa chữa”.

Sau một thời gian thực hiện Thông tư số 1500-HCTP của liên bộ Công an - Tư pháp cho thấy, việc giao cho TAND ký lệnh thả phạm nhân hết hạn tù đã bộc lộ những bất hợp lý: nhiều trường hợp thả không đúng thời hạn, vì công văn, giấy tờ có thể bị chậm trễ, nhất là đối với số phạm nhân bị giam giữ ở những trại xa. Vì vậy, sau khi thống nhất ý kiến với TANDTC, VKSNDTC về việc giao cho Công an ký lệnh tha phạm nhân hết hạn tù đảm bảo cho việc thả phạm nhân đúng thời hạn, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 966/TT-BCA ngày 30/5/1961 giao cho các Chánh, Phó giám đốc và Trưởng, Phó Ty Công an kí giấy tha phạm nhân hết hạn tù bị giam ở các trại giam trực thuộc Khu, Sở, Ty Công an và giao cho các Chánh phó giám thị trại cải tạo ký giấy tha phạm nhân hết hạn tù bị giam ở các trại cải tạo trực thuộc trung ương. Thông tư số 966/TT-BCA còn quy định: “Ít nhất ba tháng trước khi một phạm nhân bị giam ở trại cải tạo hết hạn tù, Ban giám thị phải báo cáo cho Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nơi đã điều tra và xét xử vụ án biết về thời gian thả phạm nhân”.

Ngày 20/6/1961, để tăng cường việc giữ gìn An ninh trật tự, bảo vệ lợi ích của nhà nước và của nhân dân, đẩy mạnh việc giáo dục, cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 49/NQ-UBTVQH về việc tập trung giáo dục, cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội. Tại điểm 2 Nghị quyết số 49/NQ-UBTVQH quy định: “Những người giáo dục, cải tạo không được hưởng quyền công dân”. Người bị tập trung giáo dục, cải tạo được giam giữ ở trại giam nơi người bị kết án tù thi hành án. Vào thời điểm quyết liệt của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, để tăng cưng việc quản lý và giáo dục, cải tạo phạm nhân, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 27/CP ngày 13/02/1968 về một số vấn đề công tác trại giam, trong đó xác định: “Giam giữ những người phạm tội để giữ gìn trật tự, an ninh xã hội và để cải tạo họ trở thành người lao động lương thiện”. Để đạt được mục đích, Hội đồng Chính phủ đã giao cho Ủy ban hành chính các cấp:

Có trách nhiệm gíup đỡ các trại giam ổn định địa điểm và có điều kiện sản xuất để các trại giam có thể góp phần phát triển kinh tế địa phương. Đối với những phạm nhân cải tạo tiến bộ được thả ra, các Ủy ban hành chính địa phương phải tiếp nhận, giải quyết mọi quyền lợi công dân mà họ được hưởng theo quy định của pháp luật, giúp đỡ họ có công ăn việc làm, tích cực sử dụng lao động của họ một cách có ích cho xã hội, theo dõi, tiếp tục giúp đỡ họ tiến bộ, đồng thời đề cao cảnh giác, ngăn ngừa họ tái phạm tội, tránh bỏ rơi, ngược đãi họ”.

Như vậy, các văn bản quy phạm pháp luật thi hành án phạt tù ban hành trong giai đoạn này chủ yếu mang tính chất giải quyết tình thế, nhằm khắc phục những thiếu sót, yếu kém qua thực tiễn thi hành án phạt tù. Ở một mức độ nhất định, các văn bản này đã tổng kết được kinh nghiệm giáo dục, cải tạo người phạt tù và các biện pháp giúp đỡ họ hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng.

Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng các văn bản ban hành trong giai đoạn này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giáo dục, cải tạo phạm nhân, góp phần vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong BLTTHS năm 1988 việc thi hành án phạt tù được quy định tại Điều 230; BLTTHS mới năm 2003 quy định tại Điều 260:

1. Trong trường hợp người bị kết án đang bị tạm giam thì theo yêu cầu của người thân thích của người bị kết án, cơ quan Công an phải cho phép người bị kết án gặp người thân thích trước khi thi hành án.

Ban giám thị trại giam phải thông báo cho gia đình người bị kết án biết nơi người đó chấp hành hình phạt.

2. Trong trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, nếu quá thời hạn mà không có mặt tại cơ quan Công an để chấp hành án thì người kết án sẽ bị áp giải.

3. Chánh án Toá án đã ra quyết định thi hành án phải theo dõi việc thi hành án. Cơ quan Công an phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về việc bắt người bị kết án để thi hành án hoặc ly do chưa bắt được và biện pháp cần áp dụng để đảm bảo việc thi hành án.

4. Trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù trốn khỏi trại giam thì cơ quan Công an ra quyết định truy nã”.

Đối với người bị tạm giữ, tạm giam, BLTTHS năm 1988 lần đầu tiên khẳng định nguyên tắc: “Chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù” (Điều 72). Đây là một bước tiến lớn về mặt nhận thức, khắc phục được những thiếu sót đánh đồng người bị tạm giữ, tạm giam và người bị kết án của những văn bản quy định về thi hành án phạt tù trước đó. Năm 1989, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành quy chế tập trung giáo dục, cải tạo trong đó quy định việc tách trại giam tập trung giáo dục, cải tạo ra khỏi các trại giam, khắc phục việc giam chung người bị tập trung giáo dục, cải tạo với người bị kết án của cả thời kỳ dài từ năm 1961 đến năm 1989.

Tuy nhiên, sau khi đã ban hành BLTTHS năm 1988, chúng ta còn thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể việc thi hành án phạt tù của các cơ quan có thẩm quyền. Để khắc phục tạm thời tình trạng này, đồng thời uốn nắn những lệch lạc, sai sót trong việc giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, ngày 27/4/1989, Bộ Nội vụ đã ban hành Chỉ thị số 123 về việc tăng cường quản lý, cải tạo phạm nhân trong tình hình mới. Chỉ thị đã ghi rõ: “Công tác quản lý, cải tạo phạm nhân vẫn còn nhiều yếu kém, trì trệ và có những khuyết điểm nghiêm trọng”. Chỉ thị số 123 đã chỉ ra hướng giải quyết những vướng mắc trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối với phạm nhân, phương hướng đẩy mạnh sản xuất trong trại giam, các giải pháp giảm bớt tình trạng suy kiệt, giam giữ không có lệnh, để quá hạn và tình trạng trốn trại giam.

Việc khắc phục những nhược điểm của các văn bản pháp luật về thi hành án phạt tù, chấn chỉnh công tác quản lý giáo dục, cải tạo phạm nhân, bảo đảm việc thi hành án phạt tù được thống nhất và có hiệu quả, đã trở thành yêu cầu khách quan cấp bách. Ngày 08/3/1993, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù. Trong Pháp lệnh này, lần đầu tiên khái niệm thi hành án phạt tù được quy định tại Điều l: “Thi hành án phạt tù là buộc những người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện” và Điều 3: “Trong thời gian chấp hành hình phạt, người bị kết án tù, phải bị giam giữ, lao động và học tập theo quy định của pháp luật”.

Pháp lệnh đã quy định Chính phủ thống nhất Quản lý nhà nước về công tác thi hành án phạt tù trong phạm vi cả nước; Bộ Công an, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù (Điều 5). Thực hiện nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa việc thi hành án hình phạt, Pháp lệnh đã phân trại giam thành ba loại tại các điều 11, 12 và 13.

Thủ tục thi hành án phạt tù được quy định tại Chương III, trong đó, việc trả tự do cho người chấp hành xong hình phạt được quy định tại Điều 18:

Khi người bị kết án tù đã chấp hành xong hình phạt thì đúng ngày đó, giám thị trại giam phải trả tự do cho họ, cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt và giới thiệu họ về Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú; đồng thời phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý trại giam và cơ quan quản lý thi hành án phạt tù”.

Chế độ giam giữ, giáo dục, lao động và sinh hoạt đối với người đang chấp hành hình phạt tù được quy định tại Chương IV của Pháp lệnh.

Nhằm cụ thể hóa những quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù, ngày 16/9/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 60-CP ban hành Quy chế trại giam. Khái niệm về trại giam và phạm nhân được quy định tại Điều 1: “Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân. Người đang chấp hành hình phạt tù được gọi là phạm nhân”. Những vấn đề về tổ chức trại giam được quy định tại Chương I, chế độ giam giữ, dẫn giải phạm nhân được quy định tại Chương II; chế độ ăn mặc, ở, sinh hoạt và chữa bệnh của phạm nhân được quy định tại Chương III; chế độ lao động, học tập của phạm nhân được quy định tại Chương IV; chế độ gặp, nhận, gửi thư, quà, khiếu tố được quy định tại Chương V; thủ tục tiếp nhận phạm nhân đầu thú, giam thời hạn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù được quy định tại Chương VI; chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với phạm nhân được quy định tại Chương VII. Các bộ, ngành có liên quan cũng đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh thi hành án phạt tù. Ngày 30/6/1993, Thông tư liên ngành của TANDTC, Bộ Nội vụ, VKSNDTC đã được ban hành hướng dẫn một số quy định về thủ tục đưa người bị kết án tù vào trại giam để chấp hành hình phạt, việc đưa người đang chấp hành hình phạt bị tâm thần vào cơ sở chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Tiếp đó, Thông tư liên bộ số 11 ngày 20/12/1993 của Bộ Nội vụ - Quốc phòng - Tài chính - Giáo dục và Đào tạo - Lao động - Thương binh và Xã hội đã được ban hành hướng dẫn việc giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, dạy nghề, chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân; Thông tư liên bộ số 12 ngày 20/12/1993 của Bộ Nội vụ - Quốc phòng - Tài chính - Y tế - Lao động - Thương binh và Xã hội được ban hành hướng dẫn chế độ ăn, mặc, ở, tổ chức phòng, chữa bệnh, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho phạm nhân. Tiếp đó, ngày 22/3/1995, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 86 về các biểu mẫu, sổ sách theo dõi, quản lý người bị kết án tù; Quyết định số 159 ngày 02/4/1996 về việc thành lập cơ sở chấp hành hình phạt của người bị kết án tù trong trại tạm giam.

Với việc ban hành BLTTHS năm 1988, BLTTHS mới năm 2003, Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 và đến Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã đánh dấu một bước tiến mới về chất lượng trong hoạt động lập pháp nói chung và lập pháp trong lĩnh vực Thi hành án hình sự nói riêng. Chính sách Thi hành án hình sự đối với những người thi hành án phạt tù được quy định cụ thể, rõ ràng, toàn diện hơn, tạo cơ sở pháp lý cho việc thi hành án phạt tù.

Ngoài các văn bản có hiệu lực cao nêu trên, việc ban hành các nghị định của Chính phủ, thông tư liên ngành, thông tư liên bộ hướng dẫn cụ thể việc thi hành án phạt tù đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý và tổ chức thi hành án phạt tù.

Các văn bản quy phạm pháp luật quy định việc thi hành án phạt tù giai đoạn này đã tổng kết được thực tiễn thi hành án phạt tù, kế thừa và phát triển kinh nghiệm lập pháp, lập quy Thi hành án hình sự của những năm trước đó, cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.

2. Góp ý về các chế định liên quan đến hình phạt tù

Việc thi hành hình phạt tù có thời hạn dựa trên Bản án phạt tù có thời hạn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Những bản án và quyết định của Toà án tuyên hình phạt tù có thời hạn đã có hiệu lực pháp luật là những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; những quyết định của Toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Quyết định thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với trường hợp Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành.

Các cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Đối với các bản án phạt tù có thời hạn của tòa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ do cơ quan chuyên trách là Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu.

Có thể thấy công tác thi hành án phạt tù có thời hạn theo Luật thi hành án hình sự năm 2010 vẫn gặp phải một số vướng mắc sau:

Thứ nhất, chương trình và chất lượng giáo dục phạm nhân còn nhiều bất cập, công tác đào tạo nghề trong trại giam chưa thực sự hiệu quả do tính nghề nghiệp sau khi hòa nhập xã hội của phạm phạm nhân chưa đáp ứng được đời sống tối thiểu của họ.

Thứ nhất, chất lượng giáo dục, cải tạo phạm nhân còn thấp, chương trình giáo dục cải tạo còn nhiều bất cập; hiệu quả dạy nghề chưa thích hợp với nhu cầu lao động xã hội lao động sản xuất ở trại giam chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản, hiệu quả kinh tế thấp, quản lý phạm nhân khó khăn.

Thứ hai, các quy định về hoãn thi hành hình phạt tù có thời hạn chưa được quy định thống nhất với các điều kiện được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015. Có trường hợp người bị kết án tù có thời hạn, bản án quyết định phạt tù có thời hạn đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa đi chấp hành hình phạt tù ở trại giam.

Thứ ba, chưa có quy định thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với phạm nhân là người nước ngoài, người mang hộ chiếu nước ngoài.

Thứ tư, chưa có quy định về việc thực hiện trách nhiệm khác trong bản án đã tuyên thuộc điều kiện xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Thứ năm, tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan quản lý cũng như tổ chức chấp hành hình phạt tù còn chưa tương xứng với trách nhiệm, một cán bộ quản giáo phải quản lý rất nhiều phạm nhân so với quy định.

Chính vì vậy, cần xây dựng các quy định về thi hành án phạt tù có thời hạn trong Luật thi hành án hình sự theo hướng chi tiết, cụ thể bao quát tất cả các lĩnh vực trong thi hành án phạt tù có thời hạn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ thi hành án phạt tù cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của phạm nhân.

Cần xác định rõ chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp, chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án hình sự là một nhiệm vụ trọng yếu để nâng cao hiệu quả thi hành án.

Các phương pháp Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự bao gồm một hệ thng các phương pháp như: hành chính, kinh tế, dự báo định hưng, điu chỉnh, quản lý tác động trực tiếp... nhưng có hai phương pháp cơ bản đó là: phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưng chế.

Theo các tác gi của cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1999 thì phương pháp quản lý hành chính nhà nước là: Cách thức thực hiện chức năng của quản lý, hay cách thức tác động của chủ th quản lý lên đi tượng quản lý nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết...”. Quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ Thi hành án hình sự cũng là quá trình thực hiện các chức năng của Nhà nước về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng... Hơn nữa, quá trình đó gắn liền và quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác của đời sng xã hội. Vì vậy, phương thc quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự trưc hết cũng là phương thức chung ca quản lý hành chính nhà nước, đồng thời, sử dụng và kết hợp với các phương thức quản lý nhà nước có tính riêng biệt, đặc thù trong lĩnh vực này. Những yêu cầu có tính khách quan xuất phát từ đặc thù, quy định phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự. Như vậy, có thể nói phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự là những phương thức, cách thức mà các cơ quan nhà nước, cá nhân có thm quyền sử dụng đ tác động lên đi tượng quản lý - người bị kết án hình sự, nhằm buộc h phải chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

1. Phương pháp giáo dục, thuyết phục

Trong điu kiện chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mọi hoạt động của bộ máy nhà nước phục vụ cho lợi ích của nhân dân, không vì bất k mục đích tự thân nào. Do đó, phương pháp giáo dục, thuyết phục là phương pháp chủ yếu được s dụng để thực hiện những nhiệm vụ trong hoạt động Quản lý nhà nước nói chung và Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự nói riêng.

Người bị kết án là nhng người đã có hành vi trái với những chuẩn mực của xã hội, chính xác hơn là họ đã có nhng hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm ti những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự nước ta bảo vệ. Họ bị Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước xét xử và tuyên phạt. Tuy nhiên, trong trường hợp người bị án là công dân Việt Nam, thì dù hình phạt mà người đó phi chấp hành là hình phạt gì, người đó vn mang quc tịch Việt Nam. Luận điểm này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của C.Mác khi ông cho rằng: Nhà nước phải nhận thy trong con người vi phạm có người lính bảo vệ T quốc mình, thành viên của cộng đng thực hiện chức năng của người chủ gia đình và điều quan trọng nhất là công dân của quc gia. Việc thừa nhận ngưi bị kết án, k cả những ngưi đang chấp hành hình phạt tù cho thy, xã hội không loại b họ ra khi s thành viên của mình, họ chỉ bị hạn chế một số quyn, nghĩa vụ nht định tùy thuộc vào loại hình phạt mà họ phải chấp hành. Vì thế, cơ quan, cá nhân được Nhà nước giao quyn quản lý và tổ chc Thi hành án hình sự trước hết phải tuyên truyn, giáo dục cho người bị kết án hiểu rõ những quyền mà họ được hưng và nghĩa vụ mà họ phải phục tùng trong việc thi hành bản án hình sự, để họ tự giác chấp hành nội dung hình phạt trong bản án mà Tòa án đã tuyên. V.I.Lênin ch ra rằng: “Trước hết phải thuyết phục và sau đó mi cưng bức, dù thế nào đi nữa chúng ta cũng phải thuyết phục rồi mới cưỡng chế. Khi người bị kết án tự giác phục tùng thực hiện nghĩa vụ thi hành bn án và nhng nội dung ca bản án hình sự đối với họ, thì có nghĩa là Nhà nước mc độ nào đó đã đạt được mc đích của mình trong vic áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Vì mục đích chính của hình phạt trong pháp luật hình sự nước ta là: “không ch nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội,ý thức tuân theo pháp luật và các quy tc ca cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới... (Điu 27 BLHS năm 1999).

2. Phương pháp cưng chế

Xét góc độ pháp lý,ng chế là một thuộc tính của quyn lực nhà nước. Văn bn quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành trong lĩnh vực Thi hành án hình sự buộc mọi thành viên ca xã hội nói chung và người bị kết án nói riêng phải thi hành đã cha đựng sẵn sự cưng chế của Nhà nước và nó tr thành hiện thực khi bn án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp không thể thuyết phục người bị kết án tự giác chp hành án, cơ quan nhà nước, cá nhân có thm quyn buộc phi s dụng biện pháp cưng chế. Trong thực tế, phần đông những người bị kết án thường là những ngưi có trình độ văn h pháp lý thp. Nên trong số họ, ngoài một bộ phận tự giác chp hành còn một bộ phận c tình kéo dài hoc tìm cách trốn tránh việc thi hành án. Để đm bo cho việc thi hành án, pháp luật Thi hành án hình sự nước ta đã có những quy phm điu chnh dự liệu trong những trường hợp người bị kết án không tự giác chấp hành án cho phép cơ quan, cá nhân có thẩm quyn áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc họ phải nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Mức độ cưng chế được quy định phù hợp với việc thi hành từng loại hình phạt khác nhau. Trong thi hành án phạt tù, người b kết án đang được tại ngoại nếu quá thi hạn luật định mà họ không có mặt ở cơ quan Công an để chp hành án thì người bị kết án sẽ bị áp giải. Đối với việc thi hành các hình phạt khác như: phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo... nếu người bị kết án không tự giác chấp hành thì các cơ quan, cá nhân có thẩm quyn được áp dụng các biện pháp cưng chế mà pháp luật quy định.

Trong các trường hợp trên, việc áp dụng cưỡng chế không trái vi nguyên tc dân chủ và nhân đạo của Nhà nước ta, trái lại, nó được thực hiện bởi li ích chung của nhân dân, xã hội, Nhà nước.

Không áp dụng cưng chế hay coi nhẹ cưỡng chế cũng có nghĩa là buông nhẹ kỷ cương dẫn tới tình trạng vô chính phủ, vô kỷ luật, s không đạt được hiệu quả như mong mun trong hoạt động Quản lý nhà nước về Thi hành án hình sự. Ngược lại, quá nhấn mạnh đến cưng chế sẽ dẫn đến độc đoán, chuyên quyền, trái với bản cht của Nhà nước ta. Vì vậy, kết hợp phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưng chế một cách hợp lý, đúng thời điểm s có hiệu quả to lớn trong hoạt động qun lý và t chức Thi hành án hình sự.

Như vậy, Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự vừa vận dụng những phương thức, bin pháp chung như: tổ chức, hành chính, kinh tế, kế hoạch, lợi ích chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhân văn, áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật - công nghệ trong qun lý, vừa sử dụng nhng phương thức có tính đặc thù là thuyết phục, giáo dục và cưỡng chế. Kết hợp một cách hài hòa giữa biện pháp cưỡng chế với biện pháp cảm hóa, thu phục nhân tâm, phát huy nhân t tích cực trong mỗi con người với sự cải hoán bắt buộc của Nhà nước, phù hợp vi môi trường và đối tượng Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự. Pháp luật là tính nguyên tc th nht; cảm hóa, giáo dục, ci tạo con người và ci hoán bắt buộc là tính nguyên tắc thứ hai của các phương pháp trên.

3. Hình thức của quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự

Sự tác động của các cơ quan được Nhà nước ủy quyền lên khách thể quản lý trong lĩnh vực thi hành án hình sự rt đa dạng thông qua những hành vi, hành động cụ thể nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này và được thực hiện dưới những hình thc nht định như: ban hành các quyết định quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự, những hoạt động t chức nhằm tác động lên hệ thống cơ quan quản lý trực thuộc, đối tượng quản lý.

Hình thức hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự là sự biểu hiện ra bên ngoài của những hoạt động cùng loại v nội dung, tính cht và phương thức tác động của các cơ quan được Nhà nước ủy quyền lên các cơ quan qun lý trực thuộc, ngưi bị kết án.

Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự có quan hệ chặt chẽ vi nhau. Phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự thuộc về phạm trù nội dung ca quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Sự áp dụng hình thức quản lý này hay hình thức khác, theo một tỷ lệ nhất định thể hiện cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự đã áp dụng phương pháp nào.

Các hình thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự thể hiện chức năng, thm quyền của các cơ quan Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Vì vậy, chọn hình thc quản lý này hay hình thc qun lý khác dựa trên cơ s quy định pháp luật về thẩm quyn.

Hình thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự rt đa dạng nhưng chủ yếu được thể hiện hình thức ra quyết định qun lý hành chính nhà nưc trong lĩnh vực thi hành án hình sự.

Đây là những hình thc được pháp luật quy định cụ thể gắn liền với việc ban hành các văn bản định hướng, văn bản quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự và các văn bn áp dụng quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự. Những hình thức này thể hiện rõ nét tính chất quyn lực nhà nước (có tính bt buộc thi hành) và tính pháp lý - làm thay đổi cơ chế điều chnh pháp luật Thi hành án hình sự.

Một , ban hành quyết định quản lý nhà nước chủ đạo đ ra ch trương, đường li, nhiệm vụ, chính sách, các biện pháp lớn có tính chất chung, là công cụ chiến lược trong việc thực hiện chức năng lãnh đạo của Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự.

Hai là, ban hành văn bn quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự để cụ th hóa và hướng dn thực hiện các quy định ca pháp luật Thi hành án hình sự.

Thẩm quyền ban hanh văn bn quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự là phương tiện hữu hiệu đ các cơ quan Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này tác động tích cực lên đối tượng quản lý – ngưi bị kết án trong khuôn kh những yêu cầu chung của pháp luật.

Tùy thuộc vào điu kiện, hoàn cnh cụ th mà các cơ quan Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự ban hành những loại văn bn quy phạm pháp luật thi hành án hình sự nhất định để cụ thể hóa các quy định của pháp luật thi hành án hình sự, điều chnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động Thi hành án hình sự. Thông qua hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự n định nhng quy tc x sự chung trong quản lý nhà nước v Thi hành án hình sự, quy định những nhiệm vụ cụ th, quyn hạn nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền quản và tổ chức Thi hành án hình sự, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước hữu quan, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, công dân... tham gia hoạt động Thi hành án hình sự, quyn hạn và nghĩa vụ pháp lý của người bị kết án; xác đnh những mối liên hệ chủ yếu giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự và mối liên hệ với các ngành Tòa án, Kiểm sát và các cơ quan nhà nước hữu quan khác trong hoạt động quản lý và tổ chức Thi hành án hình sự...

Thẩm quyền và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự được pháp luật quy định cụ thể. Khi ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự phải tuân thủ những quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành.

Ba là, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật về Thi hành án hình sự.

Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự là loại văn bản cá biệt do cơ quan, người có thẩm quyền Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự ban hành để áp dụng một lần đối với đối tượng quản lý v một nội dung cụ thể để thi hành bản án, quyết định hình sự cụ thể.

Ví dụ: Quyết định thi hành án do Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc được ủy quyn ban hành đối vi một người bị kết án cụ thể.

Việc ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật Thi hành án hình sự cụ thể. Thông qua việc ban hành những văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự, các cơ quan Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự giải quyết những việc cụ thể liên quan đến cơ quan, tổ chức hay cá nhân người bị kết án trên cơ sở những yêu cầu và điều kiện được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Ví dụ: Việc ban hành quyết định áp giải đối với người bị kết án phạt tù đang tại ngoại nhưng đã quá thời hạn luật định mà không có mặt ở cơ quan Công an để chấp hành án trên cơ sở quy định BLTTHS năm 2015.

Hiện nay, pháp luật Thi hành án hình sự hiện hành ở nước ta chưa trao hoàn toàn thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự (thuộc hệ thống hành pháp) mà còn quy định một số loại văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Thi hành án hình sự do Tòa án - cơ quan xét xử (hệ thống tư pháp) ban hành. Ví dụ quyết định thi hành án; quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. Đây là một vấn đề lý luận và thực tiễn đang được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu và có những ý kiến khác nhau.

Ngoài hình thức ra quyết định quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này còn thực hiện những biện pháp như:

- Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp nhằm bảo đảm sự vận hành chính xác và có hiệu quả của hệ thống cơ quan Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự từ trên xuống dưới (bao gồm: các hoạt động nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm Thi hành án hình sự từ trước đến nay, kinh nghiệm tổ chức Thi hành án hình sự của các quốc gia khác trên thế giới, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào quản lý, tổ chức kiểm tra điều phối hoạt động, tổ chức hội thảo, tổ chức phong trào thi đua...;

- Thực hiện những tác động nghiệp vụ - kỹ thuật như: sử dụng kiến thức nghiệp vụ, áp dụng thành tựu của khoa học công nghệ vào quá trình Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự, đó là: hoạt động chuẩn bị tài liệu cần thiết cho việc ban hành văn bản pháp luật Thi hành án hình sự, chuẩn bị cho việc tiến hành những biện pháp tổ chức, làm báo cáo, lưu trữ hồ sơ. Hiện nay, các cơ quan Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự đang sử dụng rộng rãi tiến bộ công nghệ tin học trong việc theo dõi, quản lý người bị kết án, nhất là những bị cáo bị kết án tù; sử dụng phương tiện nghe, nhìn hiện đại, phòng, chống phạm nhân gây rối, trốn trại giam...

Tóm lại, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưỡng chế là những phương pháp có tính đặc thù trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự. Việc ra quyết định quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự thể hiện ý chí và thẩm quyền của cơ quan quản lý. Lựa chọn đúng phương pháp và hình thức hoạt động thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả Thi hành án hình sự và nâng cao không ngừng hiệu lực Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự.

Dưới góc độ kinh tế học, kiến thức được coi như một hàng hóa công cộng và những ngoại ứng (ảnh hưởng ngoại hiện) về học tập. Quan trọng nhất, kiến thức là một hàng hóa công các chi phí cận biên của một người hoặc doanh nghiệp khác được hưởng lợi ích của kiến thức (ngoài các chi phí truyền tải) là không sử dụng, không có tính cạnh tranh.

Với nguyên lý của thị trường, khi sản xuất và phân phối hàng hóa công cộng, thị trường không sẽ không đạt được hiệu quả theo bản chất của nó, kể cả đối với việc lan tỏa và phổ biến tri thức với tư cách là một loại hàng hóa công cộng. Vì vậy, miễn là có lan tỏa, thì sẽ có cầu - doanh nghiệp sẽ không tính toán các lợi ích cộng dồn vào các khoản khác. Như vậy, với một nhà cải cách, một nhà phát minh, họ có thể kiếm lợi nhuận lớn từ việc phát minh, tuy nhiên số tiền đó chỉ là một phần nhỏ so với GDP của một quốc gia. Điều này đặc biệt rõ ràng trong trường hợp của những người có những khám phá quan trọng nhất những người có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của khoa học và công nghệ cơ bản nhận được những giải thưởng tương đối thấp so với những đóng góp xã hội của họ.

Tuy nhiên, cùng với các yếu tố ngoại sinh, những đổi mới, phát minh nhiều khi không được luật sở hữu trí tuệ bảo vệ toàn diện, hầu hết những đổi mới không thể được bảo vệ ngay cả bởi các luật lệ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt nhất. Bên cạnh đó, một vài kiến thức có tác động lan tỏa đến các ngành công nghiệp đặc biệt, trong khi những lợi ích của kiến thức khác có thể lan rộng hơn. Dây chuyền lắp ráp và sản xuất tức thời chuyển qua các quá trình sản xuất trải rộng khắp nền kinh tế. Việc phát hiện ra sợi dây nhân tạo này có thể được tạo ra và trở thành động lực cho những khám phá khác để tìm thấy các sợi thay thế không bị giới hạn bởi các bằng sáng chế. Các cá nhân tìm hiểu về những cách thức tốt hơn để làm kinh doanh truyền tải kiến thức đó khi họ chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác.

Hàng hóa công cộng với tư cách là sản phẩm của thị trường có hai thuộc tính quan trọng: Đó là không cạnh tranh và không loại trừ, và quyền sở hữu trí tuệ phần nào nhm mục đích giải quyết vấn đề để loại trừ. Điều này thể hiện bằng cách không cho phép người khác sử dụng các kiến thức trong một giai đoạn nhất định về thời gian mà không được sự đồng ý của những người sáng tạo ra kiến thức đó (chủ sở hữu bằng sáng chế). Khi làm như vậy, bằng sáng chế có gắng để làm giảm mức độ lan tỏa. Nhưng nỗ lực sử dụng lợi nhuận đối với kiến thức được phát minh, sáng chế đó bằng cách hạn chế sự phổ biến của nó dẫn đến những hệ lụy khác trong việc sử dụng kiến thức hiệu quả.

Ngoài ra, việc phân bố nguồn lực tối ưu với những ngoại ứng về học tập trực giác cơ bản. Cụ thể là, việc này dễ dàng được mô tả bằng sự phân bố nguồn lực hiệu quả mà không cần yếu tố học tập: trong từng thời kỳ, lợi ích cận biên của một đơn vị sản xuất lớn hơn đơn vị hàng hóa phải bằng chi phí cận biên. Theo đó, ta có cách tính như sau: Giá trị sản phẩm cận biên = Chi phí cận biên hiện tại.

Trong trường hợp chỉ riêng người lao động sản xuất ra hàng hóa, điều này có thể được đặt chính thức hơn: tỷ lệ thay thế cận biên giữa hàng hóa và thời gian nhàn rỗi (mà phải là giống nhau đối với tất cả mọi người) cân bằng tỷ lệ chuyển đổi cận biên, có nghĩa là sản phẩm biên của lao động.

Với tính chất là một loại hàng hóa công, kiến thức được tính toán dựa trên công thức sau: Học tập trong sản xuất hoặc đầu tư có lợi ích tương lai chi phí sản xuất tương lai thấp hơn và điều này cần phải được tính toán. Điều này có thể dễ dàng được thực hiện:

Cận biên sản phẩm + tổng mức tiết kiệm chi phí trong tương lai = chi phí hiện tại (1).

Thêm vào đó, với những lợi ích thiết thực từ việc học tập, dưới góc độ thị trường, việc cân bằng cạnh tranh với học tập sẽ đòi hỏi mức độ sản xuất cao hơn. Nhưng với những ngoại ứng về học tập, lợi ích xã hội của việc học tập (tổng tiết kiệm chi phí trong tương lai) lớn hơn nhiều so với lợi ích của việc học tập cộng dồn vào doanh nghiệp. Do vậy:

Giá trị xã hội của học tập > Giá trị cá nhân của học tập (2).

Như vậy, mức độ sản xuất sẽ nhỏ hơn mức tối ưu xã hội. Trên thực tế, với các doanh nghiệp rất nhỏ, giá trị của việc học tập đối với mỗi doanh nghiệp từ sản xuất của mình là rất nhỏ, thậm chí nếu giá trị của việc học tập đối với toàn thể xã hội (đối với tất cả doanh nghiệp trong nghành công nghiệp) có thể rất lớn. Kết quả là sự cân bằng cạnh tranh với việc học tập và nếu không học tập sẽ khác nhau. Sau đó, rõ ràng, sản xuất sẽ ít, và do đó học tập cũng ít.

Thuộc tính riêng biệt thứ hai của kiến thức xuất phát từ thuộc tính thứ nhất: đổi mới được đánh dấu bằng quy mô lợi nhuận. Như vậy, trường hợp hạn chế nhất định, trường hợp không có sự bù đắp tính phi kinh tế do quy mô, thì có sự độc quyền tự nhiên. Trong các trường hợp khác, có thể có độc quyền nhóm. Trong tất cả các trường hợp nghiên cứu và phát triển rất quan trọng, nghiên cứu và phát triển đối với sản xuất, dịch vụ có thể hạn chế được số lượng đối thủ cạnh tranh.

Những kết quả này được duy trì ngay cả khi có tác động lan tỏa và ngay cả khi các tác động lan tỏa không hoàn hảo thì doanh nghiệp tham gia vào việc học tập hay nghiên cứu và phát triển sẽ có lợi thế và chi phí hơn các đối thủ học tậphay nghiên cứu và phát triển ít hơn. Trên thực tế, có thể có sự lan tỏa không hoàn hảo, do đó các thị trường nơi đổi mới giữ vai trò quan trọng có khả năng đánh dấu bởi các yếu tố ngoại sinh và mức độ không hoàn hảo trong cạnh tranh cao. Như vậy, cả hai mức độ sản xuất và mức độ đổi mới sẽ bị bóp méo.

Cách duy nhất mà có thể có được sự cạnh tranh hiệu quả trong tình hình vừa được mô tả (chi phí sản xuất cận biên cố định) là có các tác động lan tỏa đầy đủ đến những doanh nghiệp khác trong cùng ngành; nhưng nếu đó là trường hợp, sau đó mỗi doanh nghiệp sẽ không mất phí xoay quanh những nỗ lực nghiên cứu của các doanh nghiệp khác, và nếu số lượng doanh nghiệp lớn, sẽ không có đủ ưu đãi để tham gia vào nghiên cứu và phát triển. Nếu kiến thức (học tập) là một sản phẩm của sản xuất hoặc đầu tư, mỗi doanh nghiệp sẽ có đủ ưu đãi để sản xuất hoặc đầu tư. Cạnh tranh có thể được duy trì nếu có một số yếu tố bù đắp cho việc giảm lợi nhuận. Với nhiều doanh nghiệp hơn, các biến dạng trong sản xuất sẽ giảm, nhưng các biến dạng trong sự thay đổi mới có thể tăng.

Không chỉ có khả năng nhân đôi thất bại của thị trường, mà sự không hoàn hảo trong một số cuộc đua sẽ dẫn đến sự thất bại ở các thị trường khác. Một số nhà kinh tế đã chỉ ra 50 năm trước đây, việc tạo ra các kiến thức thường là sản phẩm chung với sản xuất hàng hóa (học tập thông qua thực tiễn), có nghĩa là sản xuất hàng hóa sẽ không phải đơn giản chỉ là hiệu quả mà còn là quá trình tích lũy kiến thức phục vụ đổi mới.

Một vấn đề nữa là độc quyền (hay chính xác hơn, cạnh tranh độc quyền) cung cấp một trường hợp hạn chế. Khi cạnh tranh bị hạn chế, phân bổ thị trường không hiệu quả thì ngoài việc có thể thiếu hiệu quả ổn định kết hợp với việc thực hiện quyn độc quyền, có thể có sự thiếu hiệu quả năng động.

Như ước tính ban đầu, những sự thiếu hiệu quả được phản ánh trong các điều kiện sản xuất tối ưu:

Sản phẩm doanh thu cận biên+ tiết kiệm chi phí trong tương lai cho doanh nghiệp = chi phí cận biên hiện tại (3).

Như vậy, có thể thấy, các doanh nghiệp cạnh tranh có tính độc quyền đánh giá thấp lợi ích sản xuất ổn định, bỏ qua lợi ích học tập đối với các doanh nghiệp khác và vì sản xuất có thể thấp hơn, chỉ định một giá trị thấp hơn ngay cả với các tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp (hơn là trường hợp có sự tối ưu xã hội). Các sản phẩm trong đó các doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền nhiều hơn sẽ sản xuất ít hơn, và sản xuất thấp hơn sẽ dẫn tới học tập ít hơn. Theo đó, sự tăng trưởng về sản xuất trong các lĩnh vực này sẽ chậm hơn. Ngoài những hậu quả cố định của thiệt hại thặng dư tiêu dùng dưới mức sản xuất, thì còn chi phí năng động: Càng ít học tập và chi phí càng cao trong những giai đoạn tiếp theo liên quan trực tiếp đến đc quyền hiện nay dẫn đến sản lượng càng thấp trong tương lai.

Ở đây, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa học tập và tiền lương thu được, cụ thể lao động không được sử dụng trong lĩnh vực độc quyền sẽ được di chuyển sang lĩnh vực khác, nhưng nếu những ngành này ít học tập hay nghiên cứu phát triển, tổng tỷ lệ tăng trưởng nói chung của nền kinh tế sẽ dẫn đến tiền lương thực tế thấp; tiền lương thực tế thấp hơn bình thường sẽ dẫn đến sự cân bằng cung ứng lao động thấp hơn và do đó ít có yếu tố học tập.

Một trong những ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của việc phân tích là không phải chỉ xem xét đồng thời cơ cấu thị trường và đổi mới (cả hai đều là nội sinh), mà phân tích phải được tiến hành trong khuôn khổ cân bằng chung. Trong một bối cảnh cân bằng, có thể kết luận rằng độc quyền tốt hơn so với cạnh tranh vì nó tạo ra lợi ích của việc học tập, mà không cần chú ý ảnh hưởng bất lợi của cân bằng nói chung, phát sinh từ những tác động với mô hình sản xuất và cung ứng lao động nói chung.

Như vậy, việc hiểu được cấu trúc học tập và phổ biến kiến thức là điều cần thiết để tăng tính hiệu quả của hoạt động sản xuất. Vấn đề cần quan tâm đây là học tập của cả xã hội, không chỉ học tập theo ngành hay học tập của doanh nghiệp. Ví dụ, một số ngành có thể có các đường cong học tập mạnh mẽ hơn; nghĩa là, độ co giãn của việc học có thể lớn hơn đối với một số doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng không chỉ ở khả năng học tập của một doanh nghiệp hay một ngành mà còn ở lợi ích mà ngành (doanh nghiệp) truyền lại cho các ngành khác và mức độ không thích hợp đối với những lợi ích của việc học tập. Nếu việc học tập trong một lĩnh vực tạo ra nhiều yếu tố ngoại sinh đối với các lĩnh vực khác, thì sản xuất trong lĩnh vực đó phải được tăng lên (so với những gì có ở trạng thái cân bằng thị trường mà qua những ngoại tác về học tập) sử dụng chi phí của các lĩnh vực khác. Những lợi ích năng độngtrong tương lai cần phải được bù trừ vào chi phí cố định ngắn hạn.

Một đặc tính khác biệt nữa của việc tạo ra kiến thức dẫn đến sự thất bại của thị trường lan tỏa trong đổi mới một đặc tính tương tác với hai đặc tính trước đó phát sinh từ thực tế là nghiên cứu và phát triển vốn mang tính rủi ro, và các thị trường rủi ro với sự đổi mới vốn không hoàn hảo. Các kết quả nghiên cứu và học tập có thể không thường được dự kiến đầy đủ cụ thể như trường hợp nghiên cứu là sự thăm dò những vấn đề chưa được biết đến. Khi tiến hành nghiên cứu, các ý tưởng mới được phát triển và các sản phẩm mới không lường trước được có thể xuất hiện.

Người ta không thể mua bảo hiểm đối với rủi ro mà một liên nghiên cứu sẽ chứng minh không có kết quả hoặc là sẽ học được rất ít khi người ta có được sự trải nghiệm. Một phần của điều này giải thích bằng lý thuyết về thông tin bất đối xứng. Có những vấn đề cố hữu của rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi. Nhà nghiên cứu có nhiều điều kiện biết thêm về khả năng thành công hay thất bại của một nghiên cứu hơn bất kỳ người ngoài nào khác. Các thị trường bảo hiểm, nơi sự bất đối xứng thông tin là lớn, thường không tồn tại, và thậm chí cả khi chúng tồn tại thì việc cung cấp bảo hiểm bị hạn chế.

Ngoài ra còn các vấn đề cơ bản về khái niệm: Người ta không thể mua bảo hiểm đối với một sự kiện trước khi khái niệm hóa sự kiện đó ví dụ trường hợp về nghiên cứu phát triển năng lượng hạt nhân. Người ta cũng không thể có một thị trường bảo hiểm đối với “sự phát nổ” của một lò phản ứng hạt nhân trước khi phát triển năng lượng hạt nhân, và người ta không thể có một thị trường bảo hiểm về năng lượng hạt nhân thay thế nhiên liệu hóa thạch trước khi có sự phát triển những hiểu biết vật lý hiện đại mà năng lượng hạt nhân dựa trên những hiểu biết này.

Như vậy, việc đầu tư nghiên cứu mang đầy rủi ro và không thể bắt buộc cạnh tranh trong trường hợp này, hay được coi là cạnh tranh không hoàn hảo. Sự vắng mặt của các thị trường rủi ro không hoàn hảo bao gồm những vấn đề gây ra bởi các thị trường vốn không hoàn hảo. Lý thuyết hiện đại về sự bất đối xứng thông tin đã giúp giải thích tại sao các thị trường vốn thường không hoàn hảo: ví dụ, tại sao các thị trường này có thể được đặc trưng bởi sự phân phối tín dụng. Sự không hoàn hảo của thị trường vốn có thể đặc biệt bất lợi cho việc học tập. Bởi vì các khoản đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (hay tổng quát hơn,đầu tư vào học tập”) thường không thể được thế chấp, không giống như các khoản đầu tư vào các tòa nhà, máy móc hoặc hàng tồn kho, có nhiều khả năng là sẽ có phân phối tín dụng và chứng khoán, dẫn đến việc thiếu đầu tư trong các lĩnh vực này, so với các lĩnh vực khác. Hơn nữa, có những lý do cơ bản khác cho sự không hoàn hảo của thị trường vốn: một người đi vay với một ý tưởng tốt lo lắng về việc nói ý tưởng của mình với người cho vay tiềm năng sẽ dẫn đến bị ăn cắp ý tưởng, hoặc lợi dụng kiến thức đó để lợi dụng mình mà người đi vay phải chịu chi phí.

Bởi vì sự không hoàn hảo trong thị trường vốn và rủi ro, các doanh nghiệp hoạt động một cách không thích rủi ro, đặc biệt là sự hiện diện của chi phí phá sản và điều này không khuyến khích đầu tư vào những đổi mới mạo hiểm hơn. Điều này cũng giải thích lý do tại sao biến động theo chu kỳ không tốt cho sự đổi mới: trong thời kỳ suy thoái kinh tế, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là một trong các loại chi phí kém nhất.

Có thêm nhiều biến dạng khác gắn liền với các thị trường rủi ro và thị trường vốn không hoàn hảo. Việc học thường yêu cầu kết quả trước đó hoặc mang rủi ro hiện tại, với hy vọng đạt được kết quả cao hơn trong tương lai; do đó ngay cả khi các doanh nghiệp có thể sở hữu lợi ích tương lai mà bắt nguồn từ nghiên cứu và quá trình học tập của họ ngày nay, họ có thể giảm những lợi ích với hệ số chiết khấu cao, dẫn đến mức độ học tập và nghiên cứu tối ưu.

Thêm vào đó, sự gia nhập của một số doanh nghiệp, và các khoản đầu tư và chiến lược nghiên cứu của doanh nghiệp đó có ảnh hưởng đến rủi ro của các khoản đầu tư của các doanh nghiệp khác mà rõ ràng doanh nghiệp không tính đến. Nhưng sự thay đổi trong rủi ro ảnh hưởng đến đầu tư của họ, đặc biệt là bởi vì các doanh nghiệp hành động không thích rủi ro.

Với những thất bại thị trường sâu rộng, có thể thấy, bản chất của kiến thức - hàng hóa công cộng, sự thâm nhập của các yếu tố ngoại sinh/sự lan tỏa kiến thức, những hạn chế cạnh tranh, sự không hoàn hảo của các thị trường rủi ro và thị trường vốn, do đó không có lý do để lạc quan rằng các thị trường có hiệu quả về mức độ hoặc hướng đổi mới. Trong thực tế, các vấn đề dễ trở nên tồi tệ hơn: có một số thất bại của một số thị trường khác liên quan mật thiết đến đổi mới. Hơn nữa, những thất bại thị trường khác nhau thường được liên kết với nhau; một thất bại thị trường có thể tăng cường sự thất bại thị trường khác. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự nghiên cứu sâu hơn của các nhà quản lý trong tương lai.

Một trong những câu hỏi trọng tâm trong nền kinh tế đổi mới và học tập là: Có phải các thị trường tham gia quá ít vào nghiên cứu và học tập, vai trò của thị trường với việc phát triển một xã hội học tập? Nhận định trọng tâm rằng kiến thức là một lợi ích chung cho thấy rằng câu trả lởi là đúng. Và quả thực, rất nhiều trường hợp mà các thị trường đầu tư quá ít trong nghiên cứu cơ bản và việc nghiên cứu này phần nào được cho rằng đó là việc của Nhà nước. Tuy nhiên, đối với những nghiên cứu ứng dụng thì hầu hết các thất bại thị trường (ví dụ, những thất bại phát sinh từ sự không hoàn hảo cho đầu tư nghiên cứu và phát triển ) cho rằng trong thực tế có nhiều sự thiếu đầu tư vào nghiên cứu và học tập, vấn đề liên quan đến những gì có trong trường hợp ở thế giới tốt nhất, và thậm chí liên quan đến thế giới tốt nhất, trong đó có rất nhiều hạn chế về các loại biện pháp can thiệp của chính phủ thể thực hiện. Nhng cuộc thảo luận của các nhà kinh tế và xã hội học cũng đã làm rõ rằng những vấn để ngày càng phức tạp hơn; trong một số trường hợp, lợi ích cá nhân có thể vượt quá lợi ích xã hội, trong đó có trường hợp có thể có quá nhiều nghiên cứu - và nghiên cứu đặc biệt quá mức tại các lĩnh vực nhất định.

Trong các thị trường có sự cạnh tranh hoàn hảo, một trong những mục tiêu của nghiên cứu là tìm kiếm đặc lợi - đạt được đặc lợi độc quyền từ các bằng sáng chế hoặc đơn giản là từ lợi thế người đi đầu. Thực tế là các đầu tư vào đổi mới được định hướng bởi tìm kiếm đặc lợi cho thấy rằng tìm kiếm đặc lợi không chỉ cần có tác động xấu đến nền kinh tế. Nó có thể được chuyển hướng tới nhiều mục đích kiến tạo hơn . Nhưng như các khu vực khác, tìm kiếm đặc lợi ở đây cũng có thể dẫn đến biến dạng nền kinh tế, khi các doanh nghiệp nghiên cứu trực tiếp để nắm bắt một phần lợi nhuận của các đối thủ, trong các phát minh ăn theo.

Có các lực lượng khác bù đắp xu hướng cho các nền kinh tế thị trường đầu tư ít vào học tập và nghiên cứu từ lâu ghi nhiều xu hưng của các doanh nhân là tự tin quá mức. H tin tưởng một cách hệ thống rằng lợi nhuận của các hoạt động sáng tạo của họ sẽ tốn hơn những gì mình có, mà xác suất thất bại là nhỏ hơn. Các doanh nhân phải có niềm tin vào bản thân và khả năng tương đối của họ. Nhưng nếu điều này là như vậy có nghĩa là mức độ đầu (bao gồm cả đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, học tập), đặc biệt, là cả những lĩnh vực thú vịcụ thế, có thể quá mức - quá mức cho lợi ích cá nhân, mặc dù không nhất thiết phải từ quan điểm của lợi ích xã hội. Thật vậy việc này phục vụ cho một phần đối trọng với việc thiếu đầu tư phát sinh từ những thất bại thị trường mà các tác giả chú trọng trong chương này.

Trên thực tế, một số điều dường như không hợp lý có thể được giải thích trong các mô hình thông tin không hoản hảo và bất đối xứng, sử dụng mô hình tương tự với những điều giải thích lời nguyền của người chiến thắng trong cuộc đấu giá này. Là những người đã thu được những thông tin thuận lợi nhất mà trgiá cao nhất- nhưng từ đó, trong việc xây dựng giá, họ cần phải tính đến điều mà người khác đã thu được thông tin đó là chưa thuận lợi. Vì vậy là quá mức cho quyết định để thực hiện bát kỳ dự án nào, bao gồm cả một dự án nghiên cứu).

Về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, phầnlớn các cuộc thảo luận phổ biến về sự đổi mới tập trung vào hậu quả của sự phù hợp không hoàn hảo của lợi ích xã hội đối với đổi mới. Cho rằng đây xem là vấn đề trọng tâm , đó là điều tự nhiên rằng sự chú ý tập chung vào các chính sách của chính phủ để cải thiện sự phù hợp, thông qua các quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ

Thứ hai, như đã lưu ý, những nỗ lực để khắc phục vấn đề này thông qua bảo vệ bằng sáng chế mạnh mẽ không chỉ sử dụng không hợp lý kiến thức mà còn đầu tư quá mức, đặc biệt là trong một số loại lĩnh nghiên cứu cụ thế. Các thị trường có thế không chỉ phụ thuộc quá nhiều hay quá ít vào nghiên cứu, chúng có thể đầu tư quá nhiu trong một số loại nghiên cứu và quá ít ở những lĩnh vực khác (đặc biệt là trong nghiên cứu cơ bản).

Trong thực tế, bn thân hệ thống bằng sáng chế có thể dẫn đến nhiều biến dạng hơn nữa trong thị trường – với các chỗ đó sở hữu trí tuệ mạnh mẽ hơn (và đặc biệt là thiết kế kém) thực sự làm chậm nhịp độ chung của sự đổi mới về tăng cường sự kém hiệu quả của quá trình đổi mới thị trường.

Mặt khác, đối với các mô hình nghiên cứu và học tập, như đã nói, đây không chỉ là một vấn đề về mức dộ nghiên cứu và phát triển hay học tập. có thể có quá ít sự chấp nhận một số loại rủi ro, quả nhiều những thứ khác; chu ý quá nhiều đến sự tương quan trong một số hoàn cảnh, quá ít ở những hoàn cảnh khác.

Thậm chí còn tồi hơn nữa là hưởng nghiên cứu bị bóp méo. Rõ ràng là quá ít nghiên cứu nhằm giảm tác động môi trường (những ảnh hưởng liên quan đến sự nóng lên toàn cầu) - không có gì đáng ngạc nhiên, vì sự thiếu vắng của giá cả liên quan đến khí thải carbon - và chú ý quá ít đến tình trạng thất nghiệp và hậu quả phân phôi của sự đổi mới.

Nhà kinh tế học Schumpeter cho rằng sự cạnh tranh để trở thành doanh nghiệp chiếm ưu thế sẽ tạo ra đổi mới nhờ cấp độ cao (có thế là một cấp độ “đúng đắn”). Đồng thời, ông cho rằng sức mạnh độc quyền chi có tính chất tạm thời và được kiếm chứng lại thông qua tiếm lực cạnh tranh và chính mối đe dọa cạnh tranh nhân có thể dẫn đến đổi mới nhiều hơn, lại là nguyên nhân cản trở sự gia nhập thị trường có thể phát huy hiệu quả đủ để nhà độc quyền có lợi ích cao.

Mặc dù lợi nhuận cao là cơ sở tài trợ vốn cho các chi phí chìm về phần phục vụ nghiên cứu và phát triển v phần mềm phục vụ không hoàn hảo nhưng đây không phải là cách duy nhất cho các nghiên cứu. Có thể nhận thấy đó chính là cách công bằng nhất ít gây biến dạng nhất. Đồng thời, luôn phát sinh chi phí cao liên quan đến các độc quyền thậm chí cho dù chỉ độc quyền tạm thời. Trong một số trường hợp, nếu dự trữ lợi nhuận thặng dư cho các chủ sở hữu của công ty độc quyền, thì sẽ phải đầu tư nhiều lợi nhuận hơn cho tiếp thu và quảng cáo so với đầu tư vào các nghiên cứu. trong đó cả tiếp thị. Quảng cáo và nghiên cứu đều tập trung nhiều hơn vào tăng cường hơn nữa sức mạnh thị trường (giảm độ co giãn câu, tăng chi phí chuyển đổi. gây bất lợi cho đối thủ) hơn là tăng phúc lợi xã hội và phúc lợi người tiêu dùng.

Hơn nữa. Schumpeter, để ủng hộ cho chủ nghĩa độc quyền, đã không xét đến hiệu ứng liên ngành, góp phần vào “trạng thái thờ ơ thường thấy ở công ty độc quyền.

Đổi mới và nâng cao phúc lợi cá nhân và xã hội

Một số quan điểm kinh tế cho rằng lý thuyết cạnh tranh sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội, mọi người sẽ được hưởng lợi từ ch nghĩa tư bản năng động cung hoàn toàn không hợp lý. Chủ nghĩa tư bản thế kỷ XXI chứng minh rằng sự bất bình đẳng có thể tăng nhanh đến mức khiến cho cuộc sống của người dân trở nên khốn khó hơn: Tại Hoa Kỳ, thu nhập trung bình hộ gia đình đã và đang giảm mạnh, và tính đến khi cuốn sách này được công bố trước báo giới, thì sẽ thấp hơn (do ảnh hưởng ca lạm phát) so với 25 năm trước. Và điều này vẫn chưa bao gồm sự “mất” cảm giác hạnh phúc do mất an ninh trật tự và suy thoái môi trường. Những người vô gia cư được cứu trợ do “đổi mới” hệ thống tài chính ca Hoa Kỹ có thể sẽ “th phào” đôi chút trong tâm trí mòn mỏi với hy vọng rằng con cháu của mình sẽ có cuộc sống khấm khá hơn. (Ngày nay, thu nhập trung bình của những nam công nhân làm việc toàn thời gian thấp hơn so với 40 năm trước, hiện thực này dã triệt tiêu niềm tin vào kinh tế học chảy xuống”).

Tuy nhiên, việc đổi mới ca thị trường sẽ ít chú ý dến hiệu ứng phân bổ rộng và tác động đối với tinh trạng thất nghiệp. Thị trường (không bị kiểm soát bởi chỉ đạo của chính phủ) sẽ tạo ra đổi mới cấp độ cao nhất và điều đó sẽ tạo ra được phúc lợi xã hội là mức độ cao nhất. Giả thuyết được đặt ra đó là có thể có người chiến thắng và kẻ thua cuộc, nhưng xã hội đóng vai trò là nguồn lợi ích tổng, có nghĩa là người thắng có thể bù trừ nhiều hơn cho kẻ thua cuộc. Dựa trên giả thuyết này, vẫn có trường phái cho rằng không có kẻ thua cuộc, và bằng cách nào đó những lợi ích sẽ “chảy xuống” và dành cho tất cả mọi người. Không có bất k người nào c kinh nghiệm đưa ra ý kiến ủng hộ trường phái kinh tế học chảy xuống đang chiếm ưu thế - rõ ràng là, xin được phép nhắc lại, cuộc sống của rất nhiều người đã trở nên khốn khó hơn do quá trình đổi mới, mà dường như quá trình này làm tăn GDP.

Một trưởng phái yếu thế hơn cho rằng. cuối cùng muốn được hưởng lợi ích từ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,sự bất bình đẳng không gia tăng. Nhưng trong những năm gần đây, như đã nhìn nhận, tăng trương tại Hoa Kỳ có liên quan chặt chẽ với sự gia tăng bất bình đẳng và nhanh đến mức mà phần lớn người dân - trong một số trường hợp là đại đa số ngưi dân - trong thời gian dài đã thấy rằng mức sống của họ suy giảm nghiêm trọng, và chính sự gia tăng bất bình đẳng có thế là, ít nhất là một phần, hậu quả của đổi mới, và là cách thức thị trường quản lý hot động đổi mới. (Các vấn đề này có thể trở nên tốt hơn tốc độ hơn tùy theo chính sách của chính phủ; gần đây nhất, một số quốc gia có vẻ như đã giữ vững lập trưởng cho rằng, để cạnh tranh sẽ phải cắt giảm bớt các chương trình xã hội, vì vậy những người ở dưới đáy của xã hội và tầng lớp trung lưu thậm chí sẽ phải chịu nhiều tổn thất hơn).

Vì vậy, đổi mới theo hướng tiết kiệm lao động nội sinh gần như chắc chắn góp phần vào gia tăng bất bình đẳng ở nhiều nước công nghiệp tiên tiến. Sự can thiệp của chính phủ vào nghiên cứu, học tập trong xã hội nhằm định hướng lại quá trình đổi mới có thể tăng kh năng đổi mới đem lại lợi nhuận hơn và ít thất bại hơn. Điều này được thực hiện thông qua chương trình nghiên cứu của chính phủ (dựa trên nghiên cứu cơ bản) và thời hạn thu được kết quả từ chương trình nghiên cứu này: thông qua cấu trúc của luật sở hữu trí tuệ (ví dụ, sản phẩm cần phải được công bố, sản phẩm cần được cấp bằng sáng chế, phạm vi của bằng sáng chế, và tiêu chuẩn về sự mới lạ, tính chất của của biện pp xử lý vi phạm); và thực sự thông qua những khía cạnh khác của khuôn khổ pháp lý và kinh tế của mỗi quốc gia, bao gồm tiêu chuẩn áp dụng đổi với luật cạnh tranh (thời điểm các doanh nghiệp bị phát hiện vi phạm luật, và quy định dang có hiệu lực). Mỗi luật và chính sách có ảnh hưởng đến mô hình và phương hướng đổi mới, đế tất ccác chính phủ đều phải đưa ra chính sách đổi mới, dù dưới hình thức công khai hay ngụ ý; đơn giản là có thể họ không biết đến chính sách dó. Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ đã tạo ra một chính sách gần như chỉ hướng tới khuyến khích các đổi mới tài chính liên quan đến tối ưu xã hội và không khuyến khích các loại hình đổi mới khác, ví dụ như giúp bảo vệ môi trường (điều họ không làm - đảm bảo rằng đã kịp thời đưa ra được giá thành thích hợp cho môi trường – nhiều hơn là những điều họ làm).

Trong bối cảnh xuất hiện các thất bại thị trường sâu sắc liên quan đến học tập và đổi mới vấn đề đặt ra là: Điều gì sẽ tạo nên quá trình phân bổ nguồn lực cho đổi mới hiệu quả nhất, hoặc chí ít là tốt hơn? Nói rộng hơn, biện pháp can thiệp nào của chính phủ sẽ giúp tăng cường sự thịnh vượng xã hội, tăng cường một xã hội học tập, nghiên cứu? Một trong số nhng biện pháp can thiệp này kêu gọi các gói tài trợ vốn (đã xác định trước) tập trung vào một ngành hoặc công nghệ nào đó. Nhưng một số biện pháp can thiệp khác thì có phạm vi rộng hơn và có do chính phủ đảm nhận, thậm chí cả khi chính phủ có năng lực hạn chế; các tác giả nêu giả thuyết rằng các nước đang phát triển cần phải bảo vệ các ngành công nghip của chính họ (bao gồm cả ngành nông nghiệp và dịch vụ “hiện đại”).

Tự bản thân các thị trường sẽ không thể tạo ra một xã hội học tập, hoặc thậm chí có khi có thể tự thực hiện điều này, các thị trường cũng sẽ chậm chạp hơn và ít chuyên sâu hơn so với yêu cầu. Chính phủ có thể giúp nền kinh tế non trẻ tăng trưởng. Hầu hết các nước đã thành công khi chuyn tiếp từ nước kém phát triển thành nước phát triển hơn, từ nền kinh tế trì trệ thành nền kinh tế học tập năng động đều nhờ vào quy luật phát triển của thị trường và có sự can thiệp đúng đắn, kịp thời của nhà nước.

Một trong những bước đầu tiên được thực hiện dưới IRP (Chính sách hợp lý hoá công nghiệp) là loại bỏ những di sản tiêu cực của Hệ thống sản xuất ưu tiên, đặc biệt là vấn đề giá thép và than quá cao. Theo những gợi ý hướng dẫn của Ủy ban hợp lý hoá công nghiệp (Industrial Rationalization Council) (1949-1964) chính phủ đã chấp nhận “Các giải pháp cho hợp lý hoá các ngành công nghiệp than và Thép” (Measures for Rationalizing the steel and Coal Mining Industries) như là một nghị quyết chính phủ vào năm 1950. Do báo cáo toàn diện hơn của Uỷ ban này “Những biện pháp Hợp lý hoá công nghiệp - (Methods of Rationalizing our Industries) công bố vào năm 1951, IRP đã có quyền lực pháp lý nhờ ban hành Đạo luật tăng cường hợp lý hoá các doanh nghiệp (Interprise Rationalization Promotion Law) vào năm 1952. Những kế hoạch sau đây đã được thực hiện phối hợp với luật này: Kế hoạch hợp lý hoá lần thứ nhất ngành công nghiệp thép (1951-1955) (sau đó được tiếp tục bằng kế hoạch hợp lý hoá lần thứ 2 (1956-1960) và lần thứ 3 (1961-1965)); kế hoạch hợp lý hoá 3 năm đối với ngành công nghiệp khai thác than và Luật về các giải pháp tạm thời để hợp lý hoá ngành công nghiệp khai thác than (1956-1962).

Luật “Tăng cường hợp lý hoá các công ty” đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý cho việc hợp lý hoá các công ty trong các ngành công nghiệp riêng biệt. Luật này gợi ý rằng các phương pháp sau đây sẽ có hiệu quả trong việc đẩy mạnh hợp lý hoá các công ty: cải tiến công nghệ, hiện đại hoá thiết bị, cv t4cải thiện hệ thống đường xá và cảng, tăng hiệu quả sử dụng nguyên liệu và năng lượng và áp dụng chế độ tự quản trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Luật này đã cho phép chính phủ có quyền hướng dẫn và giới thiệu cho các công ty được chỉ định sử dụng các phương pháp đã đề cập ở trên và xét duyệt việc giảm thuế cho các công ty này.

Lúc đầu, các công ty chủ yếu từ 32 ngành công nghiệp, bao gồm: than, thép, năng lượng điện và đóng tàu (tất cả đều được lợi nhờ sự tài trợ ưu đãi của Ngân hàng phát triển Nhật Bản) được chỉ định là các công ty sẽ được lợi từ các khoản khấu hao đặc biệt trong việc đầu tư cho các thiết bị đặc biệt. Số ngành công nghiệp được chỉ định như vậy sau đó đã lên tới 50.

Các công ty trong các ngành này được đối xử ưu đãi trong tài trợ bằng các khoản vay, phân bổ ngoại tệ, nhập khẩu công nghệ hiện đại và tự cấp qua thuế. Tuy nhiên, các công ty này phải có mức lợi nhuận bình thường và phải phục tùng sự giám sát và kiểm tra chặt chẽ của chính phủ nếu muốn được đối xử ưu đãi.

Trên thực tế, chính phủ đã đưa ra một số tiêu chuẩn quy định về ngành công nghiệp được chỉ định Những tiêu chuẩn chỉ định như sau:

Thứ nhất, phải là một công nghiệp “cơ bản” và là khâu đang bị tắc nghẽn trong cơ cấu công nghiệp;

Thứ hai, phải có ý nghĩa đặc biệt về mặt sản xuất, xuất khẩu, đóng góp cho các ngành công nghiệp khác và cho chính sách thay thế nhập khẩu;

Thứ ba, việc tăng sản xuất hoặc giảm giá thành đạt được nhờ hợp lý hoá ngành công nghiệp đó phải cao một cách đáng kể;

Thứ tư, ngành công nghiệp đó phải sản xuất những hàng hoá có thể xuất khẩu được với thu nhập cao, và phải có khả năng cung cấp những hàng hoá có giá cả cạnh tranh được trên thị trường thế giới nhờ áp dụng các thiết bị mới;

Thứ năm, việc hợp lý hoá và hiện đại hoá ngành công nghiệp này được coi là rất cấp bách;

Thứ sáu, ngành công nghiệp này phải có một số lượng đáng kể thiết bị rất cần phải hiện đại hoá ngay lập tức;

Thứ bảy, ngành công nghiệp này phải có tiềm năng lớn để hiện đại hoá các thiết bị của nó hoặc tỏ ra có khả năng này.

Sự ưu tiên gắn với IRP cuối cùng đã trở nên cao đến mức Luật chống độc quyền (Anti - Monopoly Law) được SCAP áp dụng nhằm dân chủ hoá các tổ chức công nghiệp Nhật Bản, đã phải sửa lại để “hợp lý hoá” quan hệ giữa các công ty trong một ngành công nghiệp nhất định. Sau đó, cái gọi là những các-ten suy thoái và những các-ten hợp lý hoá cũng được chính thức thừa nhận. Hơn nữa nhiều đạo luật tạm thời và những kiến nghị hành chính cũng đã miễn cho các ngành công nghiệp sau khói áp dụng Luật chống độc quyền: Công nghiệp chế tạo máy, hàng điện tử, dệt, tơ sợi, than, amoni sunfat, giấy, thép, dầu mỏ v,v... Các xí nghiệp nhỏ và vừa, các công ty thương mại cũng được bảo vệ bằng các luật sau đây: Luật về các tổ chức Doanh nghiệp nhỏ (1952) (Small Interprise Organization Law) và Luật về giao dịch xuất nhập khẩu…

Trong hệ thống sản xuất ưu tiên, các tiêu, các tiêu chuẩn được sử dụng để chỉ định các ngành công nghiệp sẽ được lợi khi áp dụng Luật tăng cường hợp lý hoá các doanh nghiệp và việc áp dụng lần lượt sau đó các đạo luật miên cho các ngành công nghiệp khỏi phải áp dụng Luật chống Độc quyền, chúng ta không thể không đồng ý với nhận định này của giáo sư Komiya. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cần phải lưu ý rằng, chính phủ cũng ưu tiên cao cho nền kinh tế thị trường tự do và những giới hạn kiểm soát kinh tế trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Tháng 11/1945, Bộ trưởng Mậu dịch và công nghiệp vạch ra mục tiêu chủ yếu của quá trình tái thiết công nghiệp: huỷ bỏ hoặc đơn giản hoá các tổ chức và các luật kiểm soát để chuyển sang một hệ thống kinh tế tự do càng nhanh càng tốt. Thừa nhận rằng ngay cả những kiểm soát kinh tế thời chiến cũng trở thành danh nghĩa một khi thị trường chợ đen bắt đầu hưng thịnh trong giai đoạn cuối của chiến tranh và thời kỳ đầu sau chiến tranh, chính phủ đã không thể không đi theo thái độ để mặc tự nhân tự do kinh doanh của công chúng. Chính phủ đã làm như vậy mặc dù vào tháng 9 SCAP đã đề nghị áp dụng các kiểm soát kinh tế để quản lý sự hỗn độn do sự sụp đổ của chế độ tài chính gây ra.

Còn về IRP, các cuộc thảo luận về hợp lý hoá công nghiệp đã bắt đầu từ năm 1948, một năm trước khi Đường lối Dodge được thực hiện. Trong thời kỳ trước chiến tranh IRP được sử dụng để sửa đổi nguyên tắc cạnh tranh tự do trên thị trường và để đặt lợi ích kinh tế quốc gia lên trên lợi ích riêng của các công ty. Tuy vậy, sau chiến tranh IRP xem các cố gắng hợp lý hoá của các công ty là một ưu tiên và nhằm giúp đỡ các cố gắng này và thúc đẩy các công ty chuyển động theo hướng mong muốn xét từ quan điểm của nền kinh tế quốc gia.

Một số nhà nghiên cứu kinh tế Nhật Bản đã chỉ ra, thời kỳ 8 năm giữa cuộc chiến tranh Trung - Nhật và lúc kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai là quá ngắn để xoá đi các hành vi tiên kiếm lợi nhuận, đặc biệt đầu óc kinh doanh đã ăn sâu vào ý thức của người Nhật suốt một thời gian dài.

Việc dân chủ hoá căn bản các thể chế kinh tế chính trị theo lý tưởng Mỹ của SCAP đã giải phóng những năng lực tinh thần dẫn dắt các công ty Nhật Bản. Nếu ai đó tin tưởng vào khả năng kinh doanh của người Nhật, sẽ nghi ngờ tính phù hợp về mặt lý thuyết của các chính sách công nghiệp thực hiện trong thời kỳ hỗn loạn của nền kinh tế. Giáo sư Komiya, tham khảo những kinh nghiệm của Tây Đức trong việc xác định tỷ giá hối đoái và việc họ dựa vào các chức năng của thị trường để giải quyết những bế tắc trong kinh tế đã tỏ ra hoài nghi như vậy.

Đứng trên quan điểm thực hiện chính sách kinh tế, một số nhà kinh tế đưa ra nhiều biện pháp chính sách vĩ mô để lựa chọn có thế có hiệu quả hơn trong việc đạt được sự độc lập về kinh tế. (Ví dụ: cân bằng bên ngoài). Tuy nhiên, việc chính phủ tuân theo tỷ giá 1 USD= 360 yên và những khó khăn trong việc duy trì cân đối ngân sách chính phủ đã đẻ ra những hạn chế thực tiễn cho khả năng thực hiện các biện pháp vĩ mô này.

Tuy vậy, giáo sư Komiya – một nhà nghiên cứu kinh tế Nhật Bản , vẫn hoài nghi tác dụng của IRP ngay cả trong những điều kiện kinh tế hỗn độn và cho rằngs ự tin tưởng vào chức năng thị trường sẽ dẫn đến đánh giá quá cao ý nghĩa của IRP mặc dầu ông cũng có một số bảo lưu về trường hợp của công nghiệp than. Komiya thường dẫn ra vô số các hàng tiêu dùng lâu bền bao gồm: Radio, Tivi v.v. như là những ví dụ về những hàng hoá đã xuất khẩu thành công mà không cần dựa vào sự giúp đỡ của chính phủ. Mặt thông qua việc phân tích thống kê rằng IRP đã thành công trong trường hợp các ngành công nghiệp có nền kinh tế quy mô như công nghiệp gang và thép và công nghiệp hoá học. Tất cả các ngành này đã trở thành các ngành xuất khẩu hàng đầu của Nhật Bản.

Ở đây, cần xem xét quan hệ giữa sản xuất và khả năng sẵn có về nguyên liệu và năng lượng, và những cải thiện về năng suất nhờ có việc nhập khẩu tư bản, công nghệ và bí quyết sản xuất từ nước ngoài với giá thuận lợi hơn so với mua từ thị trường trong nước. Nói cách khác, nếu nền kinh tế nhật Bản đã mở cửa hơn về phương diện buôn bán hàng hoá, công nghệ, và tư bản thì mức độ can dự của chính phủ vào quá trình hợp lý hoá thông qua IRP sẽ là nhỏ đi vì kỷ luật kinh doanh trên thị trường thế giới sẽ hướng dẫn hiệu quả hơn các hoạt động công nghiệp Nhật Bản. Trên thực tế các biện pháp IRP đã đi ngược lại kịch bản này như chúng ta có thể thấy trong cách giải thích các đặc điểm pháp lý của IRP.

Để hiểu được các biện pháp buôn bán vụ lợi gắn với IRP, cần phải điếm lại cuộc tranh luận chính sách nổi tiếng về vai trò của ngoại thương trong phát triển và độc lập của kinh quốc gia. Tức là chúng ta phải xem xét cuộc tranh luận tiên hàng vào đầu những năm 1950 giữa những người ủng hộ sự phụ thuộc vào mậu dịch và những người ủng hộ cho sự phát triển theo cách tự cấp tự túc. Những người theo trường phái trước, những người tin vào thị trường tự do, lập luận rằng sự độc lập kinh tế của Nhật Bản sẽ do mậu dịch quyết định họ rút ra lý lẽ này từ những xem xét về lý thuyết và từ những kinh nghiệm lịch sử của Nhật Bản cũng như của các nước khác. Ý kiến này, dựa trên sự tin tưởng rằng tất cả các nước đều đã giải quyết những khó khăn riêng của họ bằng cách dựa vào thị trường thế giới. Mặt khác, các nhà kinh tế theo trường phái kế hoạch hoá và (hoặc) hướng vào kiểm soát, lại nghi ngờ giá trị thực tiễn của sự độc lập và phát triển kinh tế phụ thuộc vào mậu dịch. Lý lẽ của họ dựa trên thực tế không ổn định và rời rạc của thị trường thế giới và lúc đó mà theo họ là không thể duy trì được mậu dịch tự do. Do đó những người theo quan điểm này đã ưu tiên cho việc phát triển các nguồn lực trong nước theo kế hoạch của chính phủ.

Hầu hết các công ty Nhật bản không thể phá được những hạn chế về nguồn tài nguyên với giá hợp lý và gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho những hàng hoá có thể xuất khẩu được của họ. Điều này xảy ra vì nhiều quốc gia vẫn có thái độ thù địch với các công ty Nhật mặc dù lập trường của chính phủ Mỹ đã mềm mỏng hơn một năm trước khi IRP được thực hiện. Thêm nữa đồng tiền Nhật Bản vẫn chưa khôi phục được khả năng chuyên đổi đồng tiền của mình trên thị trường thế giới. Do đó, trong khi chính phủ Nhật Bản thừa nhận ý nghĩa lý thuyết của ngoại thương đối với sự phát triển kinh tế quốc dân thì họ cũng thừa nhận rằng thực trạng hỗn độn của thị trường thế giới đang chống lại mậu dịch tự do và mở cửa. Do đó chính phủ thấy không thể chọn giải pháp mậu dịch tự do và mở cửađược. Vật cản lớn nhất cho việc chuyển nhanh chóng và thể; sang mậu dịch tự do và kinh tế mở cửa là việc chính phủ lo sợ về việc phá sản của cả một quốc gia do chính phủ không còn thể kiểm soát được các khoản nợ nước ngoài nữa.

Do thái độ này và do tỷ suất hối đoái 1 USD = 360 yên nên rõ ràng là giải pháp mậu dịch tự do là rất hạn chế.

Như vậy, có thể nói rằng, IRP được coi là rất thành công. Tuy nhiên, nó cũng để lại những hậu quả tiêu cực. Các công ty không hợp lý hoá được các hoạt động công nghiệp thường đòi hỏi sự hỗ trợ về mặt luật pháp và tài chính từ chính phủ. Trường hợp của các ngành công nghiệp than và dệt là những ví dụ về vấn đề này.

Các nhà kinh tế hàng đầu thuộc thế hệ trẻ hơn tập trung vào chính sách công nghiệp Nhật Bản. Các nhà kinh tế này cũng lưu ý đến những khía cạnh chiến lược của chính sách công nghiệp, đặc biệt những biện pháp khuyến khích tích cực các ngành công nghiệp có các nền kinh tê, quy mô và các ngành công nghiệp nhấn mạnh vào xuất khẩu hơn là thay thế nhập khẩu. Họ cũng đã chứng minh rằng các chính sách chiến lược là quan trọng cho cả công nghiệpmậu dịch trong các thị trường chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, có một vấn đề cơ bản trong việc đề nghị áp dụng chính sách công nghiệp như thế và họ đã thẳng thắn thừa nhận như vậy. Nếu tất cả các chính phủ trên thế giới chấp nhận loại chính sách chiến lược này thì họ sẽ rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan của người tù” và sẽ không còn khả năng đảm bảo được sự thành công của những chính sách như thế.

Là một cường quốc kinh tế ở Châu Á và trên thế giới, Nhật Bản là một quốc gia phát triển vượt bậc và luôn giữ vững sự ổn định kinh tế trong những năm qua. Nhật Bản hiện đại đã chứng kiến hai thời kỳ cải cách kinh tế triệt để: cuộc cải cách do chính phủ Minh Trị mới thành lập thực hiện vào những năm 1868-1885 và cuộc cải cách được tiến hành ngay sau chiến tranh, 1945-1950. Trong thời kỳ đầu những biện pháp cải cách được thi hành nhằm tạo cho chính phủ có đủ cơ sở quyền lực để kiểm soát việc cung cấp tiền, tăng thu nhập thuế, và thi hành chính sách phát triển quốc gia. Ngoài ra, chính phủ Minh Trị phải đương đầu với nạn lạm phát nghiêm trọng do việc tài trị thâm hụt nhằm thiết lập và nuôi dưỡng những ngành công nghiệp được coi là cần thiết cho tăng trưởng kinh tế và do những khoản nợ là kết quả của những cuộc nội chiến trước khi thành lập nhà nước mới.

Vào năm 1885, khi nạn lạm phát cuối cùng đã được kiểm soát, chính phủ trung ương đã được thiết lập một cách vững chắc và nền kinh tế Nhật Bản trên con đường tăng trưởng vững chắc cho đến năm 1937 (sau thời gian này Nhật Bản và Trung Quốc lại có chiến tranh). Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của tổng sản phẩm quốc dân thực tế trong những năm 1885-1936 là 3,1%, cao hơn nhiều so với tốc độ của những nước khác cùng thời, nhưng chắc chắn thấp hơn tốc độ tăng trưởng trung bình 9,53% trong cái gọi là thời kỳ tăng trưởng cao sau chiến tranh thế giới thứ hai (1955-1970). Tỷ lệ lạm phát là vừa phải trừ hai thời kỳ đã nêu ở trên, với tỷ lệ hàng năm là 3,13% trong thời kỳ 1885-1936 và 4,49% trong thời kỳ 1955-1990. Mặc dù vào năm 1885 Nhật Bản chủ yếu là nước nông nghiệp, với 70,1% lao động năm trong nông nghiệp (kể cả ngư nghiệp và lâm nghiệp), là ngành chiếm 45,2% sản phẩm thuẫn trong nước. Năm 1935 phần nông nghiệp đã giảm còn 48,7% xét về số lượng người lao động và 18,1% về sản phẩm thuẫn trong nước, và năm 1970 những tỷ lệ tương ứng là 19,4% và 8,6%. Những thay đổi này trong cơ cấu công nghiệp cũng được phản ánh rõ trong cấu thành xuất khẩu. Trong những năm 1882-91,74,9% hàng xuất khẩu là những hàng sơ cấp như tơ nguyên liệu (36,8% tổng kim ngạch xuất khẩu), gạo, than đá và đồng. Do sự phát triển của những ngành công nghiệp nhẹ như công nghiệp quay sợi bông hiện đại, phần các hàng sơ cấp đã giảm còn 38,5% trong những năm 1922-31 và 19,9% trong những năm 1930-97. Những con số cho những năm 1930 chỉ rõ sự trì trệ của xuất khẩu từ nguyên liệu, một mặt, do sự phát triển của sợi tổng hợp và cuộc suy thoái ở Mỹ, và mặt khác, do tăng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nặng và hoá chất sang các khu vực thuộc địa. Sau chiến tranh thế giới thứ hai xu hướng thay thế công nghiệp nhẹ bằng những ngành công nghiệp nặng và hoá chất đã trở nên mạnh hơn nữa.

Có ba đặc điểm lớn gắn liền với việc cải cách kinh tế, xác định mô hình tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Nhật Bản. Thứ nhất động cơ tăng trưởng chính là việc nhập khẩu tích cực công nghệ của nước ngoài. Bắt đầu với công nghệ quay sợi bông trong suốt thế kỷ XIX, những công nghệ hàng đầu cho các ngành công nghiệp nặng và hóa chất được nhập khẩu vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và nhất là trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, công nghệ mới trong các ngành công nghiệp máy móc, điện tử và hoá dầu đã được đưa vào Nhật Bản một cách mạnh mẽ. Tác động của việc nhập khẩu công nghệ này trở nên rõ ràng trong tính toán về tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa trong công nghiệp, khoảng 50% tăng trưởng, tức 2,89% trong số 6,94% trong thời kỳ trước chiến tranh và 6,54% trong số 12,39% trong thời kỳ sau chiến tranh được giải thích bởi mức tăng năng suất của toàn bộ các nhân tố. Mặc dù không nên bỏ qua tác động của nghiên cứu và phát triển ở trong nước, song chủ yếu công nghệ nước ngoài đã đóng góp vào mức tăng cao về năng suất này

Một đặc điểm quan trọng của nhập khẩu công nghệ vào Nhật Bản là vai trò tương đối nhỏ của đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Trong thời kỳ trước chiến tranh, Nhật Bản không phải là một mục tiêu lớn của những công ty đa quốc gia phương Tây, chủ yếu vì những lý do địa lý, cho nên những phương pháp chủ yếu nhằm đưa công nghệ nước ngoài vào là mua máy của nước ngoài và cứ các kỹ sư ra nước ngoài nghiên cứu. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu tư trực tiếp của nước ngoài bị điều tiết một cách chặt chẽ, mặc dù phi điều chỉnh về pháp lý, song những kiểm soát thực tế đã được đề ra, do vậy nhập khẩu công nghệ gồm chủ yếu là cấp giấy phép và mua máy móc

Thứ hai, sự tăng trưởng của Nhật Bản chủ yếu được tài trợ bởi những khoản tiết kiệm trong nước, và sự phụ thuộc vào vốn của nước ngoài rất hạn chế. Điều này một phần là do tăng tỷ lệ tiết kiệm qua thời gian, và một phần do vị trí địa lý cô lập của Nhật Bản. Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân biểu lộ một mô hình gia tăng từ mức 5% trong thế kỷ thứ XIX tới mức 20-25% trong 1970. Hơn nữa, so với luồng quỹ di chuyển khá tích cực qua Đại tây dương, thì các luồng vốn di chuyển qua Thái Bình Dương là khá hạn chế. Một chỉ số về mức độ phụ thuộc lẫn nhau về tài chính là hệ số tương quan đơn giản của lãi suất ngắn hạn. Tuy nhiên việc phụ thuộc thấp vào vốn nước ngoài không có nghĩa là Nhật Bản đã không sử dụng những khoản tiết kiệm của nước ngoài. Trong thời kỳ trước chiến tranh có ba trường hợp cán cân thanh toán có mức thặng dư lớn. Trong trường hợp thứ nhất 6,3 triệu yên hàng năm thuộc thời kỳ 1895-1899 phản ánh việc nhận những khoản thanh toán bồi thường từ Trung Quốc sau cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895). Nhật Bản đã dùng tiền này để tài trợ những thâm hụt 6,4 triệu yên xảy ra trong thời kỳ 1900-1904, một thời kỳ mở rộng tài chính nhanh để xây dựng quân sự và hạ tầng cơ sở.

Tỷ lệ giảm hàng năm về dự trữ ngoại tệ 32,4 triệu yên trong những năm 1910-4 gần tương đương với những thanh toán tiền lãi ước tính khoản vay ngoài phục vụ cho cuộc chiến tranh (32,4 triệu yên hàng năm). Cuối cùng trong trường hợp thứ ba một kho luỹ 359,5 triệu yên trong những năm 1915-1919 phản ánh những khoản thu không tính trước được trong thời kỳ tăng vọt xuất khẩu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Có thể cho rằng dự trữ ngoại tệ tích luỹ trong thời kỳ này về sau đã được dùng để tài trợ cho những khoản thâm hụt trong những năm 1920- 1929, thời kỳ đô thị hoá cũng như thay thế nhập khẩu từ ngành công nghiệp nhẹ sang những ngành công nghiệp nặng và hoá chất. Những khoản tiền thu được này cho thấy rằng Nhật Bản đã không dựa một cách nặng nề vào những khoản vay của nước ngoài để phát triển, Nhật đã được lợi nhờ những sự kiện bất ngờ dẫn đến kết quả các nguồn ngoại hối đổ vào trong nước. Thí dụ những khoản bồi thường từ Trung Quốc 138,9 triệu yên đã lên tới 6,0% tổng sản phẩm quốc dân hàng năm 1899, và tổng tích luỹ dự trữ ngoại tệ 1837 triệu yên trong những năm 1914-1920 tương đương với 11,6% tổng sản phẩm quốc dân trong năm 1920. Nói cách khác nếu không có những khoản ngoại hối chảy này, Nhật Bản đã phải vay mượn nước ngoài một cách nặng nề hơn. (Một tình hình tương tự cùng diễn ra trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, như sẽ được thảo luận dưới đây). Tuy nhiên phải nhấn mạnh rằng Nhật Bản đã không bao giờ cố gắng để đạt được công nghiệp hoá nhanh chóng bằng cách dựa chủ yếu vào vay mượn nước ngoài.

Đặc điểm thứ ba của mô hình tăng trưởng dài hạn là sự tăng trưởng có ý nghĩa trong nông nghiệp diễn ra đồng thời hoặc trước sự tăng trưởng trong công nghiệp. Trong thời kỳ trước chiến tranh, nhất là trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp cao, do việc phổ biến những giống cây trong có năng suất cao và công nghệ mới trong cả nước. Điều này không những đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc cung cấp thực phẩm mà còn đóng góp vào tăng thu nhập thuế và tạo ra một lực lượng lao động thừa có thể đưa vào công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng cao 2,09% trong thời kỳ sau chiến tranh chủ yếu là do cơ khí hoá nhanh và phổ biến công nghệ mới được đẩy mạnh, khi đó giai đoạn trước chiến tranh điều này đã không được chú ý. Phổ biến công nghệ và cơ khí hoá cũng làm giảm lực lượng lao động ở tỷ lệ 3,9% hàng năm. Mặc dù tốc độ tăng dân số khá chậm (1,18% trong những năm 1885 - 1936 và 1% trong những năm 1955-70), phần đông người ta tin tưởng rằng có một lượng lao động dư thừa đáng kể theo kiểu Lewis trong nông nghiệp. Năng suất lao động cận biên trong nông nghiệp được coi là thấp hơn năng suất cận biên trong công nghiệp, và việc cung cấp linh hoạt lao động rẻ tiền từ nông nghiệp đã hình thành một nguồn tăng trưởng quan trọng cho công nghiệp song song với việc sẵn có công nghệ nước ngoài.

Tóm lại, quá trình tái cơ cấu kinh tế, tăng trưởng dài hạn của Nhật Bản trong những năm 1868-1970 có ba đặc điểm nổi bật: (I) thu hút nhanh công nghệ của nước ngoài mà không cần dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp của nước ngoài, (II) phụ thuộc có giới hạn vào vốn của nước ngoài (dù cho thỉnh thoảng có những luồng ngoại tệ đáng kể đổ vào), và (III) cung cấp một cách linh hoạt lao động từ nông nghiệp.

Trong những năm 1930, với việc cải cách, tái cơ cấu kinh tế, Nhật Bản đã có một nền kinh tế tương đối phát triển và một khu vực công nghiệp khá có sức cạnh tranh.

Nền kinh tế Nhật Bản trước chiến tranh căn bản hoạt động trên những nguyên tắc thị trường tự do, Năm 1936 tổng số dân là 65,6 triệu người và có 87.500 công ty liên hợp (báo cáo cho cục thuế) cùng với nhiều công ty riêng lẻ do ban quản trị sở hữu. Mức độ tập trung thấp: cổ phần trong vốn đã góp thuộc bốn tổ hợp công ty do những gia đình lớn sở hữu (Mitsui, Mitsubishi, SumitomoYasuda) là 22,5% trong các ngành tài chính và 14,6% trong các ngành công nghiệp nặng và hoá chất. Việc can dự của chính phủ vào nền kinh tế còn ở mức tối thiểu và chắc chắn ít hơn trong thời kỳ sau chiến tranh. Điều này được minh chứng bởi phần chi tiêu của chính phủ (tiêu dùng của chính phủ và sự hình thành vốn) trong tổng sản phẩm quốc dân; ngay cả khi có xu hướng tăng lên, phần của chính phủ cũng không vượt quá 18,3% cho tới năm 1936. Điều này được minh chứng thêm bởi thực tế là trong năm 1936 thu nhập của chính phủ từ những doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 1,7% tổng sản phẩm quốc dân và những thu nhập thuế chỉ chiếm 5,9% tổng sản phẩm quốc dân.

Hệ thống tiền tệ và tài chính tương đối phát triển. Vào năm 1930 đã có 872 ngân hàng thương mại, 23 ngân hàng đặc biệt, 37công ty ủy thác, 92 công ty bảo hiểm, 12.913 hợp tác xã tín dụng và 9954 cơ quan bưu điện (nhận những khoản tiết kiệm bưu chính). Tài chính trực tiếp và gián tiếp rất cân đối. Vốn cho vay của ngành tư nhân chiếm 35,5% tiền gửi ngân hàng. 10,5% quỹ bảo hiểm và ủy thác và 36,5% chứng khoán. Chỉ có 2,1% tài sản là được giữ bằng tiền mặt (trung bình cho các năm 1931-1935). Tỷ lệ tài sản do tư nhân giữ so với tổng sản phẩm quốc dân là 0,55 trong những năm 1886-1890, đã tăng tới 2,59 trong những năm 1931-1935. Năm 1936, 67,0% thu nhập của chính phủ trung ương là từ thuế má,   20,5% trong số thu nhập đó là thuế thu nhập cá nhân và công ty, trong khi đó 18,0% là từ những doanh nghiệp nhà nước.

Mặt khác, trong những năm 1930-1939, các hàng chế tạo (trong đó vải chiếm 35,0%) chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; mặc dù phần công nghiệp nặng và hoá chất chiếm 26,5%. Sức cạnh tranh quốc tế của những ngành công nghiệp này vẫn chưa đủ. Vào năm 1935, 69,6% hàng xuất khẩu ngành công nghiệp nặng và hoá chất đã đi sang các khu vực thuộc địa và nửa thuộc địa. Đối với những ngành công nghiệp máy móc, mặc dù Nhật Bản đã có thể sản xuất ở trong nước những máy cỡ nhỏ và vừa, song hầu hết máy lớn và tinh vi vẫn còn phải nhập khẩu từ những nước phương Tây. Chỉ trong kỷ nguyên tăng trưởng cao sau chiến tranh những ngành công nghiệp này mới đạt đến sự chín mùi về công nghệ và có thể hoàn thành sự thay thế đầy đủ về nhập khẩu và xuất khẩu.

Bất chấp cái gọi là Sự kiện Mãn Châu năm 1931, nền kinh tế Nhật vẫn rất tự do, và cho tới năm 1937 khi Nhật Bản bước vào cuộc chiến tranh với Trung Quốc, Nhật Bản mới tiến hành điều chỉnh hoàn toàn đối với nền kinh tế, thực hiện cải cách kinh tế, tái cơ cấu nền kinh tế. Năm 1937 việc phân bổ ngân quỹ cũng như ngoại thương được đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ và Đạo luật Động viên Toàn quốc (Kokka Sodoin-ho) thông qua năm 1938 đã đặt việc phân bố lao động, thiết bị sản xuất cũng như giá cả và tiền lương dưới sự kiểm soát của chính phủ. Thời gian này những hàng hoá cơ bản được cung cấp theo khẩu phần và thậm chí chính phủ can thiệp vào việc quyết định giá cổ phần và lãi cổ phần.

Đồng thời, phần chi tiêu của chính phủ trong tổng sản phẩm quốc dân năm 1944 đã tăng tới 40,5%, và cùng năm đó 39,6% những khoản tiền cho vay chưa trả bởi năm ngân hàng thương mại lớn nhất và Ngân hàng công nghiệp Nhật (Nihon Kogyo Ginko: IBJ) đã hướng vào sản xuất thiết bị quân sự. Thời gian này, bản thân cơ cấu công nghiệp đã trải qua những thay đổi đáng kể. Những hoạt động trong các ngành công nghiệp phi quân sự như dệt và chế biến thực phẩm không được khuyến khích, trong khi lực lượng lao động và thiết bị được chuyển sang dùng cho quân sự. Do đó, phần những ngành công nghiệp nhẹ trong tổng sản lượng ngành chế tạo đã giảm từ 66,3% năm 1931 xuống 24,1% năm 1945. Tỷ lệ thấp của công suất còn lại so với công suất tối đa của các ngành công nghiệp bông sau chiến tranh thế giới thứ hai đã phản ánh những hậu quả của việc di chuyển bắt buộc này.

Sự phá huỷ về vật chất của chiến tranh cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế. Những tàu biển và nhà ở tại những vùng đô thị đã phá hủy một cách nặng nề. Tuy nhiên, sự mất mát về công suất sản xuất do các cuộc ném bom thì tương đối nhỏ đối với hầu hết các ngành công nghiệp, trừ các ngành công nghiệp máy móc và một số ngành công nghiệp hoá chất.

Tóm lại, kinh nghiệm kiểm soát thời chiến của Nhật Bản thì khá ngắn, chỉ kéo dài tám năm. Hơn nữa, hầu hết công suất sản xuất và lực lượng lao động được đào tạo vẫn được nguyên sau chiến tranh cùng với bí quyết quản lý thị trường tự do phổ biến trước chiến tranh, với tư duy đổi mới, xác định việc tái cơ cấu, cải cách kinh tế là con đường phát triển duy nhất, Nhật Bản đã nỗ lực thực hiện việc đổi mới này và đã đạt được những thành công nhất định.

Trong hơn hai mươi năm hình thành và phát triển, trước bối cảnh trong nước và quốc tế vận động không ngừng, Chính sách Biên mậu của Trung Quốc cũng đã có những bước chuyển mình tích cực để làm tốt vai trò đưa nền kinh tế Trung Quốc hội nhập với bên ngoài và ngày càng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. Quá trình thay đổi và hoàn thiện đó của Chính sách Biên mậu Trung Quốc có thể chia làm 5 giai đoạn chính sau:

Giai đoạn 1979-1987

Cùng với công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế, cải cách Chính sách biên mậu cũng bắt đầu được tiến hành vào năm 1979 với mục tiêu chuyển đổi thể chế thương mại kế hoạch tập trung, xóa bỏ cơ chế độc quyền biên mậu vốn được thực hiện từ giữa những năm 1950. Các biện pháp chính được áp dụng trong thời kỳ này bao gồm: trao quyền hoạt động biên mậu cho các tỉnh, khu tự trị, các ngành và doanh nghiệp; thử nghiệm nhiều hình thức biên mậu như chế biến, thương mại bù trừ (là hình thức thương mại thông qua trao đổi hàng hóa, khoản chênh lệch quy ra tiền được giữ lại trong nước và do phía nước ngoài sử dụng) và thương mại biên mậu. Để thu hút đầu tư nước ngoài, các đặc khu kinh tế cũng được thành lập trong giai đoạn này.

Việc xóa bỏ cơ chế độc quyền biên mậu trong giai đoạn này đồng nghĩa với việc quản lý hoạt động biên mậu sẽ không được đặt kế hoạch như trước nữa. Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động biên mậu được kiểm soát tốt, chính phủ Trung Quốc đã áp dụng hệ thống quản lý biên mậu thông qua giấy phép, theo đó nhiều doanh nghiệp lớn cũng được phép hoạt động biên mậu một cách trực tiếp.

Những cải cách tiếp theo của Trung Quốc tập trung vào việc tách chức năng quản lý của nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh của doanh nghiệp; đơn giản hoa một bước thủ tục hành chính liên quan đến việc phê duyệt hàng hoa xuất nhập khẩu; trao quyền kinh doanh nhiều hơn cho các doanh nghiệp. Phương pháp luận về kế hoạch hoa cũng như hệ thống kế toán được cải cách mạnh mẽ đã đưa người sản xuất và người kinh doanh thương mại đến gần nhau hơn. Chế độ tỷ giá tự xác định áp dụng trước đây được thay bằng chế độ tỷ giá thả nổi có điều chỉnh dựa vào giá cả trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, việc chính phủ cũng cho phép địa phương và doanh nghiệp giữ lại một phần ngoại tệ đã khuyến khích và thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng rất nhanh.

Để chuyển từ quản lý hoạt động biên mậu theo phương thức mệnh lệnh hành chính sang sử dụng các công cụ gián tiếp, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống biểu thuế xuất khẩu, quỹ khuyến khích xuất khẩu và các mức thuế ưu đãi với hàng xuất nhập khẩu. Trong giai đoạn này, Trung Quốc cũng đã tiến hành chính sửa toàn diện Luật Thuế để phù hợp hơn với những thay đổi này. Với những điều chỉnh như trên, cho đến hết năm 1987, Trung Quốc đã hình thành nên một cục diện biên mậu mới trong đó kế hoạch mệnh lệnh hành chính tồn tại song song với cơ chế điều chỉnh dựa trên các tín hiệu thị trường.

Cũng bắt đầu từ năm 1986, Chính phủ Trung Quốc chính thức đệ đơn xin gia nhập GATT (hiện nay là WTO) - tổ chức thương mại lớn nhất thế giới.

Sự kiện này đã đưa công cuộc cải cách Chính sách Biên mậu của Trung Quốc sang một giai đoạn mói, không chỉ với mục tiêu thay đổi cơ chế biên mậu bao cấp, kế hoạch một cách đơn thuần mà đồng thời phải cải cách Chính sách biên mậu Trung Quốc theo những chuẩn mực mà Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT đã quy định.

Giai đoạn 1988-1990

Cải cách quan trọng nhất trong giai đoạn này là việc áp dụng cơ chế khoán đối với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thương mại có liên quan đến xuất khẩu. Cơ chế khoán cũng áp dụng trong quan hệ quản lý giữa Chính quyền Trung ương và địa phương. Trong cơ chế này, Chính quyền Trung ương vẫn chịu trách nhiệm đối với các khoản lỗ lãi nằm trong kế hoạch nhưng những doanh nghiệp hoạt động ngoài kế hoạch chỉ chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương và giải quyết các vấn đề tài chính trực tiếp với chính quyền địa phương. Những lĩnh vực áp dụng thử nghiệm trong thời kỳ này là thu nhập ngoại tệ, tỷ lệ nộp ngoại tệ cho nhà nước, giảm trợ cấp xuất khẩu và cơ chế tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi trong xuất khẩu của doanh nghiệp. Quyền kinh doanh biên mậu của doanh nghiệp được xác định dựa trên việc phân chia sản phẩm hàng hoa thành ba loại: một là, hàng hoa giao trực tiếp cho một số doanh nghiệp chuyên kinh doanh; hai là, hàng hoa phải có giấy phép hoặc hàng hóa có quy định hạn ngạch giao cho doanh nghiệp tại địa phương; ba là, những hàng hoa được kinh doanh tự do.

Ngoài những cải cách nêu trên, trong giai đoạn này không thể không nhắc tới một cải cách rất quan trọng trong lĩnh vực biên mậu. Đó là cải cách tiền tệ. Theo đó, Chính phủ Trung Quốc cho phép các doanh nghiệp được quyền mua đi bán lại lượng ngoại tệ giữ lại của mình theo giá thị trường trên thị trưụng ngoại tệ.

Như có những cải cách kịp thời và hợp lý nên phát triển biên mậu trong giai đoạn này tăng nhanh nhưng ổn định. Tổng giá trị biên mậu đạt 486,4 tỷ USD, trong khi Nhập khẩu và X K công nghệ tiếp tục gia tăng. Trong suốt giai đoạn này có khoảng 3.000 hợp đồng Nhập khẩu công nghệ đã được Bộ Biên mậu và Hợp tác kinh tế và các tổ chức uy quyền trong nước phê duyệt.

Giai đoạn 1991-1993

Cải cách chính sách biên mậu trong giai đoạn này tập trung vào việc hỗ trợ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể hoàn toàn chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng một loạt các biện pháp như lại bỏ trợ cấp xuất khẩu, thu hẹp về tỷ lệ ngoại tệ giữ lại theo địa lý, trao quyền nhiều hơn cho doanh nghiệp trong việc giữ lại ngoại tệ. Bên cạnh đó, chính phủ cũng sử dụng nhiều hơn các công cụ thuế và tỷ giá trong việc quản lý hoạt động biên mậu, cải cách biên mậu thời kỳ này tiến hành đổng thời với mục tiêu gia nhập GATT, do đó số lượng hàng Xuất khẩu chịu sự chi phối của cơ chế kế hoạch sản xuất tập trung đã giảm xuống, thay vào đó, cơ chế cấp phép xuất khẩu được đơn giản hoa, tính minh bạch được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, cải cách quan trọng nhất của Trung Quốc trong thời kỳ này là sự thay đổi căn bản cơ chế, chính sách cho hàng Nhập khẩu, nhằm tương thích với các yêu cầu của GATT và các chuẩn mực quốc tế. Do vậy, từ năm 1992.

Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp hướng vào cải cách Nhập khẩu như cắt giảm mạnh các mức thuế, bãi bỏ các mức thuế điểu chỉnh nhập khẩu, đơn giản hóa giấy phép nhập khẩu, rà soát và bãi bỏ nhiều văn bản pháp luật lỗi thời và cản trở hoạt động nhập khẩu. Cơ chế quản lý Nhập khẩu hiện đại, mang tính thị trường đã dần được hình thành dựa trên các công cụ thuế và tỷ giá, phù hợp với những quy định của GATT và các chuẩn mực thương mại quốc tế.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này Trung Quốc cũng đã gặp rất nhiều khó khăn, thất bại trong việc cải cách hệ thống tỷ giá hai cấp. Cơ chế tỷ giá này làm giảm động lực kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong hoạt động xuất nhập khẩu. Do vậy, yêu cầu cải cách cơ chế tỷ giá đã trở nên vô cùng cấp thiết và trở thành mục tiêu chính trong giai đoạn cải cách Chính sách Biên mậu của Chính phủ Trung Quốc giai đoạn sau đó.

Giai đoạn 1994-2001

Mục tiêu cải cách của thời kỳ này là thiết lập một hệ thống quản lý biên mậu định hướng thị trường cơ bản, đồng thời tập trung giải quyết những bất cập trong hoạt động biên mậu ở giai đoạn trước đó. Vì vậy, trong giai đoạn 1996-2001, Trung Quốc có hai dấu mốc quan trọng trong cải cách chính sách biên mậu.

Thứ nhất, Chính phủ Trung Quốc đã chính thức bãi bỏ hệ thống tỷ giá hai cấp, bãi bỏ chứng chỉ ngoại tệ, thống nhất các tỷ giá bằng cách giảm tỷ giá chính thức 33%, đồng thời những quy định về kết hối ngoại tệ cũng được bãi bỏ. Song song với việc bãi bỏ những quy định gáy bất cập cho doanh nghiệp đó, Chính phủ Trung Quốc cũng chính thức thành lập thị trường trao đổi ngoại tệ sử dụng hệ thống giao dịch điện tử hiện đại vào tháng 4 năm 1994 tại thành phố Thượng Hải. Việc thiết lập một hệ thống trao đổi linh hoạt duy nhất và có thể quản lý được này đã khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ Trung Quốc trong việc thống nhất tỷ giá trên thị trường. Nhờ vậy, tính phân tán về thị trường ngoại tệ theo địa phương đã được loại bỏ, thống nhất cơ chế quản lý và quan hệ cung cầu trên toàn quốc.

Thứ hai, kể từ tháng 12 năm 1996, Chính phủ Trung Quốc đã chính thức cho phép đồng NDT trở thành đồng tiền được tự do chuyển đổi trong tài khoản vãng lai. Doanh nghiệp tham gia giao dịch biên mậu và có đầy đủ giấy tờ hợp lệ được phép mua ngoại tệ tại các ngân hàng chỉ định, đồng thời Chính phủ Trung Quốc cũng bắt đầu cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các ngành dịch vụ như tài chính, phân phối và biên mậu.

Hai thay đổi lớn nêu trên đã giúp Trung Quốc hình thành một thị trường ngoại tệ mang tính thị trường và đóng góp rất lớn vào tăng trưởng xuất nhập khẩu trong giai đoạn này của Trung Quốc.

Giai đoạn 2001 đến nay

Ngày 11 tháng 12 năm 2001,Trung Quốc đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đánh dấu một mốc vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển biên mậu của Trung Quốc. Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đứng trước một yêu cầu cấp bách là phải xây dựng một nền kinh tế mở, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Với định hướng đó, Chính sách Biên mậu của Trung Quốc cũng phải thay đổi và hoàn thiện theo các cam kết cơ bản sau:

Thứ nhất, tuân thủ nguyên tắc đối xử không phân biệt đối xử với các thành viên còn lại của WTO. Trung Quốc phải áp dụng chính sách này ít nhất là đối với các sản phẩm nước ngoài trong hoạt động Nhập khẩu, đối với thuế quan và thuế tiêu thụ trong nước

Thứ hai, từng bước cắt giảm thuế quan xuống mức của các nước đang phát triển và ngay lập tức bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan. Như vậy, đến năm 2005 toàn bộ mức thuế quan sẽ giảm dần từ 15,6% năm 2000 xuống còn 10%; áp dụng mức thuế suất bằng 0 cho các sản phẩm công nghệ thông tin; loại bỏ hỗ trợ xuất khẩu đối với sản phẩm nông nghiệp; các biện pháp phi thuế quan đang áp dụng với hơn 400 sản phẩm sẽ bị bãi bỏ hoàn toàn trước ngày 01/01/2005; hơn thế nữa Trung Quốc cũng không được áp dụng thêm một biện pháp phi thuế quan mới nào nữa.

Thứ ba, công nhận quyền tự vệ của các nước thành viên khác, thậm chí áp dụng trong thời gian dài để hạn chế hàng Trung Quốc Nhập khẩu ồ ạt vào nước mình, gây bất lợi cho sản xuất nội địa.

Thứ tư, thực hiện những cam kết trong Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), không được đặt tỷ lệ nội địa hoa hoặc các yêu cẩu về chuyển giao công nghệ.

Thứ năm, thực hiện nhỷng cam kết trong Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên qua đến thương mại (TRIPs)

Thứ sáu, phải đảm bảo quyền kinh doanh và phân phối đối với cả hàng hoa và dịch vụ cho các doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ bảy, thực hiện cấc chính sách nhất quán, minh bạch, công khai hóa toàn bộ quy định của Luật và các vãn bản hướng dẫn về biên mậu.

Có thể nói, sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Trung Quốc nói chung và nền biên mậu nói riêng. Để đảm bảo và không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, Chính sách Biên mậu đã, đang và sẽ phải có những thay đổi phù hợp và hoàn thiện hơn nửa trong thời gian sắp tới.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành