Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

Đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, trong đó nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản phần lớn từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay thì hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước đối với nhiều công trình, nhà máy, giao thông v.v… hiệu quả thấp do đầu tư sai, đầu tư khép kín, đầu tư dàn trải gây thất thoát, lãng phí và tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng hoành hành. Chính vì vậy, trong chuyên đề này, chúng tôi xin giới thiệu một số vấn đề liên quan đến những thủ đoạn tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Thứ năm, 29 Tháng 3 2018 09:18

Ý nghĩa của việc giám sát hành chính

Sự ra đời và phát triển của nhà nước hành chính là một đặc trưng rõ rệt của quá trình phát triển xã hội trong thế kỷ 20. Đặc trưng ấy thể hiện ở chỗ các việc làm công công tăng lên, chức năng của chính phủ được mở rộng hơn, quyền lực hành chính cũng mở rộng theo. Trong tình hình đó, làm thế nào để bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý của hành chính công là một thách thức lớn. Tăng cường giám sát hành chính đã trở thành biện pháp quan trọng để bảo đảm lợi ích nhân dân, tăng cường nền chính trị dân chủ, ngăn chặn hiện tượng tham nhũng trong quản lý hành chính.

Trong các nhà nước hiện đại, dù dưới chế độ xã hội nào đều có sự phân công và tách bạch quyền lực nhà nước ở mức độ khác nhau. Đó là sự phân biệt giữa cơ quan nắm giữ quyền lực và cơ quan sử dụng quyền lực. Các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây dựa vào thuyết phân chia quyền lực đã xây dựng chế độ giám sát quyền lực hành chính với những phương thức sau đây:

Giám sát việc thi hành hiến pháp, ủy nhiệm lập pháp, giám sát tư pháp, chế độ giám sát của Quốc hội. Ở xã hội hiện đại, chế độ giám sát quyền lực và chế độ bầu cử dân chủ có thể nói là hai cơ chế nền tảng của một nền chính trị dân chủ.

Nhà nước hiện đại là nhà nước hành chính, quyền lực hành chính ngày càng lớn. Quá trình sử dụng quyền lực hành chính có hai loại hậu quả: hậu quả tích cực và hậu quả tiêu cực. Hậu quả tích cực là quyền lực hành chính phát huy được chức năng bình thường của nó, chỉ huy và lãnh đạo công chúng, tổ chức xã hội thực hiện mục tiêu chung. Hậu quả tiêu cực là người có quyền lực lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêng, gây thiệt hại cho mục tiêu chung và lợi ích chung. Khi hậu quả tiêu cực xuất hiện, sẽ có hại cho xã hội. Một mặt, nó phá hoại trật tự kinh tế, gây thiệt hại về kinh tế; mặt khác, nó dẫn đến những bất ổn về xã hội và chính trị. Do đó, bất kỳ thời đại nào, quốc gia nào cũng tìm mọi cách để ngăn ngừa, giảm thiểu hậu quả tiêu cực của quyền lực, mà biện pháp chủ yếu nhất là kiềm chế, giám sát quyền lực hành chính. Tăng cường giám sát hành chính là biện pháp quan trọng để kiềm chế quyền lực hành chính và quy phạm hóa việc sử dụng quyền lực hành chính.

1. Người lãnh đạo hành chính phải có tố chất cao và chuyên nghiệp hóa

Người lãnh đạo hành chính phải có tố chất (tố chất của người lãnh đạo hành chính)

Mục tiêu của cải cách chế độ nhân sự ở Trung Quốc là vận dụng cơ chế cạnh tranh, khích lệ và giám sát, hoàn thiện chế độ công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý hành chính Nhà nước chuyên nghiệp hóa, có tố chất cao. Đó là một yêu cầu mang tính thời đại đối với những người lãnh đạo hành chính của thế kỷ 21.

Tố chất cao là một khái niệm phát triển trong trạng thái động. Trong những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội và trong những điều kiện, môi trường, nhiệm vụ khác nhau, yêu cầu về tố chất của người lãnh đạo hành chính không giống nhau. Thời đại đang phát triển, xã hội đang tiến lên nên yêu cầu về tố chất của người lãnh đạo phải cao hơn trước. Tố chất người lãnh đạo hành chính phải tương ứng với chức vị của người đó. Chức vị của một người lãnh đạo hành chính càng cao thì tố chất của người đó phải càng cao. Những cán bộ từ cấp huyện trở lên đã ở vào vị trí toàn cục, đã phải có những quyết sách vĩ mô. Tố chất của họ tạo nên tố chất của toàn bộ đội ngũ cán bộ lãnh đạo hành chính của cả nước. tố chất cao là một khái niệm tổng hợp và chủ yếu bao gồm năm hàm ý: một là trình độ chính trị cao, hai là trình độ tư tưởng cao, ba là liêm khiết, bốn là trình độ nghiệp vụ cao, năm là hiệu quả công tác cao.

Tố chất cao và chuyên nghiệp hóa là hai mặt có liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Nếu một cán bộ lãnh đạo hành chính không có tố chất cao thì không thể nói đến chuyên nghiệp hóa. Ngược lại, một cán bộ lãnh đạo hành chính chưa đạt được trình độ chuyên nghiệp hóa thì không thể nói đó là có tố chất cao.

Sau năm 1954, nước ta tạm thời chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn độc lập, miền Nam còn chịu sự chiếm đóng của chính quyền Sài Gòn có sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Nhiệm vụ trong thời kỳ này là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.

Về giáo dục, thời kỳ bấy giờ miền Bắc tồn tại song song hai hệ thống: hệ thống giáo dục vùng tự do và vùng mới giảiphóng (hệ thống giáo dục 9 năm trong kháng chiến, hệ thống giáo dục 12 năm ở các vùng địch tạm chiếm trước đây).

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và làm hậu phương cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, đã đặt nhiệm vụ phải sớm thống nhất hai hệ thống giáo dục nói trên làm một. Vấn đề đặt ra là cần kế thừa những ưu điểm, khắc phục những tồn tại của hai loại hình trường lớp để thiết kế các mô hình cấu trúc mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của thời kỳ này.

Cùng với sự phát triển của giao thương quốc tế, mô hình kinh doanh Franchise cũng ngày càng được nhân rộng trên thế giới, mô hình này đem lại lợi nhuận to lớn cho các doanh nghiệp và mở ra kỷ nguyên mới cho thương mại toàn cầu. Một mặt, nó mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho các thương hiệu, các doanh nghiệp lớn trên thế giới, mặt khác nó nhanh chóng truyền bá được văn hóa, thói quen tiêu dùng từ giữa các quốc gia với nhau, đặc biệt nó mang lại nhiều tiện ích cho người tiêu dùng.

Cho đến nay, Franchise có rất nhiều định nghĩa. Xét dưới từng góc độ, Franchise lại có một khái niệm khác nhau, có định nghĩa công khai chi tiết nội dung của hợp đồng chuyển nhượng, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ chuyển nhượng, tựu chung lại Franchise là việc trao quyền bán sản phẩm, phân phối sản phẩm của chủ thương hiệu sản phẩm

Bên cạnh đó, để định nghĩa Franchise một cách chi tiết, Hiệp hội Franchise quốc tế (The Intemational Franchise Association) đã định nghĩa như sau: “Franchise là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, theo đó bên chuyển nhượng đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục với doanh nghiệp của Franchise trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Franchise hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên franchisor sở hữu hoặc kiểm soát và franchisee đang hoặc sẽ đấu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”

Trong ngành giáo dục có khá nhiều định nghĩa về đánh giá, tùy theo cách hiểu về mục đích của đánh giá cũng như cách thức đánh giá. Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì khái niệm đánh giá trong giáo dục có một nội hàm chung. Đó là mọi hoạt động thu thập thông tin về việc học của người học để làm cơ sở ho việc quyết định bước đi tiếp theo trong tiến trình giáo dục.

Mục đích tột cùng của đánh giá là giúp người học hoàn hiện việc học. Tuy nhiên vì việc học là một quá trình, thậm chí là hành trình suốt đời nên tùy theo từng giai đoạn học tập mà việc thu thập thông tin về việc học là khác nhau để phục vụ cho những quyết định khác nhau. Tùy theo những quyết định này là ở cấp trường hay cấp hệ thống mà đến nay có thể phân loại đánh giá theo hai cấp khác nhau.

a) Đối với cấp trường, việc đánh giá được chia thành ba loại: 1) Đánh giá tổng kết; 2) Đánh giá định hình; 3) Tự đánh giá. Đánh giá tổng kết là đánh giá của người dạy đối với người học khi kết thúc một đơn vị/giai đoạn học tập nhằm mục đích xác nhận việc người học hoàn thành đơn vị/giai đoạn học tập đó. Đánh giá định hình là đánh giá của người dạy đối với người học trong tiến trình học tập nhằm mục đích xác nhận cái mà người học đã lĩnh hội được so với mục tiêu đề ra để từ đó điều chỉnh cách dạy, cách học. Tự đánh giá là đánh giá của người học với chính mình hoặc với bạn học trong tiến trình học tập nhằm mục đích nâng cao nhận thức về bản thân và định hướng cho việc học. Cả ba loại đánh giá này vẫn tồn tại trong mọi nhà trường từ trước đến nay. Chỉ có điều, trước đây, với mô hình nhà trường tổ chức theo tư duy sàng lọc thì đánh giá tổng kết được coi trọng, còn đánh giá định hình và tự đánh giá bị coi nhẹ. Trong mấy thập kỷ gần đây, với mô hình nhà trường tổ chức theo tư duy học tập suốt đời thì có sự nhận thức lại: tự danh giá và đánh giá định hình được coi là nền tảng của đánh giá trong nhà trường.

Thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức do toàn cầu hoá và công nghệ thông tin đưa đến. Toàn cầu hoá là quá trình mở rộng và đa dạng hoá các hoạt động xuyên biên giới (cụ thể là người, vốn, hàng hoá và dịch vụ) và làm cho các quốc gia phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế. Trong xã hội đó, nghề nghiệp, việc làm... biến đổi hàng ngày, nhiều nghề nghiệp mất đi, nhiều nghề mới xuất hiện. Con người trong xã hội hiện đại bị bắt buộc phải từ bỏ ý nghĩ: học một nghề để hành nghề suốt đời. Vì thế, họ phải chuẩn bị để chuyển đổi nghề nghiệp, năng lực nhanh chóng có thể hành nghề và tinh thông nghề nghiệp mới. Thật vậy, phần đông người lao động có thể phải đổi nghề từ 3 đến 5 lần suốt trong cuộc đời họ và mỗi lần đổi nghề lại cần các kiến thức mới. Thách thức đặt ra trước mọi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu hoá là các vấn để về giáo dục.

Giáo dục trong một thế giới hội nhập và cạnh tranh toàn cầu có ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia và mỗi con người. Giáo dục đang bước vào trào lưu toàn cầu hóa, thúc đẩy nhân loại hình thành những giá trị toàn cầu mới. Con người trong quá trình toàn cầu hóa không chỉ cần năng lực lao động để hội nhập mà còn cần được trang bị các kỹ năng chung sống hòa bình trong môi trường đa dạng văn hóa. Đây là nhiệm vụ khó khăn của giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI, nhất là khi khối lượng kiến thức nhân loại ngày càng gia tăng, thách thức mọi hệ thống giáo dục. Chúng ta cần giải pháp đột phá để giải thoát năng lực nhận thức của con người trước khối kiến thức khổng lồ ngày càng tăng lên.

-  Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) xác định một trong những định hướng phát triển kinh tế - xã hội là: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đối mới toàn diện và phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”[1], trong đó đặc biệt nhấn mạnh chủ trương “Đổi mới mạnh mẽ nội dung. chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới”[2].

-  Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI nêu rõ nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học. Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới”.

 


[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn uó’c lẩn tbứXJ, Nxb. Chính trị quốc gia … Sự thật. Hà Nội, 2011. ,130. 131-132.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn uó’c lẩn tbứXJ, Nxb. Chính trị quốc gia … Sự thật. Hà Nội, 2011. ,130. 131-132.

Xã hội hóa giáo dục là việc vận động xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, trong đó có sự đóng góp quan trong của các cá nhân, tổ chức. Tăng cường đầu tư tư nhân vào hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam là một thành phần quan trọng trong chiến lược mở rộng hệ thống giáo dục đại học nhằm tăng tỷ lệ nhập học lên gấp ba lần so với hiện tại vào năm 2020 (Nghị quyết số l4/2005/NQ-CP). Mục tiêu gia tăng tỷ lệ nhập học trong các cơ sở đào tạo đại học tư thục lên 40% trong toàn hệ thống vào năm 2020 được coi là một nền tảng quan trọng cho việc gia tăng đầu tư từ khu vực tư nhân. Một mục tiêu quan trọng khác là doanh thu từ các hoạt động khoa học kỹ thuật chiếm 25% doanh thu của tất cả các cơ số giáo dục đại học vào năm 2020 (mục tiêu này sau đó đã được điều chỉnh xuống còn 20%).

Vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX, khi bàn đến sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ ba và sự xuất hiện nền kinh tế tri thức (Learning Economy), Donal Alan Schon đã đưa ra khái niệm “The learning society” (Xã hội học tập), trong đó, ông nói nhiều đến mối quan hệ giữa giáo dục học đường và giáo dục ngoài học dưỡng (giáo dục xã hội). Một nền giáo dục hiện đại mà chỉ nói đến giáo dục học đường thì có thể nói một cách chắc chắn rằng nền giáo dục đó không hề có ý tưởng vè một xã hội học tập. Nói cách khác, nền giáo dục đó phát triển phiến diện và không thể mang lại một thay đổi lớn lao cho xã hội mà nền giáo dục đó phục vụ.

Hệ giáo dục xã hội thực chất là hệ giáo dục dành cho người lớn (Adult education) hệ thống giáo dục được tổ chức và vận hành theo dọc cuộc sống của người lớn khi họ ra khỏi hệ thống giáo dục học đường được tổ chức một cách chính quy. Từ thời điểm đó, rất ít người lớn có cơ hội quay lại giáo dục học đường, và con đường trường thành, thăng tiến, phát triển của họ giờ đây phải gắn liền với hệ thống giáo dục ngoài học đường với phương thức vừa làm vừa học, học trong sách vở, học trong sản xuất, học trong hoạt động xã hội, học suốt cuộc đời với ý thức “học mãi để tiến bộ mãi” theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành