Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

1. Chính sách khuyến khích xuất khẩu

Trong những thành tựu kỳ diệu mà biên mậu Trung Quốc đã gặt hái được trong hơn hai mươi năm qua, xuất khẩu đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

Từ 1979 đến năm 1997, chỉ có 4 năm xuất khẩu tăng chậm hoặc giảm, còn lại 15 năm có nhịp độ tăng khá nhanh, thậm chí tới 30-40%. Từ năm 1997 đến nay, xuất khẩu Trung Quốc đã tăng trưởng với một tốc độ đáng kinh ngạc, có những thời kỳ vượt cả chỉ tiêu mà chính phủ đã đề ra cho hoạt động biên mậu. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc năm 2002, trong 620,79 tỷ USD đạt được của hoạt động xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu đã chiếm tới 325,57 tỷ USD, đưa mức xuất siêu của Trung Quốc lên con số 30,35 tỷ USD. Năm 2003, theo đánh giá của Bộ Biên mậu và Hợp tác kinh tế Trung Quốc, thành tựu nổi bật nhất của phát triển kinh tế trong năm này chính là sự tăng mạnh cả về quy mô và tốc độ của xuất khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc năm 2003 đạt 840 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đã tăng tới mức kỷ lục là 430 tỷ USD.

Những con số ấn tượng này có được là nhờ một chính sách biên mậu linh hoạt và hợp lý mà chính sách khuyến khích xuất khẩu là một bộ phận không thể thiếu.

Để hỗ trợ cho chính sách khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Trung Quốc trong những năm vừa qua đã áp dụng một loạt các chính sách hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu và các doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất khẩu như:

Chính sách thuế: Nhằm khuyến khích xuất khẩu, hầu hết các hàng hóa tham gia hoạt động xuất khẩu đều không phải chịu thuế xuất khẩu. Đối với một số nguyên liệu thô, quý hiếm và các sản phẩm hay bán thành phẩm có khả năng cạnh tranh kém trên thị trường quốc tế, chính phủ có quy định một mức thuế xuất khẩu nhất định song tỷ lệ các sản phẩm loại này tham gia mua bán quốc tế là không nhiều.

Mặt khác để động viên các doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, Chính phủ Trung Quốc không ngừng hoàn thiện chế độ hoàn thuế xuất khẩu.

Hoàn thuế gián tiếp hàng hóa xuất khẩu là cách làm thông dụng của các nước trên thế giới góp phần củng cố và điều tiết chính sách thuế mậu dịch Xuất khẩu. Từ năm 1983, Trung Quốc bắt đầu thực hiện thử đối với 17 loại đồng hồ và các chi tiết linh kiện khác. Năm 1985 trở đi, phạm vi hoàn thuế được mở rộng sang sản phẩm dầu thô, dầu thành phẩm, đến 1986 lại tiếp tục đi vào chiều sâu.

Trước đây, chỉ hoàn thuế sản phẩm ở khâu sản xuất cuối cùng, nay việc hoàn thuế sản phẩm tăng thêm ở khâu sản xuất trung gian. Đến năm 1988, tiếp tục tăng hoàn thuế doanh thu với một tỷ lệ nhất định. Đến nay, các loại thuế sản phẩm được hoàn lại bao gồm bốn loại thuế sản phẩm, thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu và đặc biệt là thuế tiêu dùng.

Đối với việc áp dụng chế độ này, Quốc vụ viện đã nêu ra yêu cầu phải thực hiện theo nguyên tắc “thu bao nhiêu hoàn bấy nhiêu”, “hoàn thuế triệt để”, “chưa thu thì không hoàn”. Những năm gần đây, chính sách hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc đã được bổ sung hoàn thiện và từng bước đi vào hợp lý hoa, chính quy hoa. Hiện nay, Trung Quốc đã xác lập một loạt quy định cụ thể về việc hoàn thuế xuất khẩu như xác định tỷ lệ hoàn thuế, cơ sở và phương pháp hoàn thuế, kỳ hạn và địa điểm hoàn thuế,... Đồng thời, để đảm bảo chính sách này được quán triệt chấp hành, ngành thuế còn hợp tác với các ngành hữu quan để xây dựng một loạt biện pháp quản lý hoàn thuế xuất khẩu, trong đó chú trọng hoàn thiện các cơ quan quản lý, chính sách hoàn thuế và biện pháp quản lý, bảo đảm cho các xí nghiệp biên mậu phát triển ổn định.

Chính sách ngoại hối: Để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu, từ năm 1979, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép doanh nghiệp Trung Quốc giữ lại một phần ngoại tệ thu được từ xuất khẩu. Trên cơ sở những quy định này, các doanh nghiệp đã có khoản thu bằng ngoại tệ, có thể được mua ngoại tệ theo hạn ngạch và được sử dụng ngoại tệ này qua nhu cầu. Năm 1986, để tạo sự thông thoáng hơn nữa cho xuất khẩu, chính phủ quyết định trao nhiều quyền hơn cho doanh nghiệp đối với khoản ngoại tệ được phép giữ lại. Theo đó, các doanh nghiệp có quyền trao đổi ngoại tệ với các doanh nghiệp khác có nhu cầu về ngoại tệ, trong phạm vi lượng ngoại tệ mình được phép nắm giữ. Mặc dù, chính sách giữ lại ngoại tệ được coi là một thành công trong việc thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc, song nó cũng gây ra những khó khăn không nhỏ khi vô hình đã tạo lập ra một thị trường hối đoái chợ đen với một hệ thống tỷ giá hai cấp. Để khắc phục tình trạng này, năm 1994, chính phủ quyết định cải tổ thêm một bước nữa khi bắt đầu thực hiện việc chuyển đổi đồng tiền trong tài khoản vãng lai và hoàn thành quá trình này trong hai năm tiếp theo. Với bước cải tổ này, Trung Quốc không chỉ giải quyết được vấn đề hệ thống hai tỷ giá mà còn góp phần rất tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu những năm tiếp theo.

Chính sách tỷ giá: Chính phủ Trung Quốc luôn có sự vận động linh hoạt chính sách tỷ giá trong từng điểm phát triển biên mậu của Trung Quốc. Có thể nói, chính sách tỷ giá đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc mở rộng Xuất khẩu. Trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, đổng NDT (NDT) luôn được gắn với đồng đô la Mỹ (USD). Do lạm phát diễn ra liên tục và khả năng cạnh tranh quốc tế suy giảm, đồng NDT đã trải qua những thời kỳ mất giá hai năm một lần. (đầu tiên từ 2,80 NDT/USD lên 3,70 NDT/USD vào tháng 7/1986; sau đó lên 4,72 NDT/USD vào tháng 12/1989; đến tháng 1/1990 là 5,22 NDT/USD và cuối cùng là 5,70 NDT/USD vào năm tháng 11/1993). Năm 1994, cùng với việc xóa bỏ thị trường ngoại hối chợ đen, Trung Quốc đã thống nhất tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường, đổng thời bắt đầu thực hiện “cơ chế tỷ giá thống nhất và thả lỏng theo thị trường”. Điều này đã khiến cho đồng NDT mất giá đến mức 8,70 NDT/USD, mang lại những lợi thế nhất định cho xuất khẩu.

2. Chính sách quản lý nhập khẩu

Giữ thăng bằng giữa xuất và nhập là nhiệm vụ của chính sách biên mậu Trung Quốc. Nhìn lại 20 năm cải cách mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã phải điều chỉnh 3 lần qua đó dề dàng thấy rằng tốc độ phát triển nhanh của xuất nhập khẩu góp phần càng làm cho nền kinh tế trở nên quá nóng. Trong những năm kinh tế tăng trưởng ở mức cao, xuất nhập khẩu hầu như đều tăng nhanh, nhất là nhập khẩu. Ví dụ, năm 1985 tăng 54,15%, năm 1998: 27,89%, năm 1992: 26,33% phản ánh sự cấp thiết của tăng trưởng kinh tế đối với Nhập khẩu. Ngược lại, nhập khẩu một cách không có định hướng, không có trật tự lại dẫn đến tình trạng “Nhập khẩu trùng lặp”, “xây dựng trùng lặp” Chính vì vậy, để tạo nên một nên biên mậu ổn định và cân bằng, chính sách quản lý nhập khẩu đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

Theo tinh thần cải cách thể chế biên mậu, Chính phủ Trung Quốc trong những năm vừa qua đã tiến hành điều chỉnh chính sách quản lý nhập khẩu thông qua một số biện pháp như quản lý về thuế, quản lý bằng hạn ngạch nhập khẩu, quản lý thông qua giấy phép nhập khẩu và quản lý kinh doanh đối với hàng nhập khẩu. Cụ thể là:

Chính sách thuế: Trên nguyên tắc mở rộng nhập khẩu những sản phẩm cẩn thiết nhằm bảo đảm và thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển, chính phủ Trung Quốc quy định những hàng hóa cần thiết mà trong nước không thể sản xuất hoặc chưa thỏa mãn nhu cầu (chủ yếu là một số máy móc, kỹ thuật tiên tiến hoặc một số vật tư kỹ thuật dùng cho sản xuất) sẽ được miễn thuế hoặc thu thuế nhập khẩu ở mức thấp. Đối với hàng nguyên liệu, hàng linh kiện phụ kiện sẽ đánh thuế thấp hơn hàng thành phẩm, hàng nguyên kiện. Chính sách thuế của Trung Quốc cũng quy định đối với mặt hàng đã có thể sản xuất ở trong nước hoặc đã thỏa mãn nhu cầu hay những sản phẩm không cần thiết cho quốc kế dân sinh (như hàng tiêu dùng sinh hoạt) sẽ định mức thuế cao và còn thu cao đối với những mặt hàng mà Nhà nước đang tăng cường bảo hộ cho sản xuất trong nước.

Quản lý Nhập khẩu bằng hạn ngạch: Chính phủ Trung Quốc áp dụng biện pháp này với mục tiêu giới hạn số lượng hoặc giá trị đối với những hàng hóa nhất định nhập khẩu từ bên ngoài vào trong một thời gian nhất định đế bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiện cán cân thanh toán. Theo tinh thần này, năm 1994, Ủy ban Kế hoạch và Bộ Biên mậu và Hợp tác Kinh tế Trung Quốc đã ban bố “Biện pháp quản lý hạn ngạch kịp thời cho hàng hóa nhập khẩu thông thường”, quy định 18 loại hàng hóa phải chịu sự kiểm soát nhập khẩu bằng hạn ngạch. Năm 1995, con số này giảm còn 15 loại. Tới năm 1996, những hàng hóa là nguyên vật liệu lớn quản lý bằng hạn ngạch Nhập khẩu cũng đã giảm từ 16 loại xuống còn 13 loại. Để làm tốt công tác quản lý Nhập khẩu, đồng thời để đảm bảo tính công bằng, hạn ngạch Nhập khẩu được phân phối theo phương thức giải quyết chung đối với tất cả các đơn xin cấp hạn ngạch của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ sau năm 2001, khi đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch đã dần được bãi bỏ ở Trung Quốc vì WTO cho rằng, hạn ngạch cản trở tự do lưu thông hàng hóa trên thị trường. Tuân thủ các quy định của WTO, đổng thời để quản lý hữu hiệu nhập khẩu trong nước, trong nhũng năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc chuyển sang áp dụng rộng rãi biện pháp hạn ngạch thuế quan, chủ yếu là đối với các mặt hàng nông sản như gạo, ngô, sắn lát, hoa quả... Theo đó, Chính phủ sẽ ưu tiên cắt giảm thuế quan đối với một số lượng hàng nhập khẩu nhất định, hàng nhập khẩu vượt quá định mức này sẽ phải chịu mức thuế suất cao hơn.

Quản lý nhập khẩu bằng giấy phép nhập khẩu: Căn cứ vào “Điều lệ Chế độ giấy phép nhập khẩu hàng hóa nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa”, với mức tiêu tuân thủ các công ước quốc tế, bảo hộ những ngành sản xuất trong nước có liên quan và tiến hành giám sát có hiệu quả hơn nữa đối với hoạt động Nhập khẩu, Chính phủ Trung Quốc tiến hành áp dụng biện pháp quản lý Nhập khẩu thông qua giấy phép đối với một số hàng hóa sau: Một là, đối với những hàng hóa thực hiện quản lý bằng hạn ngạch nhập khẩu thì cũng tiến hành quản lý đồng thời bằng giấy phép nhập khẩu. Hai là, thực hiện quản lý bằng giấy phép đơn nhất đối với một bộ phận hàng hóa. Năm 1996, để tăng tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhập khẩu bằng giấy phép, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng chế độ quản lý bằng mã số hải quan đối với tất cả các hàng hóa quản lý bằng giấy phép trước đây. Đây là một bước tiến quan trọng, đánh dấu công tác quản lý giấy phép nhập khẩu đã đi theo hướng khoa học hoa và hiện đại hóa, do vậy đã có những hỗ trị rất tích cực cho chính sách quản lý Nhập khẩu của Chính phủ Trung Quốc trong những năm gần đây.

Quản lý kinh doanh đối với hàng hóa nhập khẩu: Đây là biện pháp gián tiếp mà Chính phủ Trung Quốc áp dụng nhằm ngăn cản, giám sát hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường trong nước. Để thực thi có hiệu quả biện pháp này, tháng 6 năm 1994, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn “Biện pháp quản lý tạm thời các mặt hàng kinh doanh nhập khẩu”. Theo đó, Bộ Biên mậu sẽ phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện kiểm tra các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa trên nguyên tắc: Quản lý tốt số ít hàng hóa trọng điểm, đơn giản hóa các thủ tục kiểm tra, vận dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, pháp luật và những biện pháp hành chính cần thiết, tăng cường điều tiết vĩ mô nhập khẩu. Nhờ đó, hoạt động nhập khẩu những năm gần đây của Trung Quốc ngày càng đi sâu về thực chất và hiệu quả hơn, khắc phục được tình trạng “Nhập khẩu trùng lặp” của những năm trước kia.

Có thể thấy, thông qua sự phối kết hợp giữa chính sách khuyến khích xuất khẩu và chính sách quản lý nhập khẩu, biên mậu Trung Quốc trong những năm vừa qua đã có những khởi sắc rất đáng mừng. Tuy nhiên thị trường thế giới luôn có sự biến động theo cả chiều hướng có lợi và bất lợi cho mỗi quốc gia. Vì vậy, phương hướng điều chỉnh cơ bản của Chính sách biên mậu Trung Quốc trong thời gian tới là tiếp tục đi sâu cải cách theo hướng thị trường, nhanh chóng xây dựng thể chế thương mại tự do có quản lý để biên mậu Trung Quốc tiếp tục phát triển và đáp ứng được đòi hỏi của kinh tế thị trường và các chuẩn mực quốc tế.

Với số dân hơn 1,4 tỷ người, Trung Quốc đã từng được ví là “người khổng lồ ngủ” của nhân loại. Giờ đây, “người khổng lồ” ấy đang thức giấc và làm kinh ngạc cả thế giới về sức mạnh tiềm ẩn của mình. Đóng góp vô cùng to lớn trong việc đưa Trung Quốc đến với thế giới và ngày càng khẳng định vị thế của mình với quốc tế chính là sự phát triển của Biên mậu. Vì vậy, việc nghiên cứu hệ thống hóa sự hình thành và phát triển của Chính sách Biên mậu giúp cho các đại biểu, các nhà nghiên cứu có cơ sở phân tích một số chính sách cơ bản đã làm nên thành công của biên mậu Trung Quốc, đồng thời cung cấp cho đại biểu thực trạng của nền biên mậu Trung Quốc trong những năm gần đây. Tuy nhiên, Trung Quốc là một đất nước vô cùng rộng lớn và có lãnh thổ tiếp giáp với nhiều quốc gia. Đời sống dân cư ở các vùng, miền có sự khác biệt. Do đó, bên cạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa với bên ngoài theo đường chính ngạch, hình thức buôn bán tiểu ngạch giữa Trung Quốc và các quốc gia tiếp giáp cũng được hình thành một cách tự nhiên và đã đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng biên mậu nói chung của Trung Quốc. Nhận thức được thực tế này, Chính phủ Trung Quốc luôn có những đối sách phù hợp cho hoạt động thương mại biên mậu của mình, coi nó như một bộ phận không thể tách rời của chính sách biên mậu.

1. Cảng tự do và khu mậu dịch tự do:

a) Cảng tự do:

Cảng tự do là một hải cảng mà ở đó tất cả hoặc hầu hết các hàng hoá nước ngoài có thể xuất, nhập vào cảng mà không phải chịu bất cứ một loại thuế nào. Các cảng tự do thường có điều kiện bến bãi và vị trí địa lý thuận lợi, mục tiêu phát triển và chức năng hoạt động của nó kết hợp chặt chẽ với vai trò tập trung, giải tán của bản thân các cảng khẩu, nhằm thu hút và khuyến khích hàng hoá nước ngoài thực hiện chuyển khẩu qua nó. Hiện nay, các cảng tự do như Hamburg ở Đức, Copenhagen của Đan Mạch, Dunkerque của Pháp, Singapore hay đặc khu hành chính Hồng Kông của Trung Quốc đều là những cảng tự do nổi tiếng thế giới.

b) Khu mậu dịch tự do:

Khu mậu dịch tự do là hình thái phát triển cao hơn của cảng tự do, vì thế, về cơ bản nó giống với cảng tự do, nhưng phạm vi hoạt động của nó mở rộng đến các vùng lân cận.

Khu mậu dịch tự do thông thường được chia làm hai loại: Loại thứ nhất bao gồm cả hải cảng và thành phố cảng, mà Hồng Kông là một ví dụ cụ thể. Loại thứ hai chỉ gồm hải cảng hoặc một bộ phận của thành phố cảng, có người gọi đó là “khu cảng tự do”, ví dụ như khu mậu dịch tự do Hamburg của Đức. Khu này là một bộ phận của thành phố Hamburg, diện tích của nó chỉ khoảng 5,6 dặm vuông.

Cảng tự do và khu mậu dịch tự do đều được đặt ở bên ngoài hàng rào thuế quan của một quốc gia, vì thế hàng hoá nước ngoài không những được miễn thuế khi vào cảng mà còn có thể tiến hành sửa chữa, gia công, phân loại, lựa chọn, lưu kho dài ngày hoặc tiêu thụ ngay trong khu vực cảng. Tuy nhiên, khi số hàng hoá nước ngoài này nhập khẩu vào khu vực được quản lý bằng hàng rào thuế quan thì vẫn phải nộp thuế.

Xây dựng cảng tự do và khu mậu dịch tự do là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển khẩu và tiến hành gia công đơn giản đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, chú trọng thương nghiệp, trong đó việc chuyển khẩu sang các quốc gia và khu vực lân cận được coi là đối tượng chủ yếu. Các cảng tự do và khu mậu dịch tự do thường được xây dựng ở những quốc gia và khu vực phát triển.

2. Khu miễn thuế:

Khu miễn thuế còn được gọi là Kho miễn thuế, là khu vực và kho bãi đặc biệt do hải quan lập ra hoặc được hải quan cho phép thành lập. Hàng hoá từ nước ngoài có thể xuất và nhập vào khu miễn thuế mà không phải nộp thuế.

Ngoài ra, các thương nhân còn có thể tiến hành lưu kho, sửa chữa, phân loại, triển lãm, gia công và chế tạo đối với hàng hoá của mình ngay trong khu. Tuy nhiên, khi hàng hoá từ khu miễn thuế vào thị trường trong nước thì cũng phải làm thủ tục hải quan và nộp thuế nhập khẩu. Ở các nước TBCN như Nhật, Hà Lan, khu miễn thuế đóng vai trò tương tự như cảng tự do và khu mậu dịch tự do, chỉ khác ở chỗ phạm vi địa lý của nó tương đối nhỏ.

3. Khu gia công xuất khẩu:

Khu gia công xuất khẩu là hình thức mới của ĐKKT, được xây dựng và phát triển tại một số nước và khu vực đang phát triển trong giai đoạn thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX. So sánh giữa khu gia công xuất khẩu và khu mậu dịch tự do, có thể nhận thấy đặc điểm chủ yếu của khu gia công xuất khẩu là hướng vào phát triển công nghiệp, lấy công nghiệp gia công xuất khẩu làm mục tiêu chủ yếu chứ không phải là chú trọng thương nghiệp.

Khu gia công xuất khẩu chính là hình thức kết hợp giữa khu mậu dịch tự do và khu công nghiệp, vì vậy, nó là ĐKKT công nghiệp - mậu dịch, mang đủ cả hai chức năng sản xuất công nghiệp và mậu dịch xuất khẩu. Mục đích chủ yếu của nước chủ nhà khi xây dựng khu gia công xuất khẩu là thu hút đầu tư nước ngoài, nhập thiết bị và kỹ thuật tiên tiến, mở rộng công nghiệp gia công xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế khu vực theo xu hướng “hướng ra bên ngoài”.

Để phát triển khu gia công xuất khẩu, các quốc gia ngoài việc phải dành cho khu gia công xuất khẩu những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng nhà xưởng, còn phải tăng cường công tác quản lý và hướng dẫn, như tiến hành kiểm tra tư cách của các nhà đầu tư nước ngoài, hạn chế hạng mục đầu tư, ban hành những quy định về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, không những có thể đảm bảo tính tiên tiến và phù hợp của công nghệ kỹ thuật phục vụ cho dự án một cách khách quan, mà còn có thể đảm bảo rằng dự án sẽ thu hút được nhiều lao động, giải quyết một phần vấn đề việc làm hay có thể sử dụng với khối lượng lớn nguyên liệu ở ngoài khu vực, từ đó kéo theo sự phát triển kinh tế của khu vực. Ngoài ra, tăng cường quản lý đầu tư có thể tránh được sự gia tăng hiện tượng một nhà máy trong khu gia công xuất khẩu lợi dụng những ưu đãi của mình để tranh cướp thị trường với một nhà máy ở bên ngoài khu.

4. Khu công nghiệp khoa học:

Khu công nghiệp khoa học còn gọi là Khu khoa học công nghiệp, Khu công nghiệp nghiên cứu khoa học hay Khu công nghệ cao. Mục đích của việc thành lập mô hình ĐKKT này là đẩy nhanh việc nghiên cứu kỹ thuật mới và những thành quả ứng dụng của nó, phục vụ cho sự nghiệp hiện đại hoá nền công nghiệp của khu vực hoặc của quốc gia, đồng thời phục vụ cho mục đích khai thác mở rộng thị trường quốc tế. Một số khu công nghệ cao có ảnh hưởng lớn trên thế giới là Khu công nghệ Cambridge của Anh, Khu công nghiệp Tân Trúc của Đài Loan - Trung Quốc.

Đặc điểm chủ yếu của khu công nghệ cao là có cơ sở giáo dục và kỹ thuật đầy đủ, các xí nghiệp của khu có cơ sở vật chất tiên tiến, nguồn vốn hùng hậu, sử dụng nhiều kỹ thuật cao, chính sách ưu đãi ngày càng hoàn thiện, khuyến khích các thương nhân nước ngoài tiến hành khai thác và mở rộng những ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, thu hút và bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật và sản phẩm mũi nhọn. Không giống như khu gia công xuất khẩu thiên về mở rộng sản xuất chế tạo các sản phẩm để xuất khẩu, khu công nghiệp kỹ thuật chỉ nhằm mục đích mở rộng xuất khẩu sản phẩm là kỹ thuật công nghệ và hỗ trợ cho sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật nước nhà.

5. Khu biên giới tự do và khu quá cảnh:

a) Khu biên giới tự do:

Khu biên giới tự do còn gọi là Khu vực mậu dịch tự do, được xây dựng trên một khu đất thuộc một thành phố hoặc tỉnh nào đó. Dựa trên những biện pháp ưu đãi của khu mậu dịch tự do và khu gia công xuất khẩu, trong khu biên giới tự do cũng thi hành việc giảm thuế hoặc miễn thuế đối với những máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và hàng tiêu dùng sử dụng trong khu nhằm thu hút đầu tư từ cả trong và ngoài nước. Không giống với khu gia công xuất khẩu, hàng hoá nước ngoài sau khi được gia công chế tạo thì được sử dụng ngay trong khu biên giới tự do, chỉ xuất khẩu một lượng nhỏ. Vì vậy, mục đích của việc xây dựng khu biên giới tự do là thu hút đầu tư phát triển kinh tế của vùng biên giới. Tuy nhiên, có một số quốc gia đã quy định thời hạn được ưu đãi hoặc dần dần rút lại những ưu đãi đó, thậm chí là xoá bỏ khu biên giới tự do sau khi năng lực sản xuất ở các vùng biên giới đã phát triển. Chính vì lý do này mà hình thức khu biên giới tự do ít được ứng dụng tại các nước.

b, Khu quá cảnh:

Khu quá cảnh hay còn gọi là Khu mậu dịch trung chuyển, là một số cảng biển, cảng sông hoặc thành phố biên giới do một số nước ven biển xây dựng trên cơ sở các hiệp định song phương để làm nơi trung chuyển tự do cho hàng hoá quá cảnh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu với các chế độ ưu đãi như: đơn giản hoá các thủ tục hải quan khi quá cảnh, miễn thuế hoặc chỉ thu một khoản phí quá cảnh rất nhỏ.

Một đặc điểm khác nhau rất rõ nét giữa khu quá cảnh và cảng tự do là ở chỗ: hàng hoá quá cảnh ở trong khu quá cảnh có thể lưu giữ tại đó trong một thời gian ngắn hoặc đóng gói lại nhưng không được gia công chế tạo. Thông thường, trong các khu quá cảnh đều có hệ thống kho tàng được miễn thuế.

Trên thế giới có thể kể đến một số khu quá cảnh mà hoạt động chủ yếu là mậu dịch trung chuyển như Calcutta của Ấn Độ, Buênot - airet của Argentina...

6. Đặc khu kinh tế tổng hợp:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự phát triển của tài chính mậu dịch quốc tế và giao lưu kinh tế kỹ thuật quốc tế, ĐKKT đã xuất hiện xu thế phát triển theo hướng tổng hợp. Một số đặc điểm cơ bản của ĐKKT tổng hợp là: quy mô lớn, phạm vi kinh doanh rộng, là khu vực kinh tế đặc biệt nhiều ngành nghề, đa chức năng. ĐKKT loại này không chỉ chú trọng công nghiệp xuất khẩu và ngoại thương, mà đồng thời nó còn chú trọng đến các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, du lịch, dịch vụ, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và một số ngành khác.

Chính vì vậy, ĐKKT tổng hợp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của khu vực. cũng chỉ bó hẹp trong quan hệ với các nước thuộc hệ thống XHCN. Thời kỳ này, thể chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp đã bó chặt mọi hoạt động kinh tế trong khuôn khổ của kế hoạch chỉ huy cứng nhắc. Mọi tư tưởng, quan điểm về quy luật kinh tế thị trường đều bị coi là xét lại hoặc phản bội CNXH. Sau thời kỳ cải cách dân chủ, khôi phục kinh tế (1949 – 1956), với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc đã đạt được một số thành tựu nhất định trong khôi phục kinh tế. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân hàng năm giai đoạn 1949 – 1952 là 34,8%, giai đoạn 1953 – 1957 là 18%. Xuất phát từ quan điểm chính trị, Đảng Cộng sản Trung Quốc mà đứng đầu là Mao Trạch Đông đã nhận thức rằng: hoàn toàn có thể xây dựng thành công CNXH trên cơ sở phát huy đầy đủ ý chí và nhiệt tình cách mạng của quần chúng, giữ vững nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Chính vì vậy, từ phong trào “Đại nhảy vọt” (1958 – 1960), Trung Quốc thực hiện chính sách đóng cửa nền kinh tế đến từng công xã. Mỗi công xã là một đơn vị sản xuất khép kín, tự cung tự cấp, quản lý kinh tế bằng biện pháp hành chính, quân sự, phân phối bình quân kiểu “ăn nồi cơm to”. Với tư tưởng đóng cửa giữ vững nền độc lập, huy động toàn dân nấu gang thép, Trung Quốc hy vọng sẽ có những bước “nhảy vọt” trong xây dựng kinh tế, cung cấp nhiều gang thép cho sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế đất nước. Kết quả của sự nóng vội, chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan của Trung Quốc đã đẩy nền kinh tế nước này đứng trước nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng. Tình hình buộc Trung Quốc phải tiến hành 3 năm điều chỉnh (1962 – 1965) để ổn định lại nền kinh tế quốc dân.

Sau thời kỳ “Đại nhảy vọt”, kinh tế Trung Quốc càng lâm vào tình trạng khó khăn hơn trong 10 năm của thời kỳ “Đại cách mạng văn hóa” (1966 – 1976). Năm 1966, Mao Trạch Đông quyết định phát động cuộc Cách mạng văn hoá với quan điểm cho rằng: Mâu thuẫn chủ yếu và lâu dài của xã hội Trung Quốc là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, nhiệm vụ trọng tâm của đất nước là đấu tranh giai cấp, tiêu diệt âm mưu phá hoại công cuộc xây dựng CNXH. Khẩu hiệu hành động của giai đoạn này là “nắm khâu cách mạng, thúc đẩy sản xuất”, “chính trị là thống soái”. Cuộc đấu tranh quyền lực diễn ra kịch liệt và đẫm máu. Có thể nói, đây là thời kỳ Trung Quốc đóng cửa hoàn toàn về kinh tế và văn hoá để thực hiện nhiệm vụ cốt tử là “đấu tranh giai cấp”. Bộ Buôn bán đối ngoại của Trung Quốc lúc bấy giờ bị đả kích là “Bộ bán nước”. Còn việc thu hút những thiết bị kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài vào Trung Quốc thì bị coi là “đầu hàng bán nước”. Tình trạng rối loạn về chính trị, đóng cửa về kinh tế đã đẩy Trung Quốc tới sát bờ vực thẳm: kinh tế tiêu điều, khoa học kỹ thuật lạc hậu, văn hoá suy đồi… Kết quả là: “Đến năm 1977, sau một năm khôi phục và băng bó những vết thương của Cách mạng văn hoá, nền kinh tế Trung Quốc cũng chỉ đạt những chỉ tiêu thấp: thép 24 triệu tấn, than 403 triệu tấn, điện 137 tỷ KW/h, dầu thô 63 triệu tấn, lương thực 300 triệu tấn” (1); tổng giá trị sản phẩm quốc dân của Trung Quốc từ chỗ chiếm 4,7% tổng giá trị thế giới (1955), thì sau năm 1976 chỉ còn chiếm 2,5%, thiệt hại tới hơn 500 tỷ nhân dân tệ. Đánh giá hậu quả của cuộc Cách mạng (1) Nguồn: “Trung Quốc - mở cửa và phát triển vùng kinh tế ven biển 1978-1992” - Phùng Thị Huệ - Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc văn hoá đối với đất nước, Đặng Tiểu Bình cho rằng: “Cách mạng văn hoá đã đẩy nền kinh tế Trung Quốc tụt hậu hàng chục năm và đẩy CNXH ở Trung Quốc đến sát miệng hố của sự sụp đổ”.

Nói tóm lại, Trung Quốc những năm đầu thập kỷ 70 đã lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện: về chính trị là cuộc nội loạn kéo dài của cuộc Đại cách mạng văn hoá; về kinh tế là tình trạng đóng cửa với các nước XHCN nhưng lại chưa mở cửa với các nước TBCN. Tính chất nghiêm trọng của vận mệnh đất nước khiến Đảng Cộng sản Trung Quốc phải nhìn nhận lại và nêu ra trong Văn kiện Đại hội lần thứ VIII: “Tình hình hiện nay ở Trung Quốc thật sự nghiêm trọng và hết sức cấp bách, đòi hỏi Trung Quốc phải cải cách và mở cửa, nếu không dân tộc Trung Hoa sẽ càng lạc hậu hơn và không còn vị trí cần thiết trên trường quốc tế” (2). Đứng trước tình hình kinh tế và chính trị rối ren, Đảng Cộng sản Trung Quốc đi đến một quyết định mang tính lịch sử: Cải cách - mở cửa.

          1. Chính sách về chống tham nhũng giai đoạn 1945-1990

Cách mạng tháng Tám thành công (1945) đã mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo quy luật chung của sự hình thành Nhà nước. Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành nhiều văn bản pháp luật xây dựng bộ máy Nhà nước để điều hành hoạt động của đất nước. Đồng thời, Đảng và Chính phủ đã bổ nhiệm những người có chức vụ giữ những trọng trách nhất định trong bộ máy Nhà nước. Thực tế điều hành hoạt động của bộ máy Nhà nước đã xuất hiện những sự vi phạm pháp luật của những người có chức vụ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, nhất là những hành vì phạm tội. Vụ án Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân lương là một điển hình. Chính vì vậy, văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà liên quan đến đấu tranh chống tội phạm về chức vụ là Sắc lệnh số 223/SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 về trừng trị các tội biển thủ và hối lộ. Trong Sắc lệnh này đã chỉ rõ: tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ bị phạt tù từ 5 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ... Công chức bao gồm nhân viên trong Chính phủ, trong các Uỷ ban hành chính các cấp các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong quân dội và tất cả những người phụ trách một công vụ.

Khi nói đến tội phạm tham nhũng không thể không nói đến tội phạm hối lộ. Chính vì vậy, ngoài văn bản pháp luật đầu tiên nói trên, trong quá trình phát triển lịch sử của mình, Nhà nước còn quy định việc trừng trị tội phạm này trong Điều 7 Sắc luật số O3/SL-76 ngày 15 tháng 3 năm 1976 về trừng trị các tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội hối lộ; Pháp lệnh ngày 20 tháng 5 năm 1981 về trừng trị tội hối lộ. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và trong phạm vi cả nước từ 1946 đến 1985, để đảm bảo nhiệm vụ của những người có chức vụ làm việc trong bộ máy Nhà nước; Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ra các văn bản pháp luật liên quan đến đấu tranh chống hành vi hối lộ nhũng nhiễu nhân dân của những người có chức có quyền.

Văn bản có liên quan trực tiếp đến việc lợi dụng chức vụ để phạm tội xâm phạm tài sản Nhà nước phải kể đến Sắc lệnh số 223/SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 quy định truy tố tội biển thủ của công; Thông tư số 4421/1T g của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng năm 1955 hướng dẫn các Toà án trừng trị một số tội phạm liên quan đến tài sản; Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 về trừng trị âm mưu hoạt động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hoá: Chỉ thị số 639 ngày 1 tháng 6 năm 1964 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối xét xử các loại tội phạm quyền sở hữu xã hội chủ nghĩa. Hai văn bản pháp luật quan trọng là hai Pháp lệnh cùng được ký ngày 21 tháng 10 năm 1970 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân quy định rất cụ thể về hành vi chiếm đoạt tài sản Nhà nước và tài sản công dân bằng cách lợi dụng chức vụ quyền hạn của những người có chức vụ. Những văn bản pháp luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh chống tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Tầm quan trọng của nó được thể hiện ngay trong Tờ trình về hai Pháp lệnh ngày 19 tháng 10 năm 1970 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội về hiện trạng xâm phạm tài sản và tham nhũng:

Một điều đáng chú ý là hiện nay, có nhiều trường hợp kẻ phạm pháp lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình. Cố tình làm trái các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính để xoay sở tài sản xã hội chủ nghĩa. Ví dụ, trong ngành thương nghiệp, bạn phạm tội lợi dụng tình hình cung cầu khó khăn mà móc ngoặc, cp phát trái chính sách, chế độ để qua đó kiếm lợi riêng; trong công nghiệp thì chúng móc ngoặc nhau phân phối vật tư ngoài kế hoạch, trái chế độ, có đơn vị còn dùng thành phẩm của xưởng mình đem trao đổi lấy thực phẩm, hàng hoá chia nhau; ở khu vực hợp tác xã thủ công nghiệp, khá phổ biến là những việc đút lót cán bộ có trách nhiệm về đăng ký và duyệt giá... để hợp tác xã được hoạt động bất hợp pháp. hoặc dễ dàng ăn cắp bớt xén nguyên vật liệu của Nhà nước… Tình hình trên đây đang tồn tại ở nhiều ngành, nhiều cấp, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, làm rối loạn chế độ quản lý theo phương thức xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, đến tư tưởng và đạo đức cán bộ, nhân viên và nhân dân.

Ngoài các văn bản pháp luật chủ yếu nói trên, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau này đổi tên là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều văn bản pháp luật đấu tranh chống các tội phạm về tham nhũng như Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 quy định về tội cố ý làm sai công tác phụ trách, gây hậu quả nghiêm trọng; Sắc luật số 01/SL ngày 19 tháng 4 năm 1957 về việc cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế. Luật ngày 24 tháng 1 năm 1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Quyết định số 50/TTg ngày 16 tháng 2 năm 1971 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm các quỹ trái phép trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, v.v... Nói chung các văn bản pháp luật quy định về tội phạm tham nhũng và đấu tranh đối với chúng còn được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau.

          2. Chính sách về chống tham nhũng giai đoạn đổi mới (1990 đến nay)

Từ khi đất nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liệu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do nhiều lý do khác nhau mà tội phạm tham nhũng có điều kiện phát triển và gây nên những khó khăn nhất định cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung. Trước tình hình này, tháng 6 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 240/HĐBT về đấu tranh chống tham nhũng và đã tổ chức thực hiện quyết định nói trên. Từ năm 1990 đến nay, rất nhiều văn bản pháp luật của nhà nước quy định về tổ chức đấu tranh chống tham nhũng. Trong những văn bản đó phải kể đến Chỉ thị số 416/CT ngày 3 tháng 12 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra. điều tra, xử lý với các việc tham nhũng, buôn lậu; Nghị quyết của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ tư ngày 30 tháng 12 năm 1993 về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, buôn lậu: Công văn số 169/TATC ngày 26 tháng 7 năm 1990 của Toà án tối cao về việc Toà án phục vụ đấu tranh chống tham nhũng: Công văn số 08/CT-TATC ngày 6 tháng 12 năm 1990 của Chánh án Toà án tối cao về đường lối xử lý một số tội phạm phục vụ Chỉ thị 416/CT ngày 3 tháng 12 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường công tác thanh tra. điều tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Chỉ thị số 05/VP ngày 15 tháng 8 năm 1990 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát phục vụ cuộc đấu tranh chống Tham nhũng; Quyết định số 114/QĐ của Thủ tướng Chính phủ ngày 21 tháng 11 năm 1992 về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng. buôn lậu. v.v... và gần đây nhất, trong kỳ họp Quốc Hội thứ 11. khoá IX từ ngày 2 tháng 4 năm 1997 đến 10 tháng 5 năm 1997, Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự liên quan đến các tội phạm về tham nhũng. Như vậy, quan điểm đấu tranh cương quyết với các hành vi tham nhũng nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng được đặt ra như là một yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mặc dù vậy, nếu xem xét các văn bản pháp luật ở nước ta trước khi ban hành Pháp lệnh chống tham nhũng, Luật phòng chống tham nhũng và Bộ luật hình sự năm 1999 trên các khía cạnh về cuộc đấu tranh chống tham nhũng thì còn tồn tại nhiều vấn đ, nhưng có thể rút ra những nhận định chính sau đây:

Thứ nhất, trong các văn bản pháp luật chưa nêu khái niệm các tội phạm về tham nhũng mà chỉ quy định một cách chung chung về tội phạm được thực hiện bằng cách lạm dụng chức vụ quyền hạn. Điều này có ảnh hưởng đến phân loại tội phạm và gây nên hạn chế nhất định trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn.

Thứ hai, do được quy định trong nhiều văn bản pháp luật những quy định về các tội phạm liên quan đến chức vụ, quyền hạn chưa phản ánh hết tính chất nguy hiểm của các tội phạm này trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước trong những thời điểm lịch sử đó. Điều đó ảnh hưởng cả đến việc áp dụng loại và mức hình phạt tương xứng.

Chính vì vậy cần thiết phải pháp điển hoá những tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Xây dựng pháp luật cho một Nhà nước không phải là công việc một sớm một chiếu có thể làm được. Công việc này đòi hỏi phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Chính vì vậy, sự mắc phải những thiếu sót, sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lập pháp là điều tất yếu. Điều cơ bản là trong những giai đoạn sau, những thiếu sót, nhược điểm đó cần được sửa chữa khắc phục để từng bước hoàn chính pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Pháp lệnh chống tham nhũng, Luật phòng chống tham nhũng và Bộ luật hình sự năm 1999 đã ra đời đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, chống tham nhũng nói riêng trong thời kỳ mới.

Khoa học giáo dục được hiểu một cách cô đọng là khoa học về giáo dục con người, nói cách khác là khoa học nghiên cứu về giáo dục.

Khoa học giáo dục nghiên cứu các lĩnh vực giáo dục khác nhau, từ giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và các hoạt động giáo dục ngoài nhà trường (giáo dục xã hội), giáo dục ở các cấp độ, trình độ khác nhau: giáo dục chuyên nghiệp, kỹ thuật, giáo dục đại học theo những mục tiêu đa dạng, phản ảnh nhu cầu và lợi ích từ nhiều phía.

Khoa học giáo dục phát hiện ra tính quy luật của các hoạt động giáo dục ở nhiều lĩnh vực với phạm vì, mức khái quát khác nhau. Tất cả những ai làm công tác thực tiễn hoặc nghiên cứu khoa học trong phạm vi công tác giáo dục đều cần và phải nắm được hệ thống các tri thức và các kỹ năng cần thiết về giáo dục con người.

Làm giáo dục mà không dựa trên khoa học giáo dục chẳng khác nào làm y tế mà không dựa trên y học. Chính vì thế, khẳng định vai trò của khoa học giáo dục trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã yêu cầu phải: “Coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học giáo dục, nhằm giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giáo dục... Các chủ trương, chính sách về giáo dục, những đổi mới về nội dung, quy trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thì... đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiền Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định”. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã xác định: “Phát triển khoa học giáo dục” là một trong tâm giải pháp chiến lược của ngành. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đòi hỏi phải đổi mới công tác nghiên cứu khoa học giáo dục như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nêu ra.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

I. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐEN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC

Chính sách giáo dục thường chịu tác động của một số yếu tố, xu hướng chính về kinh tế, chính trị, tiến bộ khoa học công nghệ, xã hội, toàn cầu hóa, môi trường (tự nhiên và luật pháp). Những thay đổi về chính sách giáo dục đốI với một lĩnh vực nào đó có thể tác động đến chính sách giáo dục nói chung và đến các lĩnh vực giáo dục khác nói riêng vì giáo dục là một hệ thống gắn bó hữu cơ, tác động qua lại. Những yếu tố nói trên tác động thường xuyên vào quá trình chính sách giáo dục. Trong những yếu tố đó có thể thấy các yếu tố kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ, toàn cẦu hóa, xã hội là các yếu tố quan trọng cần được xem xét.

1. Về kinh tế

Kinh tế được xem có vai trò quyết định đối với một chính sách giáo dục. Mô hình kinh tế thế nào thì cần phải có mô hình chính sách để tạo ra nền giáo dục tương thích. Nếu mô hình kinh tế tập trung quan liêu, mệnh lệnh thì chính sách giáo dục và nền giáo dục sẽ phản ảnh và tuân thủ theo quy luật của mô hình kinh tế đó. Nếu mô hình kinh tế thị trường thì đòi hỏi chính sách giáo dục phải có những thay đổi để phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường. Ngày nay, khi thị trường đã trở thành một trong ba lực lượng (market forces) chính tác động đến giáo dục, nhất là giáo dục đại học, thì việc làm chính sách giáo dục không thể không quan tâm đến yếu tố kinh tế thị trường. Ba sức mạnh này là: Nhà nước - Thị trường - Cơ sở đào tạo. Nghiên cứu về quan hệ giữa Nhà nước - Thị trường và Cơ sở giáo dục đại học, Marek Kwiek nhấn mạnh yếu tố thị trường trong giáo dục khi cho rằng: “Dù chúng ta có hiểu chúng (các lực lượng thị trường) hay không, dù chúng ta có ủng hộ chúng hay không, dù chúng ta có chuẩn bị sẵn sàng đối với chúng, thì các sức mạnh thị trường sẽ vẫn cứ xâm nhập vào giáo dục và cuộc hành quân đó khó có thể dừng bước được bởi nhiều nguyên nhân chính trị, kinh tế và văn hóa”[1].

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

 


[1]Marek Kwiek: The State, the Market, and Higher Education. Challenges for the New Century, Peter Lang, 2003.

I. CẢI CÁCH TOÀN DIỆN CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

1. Giáo dục vì sự phát triển bền vững công cụ chủ chốt để phát triển bền vững thế giới toàn câu hóa

Trong thể giới toàn cầu hóa, nơi mà môi trường tự nhiên đang bị tổn thương nghiêm trọng, môi trường xã hội còn tồn tại nhiều bất công và bạo lực thì phát triển bền vững là mục tiêu tối cao của toàn thể nhân loại đạt tới, là con đường mà thế giới hiện đại phải đi và là triết lý sống của các công dân toàn cầu phải thực hiện[1].

Ở đây phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển mới được thực hiện theo những nguyên tắc mới và những chiên lược mới của phát triển bền vững[2] nhằm gắn kết một cách hài hòa các mục tiêu phát triển sinh thái (bảo vệ tự nhiên) với các mục tiêu phát triển kinh tế (sự thịnh vượng) và các mục tiêu phát triển xã hội (công bằng xã hội). Đó là sự phát triển của thế bộ ngày nay mà không phương hại đến các thế hệ tương lai.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

 


[1] Tuyên bố của Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất họp ở Rio de Janeiro, Braxin năm 1992.

[2] Những chiến lược phát triển bền vững là:

- Chiến lược hiệu quả: Mục tiêu của chiến lược này là tăng cường hiệu quả của các môi quan hệ input-output trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thông qua những đổi mới về công nghệ và phân bố sản xuất.

- Chiến lược tồn tại: Chiến lược này hướng tới mục tiêu cải thiện sự hoà hợp của các dạng vật chất năng lượng bằng việc sử dụng, chẳng hạn các chất tái sinh hoặc các hợp chất thay thế.

- Chiên lược lâu bền: Chiên lược này có mục tiêu nâng cao tính bền vững của các sản phẩm và vật liệu.

- Chiến lược hoàn thiện mong muốn tạo ra những thay đổi về quan niệm, tạo ra những mẫu tiêu dùng và hành vi sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giữ gìn môi trường

- Chíêh lược hoà hợp, chung sông hoà bình nhằm phát triển sự sẵn sàng giúp đỡ những cộng đồng dân cư nhỏ (gia đình, làng xóm, trường học, cơ quan...) cũng như phát triển dịch vụ xã hội.

Cùng với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp trồng người là một vấn đề luôn được quan tâm, chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế; phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh[1]. Như vậy, muốn đất nước phát triển, giàu mạnh thì cần nhiều người có tài, có đức, có tri thức. Đó chính là mục tiêu của giáo dục, đặc biệt là của giáo dục đại học.

Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trên cơ sở đánh giá toàn diện, sâu sắc thực trạng giáo dục và đào tạo, cũng như xu hướng phát triển của giáo dục và đào tạo trên thế giới và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4- 11-2013 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 29) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Riêng trong lĩnh vực giáo dục đại học, trọng tâm của chủ trương đổi mới là “tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 458-459

Theo thống kê các loại tội phạm kinh tế thì tham nhũng được coi là một trong nhũng tội phạm nguy hiểm nhất. Tính nguy hiểm của nó được thể hiện ở chỗ, tệ tham nhũng phá từ bên trong bộ máy của một Nhà nước. Tệ tham nhũng không chỉ gây thiệt hại tài sản ở mức đặc biệt nghiêm trọng, mà còn làm tha hoá một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho các chủ trương chính sách bị thì hành sai lệch, dẫn đến lệch hướng chủ nghĩa xã hội. Khi lòng tin của nhân dân bị suy giảm nghiêm trọng thì sẽ gây bất ổn về chính trị, xã hội, từ đó có thể làm thay đổi bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thấy được sự nguy hại của tệ tham nhũng và thực trạng tình hình tham nhũng hiện nay đang diễn ra ở Việt Nam, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (tháng 1 năm 1994) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi tệ quan liêu, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ, làm tiêu vong sự nghiệp đổi mới, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “Tệ quan liêu tham nhũng và suy thoái về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn, các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước bị thì hành sai lệch dẫn đến chệch hướng; đó là mảnh đất thuận lợi cho diễn biến hoà bình”.

Đại hội X của Đảng đã đặt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng thành một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách: “toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội phảỉ có quyết tâm chính trị cao đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí,v.v… “.

Chính vì thế, để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội cấp bách phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Cuộc đấu tranh này giờ đây trở thành một nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân ta nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Cần xử lý nghiêm những vụ tham nhũng, những vụ vi phạm pháp luật đã được phát hiện, tội trọng đã rõ đến đâu thì xử lý đến đó không chờ đợi. Mọi hành vi gây tổn hại đến lợi ích của nhân dân và của xã hội đến phải được xem là tội ác, phải được xử lý nghiêm khắc theo pháp luật nhà nước, không miễn trừ bất kỳ ai.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Công ước chống tham nhũng của Liên hiệp quốc được bắt đầu thảo luận vào năm 2002, một giải pháp đã được đưa ra cân nhắc là thay vì định nghĩa thế nào là tham nhũng, nên liệt kê các hành vi tham nhũng cụ thể. Thêm vào đó, những kiến nghị yêu cầu các quốc gia hình sự hóa hành vi tham nhũng chủ yếu bao trùm những tội phạm cụ thể hoặc những nhóm tội phạm cụ thể tùy thuộc vào hành vi có liên quan thuộc loại gì, những người có liên can có phải là công chức hay không, hành vi có dấu hiệu xuyên quốc gia hoặc có sự liên quan của một công chức nước ngoài hay không, và vụ việc có liên quan đến việc làm giàu một cách bất hợp pháp hoặc không đúng đắn hay không[1].

Các vấn đề liên quan đến những nỗ lực định nghĩa tham nhũng vì các mục đích như xây dựng chính sách hay soạn thảo văn bản pháp luật sẽ được thảo luận cụ thể hơn trong Phần II của cuốn Cẩm nang về Chính sách chống tham nhũng của Liên hiệp quốc.

Nhiều loại hình tham nhũng cụ thể đã được xác định rõ ràng và hiểu thấu đáo, và là đối tượng của rất nhiều định nghĩa hoặc mang tính pháp lý hoặc mang tính kinh điển. Nhiều loại hình tham nhũng bị coi là tội phạm hình sự mặc dù có những trường hợp Chính phủ của các nước cho rằng một số loại hình tham nhũng nên được giải quyết bằng các biện pháp quản lý hành chính hoặc dân sự. Dưới đây là một số loại hình tham nhũng mà chúng ta thường gặp.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

 


[1]Những kiến nghị đầu tiên đối với Công ước chống tham nhũng của Liên hiệp quốc được tập hợp tại cuộc họp trù bị không chính thức tổ chức tại Buenos Aires từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12 năm 2001 và được tổng hợp trong các tài liệu A/ AC / 261 / 3, từ Phần I đến Phần IV. Phần I là tập hợp các kiến nghị về định nghĩa “tham nhũng”, còn Phần II là những kiến nghị về hình sự hóa các hành vi tham nhũng.

Nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy nhiên trong những năm qua cũng bộc lộ rõ những khuyết tật. Chính động lực lợi nhuận đã tạo môi trường thuận lợi cho các tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại phát triển. Tội phạm tham nhũng ở Việt Nam là một hiện tượng xã hội cộng sinh và gắn liền với các khuyết tật của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong chuyên đề này chúng tôi xin đề cập thực trạng hoạt động tham nhũng và một số dấu hiệu nhận biết về tham nhũng trong phát triển kinh tế xã hội hiện nay.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm  

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành