Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

1. Thực trạng giáo dục nghề nghiệp

a) Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Tính đến ngày 31- 12-2012 trên cả nước có tổng số 1.327 cơ sở dạy nghề. Ngoài ra còn có hơn 700 cơ sở giáo dục - đào tạo (trong đó có 34 trường đại học và 111 trường cao đẳng) khác tham gia dạy nghề. Trong tổng số 1.327 cơ sở dạy nghề có 155 trường cao đẳng nghề, 305 trường trung cấp nghề và 867 trung tâm dạy nghề. (công lập 64,9% và tư thục 35,1%). Số cơ sở dạy nghề tăng gần 1,4 lần so với năm 2007, sau khi Luật dạy nghề có hiệu lực.

Năm 1999 cả nước có 245 trường, năm 2012 có 295 trường (công lập là 198, ngoài công lập là 97). Số trường trung cấp chuyên nghiệp tăng không nhiều do hằng năm một số trường trung cấp chuyên nghiệp được nâng cấp lên cao đẳng.

Mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khá lớn và phân bố ở các vùng, miền, địa phương trong cả nước. Tuy nhiên, do thuộc hai ngành quản lý nên mỗi ngành lại quy hoạch theo yêu cầu riêng của mình, dẫn tới tình trạng ở cùng một tỉnh có thể có hai loại trường trung cấp (trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề) và hai loại trường cao đẳng (cao đẳng và cao đẳng nghề) và có thể cùng đào tạo một nghề. Đây là sự lãng phí về nguồn lực của các đơn vị cung cấp dịch vụ.

b) Quy mô và cơ cấu nghề đào tạo

Quy mô tuyến sinh học nghề năm 2011 đạt hơn 1,77 triệu học sinh, sinh viên, tăng khoảng 1,3 lần so với năm 2006. Từ năm 2007 đến hết năm 2011 đã tuyến mới được gắn 1,35 triệu người học cao đẳng nghề, trung cấp nghề, và hơn 6,85 triệu người học sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên (dưới 3 tháng), nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2010 đạt 30%.

Vì nhiều lý do, tuyển sinh học nghề năm 2012 giảm xuống, đạt khoảng 1,493 triệu người, trong đó: trung cấp nghề, cao đẳng nghề khoảng 213,2 ngàn người; sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên dưới 3 tháng khoảng 1.280,2 ngàn người (trong đó khoảng 485 ngàn lao động nông thôn được đào tạo theo chính sách của Quyết định 1956).

Đối với hệ trung cấp chuyên nghiệp, năm 1998 mạng lưới các trường trung cấp chuyên nghiệp tuyển vào 84.053 học sinh, năm 2006 số lượng tuyển sinh là 334.975 học sinh, tăng 2,98 lần, tuy nhiên số lượng chỉ tăng nhanh bắt đầu từ năm 2003. Trong giai đoạn 20012010, quy mô đào tạo trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần. Hầu hết các trường trung cấp chuyên nghiệp đến tuyển sinh hai hệ: trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề. Đáng lưu ý là 97% số học sinh tuyển vào trung cấp chuyên nghiệp có trình độ văn hoá trung học phổ thông. Số học sinh trung học cơ sờ vào trung cấp chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp.

Các nghề đào tạo được mở dần theo như cầu thực tế của các doanh nghiệp, từng bước phù hợp với sự phát triển các ngành nghề trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ.

1. Thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục

Đánh giá kết quả giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong việc xác nhận thành tích học tập của người học và cung cấp thông tin phản hồi để người học tự bổ sung, hoàn thiện; đồng thời, cung cấp thông tin phản hồi cho người dạy để quản lý và cải tiến chất lượng giảng dạy. Nhiều nước trên thế giới đã có những bài học quý bàn về việc sử dụng hiệu quả kiểm tra đánh giá trên lớp để cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và học. Đó là nguồn tư liệu quỹ để chúng ta tham khảo, học tập. Gần đây, thi, kiểm tra, đánh giá đã được quan tâm nhiều hơn và được xem là khâu đột phá để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở nước ta.

Trong nhiều năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đặc biệt quan tâm đến hoạt động thi, kiểm tra, đánh giá, ban hành nhiều thông tư và văn bản hướng dẫn về kiểm tra, đánh giá trên lớp; tổ chức nhiều hội thảo và các khóa tập huấn cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan quản lý, các sở giáo dục và đào tạo; các môđun bồi dưỡng công tác đánh giá cho giáo viên đã được xây dựng và triển khai thực hiện; chương trình thạc sĩ về đo lường đánh giá cũng được triển khai trong gần 10 năm qua. 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có phòng khảo thí và quản lý chất lượng giáo dục để giúp lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, triển khai các hoạt động thi, kiểm tra, đánh giá.

Trong các văn bản hiện hành cũng đã có những quy định phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học. Tuy nhiên, các hoạt động kiểm tra, đánh giá trên lớp vẫn chưa được thực hiện đồng bộ trên cả nước; trình độ của giáo viên còn hạn chế nên chưa áp dụng linh hoạt các dạng thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với từng đối tượng người học. Kiểm tra, đánh giá trên lớp vẫn nặng về cho điểm mà chưa chủ trọng đến việc cung cấp thông tin phản hồi cho học sinh, sinh viên để học tập tốt hơn. Độ tin cậy và tính xác thực của đề thi còn khả hạn chế; chưa có các bài thì chuẩn hóa (standardized tests) cho từng môn học để giúp giáo viên đánh giá được thực lực của người học theo một chuẩn thống nhất. Nhược điểm lớn nhất của các hoạt động kiểm tra, đánh giá trên lớp là chưa có cơ chế, chính sách sử dụng thích hợp, phục vụ cho mục đích cải tiến chất lượng. Việc kết hợp giữa đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội cũng chưa được phát huy hiệu quả. Mối quan hệ giữa mục tiêu giáo dục, chương trình giáo dục, các hoạt động giảng dạy và thi, kiểm tra, đánh giá chưa thực sự gắn kết với nhau.

Trong Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011- 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29-5-2012 đã nêu rõ xây dựng khung trình độ nghề quốc gia là giải pháp trọng tâm, cũng với hai giải pháp đột phá khác là “đổi mới quản lý nhà nước về dạy nghề” và “phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề”, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tại sao xây dựng khung trình độ nghề quốc gia lại được coi là giải pháp trọng tâm trong Chiến lược phát triển dạy nghề? Để trả lời câu hỏi này, cần làm rõ khung trình độ nghề quốc gia là gì và nó có vai trò như thế nào trong đào tạo nghề. Tuy nhiên, đây là vấn đề rất mới đối với Việt Nam và trong bài viết này chỉ nêu những vấn để cốt lõi nhất về khung trình độ nghề quốc gia.

Liên quan đến khung trình độ nghề quốc gia là khung trình độ quốc gia hoặc khung trình độ giáo dục quốc gia. Khung trình độ quốc gia là một công cụ đểxây dựng và phân loại trình độ theo một bộ tiêu chỉ hoặc theo các tiêu chỉ dành cho các cấp độ học tập đã đạt được. Bộ tiêu chỉ này có thể được bao hàm trong bản mô tả trình độ hoặc được diễn giải dưới hình thức một bộ mô tả cấp độ đào tạo. Phạm vi của khung có thể bao gồm toàn bộ các thành tựu học tập đạt được và các hình thức học hoặc có thể giới hạn ở một lĩnh vực học cụ thể, ví dụ như giáo dục ban đầu, giáo dục và đào tạo cho người trưởng thành hoặc một lĩnh vực nghề nghiệp. Một số khung có thể chứa đựng nhiều yếu tố cấu thành và có kết cấu chặt chẽ hơn so với các khung khác, trong khi một số khung lại chứa đựng những cơ sở pháp lý hoặc một tập hợp các quan điểm của các đối tác xã hội.

Khung trình độ nghề quốc gia, ở đây, được hiểu là khung trình độ giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề, là “Một bộ phận của khung trình độ quốc gia để xây dựng, phân loại và công nhận các kiến thức, kỹ năng và năng lực hành nghề theo các tiêu chỉ dành cho các câu độ học tập đã đạt được trong phạm vi giáo dục nghề nghiệp và được định nghĩa bởi chuẩn đầu ra”. Khi nói về khung trình độ quốc gia thì đã bao hàm khung trình độ nghề quốc gia trong đó với tư cách một bộ phận hợp thành đã được tích hợp. Vì vậy, khi định danh khung trình độ nghề quốc gia cũng là lúc chúng ta dùng thao tác tư duy để khu biệt nó và xử lý các mối tương quan nhằm đạt những mục tiêu nghiên cứu vàlhoặc mục tiêu chính sách của giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề.

Khung trình độ quốc gia đã được sử dụng đầu tiên từ các quốc gia nói tiếng Anh đầu những năm 1990 và lan sang các quốc gia ở tất cả các khu vực trên thế giới. Tuck (2007) đã mô tả khung trình độ như một công cụ để phát triển, phân loại và công nhận các kỹ năng, kiến thức và năng lực theo những mức độ được chấp thuận liên tục. Đó là một cách cấu trúc trình độ mới và trình độ hiện tại được xác định theo chuẩn đầu ra (learning outcomes). Năm 2011, Tổ chức Đào tạo châu Âu (ETF) ước tính có trên 120 quốc gia đã xây dụng khung trình độ quốc gia. Khung trình độ quốc gia đầu tiên là ở Xcốtlen, Vương quốc Anh, Nam Phi, Niu Dilân và Ôxtrâylia. Các khung này đều dựa trên khái niệm chuẩn đầu ra như là cơ số nền tảng cho trình độ. Trong một số trường hợp, chuẩn đầu ra có nguồn gốc từ các khái niệm năng lực trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp.

Chuẩn đầu ra là sự khẳng định của những điều kỳ vọng, mong muốn một người tốt nghiệp có khả năng LÀM được nhờ kết quả của quá trình đào tạo, hoặc là sự khẳng định sinh viên tốt nghiệp làm được những gì và kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vì cần đạt được của sinh viên.

Có thể nói, khung trình độ quốc gia như hệ thống thước đo, để qua đó các trường xây dng chương trình đào tạo và tổ chức đào tạo cho phù hợp.

Các quốc gia đã thừa nhận khung trình độ quốc gia đã mang lại nhiều lợi ích cho họ. Coles (2010) đã xác định những lợi ích dưới đây trong nhận xét của mình về khung trình độ quốc gia:

  • Làm cho hệ thống trình độ quốc gia để hiểu và để xem xét hơn;
  • Tăng cường sự gắn kết của hệ thống trình độ nhờ kết nối các bộ phận khác nhau của giáo dục và đào tạo nghề và làm cho nó dễ hiểu hơn;
  • Làm rõ và tăng cường liên thông giữa các trình độ trong hệ thống;
  • Hỗ trợ học tập suốt đời bằng cách làm cho thấy rõ con đường học tập liên thông; trợ giúp truy cập, tham gia và sự phát triển;
  • Hỗ trợ việc công nhận chuẩn đầu ra trong phạm vi rộng hơn (bao gồm những chuẩn đầu ra đạt được khi tốt nghiệp trong loại hình giáo dục chính quy và phi chính quy);
  • Tăng cường kết nối và cải thiện liên hệ giữa giáo dục và đào tạo nghề với thị trường lao động;
  • Mở rộng hệ thống trình độ quốc gia cho những trình độ được công nhận bên ngoài giáo dục và đào tạo nghề chính quy;
  • Tạo ra nền tảng cho sự hợp tác và đối thoại với nhiều bên liên quan;
  • Cung cấp một điểm tham chiếu cho vấn để bảo đảm chất lượng.
  • Tạo lòng tin của người dân, người sử dụng lao động về hệ thống chứng chỉ, văn bằng quốc gia.

Trong bối cảnh ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng vào năm 2015, khung trình độ quốc gia của Việt Nam có vai trò hết sức cần thiết không chỉ trong khuôn khquốc gia mà còn trong tiến trình hội nhập khu vực.

Trong bối cảnh này có gợi ý là các quốc gia nên ưu tiên cho mục đích của khung trình độ nghề quốc gia để:

  • Tạo ra hệ thống các trình độ để hiểu hơn đối với người học nghề, chủ doanh nghiệp và các cơ sở dạy nghề;
  • Xây dựng lòng tin của công chúng đối với văn bằng thông qua việc cung cấp khung bảo đảm chất lượng của các cấp trình độ đào tạo nghề;
  • Cung cấp tiêu chuẩn đối với các loại trình độ và cấp trình độ đào tạo nghề;
  • Hỗ trợ việc công nhận kiến thức và kỹ năng nghề nhằm đạt được đủ tín chỉ của một trình độ đào tạo.

Thị trường giáo dục mở rộng thường bao gồm các cơ số đào tạo đa dạng và các tổ chức tư nhân. Việc bảo đảm chất lượng đào tạo trong một hệ thống công lập là không khả thi hoặc không hiệu quả bởi vì thị trường chuyển từ cung cấp theo khả năng đến cung cấp theo nhu cầu (đào tạo theo hướng cấu của thị trường lao động). Một thách thức lớn cho các cơ quan quản lý trình độ chuyên môn là làm thế nào để duy trì và mở rộng các phạm vi tin cậy về trình độ chuyên môn trên toàn bộ thị trường mở rộng.

Việc bảo đảm chất lượng đào tạo là cần thiết để bảo vệ quyền của những người lao động đạt được trình độ chuyên môn; xây dựng lòng tin về trình độ giữa các chủ sử dụng lao động (bao gồm chủ doanh nghiệp); và cho phép kết nôi chặt chẽ giữa trình độ chuyên môn và việc học tập để người học có thể chuyển từ chương trình học này đến chương trình học khác trong môi trường học tập suốt đời. Điều này sẽ là có căn cứ để thực hiện, khi có khung trình độ quốc gia.

Vai trò và chức năng của hệ thống khung trình độ quốc gia:

Raffe David (2009) đã phân biệt giữa ba loại của khung trình độ. Phân biệt chính của tác giả là khung có chức năng thông tin và khung có chức năng đổi mới.

- Vai trò chính của các khung thông tin là để cải tiến việc mô tả hệ thống khung trình độ hiện tại và từ đó làm sáng tỏ những lựa chọn của các đối tác, của người học hay những người làm chính sách. Khung thông tin trình bày rõ các tùy chọn có sẵn cho các bên liên quan, những người học hoặc các nhà hoạch định chính sách. Khung thông tin giúp cho việc sử dụng những thông tin có sẵn hiện tại tốt hơn.

- Khung đổi mới nhằm mục đích tăng cường hệ thống có sẵn bằng cách tăng cường sự chặt chẽ, phù hợp và chất lượng của hệ thống. Một phần của khung đổi mới này có thể được ứng dụng trong sự phát triển theo những chương trình và cách thức mới hay để làm thay đổi sự phân chia vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan.

Hầu hết những khung trình độ quốc gia tại châu Âu được thực hiện như hệ thống khung trình độ thông tin với mục đích làm cho hệ thống trình độ giáo dục, đào tạo nghề được rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn đối với các bên liên quan (học sinh, sinh viên, nhà tuyển dụng, cơ sở đào tạo và giáo viên) và nó cũng làm rõ mối liên hệ ngang dọc giữa các loại trình độ khác nhau. Tăng tính minh bạch của giáo dục, đào tạo nghề và hệ thống trình độ hay những trình độ đơn lẻ trong hệ thống về chuẩn đầu ra được xem như là điều kiện tiên quyết để giải quyết các mục tiêu trước đó.

Khung trình độ và chứng chỉ ở Anh, xứ Wales, và Bắc Ailen là ví dụ về khung trình độ được xây dựng với những tiêu chỉ rõ ràng và được thiết kế có sự ảnh hưởng đến việc thiết kế và công nhận. Khung trình độ của Pháp cũng tương tự. Ủy ban chứng chỉ quốc gia hoạt động như một “người gác cổng” và quy định không chỉ cung cấp những văn bằng tạo nên khung trình độ mà còn mô tả chúng và đưa ra những tiêu chỉ xác định chúng (xác định phạm vi và tính chất của các hệ thống phân loại tổng th quốc gia).

Khung trình độ quốc gia có thể có nhiều chức năng và mục tiêu khác nhau với mỗi hệ thống giáo dục và đào tạo nghề. Tại Ailen, khung trình độ quốc gia là khung thuộc loại đổi mới mạnh mẽ và có vai trò quy định trong hệ thống giáo dục và đào tạo nghề. Những năm gần đây cho thấy những quy tắc và chức năng của việc thống nhất giữa khung trình độ quốc gia và khung trình độ nghề quốc gia với mối quan hệ với những tiểu hệ thống giáo dục và đào tạo nghề.

Khung trình độ nghề quốc gia chỉ là một thành phần trong hệ thống trình độ quốc gia trong đó bao gồm tất cả các quy trình, quy tắc để công nhận, cấp giấy chứng nhận và bảo đảm chất lượng các cấp trình độ. Thực tế có rất nhiều loại khung trình độ quốc gia và khung trình độ nghề quốc gia nhưng các thành tố cơ bản thường bao gồm:

  • Mức độ phức tạp của việc học, một khung trình độ quốc gia có khoảng từ 6 đến 12 mức trình độ và khung trình độ nghề quốc gia trong đó thường có khoảng từ 3 đến 6 mức trình độ.
  • Có phẩn mô tả trình độ đầu vào, chuẩn đầu ra đối với tất cả các trình độ, văn bằng, hoặc cả hai;
  • Quy định hoặc hướng dẫn để liên thông các cấp trình độ, hoặc là cùng cấp (liên thông ngang) hoặc giữa các cấp trình độ khác nhau (liên thông dọc);
  • Quy định hoặc hướng dẫn về thời lượng học tập để đạt được một trình độ nhất định.

Cấu trúc của một khung trình độ quốc gia thường gồm bốn phần chính:

- Số lượng cấp trình độ (5, 6, 8 hoặc 10 levels).

- Mô tả chi tiết các thành phần của mỗi cấp trình độ bao gồm: Kiến thức; kỹ năng và ứng dụng kiến thức, kỹ năng theo những yêu cầu thực tế.

- Mối liên kết các mức độ năng lực và trình độ giáo dục, dạy nghề đòi hỏi có chế đánh giá, đo lường, kiểm tra, so sánh phù hợp với đào tạo bổ sung, đào tạo và học tập tại nơi làm việc.

- Chuẩn đầu ra của từng cấp trình độ giáo dục, trung học, dạy nghề và đại học.

Đối với Việt Nam và các nước ASEAN, việc xây dựng khung trình độ nghề quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng khi thị trường lao động ASEAN được mở rộng vào năm 2015, khi đó người lao động được tự do di chuyển trong khối và đương nhiên kỹ năng nghề của họ phải được công nhận trong thị trường lao động của từng nước và giữa các nước.

Cơ sở hình thành một khung trình độ khu vực ASEAN với các cấp trình độ là thỏa thuận khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) năm 1995. AFAS có mục đích loại bỏ đáng kể các hạn chế về thương mại, dịch vụ giữa các nước ASEAN. Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về các cấp trình độ trong các dịch vụ chuyên nghiệp chính được thực hiện nhằm cho phép trình độ của các cơ sở đào tạo nghề được công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên.

Trên cơ sở Hội nghị Bộ trưởng Lao động ASEAN lần thứ 21 vào tháng 5-2010 bao gồm các biện pháp ưu tiên nhằm cải thiện chất lượng và năng lực của nguồn nhân lực trong khu vực, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 ngày 28-10 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo ASEAN đã ra tuyên bố về phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng cho phục hồi kinh tế và tăng trưởng bền vững. Trong các tuyên bố về Nâng cao chất lượng và kỹ năng của lao động tại các nước thành viên ASEAN có nêu: “Xây dựng khung kỹ năng nghề quốc gia trong các nước thành viên ASEAN thông qua chia sẻ kinh nghiệm và những điển hình tốt như một chiến lược quan trọng nhằm tăng cường phát triển và quản lý nguồn nhân lực và giúp các nước thành viên nâng cao các trình độ tiêu chuẩn kỹ năng liên quan nhưlả một bước đi quan trọng hướng tới một bộ khung công nhận tay nghề lẫn nhau trong ASEAN”. Đồng thời, chính sách giáo dục và dạy nghề cũng được xác định: “Tăng cường đào tạo nghề và học tập trong lực lượng lao động với mục tiêu nâng cao khả năng có việc làm và tăng cường kỹ năng của lực lượng lao động”; và “Khuyến khích chia sẻ các kinh nghiệm xây dựng chính sách trong các nước thành viên ASEAN về thách thức, chính sách và biện pháp liên quan đến việc làm, thị trường lao động và phát triển kỹ năng”.

Tất cả các hoạt động mang tầm khu vực nêu trên đều phải dựa trên một nền tăng hay một trục chính đươc thỏa mãn bởi mục đích, vai trò và đặc điểm của một khung trình độ khu vực ASEAN.

Để xác định mục tiêu tổng quát của hệ thống giáo dục quốc dân, có thể lấy lại cách diễn đạt của Hiến pháp năm 1992 với sự bổ sung về chi tiết. Cụ thể là, về những phẩm chất, năng lực mong muốn hình thành và phát triển ở mỗi cá nhân học sinh, sinh viên cần nhấn mạnh đức tính trung thực, tinh thần tự chủ và năng lực sáng tạo mà sự thiếu hụt ở thanh thiếu niên (và cả ở người lớn) đang gây nhiều bức xúc khi nhìn nhận về con người với tư cách sản phẩm của hệ thống giáo dục. Như vậy, có thể xác định: “Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; nuôi dưỡng và phát triển các tố chất, năng khiếu của cá nhân; đào tạo những người lao động có nghề, trung thực, tự chủsáng tạo, có ý chỉ vươn lên, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Từ mục tiêu tổng quát của hệ thống giáo dục quốc dân, việc cụ thể hóa đối với giáo dục phổ thông, cần phải gắn với cơ cấu hệ thống cấp lớp.

Hiện nay, giáo dục phổ thông Việt Nam có ba cấp: tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, hy vọng việc cấu trúc lại hệ thống giáo dục sẽ là một nội dung được xem xét, trong đó đối với giáo dục phổ thông, có ý kiến cho rằng nên gắn kết giáo dục tiểu học và trung học cơ số thành một chính thể gọi là giáo dục cơ sở. Đồng thời, thực hiện miễn phí đối với giáo dục cơ sở và ban hành những quy định pháp lý có tỉnh cưỡng bách để bảo đảm cho mọi thiếu niên trong lứa tuổi 6-16 đều được đến trường và sau khi học xong giáo dục cơ số thì mỗi thanh thiếu niên đầu có một nền tảng học vấn phổ thông được xem là tối thiểu cần thiết cho mọi công dân Việt Nam ở giữa thế kỷ XXI[1].

Vì việc liên kết tiểu học và trung học cơ sở để tạo ra một chỉnh thể là giáo dục cơ sở cho nên nhất thiết phải tái cấu trúc cấp học, bậc học sau trung học cơ sở. Yêu cầu quan trọng nhất của cấp học, bậc học sau trung học cơ sở là tạo ra các loại nhà trường có chức năng thực hiện một cách hiệu quả yêu cầu hướng nghiệp, phân luồng, Theo định hướng đó, các loại trường sau giáo dục cơ sở có thể gồm: (1) trường trung học phổ thông (bình thưởng) phân ban/tự chọn, (2) trường trung học phổ thông chuyên (nên gọi là trung học chuyên khoa), (3) trường trung học kỹ thuật, công nghệ, (4) trường trung học năng khiếu âm nhạc, tạo hình, thể dục thể thao… Nhiệm vụ của các trường như sau: Trường trung học phổ thông thực hiện phân ban, giúp học sinh chuẩn bị học lên các trường cao đẳng, đại học công nghệ; Trường trung học chuyên khoa (trường chuyên hiện nay) đào tạo học sinh có triển vọng về nghiên cứu học thuật ở các bộ môn toán, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn để học tiếp ở các trường đại học nghiên cứu. Như vậy, chức năng của các trường trung học phổ thông và trung học chuyên ban là dự bị đại học, tạo ra sự khớp nối với hệ thống giáo dục đại học sau khi đã phân tầng theo Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP; Trường trung học kỹ thuật, công nghệ thực hiện mục tiêu khi tốt nghiệp học sinh biết làm một nghề. Loại trường này phải mở rộng quy mô để thực hiện phân luồng sau giáo dục cơ số đồng thời tăng tính thực nghiệp của hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế; Trường trung học năng khiếu âm nhạc, tạo hình, thể dục thể thao… thu nhận các học sinh sớm thể hiện các tố chất về âm nhạc, tạo hình, thể dục thể thao… Mỗi loại trường trung học cần có mục tiêu đào tạo riêng phù hợp với sứ mạng và đối tượng của mình. Riêng đối với hai trường trung học phổ thông và trung học chuyên khoa đầu thuộc phân bộ giáo dục phổ thông nên có thể xác định những nhiệm vụ và mục tiêu chung.

Đối với giáo dục cơ sở. nhiệm vụ và mục trên giáo dục là: Giúp học sinh hình thành và phát triển toàn diện vế nhân cách; có các giá trị nhân văn phổ quát và ý thức công dân phù hợp với lứa tuổi, và các giá trị này trở thành động lực hành động trong cuộc sống; có một hộ thống kiến thức phổ thông cơ bản tương đối hoàn chnh ở trình độ học vấn tôi thiểu cần thiết đối với mọi công dân; có một hệ thống kỹ năng hành động then chốt trong sinh hoạt, học tập và lao động; được phát triển các tố cht, năng khiếu riêng. Với phẩm chất và năng lực như vậy, mỗi học sinh kết thúc giai đoạn giáo dục cơ sở là một con người trung thực, tự chủ, sáng tạo, một thành viên xã hội biết trọng danh dự, phẩm giá của mình và của người khác, một công dân có trách nhiệm, tự giác thực hiện bổn phận đối với đất nước và dân tộc.

Đối với các trường trung học phổ thông (bao gồm trung học chuyên khoa và trung học phổ thông bình thường), nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục là: Giúp học sinh duy trí, cũng cố các kết quả đạt được ở giáo dục cơ sở, nuôi dưỡng và phát triển các tố chất, năng khiếu tiếng; có các giá trị nhân văn và ý thức công dân phù hợp với tư cách một thành viên xã hội ở lứa tuổi trưởng thành; có một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản được định hướng theo lĩnh vực nghề nghiệp mà học sinh tự chọn; có một hệ thống kỹ năng hành động then chốt để học ở bậc đại học và để sống và làm việc trong xã hội thông tin với tư cách một người lao động có tri thức.

Bên cạnh mục tiêu chung của trung học phổ thông nêu ở trên, mỗi nhánh sẽ có nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể riêng. Đối với trung học phổ thông, tập trung chuẩn bị cho học sinh có đủ khả năng theo đuổi việc học tập ở các trường cao đẳng và đại học công nghệ bằng cách nâng các kết quả đạt được ở giáo dục cơ sở về năng lực ngôn ngữ để tiếp nhận thông tin và trình bày ý tưởng, về năng lực tư duy và năng lực tự học, về phương pháp và kỹ năng nghiên cứu căn bản, đơn giản để tìm hiểu thế giới xung quanh về lượng và chất, phát triển kỹ năng sử dụng máy tính để tìm kiếm, trao đổi và lưu trữ thông tin. Đối với trung học chuyên khoa, tập trung chuẩn bị cho học sinh học tiếp ở một trường đại học đào tạo nghiên cứu viên, giáo viên thuộc các lĩnh vực: toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, trong đó đặc biệt chủ ý bồi dưỡng học sinh phát triển các phương pháp và kỹ năng nghiên cứu bộ môn, sử dụng thành thạo các công cụ tin học để tìm kiếm, trao đổi và lưu trữ thông tin về bộ môn theo sở thích và năng khiếu, trên cơ sở đó hình thành kỹ năng xây dựng báo cáo khoa học, viết các tiểu luận tổng hợp kết quả học tập và tìm hiểu khoa học thuộc môn học.

Đổi mới tư duy về sứ mạng và mục tiêu giáo dục là khởi đu, quan trọng hơn là hành động

Mục tiêu là cái đích cần đạt tới để hoàn thành nhiệm vụ, nhưng cái khó là làm thế nào để biết đã cán đích hay chưa, nhất là khi kết quả của giáo dục không chỉ là những gì các nhà giáo dục đánh giá trong và cuối quá trình giáo dục.

Càng khó hơn khi “Có rất ít các mối quan hệ vững chắc giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra của giáo dục... Giáo dục về cơ bản vẫn là một cái hộp đen trong đó các yếu tố đầu vào được chuyển thành các yếu tố đầu ra theo những cách thức khó đoán định hoặc lượng định một cách nhất quán[2]. Đây là kết quả nghiên cứu do tổ chức Economist Intelligence Unit tiến hành trên cơ sở phân tích một khối lượng dữ liệu đồ sộ của 50 quốc gia, kết hợp với hồi cứu tư liệu và lấy ý kiến tham vấn của các chuyên gia giáo dục hàng đầu thế giới.

May thay, tiếp ngay sau nhận định không mấy lạc quan này, có một gợi ý về giải pháp: “Các chuyên gia chỉ ra rằng chỉ đơn thuần đổ thêm nguồn lực vào hệ thống là không đủ: các quá trình sử dụng nguồn lực đó quan trọng hơn nhiều"[3]. Quá trình sử dụng nguồn lực ở đây không gì khác là tổ chức thực hiện sứ mạng và mục tiêu giáo dục. Giữa những gì đã nói, đã viết so với những gì đã thực hiện về sứ mạng và mục tiêu giáo dục cũng tồn tại khoảng cách không nhỏ. Chính vì vậy mà cần thiết có một “phiên bản mới” (theo thể thức của một cuộc cải cách) để đổi mới căn bn, toàn diện nền giáo dục.

 


[1] GS. Hoàng Tụy và cộng sự: “Kiến nghị của Hội thảo về chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục”; GS. Vũ Quang Việt và cộng sự: “Đề án cải cách giáo dục Việt Nam”; bà Nguyễn Thị Bình và cộng sự: “Báo cáo Đề tài nghiên cứu khoa học B1-2 THKHXH và Thủ bàn về định hướng phát triển giáo dục phổ thông 10-15 năm bởi", Nxb. Giáo dục, 2010.

[2] The Economist Intelligence Unit. 2012. The learnins curve. Lessons in country performance in education, dẫn theo TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến.

[3]The Economist Intelligence Unit. 2012. The learnins curve. Lessons in country performance in education, dẫn theo TSKH. Phạm Đỗ Nhật Tiến.

a) Tầm nhìn 2020

Năm 1991, Thủ tướng Malaixia công bố “Con đường phía trước: Tầm nhìn 2020”. Là một nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới trong hai thập kỷ liên tục, Malaixia đặt cho mình tầm nhìn: “Hy vọng rằng người Malaixia sinh ra ngày hôm nay và một số năm tiếp theo sẽ là thế hệ công dân cuối cùng sống trong một nước gọi là “đang phát triển”. Mục tiêu tối thượng mà chúng ta hướng tới là một nước Malaixia phát triển đầy đủ vào năm 2020”.

Một nước phát triển đầy đủ được hiểu là một nước phát triển trên mọi chiều đo: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Như vậy, đến năm 2020, Malaixia không phải chỉ là một nước đứng trong hàng ngũ các nước phát triển về kinh tế, mà còn là một nước có sự thống nhất quốc gia, đoàn kết dân tộc, công bằng xã hội, ổn định chính trị, với chất lượng cuộc sống cao, các giá trị văn hóa - tinh thần phong phú.

Để thực hiện mục tiêu trên, Malaixia có bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Yêu cầu nhảy vọt được thực hiện bằng việc chuyển sang mô hình tăng trưởng trên cơ sở phát triển kinh tế tri thức. Con đường truyền thống, vốn thành công trong hai thập kỷ trước, dựa vào tăng vốn đầu tư và nguồn nhân công rẻ, được từ bỏ. Thay vào đó là con đường mới dựa vào tri thức, năng suất lao động, giáo dục, vốn con người.

Trong điều kiện cụ thể của mình, Malaixia đã hiện thực hóa con đường mới bằng bước đi riêng, sáng tạo và đột phá. Đó là tập trung vào công nghệ thông tin và truyền thông với mục tiêu biến Malaixia thành một đầu mối của khu vực và quốc tế về công nghệ và viễn thông. Một đặc khu mang tên Siêu hành lang đa phương tiện MSC đã được thiết kế và đang được triển khai xây dựng.

MSC là một công viên công nghiệp, nơi tập trung các công ty trong và ngoài nước để sản sinh, phân phối, sử dụng công nghệ thông tin cùng các sản phẩm và dịch vụ đa phương tiện. MSC cũng đồng thời là một cực công nghệ, nơi tiến hành các nghiên cứu sáng tạo và phát triển các công nghệ mới như Thung lũng Silicon của Mỹ. Đây là một chương trình táo bạo và đầy tham vọng mà thành công của nó sẽ giúp Malaixia có bước nhảy vọt trên cơ sở tăng năng suất tổng hợp, vươn lên dẫn đầu trong kỷ nguyên công nghệ thông tin và trở thành nước phát triển vào năm 2020.

b) Cải cách trường học phổ thông: xây dựng nhà trường thông thái

Chương trình MSC gồm bảy thành phần triển khai chủ chốt: chính phủ điện tử, y học từ xa, thương mại điện tử, nghiên cứu phát triển R&D, kinh doanh điện tử, tạo nghiệp công nghệ, nhà trường thông thái.

Đó là sự cụ thể hóa bốn cột đỡ kinh tế tri thức: thể chế kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, hạ tầng thông tin. Trong đó, cột đỡ giáo dục được xây dựng và phát triển thông qua việc triển khai nhà trường thông thái với bốn mục tiêu cơ bản trong học tập: nâng cao năng lực tư duy với sự áp dụng của công nghệ thông tin, chiếm lĩnh toán và khoa học, phát triển năng lực cá nhân, đóng góp vào sự phát triển của tri thức.

Nhà trường thông thái là nhà trường chuẩn bị cho người học thành công trong nền kinh tế tri thức. Tư tưởng sư phạm của nhà trường không phải chỉ ở chỗ lấy người học làm trung tâm mà còn hướng người học chiếm lĩnh các kỹ năng cơ bản theo ba định hướng phát triển: tự tiếp cận (chủ động tiếp cận các nguồn thông tin), tự tiến bước (học vượt chương trình, học nhảy lớp), tự định hướng (khai thác các chủ đề theo sở thích cá nhân, không bị ràng buộc vào một chương trình cứng nhắc).

Nhà trường thông thái đòi hỏi chương trình giáo dục thông thái và giáo viên thông thái. Chương trình giáo dục thông thái là chương trình được thiết kế mềm dẻo nhằm đáp ứng các yêu Ṇ chuẩn cơ bản về đạo đức và kiến thức, chương trình giáo dục đặc biệt tập trung vào việc nâng cao các kỹ năng mới theo yêu cầu của thế kỷ XXI: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề và ra quyết định, sản sinh ý tưởng, thông thạo ngoại ngữ, làm việc trên mạng, thành thục công nghệ thông tin.

Giáo viên thông thái là giáo viên sử dụng thành thạo các chung trình phần mềm khác nhau, các tài liệu đa phương tiện để biến mỗi môn học, mỗi giờ học thành một hành trình khám phá. Muốn vậy, ngoài việc nắm vững công nghệ thông tin, giáo viên phải được đào tạo, bồi dưỡng để có các kỹ năng tư duy trình độ cao (higher - order thinking skills). Vì thế, các trường sự phạm Malaixia đều hướng tới một mô hình đào tạo mới, trong đó việc dạy các kỹ năng tư duy được coi là ưu tiên quốc gia.

Việc triển khai nhà trường thông thái ở Malaixia được thực hiện theo bốn giai đoạn: 1) Giai đoạn thí điểm (1999 - 2002); 2) Giai đoạn sau thí điểm (2002 - 2005); 3) Giai đoạn mở rộng toàn hệ thống (2005 - 2010); 4) Giai đoạn củng cố và phát triển bền vững.

Trong giai đoạn đầu, 87 trường thí điểm đóng vai trò hạt nhân để kiểm chứng các quan điểm, thiết bị, kỹ năng và công nghệ, tạo thành giải pháp tổng thể trong phát triển nhà trường thông thái. Nhà trường, lớp học được trang bị máy tính nối mạng internet phục vụ cho dạy, học, tra cứu, quản lý. Tuy nhiên, do sự hạn hẹp của ngân sách nhà nước nên các trường chưa thuộc diện thí điểm được khuyến khích phối hợp với cộng đồng địa phương, cha mẹ học sinh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để chủ động đưa công nghệ thông tin vào dạy và học, chủ động biến nhà trường thành thông thái. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2010, tất cả các trường phổ thông ở Malaixia sẽ là trường thông thái.

Đến nay, mục tiêu trên đã đạt được và Malaixia đang ở giai đoạn cuối là củng cố và phát triển bền vững hệ thống trường thông thái. Nhiều giải pháp đang được triển khai như cải tiến công tác quản lý nhà trường, tạo điều kiện cho sự phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên, bảo đảm mỗi gia đình học sinh đều có máy tính nối mạng internet, bảo đảm nguồn lực tài chính cho các nhà trường, v,v…

e) Tái cơ cấu giáo dục đại học

Mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2020 trên cơ sở công nghệ thông tin và truyền thông đặt Malaixia trước yêu cầu cải cách giáo dục để có nguồn nhân lực tri thức lành nghề. Cùng với việc chuyển trường phổ thông trong cả nước thành trường học thông thái là nhiệm vụ tái cơ cấu giáo dục đại học để đến năm 2020, Malaixia phổ cập giáo dục đại học với tỷ lệ nhập học đạt 40% vào năm 2010, đồng thời trở thành trung tâm khu vực về sự ưu tú trong giáo dục đại học.

Trước hết, giáo dục đại học Malaixia đặt ra các mục tiêu sau: hoàn thiện chất lượng và tính phù hợp của các chương trình giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu nhân lực của đất nước; mở rộng quy mô các ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ để tăng cường nguồn nhân lực khoa học - kỹ thuật, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông và dịch vụ. Bên cạnh các mục tiêu liên quan đến vốn con người nêu trên là các mục tiêu liên quan đến vốn xã hội. Với một đất nước đa dân tộc, đa văn hóa, giáo dục đại học Malaixia còn có mục tiêu xây dựng và củng cố các giá trị đạo đức và xã hội để tạo sự gắn kết xã hội, coi đó là tiền đề của tăng trưởng kinh tế.

Định hướng phát triển giáo dục đại học Malaixia tập trung vào ba ưu tiên: quy mô, thực năng và chất lượng. Về quy mô, để đạt kế hoạch đề ra, các cơ sở giáo dục đại học được yêu cầu cách tân trong cung ứng giáo dục, mềm dẻo về chương trình và đa dạng về tổ chức. Giáo dục mở, giáo dục từ xa, giáo dục suốt đời được khuyến khích phát triển trên cơ sở bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình giáo dục. Về thực năng, các cơ sở giáo dục đại học có nhiệm vụ xây dựng chiến lược đáp ứng yêu cầu nhân lực trình độ cao về công nghệ thông tin và truyền thông, về khoa học và công nghệ (với mục tiêu 60% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học các ngành khoa học và công nghệ). Muốn vậy, các trường đại học phải gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, mở rộng đào tạo sau đại học, đẩy mạnh nghiên cứu triển khai theo hướng tích hợp khách hàng và đối tác trong suốt quá trình nghiên cứu, triển khai, sản xuất và tiếp thị sao cho công nghệ mới được đưa ngay vào thị trường mới. Về chất lượng, yêu cầu đặt ra là xây dựng và hoàn thiện quá trình bảo đảm chất lượng, giám sát, kiểm định và đánh giá chất lượng trên cơ sở các chuẩn chất lượng ở trình độ quốc tế trong dạy, học, nghiên cứu và quản lý. Mỗi trường đại học cũng được khuyến khích phát triển các ngành mũi nhọn đẳng cấp quốc tế tùy theo lợi thế và tiềm năng của từng trường.

Việc tái cơ cấu giáo dục đại học theo các mục tiêu và định hướng nêu trên được thực hiện thông qua quá trình tái xác lập mối quan hệ giữa nhà nước, nhà trường và thị trường. Quá trình này mang ba đặc trưng chủ yếu: tư nhân hóa giáo dục đại học, tập đoàn hóa các trường đại học công và mở rộng vai trò của nhà nước.

Malaixia là một trong những nước đi đầu khu vực trong việc tư nhân hóa giáo dục. Do yêu cầu mở rộng quy mô giáo dục, Chính phủ Malaixia chính thức quy định khu vực tư nhân là nguồn cung ứng giáo dục bổ sung bên cạnh nhà nước. Năm 1996, Luật về các cơ sở giáo dục đại học tư thục được ban hành. Số cơ sở giáo dục đại học tư thục đã tăng lên khoảng 500 cơ sở vào năm 2002. Tỷ lệ sinh viên các cơ sở giáo dục đại học tư thục chiếm 22% tổng số sinh viên vào năm 2000, tăng lên 53% vào năm 2002. Điều đó đã góp phần giúp Malaixia sớm có được một nền giáo dục đại học đại chúng với tỷ lệ nhập học đại học đạt 23% năm 1998 - 1999, tăng lên 27% năm 2000 - 2001, 29% năm 2002 - 2003, 40% năm 2010 - 2011.

Cùng với quá trình tư nhân hóa giáo dục đại học là việc tập đoàn hóa các trường đại học công. Cũng có thể coi đây là một xu thế toàn cầu vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX nhằm áp dụng cách quản lý doanh nghiệp vào trong trường đại học. Cáctrường đại học được khuyến khích tiến hành các hoạt động thị trường nhằm tăng thêm nguồn thu để nâng cao thu nhập của cán bộ, giảng viên, góp phần hiện đại hóa nhà trường. Dạy theo giáo trình nào, đầu tư vào nghiên cứu lĩnh vực nào, chính sách tuyển sinh ra sao, các trường được quyền chủ động quyết định trên cơ sở phân tích thị trường lao động và việc làm.

Việc đẩy mạnh các quá trình trên không có nghĩa là Nhà nước Malaixia giảm bớt vai trò của mình trong giáo dục. Năm 2002, chi nhà nước cho giáo dục chiếm 8,1% GDP, cao nhất trong các nước đang phát triển, kể cả so với các nước phát triển trong khối OECD. Trong cơ cấu chi, đặc biệt quan tâm đến hạ tầng cơ sở: chi đầu tư xây dựng là 40% ở giáo dục phổ thông, 47% ở giáo dục đại học. Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục. Tuy nhiên, trong quản lý, Nhà nước đã chuyển vai trò từ kiểm soát sang giám sát. Các trường đại học được giao quyền tự chủ trong tuyển sinh, thực hiện chương trình đào tạo, tuyển dụng và trả lương giảng viên, huy động và quản lý các nguồn thu. Nhà nước tập trung vào giám sát các trường đại học trong công tác bảo đảm chất lượng và trách nhiệm giải trình, trong đó các vấn đề được quan tâm hàng đầu là công bằng xã hội, quyền lợi người học và bản sắc dân tộc.

d) Quốc tế hóa giáo dục

Có thể nói, nhìn ở góc độ của một nước đang phát triển thì cải cách giáo dục ở Malaixia có những bước đi độc đáo, mang tính đột phá nhằm góp phần thực hiện thành công tầm nhìn 2020. Trong đó, phải kể đến định hướng quốc tế hóa giáo dục nhằm chuyển đất nước từ chỗ nhập khẩu giáo dục thành nơi xuất khẩu giáo dục.

Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chỉ có 7,2% sinh viên Malaixia trong độ tuổi theo học các trường đại học trong nước.

Hàng vạn sinh viên du học nước ngoài, với chi phí khoảng 800 triệu USD một năm. Chính cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 đã buộc các sinh viên này quay về tìm con đường học vấn trong nước. Cùng với chủ trương đẩy mạnh tư nhân hóa giáo dục, sự kiện trên đã góp phần thúc đẩy tiến trình quốc tế hóa giáo dục ở Malaixia theo hướng đưa đất nước trở thành một nước xuất khẩu giáo dục.

Malaixia đã thành công khi thu hút một số trường đại họC CÓ tiếng nước ngoài, như Đại học Nottingham, Đại học Swinburne, vào lập trường hoặc mở chi nhánh, hoặc liên kết đào tạo với các trường đại học trong nước. Các trường hoặc chi nhánh này tuân theo các quy định pháp lý như trường đại học tư trong nước. Các chương trình giáo dục nước ngoài cũng phải được kiểm định. Với chất lượng giáo dục bảo đảm, Cơ sở hạ tầng tốt, học phí rẻ, chi phí sinh hoạt thấp, Malaixia đang ngày càng có sức cạnh tranh trong khu vực để thu hút ngày càng nhiều sinh viên nước ngoài đến học tập. Theo Global Education Digest, trong 15 nước dẫn đầu thế giới trong việc thu hút sinh viên nước ngoài thì Malaixia là nước đang phát triển duy nhất có mặt trong bảng xếp hạng, ở vị trí 14, với số sinh viên đến học ở Malaixia chiếm 1% tổng số sinh viên du học trên thế giới. Vì vậy, Malaixia đặt mục tiêu đến năm 2020 trở thành nước xuất khẩu giáo dục lớn thứ sáu trên thế giới với tổng số học sinh, sinh viên nước ngoài lên tới 200.000 người.

đ) Kế hoạch phát triển giáo dục Malaixia 2013 - 2025 (từ bậc mầm non đến đại học)

Malaixia cho rằng, để có thể đạt được mục tiêu về một nước phát triển đầy đủ trong bối cảnh thế giới toàn cầu cạnh tranh dữ dội, cần tiếp tục có sự đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục, với một tầm nhìn hoàn toàn mới, sao cho học sinh, sinh viên có được những kỹ năng cần thiết của thế kỷ XXI.

Vì thế, tháng 10-2011, Bộ Giáo dục Malaixia tiến hành đánh giá toàn diện hiện trạng giáo dục trong tương quan so sánh với giáo dục tiên tiến thế giới cùng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để đến tháng 12-2012, ban hành Kế hoạch phát triển giáo dục 2013 - 2025. Kế hoạch này đặt tầm nhìn về một hệ thống giáo dục thành đạt trên năm chiều đo: 1) Quy mô (đến năm 2020 đạt tỷ lệ nhập học 100% từ mẫu giáo đến trung học bậc cao); 2) Chất lượng (thuộc top thứ 31 của thế giới trong các đánh giá quốc tế TIMSS và PISA trong 15 năm nữa); 3) Công bằng (đến năm 2020 giảm một nửa khoảng cách phát triển giáo dục giữa các vùng miền, các điều kiện kinh tế - xã hội của người học và giới); 4) Thống nhất (tạo điều kiện để mọi học sinh sinh viên trao đổi giá trị và kinh nghiệm, cùng sự khác biệt, tạo nền tảng cho sự thống nhất); 5) Hiệu quả (tối đa hóa kết quả đầu ra của người học với nguồn tài chính cao hiện có).

Cùng với tầm nhìn trên về hệ thống giáo dục là tầm nhìn mới về người học với các yêu cầu mới trên sáu phương diện: tri thức, kỹ năng tư duy, kỹ năng lãnh đạo, năng lực song ngữ, đạo đức và tâm linh, bản sắc dân tộc.

Để thực hiện tầm nhìn về hệ thống và người học nêu trên, Malaixia quy định 11 bước chuyển cần được thực hiện: 1) Chuyển sang tiếp cận bình đẳng về giáo dục có chất lượng theo chuẩn quốc tế; 2) Chuyển sang giáo dục ngôn ngữ, trong đó từng học sinh thông thạo tiếng Malaixia và tiếng Anh, đồng thời được khuyến khích học thêm ngôn ngữ nữa; 3) Chuyển sang hệ thống giáo dục hướng tới những công dân Malaixia phát triển trên nền tảng giá trị; 4) Chuyển việc dạy học thành một nghề chọn lọc; 5) Bảo đảm có những người lãnh đạo giỏi trong từng trường; 6) Phân cấp cho các cơ quan quản lý giáo dục địa phương và trao quyền tự chủ cho các nhà trường để có giải pháp phù hợp trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển; 7) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để mở rộng việc học có chất lượng khắp đất nước; 8) Nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của Bộ Giáo dục và các cơ quan quản lý giáo dục địa phương; 9) Mở rộng quan hệ đối tác với phụ huynh, cộng đồng và khu vực tư; 10) Tối đa hóa kết quả học tập đầu ra với từng đồng tiền bỏ ra; 11) Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình với công chúng về việc thực hiện Kế hoạch.

Malaixia coi đây là một kế hoạch đầy tham vọng và sẽ triển khai theo một lộ trình gồm ba đợt sóng: Đợt 1 (2013 - 2015): Triển khai Kế hoạch với việc đẩy mạnh hỗ trợ nhà giáo và tập trung vào các kỹ năng/năng lực cốt lõi; 2) Đợt 2 (2016 - 2020): Đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ thống trên cơ sở các kết quả đã đạt được; 3) Đợt 3 (2021 - 2025): Chuyển sang hệ thống phát triển bền vững có khả năng đổi mới và hướng tới sự ưu tú.

Tuy nhiên, kế hoạch là một chuyện, việc thực hiện và kết quả có như mong muốn không lại là chuyện khác. Malaixia nhận thức rằng trong 55 hệ thống giáo dục tham gia PISA 2000, chỉ có 12 hệ thống đã cải cách thành công theo thời gian, còn lại thì vẫn dậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi. Vì thế, Bộ Giáo dục Malaixia đã và đang nghiên cứu rất kỹ các kinh nghiệm cùng bằng chứng trong nước và quốc tế trong tổ chức thực hiện để thực sự đem lại kết quả như mong muốn và bền vững.

Nước Nga vốn có một nền giáo dục nổi tiếng thế giới từ thời Liên Xô. Vào năm 1957, Liên Xô phóng thành công Sputnik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất; nước Mỹ giật mình, tự kiểm điểm và nhận định rằng một nguyên nhân chính là giáo dục Liên Xô đã vượt giáo dục Mỹ.

Ba mươi tư năm sau, Liên Xô tan rã. Nước Nga ra đời với định hướng xây dựng kinh tế thị trường và xã hội dân chủ. Giáo dục Nga đứng trước yêu cầu cải cách nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế - xã hội đang chuyển đổi, đồng thời phải củng cố, phát huy được những ưu thế của giáo dục Xô Viết trước đây trong việc tạo ra vốn con người cần thiết cho đất nước.

Cải cách giáo dục ở bất kỳ đâu và lúc nào cũng là một quá trình khó khăn, phức tạp và nhọc nhằn. Điều này càng đúng đối với nước Nga do quy mô to lớn của hệ thống giáo dục quốc dân và do khó mà lay chuyển nổi những quan niệm hằn sâu về một nền giáo dục Xô viết vốn rất thành công. Cũng cần tính đến một khó khăn đặc thù về mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế Nga. Về giáo dục, Nga chẳng thua kém bất kỳ nước phát triển nào, nhưng về kinh tế, nếu tính theo GDP bình quân đầu người thì Nga chỉ vào loại nước đang phát triển. Vấn đề đặt ra là liệu giáo dục sẽ phát huy lợi thế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay ngược lại sự yếu kém của kinh tế sẽ kéo lùi giáo dục? Thực tế triển khai cải cách giáo dục Nga từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay cho thấy cả hai kịch bản đã xảy ra.

a) Cải cách giáo dục trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội

Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cải cách giáo dục Nga dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: Một là, giáo dục phải đóng vai trò hàng đầu trong phát triển con người, là điều kiện quyết định sự phát triển xã hội và là động lực cho mọi cải cách thuộc mọi giai đoạn của đời sống; Hai là, hệ tư tưởng, nội dung và phương pháp giáo dục phải được xem xét lại để góp phần xây dựng xã hội mới.

Vì thế, các định hướng chủ yếu của cải cách giáo dục Nga là: loại bỏ cách tiếp cận độc đoán trong giáo dục; xác định lý tưởng giáo dục mới cùng với việc chuyển sang phương thức quản lý mềm dẻo, biên soạn sách giáo khoa mới, đào tạo lại đội ngũ giáo viên, thiết kế các phương pháp giáo dục hiệu quả; tạo dựng các điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết cho việc chuyển sang lý tưởng giáo dục mới.

Các báo cáo chính thức của Bộ Giáo dục Liên bang Nga cho rằng, thành công cơ bản của cải cách giáo dục trong những năm 90 của thế kỷ XX là đã xây dựng được hành lang pháp lý cho cải cách. Luật giáo dục được ban hành năm 1992 và Luật liên bang về giáo dục đại học và sau đại học được ban hành năm 1996. Đó là các đạo luật cơ bản quy định mục tiêu và định hướng cải cách giáo dục, tạo nền tảng cho việc xây dựng chính sách giáo dục Nga.

Tuy nhiên, nước Nga trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX là nước Nga của sự mất ổn định chính trị và khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, như chính các nhà quản lý giáo dục Nga đã thừa nhận, ý tưởng cải cách giáo dục rốt cuộc chỉ là một mớ các khẩu hiệu suông chẳng có liên hệ gì với thực tế giáo dục đang sa sút. Kinh phí cho hoạt động bình thường của giáo dục còn chưa đủ, nói gì đến kinh phí cho thực hiện cải cách. Nhà giáo, lực lượng chính để triển khai cải cách thì mất lòng tin ở các nhà cải cách tại Mátxcơva. Đáng quan tâm hơn cả là các thành tựu của giáo dục Xô viết bị sứt mẻ và sự thống nhất của không gian giáo dục Nga bị đe dọa.

b) Quyết sách quốc gia về giáo dục đến năm 2025

Một trong những quan tâm hàng đầu của Tổng thống Nga Putin khi mới nhậm chức năm 2000 là khôi phục vị thế của nước Nga trong cộng đồng quốc tế với tư cách là nhà nước hùng mạnh nhất trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa, khoa học, công nghệ cao và kinh tế. Cải cách giáo dục phải là lĩnh vực ưu tiên quốc gia để giáo dục góp phần tạo dựng cơ sở cho sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và văn hóa của nước Nga.

Với định hướng đó, năm 2000, Đuma Nga phê chuẩn Quyết sách quốc gia về giáo dục đến năm 2025, làm cơ sở cho việc hoàn thiện thể chế giáo dục và xây dựng các chính sách giáo dục trên nguyên tắc đẩy mạnh phát triển giáo dục góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, nâng cao tính hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quyền học tập suốt đời và đời sống tốt đẹp cho từng gia đình, từng công dân. Quyết sách quốc gia về giáo dục quy định các mục tiêu của giáo dục, trách nhiệm của nhà nước và dự kiến các kết quả phải đạt được là: giáo dục mẫu giáo miễn phí, giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí, giáo dục trung học công lập miễn phí, giáo dục sơ cấp nghề công lập miễn phí, giáo dục trung cấp nghề công lập miễn phí, giáo dục đại học miễn phí đối với học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tốt nghiệp sơ cấp/trung cấp nghề, giáo dục sau đại học miễn phí đối với những người trúng tuyển. Quyết sách cũng khẳng định vai trò quyết định của giáo viên trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục; quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện để nâng cao đời sống, uy tín và vị thế xã hội của giáo viên và nhân viên giáo dục. Kinh phí đầu tư cho giáo dục phải được nâng lên, đạt 7% GDP trong giai đoạn 2000 - 2003, 8% GDP trong giai đoạn 2004 - 2010 và 10% GDP trong giai đoạn 2011 - 2025.

Ngành giáo dục nhìn nhận Quyết sách này như là một biện pháp của giáo dục Nga, tìm thấy lại hy vọng để khôi phục và nâng cao hình ảnh của giáo dục, cùng với khoa học, như là những nhân tố chính trong sự phát triển của xã hội Nga hiện đại.

c) Quan điểm hiện đại hóa giáo dục đến năm 2010

Để triển khai Quyết sách trên, đầu năm 2002, Bộ Giáo dục Liên bang Nga ra Quyết định về quan điểm hiện đại hóa giáo dục đến năm 2010. Hiện đại hóa giáo dục tức là bảo đảm chất lượng hiện đại của giáo dục trên cơ sở giữ vững tính cơ bản đặc trưng của giáo dục Nga và sự phù hợp của nó với những nhu cầu hiện nay và sau này của cá nhân, xã hội và đất nước. Đó là mục tiêu chính trị và xã hội của Nhà nước và nhân dân Nga để “hệ thống giáo dục bảo đảm vị trí của nước Nga trong các cường quốc hàng đầu thế giới, củng cố uy tín quốc tế của một đất nước vốn có các chuẩn mực cao về văn hóa, khoa học và giáo dục. Uy tín này phải được khẳng định không phải chỉ bằng sự công nhận của công chúng mà còn bằng hoạt động xuất khẩu tích cực các dịch vụ giáo dục”.

Muốn vậy cần có cách tiếp cận mới đối với giáo dục. Giáo dục không thể chỉ quan niệm đơn thuần là lĩnh vực xã hội. Nó là sự đầu tư vào tương lai của đất nước với sự tham gia của nhà nước và xã hội, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, nghĩa là tất cả những ai có liên quan đến giáo dục có chất lượng. Nó không chỉ có nhiệm vụ chuẩn bị những con người sống trong xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền mà còn đào tạo ra những con người góp phần xây dựng xã hội đó, nhà nước đó. Nó không thể là hệ thống khép kín và tự mãn mà phải vận động cùng với các xu hướng phát triển chung của thế giới, trong đó có việcchuyển sang xã hội hậu công nghiệp, việc nảy sinh các bài toán toàn cầu, sự dân chủ hóa xã hội, vai trò gia tăng của vốn con người, v.v…

Vấn đề mấu chốt của hiện đại hóa giáo dục là tạo ra các cơ chế cho sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục, khả năng đáp ứng thành công của nó trước các thách thức của thế kỷ XXI, trước các yêu cầu kinh tế - xã hội của sự phát triển đất nước và trước nhu cầu của nhân dân, nhà nước và xã hội. Muốn vậy các ưu tiên về chính sách là: thực sự bảo đảm trách nhiệm của Nhà nước để mọi người được bình đẳng về cơ hội tiếp nhận giáo dục có chất lượng, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp (bao gồm dạy nghề, trung cấp, đại học và sau đại học); đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm phát triển giáo dục ở trình độ các nước tiên tiến trong điều kiện GDP bình quân đầu người còn thấp; nâng cao vị thế của giáo viên, cải tiến chế độ tiền lương và cải thiện đời sống nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo và đào tạo lại nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo các yêu cầu mới về chuẩn; đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục theo nguyên tắc phân công, phân cấp quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp quản lý, tăng cường sự tham gia của xã hội trong quá trình ra quyết định, đánh giá giáo dục theo hệ thống chỉ tiêu tương thích với các chuẩn thế giới.

d) Giáo dục vì xã hội canh tân trong thế kỷ XXI

Công cuộc hiện đại hóa giáo dục Nga đã được triển khai theo kế hoạch và đạt được những kết quả quan trọng. Nhà nước đã khẳng định trách nhiệm đối với giáo dục, khởi xướng và phát huy những đổi thay tích cực trong giáo dục, huy độngsự tham gia có hiệu quả của công chúng vào tiến trình cải cách giáo dục. Ngân sách nhà nước cho giáo dục tăng liên tục, năm sau hơn năm trước khoảng 55% và đến năm 2002 đã vượt ngân sách cho quốc phòng.

Hệ thống giáo dục Nga về cơ bản đã chuyển từ một hệ thống tập trung về quản lý và cứng nhắc về nội dung, chương trình sang một hệ thống phân cấp mạnh mẽ về quản lý và linh hoạt, mềm dẻo về nội dung, chương trình. Việc phân công, phân cấp trong quản lý giáo dục giữa các bộ, ngành, giữa chính quyền liên bang với chính quyền vùng, chính quyền tỉnh đã được thể chế hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cấp đối với từng lĩnh vực cụ thể của giáo dục. Quyền tự chủ của nhà trường được tăng cường. Các chuẩn quốc gia về giáo dục được ban hành bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc điều hành giáo dục. Sự tham gia của xã hội dân sự và doanh nghiệp vào quản lý và phát triển giáo dục được đẩy mạnh. Các chương trình giáo dục đều đa dạng, mềm dẻo về kết cấu; cập nhật về nội dung, tăng cường về ngoại ngữ, tin học, các nội dung xã hội và kinh tế; chú trọng định hướng cá nhân và mở rộng khả năng tự do lựa chọn của người học; phân hóa ở các lớp học cao trong giáo dục phổ thông; gắn bó hơn với thị trường lao động trong giáo dục nghề nghiệp. Việc biên soạn sách giáo khoa và giáo trình được tự do hóa, tạo cục diện cạnh tranh để nâng cao chất lượng. Mạng lưới trường học ở nông thôn được tái cơ cấu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở nông thôn. Các phức hợp đào tạo - nghiên cứu - sản xuất được hình thành nhằm gắn đào tạo với sử dụng, tạo điều kiện học liên tục, phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính và con người. Cùng với hệ thống giám sát thống nhất của Nhà nước về chất lượng giáo dục, việc tổ chức thi tốt nghiệp phổ thông thống nhất trên cơ sở tự nguyện của các địa phương và nhà trường đã góp phần tạo nên bức tranh đánh giá khách quan, minh bạch và tin cậy về chất lượng giáo dục.

Dù còn nhiều vấn đề đang được đặt ra cho tiến trình hiện đại hóa giáo dục, nhưng có thể nói, giáo dục Nga đã đóng góp tích cực cho việc khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nga trong những năm gần đây. Giáo dục Nga hiện được đánh giá là một trong những nguồn lực ít ỏi còn lại để giữ vị trí hàng đầu của Nga trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giáo dục Nga cũng đang tiến bước vững chắc vào quá trình hội nhập. Việc xây dựng không gian giáo dục chung trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG được giữ vững và tăng cường. Công tác thu hút và đào tạo sinh viên nước ngoài được đẩy mạnh. Hệ thống chỉ tiêu giáo dục phù hợp với các yêu cầu quốc tế được đưa vào sử dụng. Năm 2003, Nga chính thức ký tham gia toàn diện vào tiến trình Bologna nhằm hội nhập sâu vào giáo dục đại học châu Âu, đồng thời phát huy ảnh hưởng và uy tín của giáo dục đại học Nga.

Tháng 7-2006, tại cuộc họp thượng đỉnh các nước G8 tổ chức tại Xanh Petecbua, Nga đã ký vào Tuyên bố chung “Giáo dục vì các xã hội canh tân trong thế kỷ XXI”, trong đó các nước G8 khẳng định “sẽ thúc đẩy xã hội canh tân toàn cầu thông qua việc phát triển và tích hợp cả ba yếu tố của tam giác tri thức (giáo dục - nghiên cứu - canh tân), đầu tư đầy đủ vào con người, kỹ năng và nghiên cứu, hỗ trợ hiện đại hóa các hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của kinh tế tri thức toàn cầu”.

Theo Tuyên bố chung này, việc cải cách giáo dục Nga theo hướng hiện đại hóa sẽ được tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh để xâydựng hệ thống giáo dục quốc dân chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, công bằng, thực hiện thành công việc cung ứng giáo dục có chất lượng cho mọi người, phát triển giáo dục suốt đời, tăng cường sự gắn kết xã hội, tối đa hóa vốn con người và vốn xã hội cần thiết cho một xã hội Nga canh tân. Với định hướng như vậy, năm 2010, Chương trình Liên bang về phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2015 yêu cầu xây dựng các chuẩn mới của giáo dục, tập trung vào việc phát triển bản sắc Nga, củng cố các giá trị công dân như công bằng, tự do, hòa bình dân tộc, truyền thống gia đình, an toàn cá nhân và an sinh xã hội. Thông qua đó, khuôn mặt thực của cải cách giáo dục Nga mới hiển hiện và theo Tsyclina - Spady nhiều chuyên gia cho rằng, cải cách chỉ thực sự bắt đầu từ năm 2009 - 2010 với những nhân tố mới sau đây: quản lý chất lượng độc lập; cấp tài chính cho nhà trường theo đầu người học; hình thành thang bảng lương mới cho giáo viên; tối ưu hóa nhà trường trong bối cảnh khủng hoảng dân số; xây dựng các chuẩn mới, trắc nghiệm mới cho học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và tân sinh viên; áp dụng các chuẩn giáo dục mới cùng với việc ban hành một đạo luật mới về giáo dục vào năm 2012.

Đánh giá các kết quả cải cách giáo dục, Starodubtceva và Krivko cho rằng, các ưu tiên giáo dục đã được thực hiện, bao gồm: quyền được hưởng giáo dục của mọi người trong suốt cuộc đời; thực thi giáo dục miễn phí, bảo đảm chất lượng giáo dục; phát triển hệ thống đào tạo mới; mở rộng các cơ hội lựa chọn cho người học; phát triển hệ thống hỗ trợ người học, bao gồm các bữa ăn trưa, học bổng, tín dụng; thực thi quyền tự do học thuật và bảo vệ xã hội đối với người dạy; hỗ trợ học sinh khuyết tật, trẻ em thiệt thòi cũng như tạo điều kiện phát triển tài năng của các học sinh giỏi, có năng khiếu. Cùng với đó làviệc hình thành một hệ thống giáo dục mới đáp ứng các đòi hỏi và nhu cầu giáo dục của công dân Nga.

Tuy nhiên, cũng theo các tác giả trên, các khảo sát xã hội của Trung tâm phân tích Urey Levada cho thấy 72% dân Nga không hài lòng với hệ thống giáo dục hiện nay, 38% cho rằng chất lượng giáo dục đã giảm sút trong năm vừa qua, 39% nói họ không được hưởng một nền giáo dục tốt.

Về phía nhà nước, các nhà hoạch định chính sách công nhận sự yếu kém và sụt giảm chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục và coi đó là một biểu hiện tiêu cực trong phát triển con người. Vì thế, mục tiêu chính đang được đặt ra trong chính sách nhà nước về giáo dục là việc thực thi một chất lượng mới của giáo dục Nga phù hợp với những đòi hỏi của đời sống hiện đại và xu thế thế giới.

Cải cách giáo dục không mệt mỏi

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, kinh tế Thái Lan có bước tăng trưởng theo hướng quốc tế hóa. Yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cùng định hướng phát huy ảnh hưởng trong khu vực đặt giáo dục Thái Lan trước nhiệm vụ cải cách. Mục tiêu của cuộc cải cách này là chuẩn bị những công dân tương lai đủ năng lực đáp ứng các thách thức của toàn cầu hóa và quốc tế hóa. Các nội dung và giải pháp chủ yếu được trình bày trong báo cáo “Giáo dục Thái Lan trong kỷ nguyên toàn cầu hóa: tầm nhìn của một xã hội học tập”. Toàn bộ các hoạt động cải cách giáo dục từ cải cách việc học ở trường phổ thông, cải cách giáo dục đại học, đến cải cách cơ chế tài chính, cải cách hệ thống quản lý đều hướng tới việc xây dựng một xã hội học tập.

Đó là một chương trình đồ sộ đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp tổng thể, tức là nỗ lực đóng góp và hợp tác không mệt mỏi của tất cả các bên có liên quan: gia đình, nhà giáo và nhà trường, các chức sắc cộng đồng và tôn giáo địa phương, các doanh nhân, các phương tiện truyền thông, v.v.. Và trước hết là vai trò của chính phủ với tư cách là cơ quan đầu não phát động và thúc đẩy tiến trình cải cách.

Báo cáo cải cách được đưa ra năm 1996 thì năm 1997, Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ. Kinh tế sa sút nghiêm trọng và cải cách giáo dục chưa kịp triển khai. Tuy nhiên, nhìn theo một góc độ khác, chính cuộc khủng hoảng này đã buộc Thái Lan đánh giá nghiêm khắc các yếu kém của hệ thống giáo dục cùng việc chuẩn bị nguồn lực con người cho đất nước, trong đó đáng quan tâm là sự tụt hậu của giáo dục so với kinh tế và tình trạng bất cập của nguồn nhân lực tri thức. Một số nhà bình luận cho rằng, chính khủng hoảng đã tạo cơ hội cho giáo dục. Vì thế, trong chiến lược khôi phục kinh tế, cải cách giáo dục được coi là một nhu cầu bức thiết và có vai trò sống còn đối với sự phát triển lâu dài của đất nước. Từ đó đến nay, Thái Lan bước vào cuộc cải cách giáo dục mới với một tinh thần được đánh giá là không mệt mỏi.

a) Luật giáo dục quốc gia năm 1999

Trong lịch sử giáo dục Thái Lan, cuộc cải cách giáo dục hiện nay được coi là toàn diện nhất và có tầm nhất. Toàn diện nhất vì nó bao gồm phát triển giáo dục mầm non; cải cách chương trình dạy và học ở giáo dục Cơ sở; phát triển giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; cải cách giáo dục nghề; cải cách giáo dục không chính quy và phi chính quy; cải cách giáo dục đại học. Có tầm nhất vì nó hướng tới xây dựng thế hệ mới với phẩm chất, năng lực và tính cạnh tranh ở chuẩn quốc tế, nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm trong việc đưa đất nước trở thành nền kinh tế dựa trên tri thức.

Cơ sở pháp lý của cuộc cải cách này là Luật giáo dục quốc gia năm 1999. Văn bản này thể chế hóa sự đổi mới tư duy giáo dục của Thái Lan theo hướng đoạn tuyệt với các chuẩn giáo dục truyền thống dựa trên kiểu truyền thụ một chiều và cách học vẹt. Giáo dục phải có nhiệm vụ kiến thiết quốc gia, tăng sức mạnh cá nhân và tạo thêm công ăn việc làm. Muốn vậy, mục tiêu cơ bản của giáo dục là bảo đảm sự phát triển đầy đủ của người dân trên mọi phương diện: sức khỏe vật chất và tinh thần, trí tuệ, kiến thức, đạo đức tính trung thực và lối sống phù hợp với xã hội, hài hòa với mọi người. Việc cung ứng giáo dục phải dựa trên các nguyên tắc: giáo dục suốt đời cho mọi người, toàn xã hội tham gia vào cung ứng giáo dục; không ngừng phát triển các quy trình học tập cùng những khối tri thức. Giáo dục bắt buộc 9 năm trước đây được mở rộng thành giáo dục phổ cập 12 năm, có chất lượng và miễn phí. Các cơ sở giáo dục được phép cung ứng một hoặc cả ba loại hình giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy trên cơ sở bảo đảm sự liên thông giữa các loại hình này và chịu sự kiểm định về chất lượng giáo dục 5 năm một lần. Công tác quản lý phải được phân cấp mạnh mẽ theo nguyên tắc thống nhất về chính sách và đa dạng trong việc tổ chức thực hiện. Vì vậy, nhà trường và nhà giáo có quyền chủ động nhiều hơn trong việc cụ thể hóa chương trình giáo dục, huy động và sử dụng nguồn lực, miễn là đúng mục đích, minh bạch và tuân thủ trách nhiệm giải trình.

b) Cải cách học tập

Tâm điểm trong cải cách giáo dục ở Thái Lan là cải cách việc học với quan điểm lấy người học là trung tâm. Nghĩa là bất kỳ người học nào cũng có khả năng học và thành công trong học tập. Vì vậy, quá trình dạy học phải giúp người học phát triển theo tiến độ riêng, phù hợp với tiềm năng của họ, người học phải được tham gia vào quá trình tự phát triển để đạt được kết quả mong muốn, để nâng cao lòng tự tin và tìm thấy niềm vui học tập. Về phía nhà giáo, họ cũng phải tự phát triển, đi đầu trong việc học tập suốt đời, không ngừng hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, đạo đức và chuẩn nghề nghiệp để theo kịp bước tiến của xã hội. Hiệu trưởng nhà trường, các cán bộ quản lý giáo dục, các cán bộ giảng dạy trường sư phạm cũng phải có sự phát triển tương ứng trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Và cuối cùng để có cơ sở đánh giá khách quan kết quả của cải cách học tập, cần xây dựng các chuẩn học vấn trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục và sự đóng góp ý kiến rộng rãi của các bên có liên quan.

Như vậy, cải cách học tập phải là cải cách toàn trường (whole - school reform) theo phương thức quản lý lấy nhà trường làm cơ sở (school - based management). Các trường tham gia thí điểm được khuyến khích lựa chọn, quyết định, thay thế, điều chỉnh và chịu trách nhiệm về các giải pháp thực hiện trên cơ sở tuân theo các chỉ dẫn quốc gia. Việc đánh giá được thực hiện bằng sự phối hợp giữa bảo đảm chất lượng từ bên trong với kiểm định chất lượng từ bên ngoài.

Từ kết quả triển khai thí điểm, các chuyên gia giáo dục Thái Lan khẳng định tính khả thi của chương trình cải cách học tập toàn trường, đồng thời đưa ra nhiều khuyến nghị cho việc triển khai đại trà. Đáng quan tâm là khuyến nghị về cách tiếp cận toàn thể: ở cấp hệ thống là tính toàn thể trong chính sách, kế hoạch và tổ chức thực hiện; ở cấp trường là tính toàn thể đối với nhà trường, nhà giáo, người học. Mọi nỗ lực cải cách đều bắt đầu từ nhà trường; vì vậy nhà trường phải có quyền tự do và linh hoạt trong cải cách học tập thông qua tự quản, tự đề xuất cách thức và mô hình thực hiện một cách sáng tạo, phù hợp với khả năng và bối cảnh cụ thể. Cơ quan quản lý giáo dục các cấp cần từ bỏ thói quen cầm tay chỉ việc đối với nhà trường.

c) Cải cách giáo dục nghề

Cũng như tình trạng chung ở nhiều nước đang phát triển, giáo dục nghề ở Thái Lan hướng tới cung hơn là hướng tới cầu và còn rất nhiều khiếm khuyết, nổi bật là tình trạng yếu kém về chất lượng. Đội ngũ giáo viên nhìn chung không có kinh nghiệm của thực tế công nghiệp, thiếu động lực trong giảng dạy. Nhà trường cũng thiếu gắn bó với nhà máy. Công tác nghiên cứu triển khai trong giáo dục nghề không được quan tâm. Và trên ret là sự không nhất quán trong chính sách giáo dục nghề, với 9 bộ cùng có trách nhiệm về phát triển nguồn nhân lực nhưngkhông có một chương trình tổng thể nào. Điều này được giải thích một phần là do tình trạng thường xuyên thay đổi chính phủ ở Thái Lan.

Trước yêu cầu nâng cao năng suất của nguồn nhân lực để chuyển từ lao động giá rẻ sang lao động với giá trị gia tăng cao, Luật giáo dục quốc gia năm 1999 quy định giáo dục nghề là lĩnh vực ưu tiên. Các tổ chức tư nhân được khuyến khích tham gia quá trình xây dựng chính sách, quy định chuẩn, bảo đảm chất lượng và đào tạo nghề. Nhận thức xã hội về giáo dục nghề được định hướng lại để thấy rõ giá trị của việc làm, từ bỏ thói quen quá coi trọng văn bằng.

Để chuẩn bị cho cải cách giáo dục nghề, Luật giáo dục nghề Thái Lan đã được xây dựng và ban hành năm 2008. Yêu cầu Cơ bản về tầm nhìn là tạo chuyển biến cơ bản về giáo dục nghề trên cơ sở bảo đảm: chất lượng, chuẩn và hiệu quả; bình đẳng về cơ hội, học suốt đời, đa dạng và kết nối, hiện đại và quốc tế; đào tạo theo năng lực, chú trọng kỹ năng thành thục, đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Muốn vậy, giáo dục nghề sẽ phát triển theo định hướng: cung cấp cơ hội cho bất kỳ ai có nhu cầu được đào tạo nghề, học sinh phải được làm quen với giáo dục nghề ngay từ giáo dục cơ sở giáo dục nghề phải liên thông với các trình độ đào tạo cao hơn; người lao động được quyền quay trở lại nhà trường để nâng cao trình độ khi có nhu cầu.

d) Cải cách giáo dục đại học

Ở cấp hệ thống, cải cách giáo dục đại học Thái Lan có mục tiêu là đưa giáo dục đại học thành một cơ chế hiệu quả trong việc tăng sức mạnh đất nước để trở thành một xã hội dựa trên tri thức. Ở cấp trường, mục tiêu là tạo điều kiện để các trường đại học trở thành nguồn cung cấp sinh viên tốt nghiệp có chất lượng và là nguồn lực khoa học trong việc nâng cao tri thức của cộng đồng, tăng cường kinh tế cơ sở của cộng đồng, đem lại cho cộng đồng sức mạnh tự lập và khả năng phát triển chất lượng cuộc sống.

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định có liên quan của Luật giáo dục quốc gia năm 1999, cải cách giáo dục đại học ở Thái Lan được triển khai theo sau chiến lược cơ bản như sau:

Chiến lược thứ nhất là cải cách cơ cấu và hệ thống quản lý hành chính của giáo dục đại học. Mục đích là đem lại sự mềm dẻo và quyền tự do học thuật trong quản lý và hoạt động của các trường đại học, sao cho các trường thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao, phù hợp với chính sách và định hướng phát triển quốc gia, phù hợp với sự tiến bộ của cộng đồng và kinh tế CƠ sở, dưới sự giám sát của nhà nước về chính sách, kế hoạch, chất lượng và tiêu chuẩn mong muốn.

Chiến lược thứ hai là cải cách tài chính giáo dục đại học. Mục đích là sử dụng việc phân bổ ngân sách như một cơ chế giám sát các trường đại học sao cho các trường hoạt động có hiệu quả và đạt được các tiêu chuẩn quy định. Hệ thống phân bổ ngân sách sẽ được điều chỉnh từ cấp tài chính theo đầu vào sang cấp tài chính theo đầu ra, dựa trên kết quả thực hiện. Các trường có trách nhiệm ký hợp đồng thực hiện phù hợp với điều kiện và tiêu chí đề ra, có sự giám sát của nhà nước qua hậu kiểm.

Chiến lược thứ ba là đẩy mạnh cung cấp nhân lực và mở rộng quy mô giáo dục đại học. Mục đích là nâng cao nguồn nhân lực, trước hết trong các lĩnh vực còn thiếu, nhất là lĩnh vực khoa học và công nghệ; đồng thời tạo bình đẳng cho mọi người trong tiếp cận giáo dục đại học, đặc biệt là những đối tượng thiệt thòi; cũng như cung cấp cơ hội để mọi người được học tập suốt đời.

Chiến lược thứ tư là cải cách dạy, học và nghiên cứu khoa học. Mục đích là làm cho giáo dục đại học trở thành một cơ chế đào tạo nhân lực đạt chuẩn và chất lượng quốc tế, có năng lực sáng tạo tri thức để tăng cường khả năng của đất nước trong cạnh tranh quốc tế và phát triển sức mạnh tự lập. Cải cách về chương trình giáo dục phải được thực hiện để sinh viên có được các kỹ năng tư duy phê phán, khả năng giải quyết vấn đề, tinh thần sáng tạo và ham muốn học suốt đời, năng lực tạo nhiệm vụ mới, tự thích nghi với thế giới công việc, tự lập và đem lại các lợi ích xã hội.

Chiến lược thứ năm là cải cách hệ thống phát triển đội ngũ cán bộ và giảng viên giáo dục đại học. Mục đích là phát triển liên tục đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên hiện có, tiếp tục nâng cao giá trị đạo đức và tinh thần cùng đạo đức nghề nghiệp để họ hoàn thành chức trách và nhiệm vụ có chất lượng, gắn bó với hệ thống và thích ứng với những thay đổi khác nhau. Phát triển có chất lượng giáo dục sau đại học, đồng thời tạo cơ chế thu hút những người có chuyên môn, chính trực, năng lực và nhiệt huyết tham gia đội ngũ giảng dạy.

Chiến lược thứ sáu là sự tham gia của khu vực tư nhân vào quản lý và điều hành giáo dục đại học. Mục đích là khuyến khích, hỗ trợ, vận động giới doanh nghiệp, cộng đồng và địa phương đầu tư vào giáo dục đại học, đặc biệt trong những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội. Chính sách của nhà nước sẽ được rà soát lại, các quy định phiền hà sẽ được chỉnh sửa để bảo đảm quyền tự do trong quản lý và điều hành của khu vực tư nhân đi đôi với sự giám sát và theo dõi thực hiện để đạt chuẩn và chất lượng quy định.

đ) Đề án giáo dục quốc gia 15 năm (2002 - 2016)

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 được coi là hồi còi thức tỉnh Thái Lan. Toàn ngành giáo dục bước vào cải cách vô cách tiếp cận toàn thể: toàn hệ thống, toàn nhà trường, toàn nhàgiáo, toàn người học. Tuy nhiên, giáo dục Thái Lan vẫn đứng trước những vấn đề bức xúc nghiêm trọng: chất lượng giáo dục thấp, chính sách giáo dục không nhất quán, quản lý giáo dục yếu kém, cơ sở giáo dục cứng nhắc, sự tham gia của cộng đồng và xã hội hầu như không có gì, v.v... Nguyên nhân cốt lõi nằm ngay trong xã hội Thái Lan mà nhiều giá trị truyền thống đã bị mai một bởi làn sóng toàn cầu hóa.

Vì thế, Đề án giáo dục quốc gia 15 năm (2002 - 2016) đã đề xuất một sự thay đổi về triết lý phát triển. Nếu trước kia triết lý phát triển đặt trọng tâm vào tăng trưởng kinh tế, ít chú trọng đến tiến bộ xã hội thì bước vào thế kỷ XXI, triết lý phát triển là coi trọng mọi vốn - kinh tế, xã hội, tự nhiên và con người - cùng việc giữ gìn bản sắc văn hóa Thái Lan trong một trật tự kinh tế mới. Triết lý này được cụ thể hóa thành các quan điểm phát triển giáo dục sau đây: 1) Hướng tới nền kinh tế khá giả; 2) Lấy con người làm trung tâm; 3) Tiếp cận nhất quán và tổng thể: 4) Bảo đảm sự phát triển đầy đủ của con người; 5) Xây dựng xã hội hùng mạnh và cân bằng.

Ba mục tiêu cụ thể được đề ra là: 1) Phát triển con người cần đối và toàn diện làm cơ sở cho phát triển trong các lĩnh vực khác; 2) Xây dựng xã hội Thái Lan thành xã hội của học tập, thông tuệ và đạo đức; 3) Phát triển môi trường xã hội làm cơ sở cho phát triển con người. Việc thực hiện các mục tiêu này được dẫn dắt bởi 11 chính sách với kết quả đầu ra và hoạt động cụ thể liên quan đến người học, người dạy, nhà trường, các phương thức giáo dục, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, công tác nghiên cứu khoa học, cơ chế tài chính, áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông, vv...

Đến nay, Đề án trên đã được thực hiện 13 năm với nhiều bước tiến quan trọng như triển khai Chương trình giáo dục phổ thông cốt lõi 2008, thực hiện từ năm 2009, giáo dục miễn phí cóchất lượng 15 năm (gồm 3 năm mẫu giáo và 12 năm phổ thông), xây dựng năm bước kỹ năng hướng đến học tập suốt đời, tiến hành cải cách nhà giáo và nhân viên giáo dục (2004 - 2013), cải tổ bộ máy quản lý, thành lập Cơ quan Đánh giá chất lượng và chuẩn giáo dục quốc gia, bước vào thập kỷ thứ hai về cải cách giáo dục (2009 - 2018) với tầm nhìn: Mọi người dân Thái Lan được tiếp cận học tập suốt đời với chất lượng cao.

Tuy vậy, do bất ổn xã hội, giáo dục Thái Lan rơi vào tình trạng tiến được một bước thì lại lùi hai bước. Hiện tại, giáo dục Thái bị coi là đang ở trạng thái khủng hoảng trong các lĩnh vực chất lượng, quản lý, đào tạo giáo viên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học mà minh chứng là kết quả thấp của học sinh Thái Lan trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế cùng tình trạng thất nghiệp của sinh viên ra trường.

Năm 1978, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, tập trung vào bốn hiện đại hóa trong công nghiệp, nông nghiệp, khoa học - công nghệ và quốc phòng. Vào thời gian đó, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục chưa phải là hiện đại hóa mà là khôi phục tổ chức và hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân vốn bị sa sút nghiêm trọng sau 10 năm cách mạng văn hóa.

Đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cải cách kinh tế tỏ ra thành công với bước chuyển sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10%/năm, đời sống nhân dân được cải thiện. Giáo dục đứng trước yêu cầu phải cải cách để đáp ứng các yêu cầu về con người và nhân lực của nền kinh tế - xã hội đang chuyển đổi.

a) Cải cách cơ cấu giáo dục

Xác định “giáo dục là một trong những trọng điểm chiến lược của phát triển kinh tế”, năm 1985, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra Nghị quyết về cải cách cơ cấu giáo dục, hướng trọng tâm của mục tiêu giáo dục vào đào tạo người lao động phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội thay vì phục vụ chính quyền vô sản như trước đây.

Cuộc cải cách cơ cấu giáo dục tập trung vào hai lĩnh vực chủ yếu là giáo dục cơ sở và giáo dục nghề. Nhiệm vụ đặt ra là phát triển giáo dục cơ sở trên nguyên tắc thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm; đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp trên nguyên tắc phân luồng trong giáo dục trung học phổ thông. Giải pháp cơ bản là chuyển từ quản lý tập trung sang phân cấp quản lý và chuyển quan niệm về giáo dục đơn nhất ở trung học phổ thông sang giáo dục đa dạng, gắn dạy nghề với thị trường lao động.

Năm 1986, Luật giáo dục bắt buộc 9 năm được ban hành. Việc tổ chức thực hiện Luật này đã khôi phục và nâng cao tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đang có nguy cơ giảm sút trong những năm trước đó ở Trung Quốc. Nếu năm 1985, tỷ lệ này là 69% thì trong các năm 1990, 1995, 2000 lần lượt là 75%, 90% và 95%. Thành công này gắn liền với hiệu quả của công tác phân cấp quản lý, trong đó quy định rõ trách nhiệm toàn diện của chính quyền địa phương các cấp đối với việc phát triển giáo dục theo từng cấp học.

Ở cấp trung học phổ thông, các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường trung học nghề, trường công nhân kỹ thuật được khôi phục và phát triển sau những năm đóng cửa trong cách mạng văn hóa. Việc phân luồng được thực hiện rất tốt: tỷ lệ học sinh vào các trường này so với tổng số học sinh học tiếp sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở là 18% năm 1980, 46% năm 1990 và 57% năm 1995. Thành công này gắn liền với việc khẳng định vai trò kế sách trăm năm chấn hưng đất nước của giáo dục, lấy giáo dục làm đòn bẩy để chuyển gánh nặng dân cư sang lợi thế về nguồn nhân lực.

b) Quan điểm “ba hướng” và kế hoạch “hai cơ bản, hai chủ chốt”

Cải cách giáo dục ở Trung Quốc về cơ bản là sự phát triển quan điểm “ba hướng” của Đặng Tiểu Bình: giáo dục cần hướng về hiện đại hóa, hướng ra thế giới, hướng tới tương lai. Như vậy, cải cách giáo dục phải bảo đảm gắn phát triển giáo dục với việc thực hiện mục tiêu chung là xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc; phải thích ứng với nhu cầu của cải cách, mở cửa và xu thế phát triển của khoa học - kỹ thuật và giáo dục của các nước trên thế giới; phải bồi dưỡng và đào tạo một thế hệ nhân lực mới đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai.

Với quan điểm chỉ đạo đó, năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành Đề cương cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc, trong đó quy định các mục tiêu chiến lược, các quan điểm chỉ đạo và giải pháp cơ bản phát triển giáo dục trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Việc tổ chức thực hiện được triển khai theo một kế hoạch tổng thể, trong đó nội dung cốt lõi là: “thực hiện hai cơ bản; thiết lập hai chủ chốt; đẩy mạnh phát triển giáo dục nghề và giáo dục người lớn; củng cố và hoàn thiện giáo dục đạo đức; bảo đảm các điều kiện cơ bản”.

Hai cơ bản là cơ bản phổ cập giáo dục bắt buộc 9 năm và cơ bản xóa mù chữ vào cuối thế kỷ XX. Đó là ưu tiên trong các ưu tiên phát triển giáo dục nhằm nâng cao chất lượng toàn dân tộc, thực hiện tiến bộ xã hội toàn diện gắn với xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.

Hai chủ chốt là phát triển giáo dục đại học và thực hiện Đề án 211 nhằm xây dựng 100 trường đại học chủ chốt và các ngành học chủ chốt hướng tới thế kỷ XXI. Đó là cải cách giáo dục đại học với trọng tâm là nâng cao chất lượng, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới quản lý và phát huy hiệu quả.

Đề cương cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc là điểm mốc khởi đầu cho tiến trình cải cách giáo dục Trung Quốc một cách toàn diện và cơ bản nhằm hình thành một hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa thích ứng với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mang màu sắc Trung Quốc và hướng tới các yêu cầu của thế kỷ XXI. Cuộc cải cách này bao gồm các cải cách cụ thể ở từng cấp học mầm non, phổ thông, giáo dục nghề, giáo dục đại học, giáo dục người lớn), ở từng lĩnh vực (thể chế giáo dục, quản lý giáo dục, cung ứng giáo dục, chương trình giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, thi cử, tài chính, học phí và học bổng, nhà trường, phù hợp với từng khu vực (nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, thành phố, vùng duyên hải miền đông, doanh nghiệp).

c) Chuyển từ giáo dục để thi sang giáo dục có chất lượng

Sau một số năm đầu tiên triển khai Đề cương cải cách và phát triển giáo dục, những năm cuối thế kỷ XX được đánh giálà giai đoạn phát triển mạnh mẽ của giáo dục Trung Quốc. Công tác xóa mù chữ ở người lớn tuổi và giáo dục bắt buộc 9 năm được thực hiện theo đúng kế hoạch. Giáo dục nghề nghiệp phát triển với quy mô học sinh nhập học tương đương quy mô nhập học ở trung học phổ thông. Tỷ lệ nhập học đại học tăng rất nhanh, từ 5% năm 1993, lên 9% năm 1997 và 11% năm 19991.

Giáo dục cho người lớn tuổi được mở rộng tạo điều kiện cho người lao động vừa học vừa làm, nâng cao trình độ.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là cải cách giáo dục chưa đáp ứng được các yêu cầu của hiện đại hóa. Vấn đề chính là chất lượng giáo dục chưa có sự chuyển biến phù hợp với yêu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động. Khiếm khuyết cơ bản là dạy và học hướng tới thi cử, lệ thuộc sách giáo khoa, hạn chế tính sáng tạo và năng lực cá nhân. Trong khi đó, yêu cầu chuyển công cuộc hiện đại hóa sang giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế tri thức, đặt giáo dục vào một nhiệm vụ chiến lược quan trọng. Đó là nhiệm vụ chấn hưng đất nước bằng khoa học và giáo dục.

Năm 1999, Chính phủ Trung Quốc ban hành Quyết định về đẩy mạnh cải cách giáo dục và tăng cường giáo dục có chất lượng, chuyển giáo dục sang một giai đoạn phát triển mới. Đó là giai đoạn mà trọng tâm phát triển là việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Tư duy mới về cải cách giáo dục là hệ thống giáo dục phải bảo đảm cho mỗi người có cơ hội như nhau để hoàn thành hy vọng và ước mong về giáo dục của mình. Do đó, giáo dục phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu và năng lực cánhân. Yêu cầu này được đặt ra trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, từ giáo dục nhà trường đến giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Các quan điểm chỉ đạo là: ưu tiên phát triển giáo dục trong quan hệ gắn bó giữa phát triển giáo dục, kinh tế và xã hội; đấy mạnh cải cách hệ thống giáo dục, chương trình giáo dục, nội dung và phương pháp dạy và học, đánh giá và thi cử, đào tạo giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng nhân tài phù hợp với yêu cầu của tương lai, bám sát định hướng và giải pháp của Đề cương cải cách và phát triển giáo dục để xây dựng hệ thống giáo dục mới phù hợp với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy mô, tốc độ, chất lượng và hiệu quả với trọng tâm là nâng cao chất lượng và hiệu quả; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của giáo dục.

Đánh giá kết quả cải cách giáo dục theo định hướng nêu trên, Bộ Giáo dục Trung Quốc khẳng định: “Sự phát triển của giáo dục Trung Quốc trong kế hoạch 5 năm lần thứ mười cho thấy chiến lược ưu tiên giáo dục đã được hiện thực hóa hơn nữa, thành tựu phát triển giáo dục là rực rỡ và cải cách gặt hái nhiều thành công. Sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đã thực hiện mục tiêu đưa Trung Quốc từ một nước chỉ có dân số hùng hậu thành một nước có nguồn nhân lực dồi dào và giá trị. Vào năm 2004, số năm học trung bình của những người trên 15 tuổi đã đạt 8,3 năm. Hơn 70 triệu người đã có trình độ giáo dục bằng hoặc cao hơn trình độ trung học và đại học. Trình độ giáo dục chung của lực lượng lao động đã nâng từ trình độ tiểu học lên trung học Cơ sở”.

Tuy nhiên, giáo dục Trung Quốc vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Với sự thay đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng tỷ lệ dân cư ở độ tuổi 15 - 64, giáo dục sẽ chịu sức ép lớn về nhu cầu học tập ở trung học, đại học. Sự thay đổi về cơ cấu việc làm và đời sống trong quá trình hiện đại hóa sẽ đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục. Yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế đòi hỏi giáo dục phải có cách tiếp cận mới trong đào tạo nhân lực và nhân tài. Tình trạng phát triển không đồng đều về kinh tế giữa các vùng, miền của đất nước cũng đặt giáo dục trước những thách thức gay gắt về công bằng xã hội. Việc xây dựng xã hội học tập và chủ trương học tập suốt đời đang vấp phải tình trạng kém liên thông trong hệ thống giáo dục. Bên cạnh đó, nhiều yếu kém và bất cập của giáo dục không dễ khắc phục một sớm một chiều như tâm lý chuộng bằng cấp, thói quen học vẹt, xu hướng dạy để thi, việc coi nhẹ giáo dục không chính quy và phi chính quy, sự khan hiếm về nguồn lực, tình trạng thu phí tùy tiện, sự chồng chéo và kém hiệu lực trong quản lý.

Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục cụ thể hóa Đề án cải cách và phát triển giáo dục, nhiều khuyến nghị mới về cải cách đã được đưa ra như: xây dựng ngân hàng tín chỉ để người học có thể học tập suốt đời không chỉ bằng giáo dục chính quy mà bằng cả giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy; làm rõ trách nhiệm của nhà nước đối với giáo dục công lập và công bằng xã hội trong giáo dục, minh bạch hóa về tài chính và chất lượng của các cơ sở giáo dục…

d) Cải cách giáo dục và cải cách các đơn vị dịch vụ công

Cải cách giáo dục ở Trung Quốc được đặt trong tổng thể các cải cách kinh tế, xã hội mà mục tiêu chung là xây dựng xã hội hài hoà, trong đó sự phát triển phải lấy con người làm trung tâm. Theo định hướng đó, vai trò của Chính phủ sẽ chuyển dần trọng tâm từ người xây dựng kinh tế sang người chăm lo lợi ích của dân, thiết lập hệ thống dịch vụ công.

Cải cách các đơn vị dịch vụ công sẽ là cuộc cải cách lớn tiếp theo cải cách các doanh nghiệp nhà nước. Nó nhằm thiết lập một hệ thống dịch vụ công có trách nhiệm rõ ràng và hiệu quả cao, thích ứng với kinh tế thị trường và thỏa mãn các nhu cầu của công chúng.

Trung Quốc hiện có trên 1,3 triệu đơn vị dịch vụ công với khoảng 30 triệu cán bộ, viên chức và tổng kinh phí chiếm 30% ngân sách nhà nước. Trên 70% cán bộ nghiên cứu khoa học và trên 95% giáo viên, bác sĩ làm việc trong các đơn vị dịch vụ công. Các đơn vị dịch vụ công này, vốn được xây dựng và phát triển trong nền kinh tế kế hoạch hóa, hiện tỏ ra không thích hợp với nền kinh tế thị trường do biên chế quá cao và làm việc không hiệu quả. Các đơn vị này cũng đang tạo ra một thứ độc quyền trong một số lĩnh vực dịch vụ công, dẫn đến tình trạng chia cắt thị trường và lãng phí nguồn lực. Với cung cách hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước, phần lớn các đơn vị này tỏ ra phụ thuộc và lười nhác, ít sáng kiến, không có tính cạnh tranh, chất lượng thấp, trong tình trạng “cha chung không ai khóc”.

Cải cách các đơn vị dịch vụ công chính là để khắc phục tình trạng trên, nhằm nâng hiệu quả, hoàn thiện cơ chế, phân định chức năng quản lý hành chính với chức năng dịch vụ xã hội. Hương thực hiện là giảm bớt số đơn vị hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, chuyển các đơn vị còn lại sang đơn vị cổ phần hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ lợi ích công.

Cuộc cải cách đang trong giai đoạn thử nghiệm, trước hết đối với các đơn vị nghiên cứu khoa học và mở dần sang các trường học, bệnh viện. Hiển nhiên, đây là một quá trình rất khó khăn, phức tạp, với nhiều thách thức lớn, chủ yếu là các thách thức về nhận thức, tổ chức, nhân sự và an sinh xã hội. Dù vậy, người Trung Quốc đang lạc quan nhìn về phía trước. Riêng đối với giáo dục, nhiều ý kiến tin tưởng rằng trong vòng 10 năm nữa, Trung Quốc cũng sẽ có bước phát triển làm thế giới kinh ngạc như kinh tế.

đ) Kế hoạch quốc gia cải cách và phát triển giáo dục trung hạn và dài hạn (2010 - 2020)

Kết thúc thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, Trung Quốc đứng trước bước ngoặt của sự phát triển. Đó là yêu cầu phát triển theo chiều sâu của công nghiệp hóa, tin học hóa, đô thị hóa, thị trường hóa và quốc tế hóa. Yêu cầu này đặt Trung Quốc đối diện với những thách thức của tình trạng dân số đông, tài nguyên có hạn, môi trường biến đổi, cùng một mô hình tăng trưởng kinh tế mới. Điều đó đòi hỏi việc nâng cao tố chất của mọi công dân đi đôi với việc bồi dưỡng các tài năng, xây dựng một nền giáo dục hàng đầu và phát triển nguồn nhân lực hàng đầu. Nhà nước Trung Quốc khẳng định: tương lai và sự phục hưng vĩ đại của đất nước phụ thuộc vào nhân tài và giáo dục.

Tuy nhiên, bài toán mà giáo dục Trung Quốc đang đối diện là sự thay đổi và gia tăng nhu cầu cả về phía xã hội lần thị trường đối với giáo dục trong bối cảnh đất nước đã có tăng trưởng kinh tế ấn tượng suốt hơn ba thập kỷ qua, nhưng “giáo dục vẫn còn tụt hậu so với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và các nhu cầu của nhân dân về một nền giáo dục tốt đẹp”. Kế hoạch quốc gia về cải cách và phát triển giáo dục trung và dài hạn (2010 - 2020) tìm lời giải cho bài toán đó bằng cách cải cách toàn diện hệ thống giáo dục để đến năm 2020 cơ bản hiện đại hóa giáo dục, hình thành xã hội học tập, đưa đất nước trở thành nước giàu về nhân lực.

Năm định hướng chính sách được đưa ra: 1) Giành ưu tiên chiến lược cho phát triển giáo dục trong các kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội, bố trí ngân sách và phân bổ nguồn lực công; 2) Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất trong phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục là con đường chính để phát triển nguồn lực con người; 3) Cải cách và canh tân là động lực hùng mạnh cho phát triển giáo dục; 4) Bình đẳng trong tiếp cận giáo dục là chính sách căn bản của nhà nước; 5) Cải thiện chất lượng giáo dục là nhiệm vụ cốt lõi của cải cách và phát triển giáo dục.

Các mục tiêu chiến lược là: 1) Tiếp tục phổ cập hóa giáo dục sao cho số năm học trung bình của lực lượng lao động (25-59 tuổi) sẽ tăng từ 9,5 lên 11,2 năm vào năm 2020, trong đó 20% sẽ đạt trình độ đại học (tăng gấp đôi so với năm 2009); 2) Cung cấp một nền giáo dục bình đẳng đến mọi người; 3) Bảo đảm chất lượng giáo dục theo nhiều phương thức khác nhau; 4) Xây dựng một khung khổ hoàn thiện về học tập suốt đời sao cho mọi người được học cái mà họ muốn học, giỏi giang trong môn học của mình, đưa cái mà mình đã học vào thực hành; 5) Thiết lập một hệ thống giáo dục sinh động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội khá giả.

Khi đó, các nhiệm vụ cải cách hệ thống giáo dục bao gồm: 1) Cải cách hệ thống đào tạo nhân tài; 2) Cải cách hệ thống tuyển sinh và thi cử; 3) Xây dựng hệ thống nhà trường hiện đại, 4) Cải cách hệ thống điều hành nhà trường; 5) Cải cách hệ thống quản lý giáo dục; 6) Tiếp tục mở cửa giáo dục. Cùng với đó là một hệ thống giải pháp cho từng cấp học (từ mầm non đến đại học, giáo dục thường xuyên, giáo dục dân tộc, giáo dục chuyên biệt), từng lĩnh vực (thể chế, đội ngũ giáo viên, tài chính, tin học, quản lý và lãnh đạo).

Trung Quốc coi kế hoạch cải cách này là kế hoạch quốc gia đầu tiên về cải cách và phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI với sứ mệnh nặng nề là góp phần quyết định trong việc xây dựng xã hội học tập, phát triển nguồn lực con người, nâng cao đời sống nhân dân và đưa đất nước trở thành một nước xã hội chủ nghĩa hiện đại, hài hòa, giàu mạnh, dân chủ và tiến bộ về văn hóa. Đó là sự tiếp nối của các cuộc cải cách trước với việc chuyển trọng tâm từ nhà trường và nhà giáo sang các giá trị đạo đức và văn hóa, thể chất, cùng tinh thần sáng tạo và canh tân. Tuy nhiên, đến nay sau bốn năm triển khai, giáo dục Trung Quốc được coi là còn phải đi một con đường dài trước khi đạt được các mục tiêu mong muốn. Rất nhiều bất cập, yếu kém vẫn dai dẳng như việc gia tăng tình trạng bỏ học ở học sinh nông thôn, tình trạng thi cử nặng nề, giáo dục tư thục chưa được quan tâm thỏa đáng, đặc biệt vẫn phổ biến là cách học vẹt, thụ động, một chiều, thiếu phê phán và sáng tạo.

Cải cách công tác quản lý ngân sách là cơ sở và hạt nhân của việc cải cách chế độ tài chính. Mục tiêu cải cách quản lý ngân sách của Trung quốc là xây dựng chế độ tài chính công phù hợp với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thực hiện việc công cộng hóa dự toán, công cộng hóa thu chi tài chính. Việc cải cách quản lý dự toán bao gồm ba nội dung: cải cách chế độ dự toán kép cải cách chế độ thu tài chính, cải cách chế độ chi tài chính

Cải cách chế độ dự toán kép, thực hiện việc công khai hóa dự toán

Cải cách chế độ dự toán kép trước hết cần cải tiến và hoàn thiện hơn nữa chế độ dự toán hiện hành, xây dựng dự toán kép kiểu mới bao gồm: dự toán công cộng của chính phủ, dự toán kinh doanh tài sản thuộc sở hữu nhà nước, dự toán bảo trợ xã hội. Dự toán kép hiện nay ở Trung Quốc chỉ là trên cơ sở tình hình thu chi tài chính vốn có, căn cứ vào tính chất thu chi, phân chia dự toán đơn nhất thành dự toán có tính chất thường xuyên và dự toán phục vụ kinh tế. Nhưng ngoài dự toán bình thường của nhà nước còn có nhiều khoản quỹ của chính phủ và các khoản phí thu được nhưng chưa đưa vào phạm vi quản lý dự toán. Trong quá trình cải cách quản lý dự toán, nên chia dự toán trung ương và dự toán địa phương thành dự toán công cộng của chính phủ, dự toán kinh doanh tài sản của nhà nước, dự toán bảo trợ xã hội. Dự toán công cộng của chính phủ bao gồm dự toán về các khoản thu mà nhà nước có được với tư cách người quản lý xã hội và dự toán về các khoản chi của nhà nước nhằm duy trì hoạt động của chính phủ bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội, phát triển sự nghiệp công ích xã hội.

Dự toán kinh doanh tài sản nhà nước là dự toán về các khoản thu mà nhà nước có được với tư cách người sở hữu tài sản, nguồn lực nhà nước và dự toán về các khoản chi của nhà nước dùng cho xây dựng kinh tế và hoạt động kinh doanh tài sản nhà nước. Dự toán về bảo trợ xã hội là dự toán về những khoản thu bảo trợ xã hội mà nhà nước có được bằng các biện pháp hành chính và dự toán về các khoản chi dùng cho bảo trợ xã hội.

Bên cạnh đó, để thực hiện việc cải tiến và công khai, phổ biến dự toán Trung Quốc từng bước cải tiến phương pháp xây dựng dự toán. Hiện nay, nói phương pháp xây dựng dự toán của Trung Quốc là căn cứ vào thực tế thu chi của năm trước, dự kiến thu chi của năm sau, các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu chi, xác định tỷ lệ gia tăng của các khoản chi rồi từ đó hình thành dự toán. Tuy nhiên, cách làm này không mang lại hiệu quả, là một cách làm mang tính chủ quan, do đó Trung Quốc đang từng bước nghiên cứu tìm ra phương pháp mới thay thế. Theo đó, các ngành, các đơn vị thực hiện cần rà soát lại chương trình công tác các mặt và từ đó tính toán nhu cầu tài chính của từng công việc chứ không phải lấy con số thu chi của năm trước cộng thêm tỷ lệ gia tăng để suy ra dự toán thu chi của năm sau. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tiến hành chia dự toán thành hai phần: kinh phí thường xuyên và kinh phí chuyên dùng. Kinh phí thường xuyên được xác định trên cơ sở biên chế cơ quan, kinh phí chuyên dùng căn cứ vào nhu cầu và khả năng, mục nào nên giữ thì giữ, mục nào nên bỏ thì bỏ, mục nào nên tăng thì tăng.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã tiến hanh việc tăng cường sự giám sát của đại hội đại biểu nhân dân và các cơ quan thường trực đối với ngân sách chính phủ, đồng thời tiến hành hủy bỏ các khoản thu chi ngoài dự toán, từng bước đưa các khoản thu chi ngoài dự toán vào phạm vi quản lý của dự toán. Hình thành hệ thống ngân sách hoàn chỉnh, thống nhất bao trùm tất cả các khoản thu chi của chính phủ, không có bất kỳ một khoản thu chi nào ngoài dự toán, cải cách hệ thống phân loại các khoản thu chi theo nguyên tắc quản lý dự toán ngành, đưa tất cả các khoản thu chi thể hiện chức năng của chính phủ vào phạm vi quản lý của dự toán, phản ánh đầy đủ, chuẩn xác chức năng tài chính và phạm vi hoạt động của chính phủ.

Trong thời gian qua, Trung Quốc đã tiến hành cải cách chế độ tài chính: hướng việc chi tiêu của chính phủ vào các công việc công cộng. Theo đó, Trung Quốc đã phân định một cách khoa học phạm vi chức năng của tài chính công. Cụ thể, các khoản chi của chính phủ phải xuất phát từ yêu cầu thỏa mãn nhu cầu công cộng của xã hội. Tất cả những việc không thuộc hoặc không thể quy vào nhu cầu công cộng của xã hội đều không thể dùng tiền ngân sách. Hiện nay, phạm vi chức năng tài chính ở Trung Quốc quá lớn, quá rộng, Chính phủ vẫn còn bao biện một số việc đáng lẽ có thể giao cho xí nghiệp, tư nhân và thị trường, cụ thể như chính phủ vẫn cấp kinh phí cho một số đơn vị sự nghiệp có tính chất kinh doanh, cung cấp một phần vốn lưu động dùng cho sản xuất kinh doanh mà đáng lẽ xí nghiệp phải tự chịu trách nhiệm. Trong lúc đó, có một số việc đáng lẽ chính phủ phải phụ trách và nhu cầu ngày càng tăng nhưng không được cấp đủ như giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản, y tế, bảo trợ xã hội. Do đó, các khoản chi ngân sách phải tập trung vào việc thỏa mãn những nhu cầu công cộng của xã hội như xây dựng chính quyền, giáo dục, khoa học kỹ thuật, bảo trợ xã hội, nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển công nghệ cao. Ngân sách nhà nước nên rút khỏi các lĩnh vực mang tính chất cạnh tranh thông thường; giảm bớt, thậm chí chấm dứt sự đầu tư của chính phủ vào các lĩnh vực đó.

Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc thực hiện cải cách chế độ cấp phát tài chính. Phương thức cấp phát tài chính hiện nay ở Trung Quốc là chính phủ phân bổ ngân sách hàng năm cho các ngành, các đơn vị, kho bạc thực hiện việc chuyển kinh phí vào tài khoản của các ngành, các đơn vị tại ngân hàng theo từng thời kỳ để các ngành, các đơn vị tự chủ sử dụng. Chế độ cấp phát này khiến cho nhà nước không giám sát được quá trình sử dụng tiền ngân sách, không thể kịp thời phát hiện và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quá trình sử dụng tiền ngân sách. Vì thế, cần phải thực hiện chế độ kho bạc thống nhất cấp phát vốn ngân sách. Đó là chế độ mà các nước có nền kinh tế thị trường đang áp dụng rộng rãi. Theo chế độ này, tất cả các nguồn vốn tài chính của chính phủ đều tập trung vào tài khoản đơn nhất của kho bạc. Mọi khoản chi tài chính đều do kho bạc trực tiếp thanh toán. Cơ quan tài chính thiết lập hệ thống sổ sách cho các đơn vị, phản ánh chi tiêu của các ngành trong tài khoản đơn nhất của kho bạc. Việc sử dụng vốn ngân sách, do các đơn vị căn cứ vào dự toán cụ thể để tự quyết định, sau khi cơ quan tài chính đối chiếu cho phép chi thì kho bạc trực tiếp chuyển tiền cho đơn vị cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, không qua đơn vị chi.

Một yêu cầu khác nhằm quản lý việc chi ngân sách đó là nâng cao tỷ trọng của thu nhập ngân sách trong GDP và tỷ trọng thu nhập ngân sách trung ương trong tổng thu ngân sách. Trước yêu cầu này, Trung Quốc trong những năm gần đây đã tập trung năng lực tài chính để ổn định nền tài chính quốc gia, từng bước nâng cao tỷ trọng của thu nhập ngân sách trong GDP để đạt mức 20% trở lên và tỷ trọng thu nhập ngân sách trung ương trong tổng thu ngân sách toàn quốc lên tới 60% trở lên, tăng cường thực lực tài chính, xây dựng nền tài chính vững mạnh cân đối.

Ngoài, ra việc cải cách chế độ thu tài chính cũng được Chính Phủ Trung Quốc tiến hành.

Thứ nhất, để cải cách chế độ thu tài chính nhất thiết phải đẩy mạnh cải cách công tác thu thuế, thu phí, xây dựng chế độ thu nhập công cộng, trong đó thu thuế là chính, thu phí là bổ trợ và có quy phạm. Thuế là khoản thu nhập công cộng được thế giới công nhận, là nguồn thu chủ yếu của chính phủ. Muốn như vậy, nhất thiết phải thay đổi việc thu phí, hủy bỏ các loại phí bất hợp pháp, bất hợp lý Các đơn vị thu phí có tính chất kinh doanh phải nộp thuế theo quy định của pháp luật. Các loại phí mang đặc trưng thuế phải chuyển thành thuế, chỉ giữ lại số phí phù hợp với tập quán quốc tế và điều ước quốc tế. Những khoản phí mà nhà nước thu khi thực hiện nghĩa vụ quản lý nào đó hoặc cung cấp những dịch vụ đặc biệt nào đó cần chuyển thành thuế cùng với việc chuyển các loại phí ở nông thôn thành thuế, hoàn thiện chế độ thuế nông nghiệp

Thứ hai, Trung Quốc tiến hành xây dựng chế độ thu thuế thống nhất, công bằng, mở cửa, phù hợp với pháp luật. Luật thuế của nhà nước phải thống nhất, địa phương không được vi phạm, không được dùng biện pháp thu thuế để cát cứ thị trường thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia trong công tác thu thuế đối với người nước ngoài, đảm bảo công bằng, không phân biệt đối xử. Cần kiên trì phương châm thu thuế theo quy định của pháp luật, quy định về thu thuế và hành vi nộp thuế, tuân thủ tập quán quốc tế trong việc xây dựng chế độ thuế, xây dựng chế độ thuế phù hợp với nguyên tắc và thông lệ quốc tế.

Thứ ba, Trung Quốc đang từng bước tăng cường công tác quản lý thuế thông qua việc thiết lập chế độ vận hành, quản lý thuế, tăng cường và quản lý việc thu thuế, bài trừ tham nhũng và quản lý chặt chẽ đối với công tác thuế thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác thuế, thực hiện thanh tra, kiểm tra và giám sát chặt chẽ hoạt động này. Ngoài ra, Trung Quốc còn áp dụng công nghệ trong quản lý thuế, nâng cao việc quản lý thuế điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin thông qua các phần mềm thu thuế phân quyền theo chức năng nhiệm vụ của người thực hiện và người quản lý.

Như vậy, có thể thấy rằng nhằm thực hiện một nền hành chính công hiệu quả, lành mạnh thì việc quản lý ngân sách phải được thực hiện chặt chẽ, công khai và minh bạch. Quản lý ngân sách hiệu quả mang lại tính kinh tế, tiết kiệm ngân sách và phòng chống tham nhũng, thất thoát tài sản quốc gia.

Thứ hai, 19 Tháng 3 2018 08:28

Chính quyền địa phương ở malaysia

1. Hệ thống phân quyền ở Malaysia (Ma-lay-xia):

Hệ thống phân quyền ở Ma-lay-xia được thể hiện như sau: Chính phủ Liên Bang - Chính phủ Bang - Chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương (cấp huyện, Thành phố) tồn tại từ rất lâu trong lịch sử Ma-lay-xia. Năm 1963 Ủy ban Hoàng gia Ma-lay-xia thành lập, đã thông qua mô hình tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương. Theo mô hình này chính quyền địa phương được chia thành 3 loại:

- Hội đồng cấp thành phố.

- Hội đồng cấp huyện.

- Hội đồng cấp thị xã. Cấp xã không nằm trong hệ thống phân quyền. Cấp xã do Chủ tịch huyện quyết định và được thành lập nhằm giúp Chủ tịch huyện trong việc điều hành. Đứng đầu cấp đã là một xã trưởng hoặc già làng. Xã trưởng hoặc già làng đều là công chức do cấp huyện trả lương.

Mỗi huyện ở Ma-lay-xia có khoảng 100 làng, xã. Việc nhân định làng xã không phải do Chính phủ Bang phân định, mà do cấp huyện phân định. Cứ nơi nào có dân, bất kể số lượng dân nhiều hay ít đều được xem là một làng. Vì công chức - xã trưởng là tai mắt của Chính phủ tại làng xã. Xã trưởng có quyền tham dự các cuộc họp Hội đồng cấp huyện và có quyền nêu thắc mắc tại cuộc họp Hội đồng. Mặt khác, xã trưởng cũng là người quan trọng ở địa phương trong việc giải quyết các vấn đề do nhân dân yêu cầu.

Ở Ma-lay-xia còn tồn tại một số làng xã, theo tập tục, Trưởng tộc là người đứng đầu tập hợp các con cháu. Đối với kiểu làng xã này, người đứng đầu có vị trí cao hơn, đứng trên dân chúng. Đây là tập tục được hình thành ngẫu nhiên và từ lâu đời nay.

Chính quyền địa phương trực thuộc Chính phủ Bang, các hoạt động, hướng dẫn đều theo chính phủ Bang nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động của Chính phủ Bang và Liên Bang.

2. Phương thức hoạt động hành chính của chính quyền địa phương

Kinh nghiệm thực tế cho thấy: Ở Ma-lay-xia việc bầu cử Hội đồng cấp huyện, thành phố không thích hợp vì có nhiều trường hợp đại biểu được bầu không có kinh nghiệm hoạt động, điều đó làm ảnh hưởng không ít đến quá trình quản lý. Từ thực tế trên, Chính phủ Ma-lay-xia thấy cần phải bổ nhiệm hơn là bầu cử vì với phương thức này Chỉnh phủ có thể chọn được người thích hợp.

3. Cơ cấu chính quyền địa phương:

Một Chủ tịch (người đứng đầu Hội đồng cấp huyện) hoặc Thị trưởng (người đứng đầu Hội đồng cấp Thành phố)

1 Thư ký Hội đồng

24 thành viên.

Những người được bổ nhiệm phải có hộ khẩu thường trú tại khu vực. Ông Chủ tịch hoặc Thị trưởng và ông Thư ký phải là công chức, do chính phủ Bang bổ nhiệm.

4. Thẩm quyền của Chính quyền địa phương:

– Có quyền bổ nhiệm nhân viên sau khi tham khảo ý kiến của Chính phủ Bang gồm: tuyển dụng, lên lương, kỷ luật, trả lương cho nhân viên.

- Có trụ sở đóng tại khu vực. Mỗi tháng họp một lần; ngoài phiên họp thường kỳ Chủ tịch, Thị trường hoặc Thư ký có quyền triệu tập phiên họp đặc biệt. Phiên họp Hội đồng thường công khai, số lượng đại biểu phải đạt 1/3 các quyết định của Hội đồng được thông qua bằng đa số phiếu.

– Trong mô hình Quốc hội, chính quyền địa phương có thể hình thành Tiểu ban thông qua một số điều lệ quy định hoạt động của mình.

5. Vị trí pháp lý của Hội đồng.

- Chính quyền địa phương có tư cách pháp nhân, có quyền kiện ra Tòa một công ty nào đó.

- Bất kỳ một thành viên nào có sai phạm, Hội đồng phải chịu trách nhiệm trước Tòa.

- Đại biểu Hội đồng có quyền được tham dự các cuộc họp liên quan đến một số lĩnh vực nằm trên địa bàn khu vực- Đại biểu Hội đồng không được sử dụng nghề nghiệp để chống lại Hội đồng.

6. Nhiệm vụ của chính quyền địa phương.

- Xem xét tổ chức hoạt động của Chính quyền địa phương không liên quan đến việc hoạch định chính sách của chính phủ Bang và chính phủ liên Bang

- Thực thi đường lối của chính phủ Bang và chính phủ Liên Bang.

7. Các chức năng cơ bản của chính quyền địa phương phương

- Có biện pháp bảo vệ môi trường trong địa phương.

- Kiểm soát chương trình phát triển về xây dựng ở địa phương. Nhất là việc kiểm tra xây dựng nhà cửa tư nhân, tạo điều kiện cho việc xây dựng có hệ thống tổ chức (các chi tiết về xây dựng phải được gửi cho lội đồng xem xét trước khi xây dựng).

- Kiểm soát việc xây dựng, phát triển giao thông.

- Bảo đảm giữ gìn sức khỏe nhân dân.

- Cung cấp phương tiện giao thông công cộng trong địa hạt.

- Xây dựng thêm nhà ở.

- Phát triển, nâng cao dân trí thúc đẩy phát triển văn hóa, thể dục thể thao.

- Phối hợp với các cơ quan của chính phủ Bang và chính phủ Liên Bang.

- Có quyền duy trì hoặc do bỏ các cơ quan, công sở trong địa hạt.

- Cung cấp điện, nước sinh hoạt.

- Có quyền lập pháp ủy nhiệm (điều 102 Bộ luật hình sự quy định). 20 lĩnh vực nhằm bảo đảm chức năng hoạt động. Đây là ưu thế lớn nhất của chính quyền địa phương. Nguồn thu của chính quyền địa phương gồm: Thuế nhà ở, nguồn thu nhập từ kinh doanh của địa phương, cấp giấy phép kinh doanh... Ngoài ra, Chính quyền địa phương có thể vay kinh phí của Chính phủ Bang, Liên Bang hoặc các ngân hàng nhưng phải được chính phủ Bang chấp nhận.

Theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương có thể vay tiền của chính phủ Bang hoặc Liên Bang, nếu quá thời hạn không trả được, chính phủ Bang sẽ quy theo bình quân đầu người trong địa hạt bắt chi trả. (Thực tế điều này không xảy ra)

8. Hệ thống tổ chức chính quyền địa phương.

Hệ thống tổ chức chính quyền địa phương gồm có:

- Văn phòng của Chủ tịch hoặc Thị trường.

- Văn phòng của Thư ký Hội đồng.

- Các Sở

Chủ tịch hoặc Thị trường làm việc với Thư ký Hội đồng; Thư ký Hội đồng trực tiếp làm việc với các Sở.

Chính quyền địa phương có các Sở sau:

- Sở ngân sách (tài chính)

- Sở y tế

- Sở xây dựng nhà cửa

- Sở quy hoạch đô thị

- Sở định giá

- Sở giao thông công chính

- Sở thú y

- Sở công viên và môi trường

- Sở pháp lý

- Sở xây dựng công trình công cộng

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành