Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

Malaysia là thuộc địa cũ của Anh và từ một nước thuộc địa, Malaysia đã giành được quyền độc lập vào năm 1957. Năm 1957 được độc lập, chỉ có 12 bang, gọi là Malai. Đến 1963 mới hình thành chính thức Malaysia, có thêm 3 bang Saba, Sarawak, Singapor. (Sau đó Singapor tách ra) với quy chế đặc biệt. Hiện nay, Malaysia có một Chính phủ Liên Bang gồm 13 Bang và 2 lãnh thổ liên bang Kuala Lampar. Tương ứng với 13 Bang có 13 chính quyền Bang. Quyền lực được tập trung chủ yếu ở Chính phủ Liên Bang. Do lịch sử để lại, Liên bang của Malaysia được hình thành không chặt chẽ như ở Mỹ. Giữa các Bang có quyền lực, quyền hạn không giống nhau, không đồng đều và quyền lực của các Bang không lớn lắm.

Malaysia theo chế độ quân chủ lập Hiến - có vua. Khi mới giành được độc lập, 9 Tiểu vương quốc đều có Vua. Vấn đề đặt ra là chọn ai để làm Vua trị vì chung. Sau khi bàn bạc đã đi đến thỏa thuận: Vua của các Tiểu vương quốc sẽ thay nhau trị vì đất nước và Hội nghị các Tiểu vương quốc sẽ bầu ra Vua trị vì chung 5 năm một lần.

Trong hệ thống pháp luật của Malaysia, Hiến pháp là luật tối cao. Hiến pháp bao quát toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước, quyền lực Liên Bang, Bang, quyền tự do cá nhân, quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, lập hội, tự do công dân. Song những quyền liên quan đến tự do cá nhân không phải là quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn trong khuôn khổ Hiến pháp.

Quyền hạn của Liên bang, bang được quy định trong Hiến pháp theo 3 danh mục: Liên bang - bang - Song song.

- Danh mục Liên Bang gồm các phần quan trọng như: Kinh tế, quốc phòng, pháp luật, giáo dục, chính sách đối ngoại.

- Danh mục Bang Kém phần quan trọng hơn gồm các phần: đất đai, hầm mỏ, tôn giáo...

- Danh mục Song song thuộc quyền vừa của Liên Bang vừa của các Bang.

Mỗi Bang đều có Chính quyền của mình, có cơ quan lập pháp, hành pháp nhưng không có ngành tư pháp. Riêng ngành tư pháp nằm hoàn toàn trong danh mục Liên Bang.

Việc quy định cụ thể danh mục lập pháp nhằm bảo đảm tính lịch sử của Malayxia là một đất nước có nhiều Tiểu vương quốc, giữa các Tiểu vương quốc có mức độ giàu nghèo khác nhau và các Tiểu vương quốc giàu có về tài nguyên không muốn trao cho chính quyền Trung ương tất cả quyền lực của mình nên có sự thỏa thuận giữa các Tiểu vương quốc, các Bang và Chính phủ liên Bang về việc phân chia quyền lực: giành bao nhiêu quyền lực cho chính phủ liên Bang và bao nhiêu quyền lực ca Bảng giữ lại cho mình.

Các điều khoản được hình thành trong Hiến pháp dựa theo sự thỏa thuận giữa Chính phủ Anh và Chính phủ Malaysia khi Malaysia mới giành được độc lập. Sau này, một số điều khoản được Quốc hội thay đổi lại cho phù hợp với điều kiện và tình hình đất nước.

Hiến pháp Malaysia quy định các hành động, các đạo luật và các văn bản pháp quy dưới luật ban hành đều phải tuân thủ Hiến pháp. Nếu không hợp hiến đều có thể bị chất vấn, bãi bỏ, trong đó tòa án đóng vai trò hết sức quan trọng.

2. Phân lập các quyền

Trong bộ máy Nhà nước của Malaysia được chia thành 3 ngành theo mô hình:

- Quyền hành pháp do Nhà vua và Nội các thực hiện

- Quyền lập pháp do: Nghị viện gồm 2 viện (Thượng viện và Hạ viện)

- Quyền Tư pháp do các Thẩm phán ở các Tòa án thực hiện. Như vậy, nước Malaysia theo nguyên tắc tam quyền phân lập gồm: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó, cơ quan lập pháp được các đại biểu Quốc hội điều phối hoạt động, cơ quan hành pháp do các nhân viên của chính phủ, Ủy ban hành chính và ủy ban công chức điều phối hoạt động, cơ quan Tư pháp do các nhân viên tư pháp điều phối hoạt động.

Nguyên thủ quốc gia được quyền bổ nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành pháp và tư pháp, còn vấn đề thăng chức, kỷ luật, thuyên chuyển công tác của nhân viên do các Ủy ban đảm nhận. Các Ủy ban này có sự độc lập với nhau.

a) Việc phân lập các quyền được dựa trên các nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, nguyên tắc pháp quyền và đây là việc cai trị bằng luật pháp, trong luật pháp, khác với cai trị độc quyền; độc đoán không theo luật pháp. Đây là nguyên tắc làm cơ sở cho nền dân chủ vì không có cai trị bằng luật pháp thì không có nền dân chủ.

Thứ hai, nguyên tắc phân quyền (phân lập các quyền) nhằm ngăn cản sự tập trung quyền hành. Bộ máy Nhà nước chia thành 3 cơ quan:

+ Quốc hội: lập pháp - soạn thảo luật.

+ Hành pháp: quản lý và thực thi luật

- Tư pháp: diễn giải, cưỡng chế và thi hành luật

Thứ ba, nguyên tắc "Kiểm soát và cân bằng": 3 cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp có sự kiểm soát, đối trọng lẫn nhau. Thủ tướng và các bộ trưởng chọn từ trong cơ quan lập pháp cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Các thành viên khác của các Bộ (không phải là Bộ trưởng do các thanh tra kiểm soát. Hành vi của họ được đưa ra Quốc hội thảo luận. Một trong những chức năng quan trọng của cơ quan hành pháp là kiểm tra luật. Quốc hội đề ra các đạo luật có tính chất chung, ngành hành pháp chi tiết hóa các luật; Các Bộ trưởng định ra các văn bản dưới luật.

Như vậy, cơ quan lập pháp đã từ bỏ một số quyền làm luật đáng kể, giao cho cơ quan hành pháp nhất là các ngành mang tính chất kỹ thuật.

Ở Anh hay Malaysia, các văn bản dưới luật có khi được Quốc hội thông qua, cũng có khi chỉ cần thông báo cho Quốc hội biết. Khi thấy các văn bản không hợp hiến các tòa án có quyền tuyên bố văn bản dưới luật không có giá trị. Khác với nước Anh, Malaysia có Hiến pháp, do đó quyền giao cho cơ quan hành pháp có giới hạn và điều quan trọng là các cơ quan hành pháp ban hành văn bản dưới luật không được trái với Hiến pháp và luật.

Đối với ngành Tư pháp: Thẩm phán do nhà vua bổ nhiệm, các nhân viên do ngành hành pháp bổ nhiệm. Ngành Tư pháp kiểm soát các hành vi hoạt động của ngành hành pháp. Trong thể chế dân chủ ở Malaysia, Tòa án là nơi có quyền thế và được sử dụng rộng rãi. Một quyết định nào đó của cơ quan hành pháp bị chất vấn về tính không hợp hiến, Tòa án Tư pháp xem xét và có quyền hủy bỏ quyết định. Nếu quan chức vi phạm, quan chức cũng phải ra tòa.

Thứ tư, nguyên tắc quyền tự do công dân: Hiến pháp Malaysia quy định: "Không một công dân nào bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do", Một người bị bắt giữ có thể khiếu nại đến Tòa án để được trả lại tự do. Về cách thức của ngành hành pháp thực hiện một vụ bắt giữ, Tòa án chỉ có quyền chất vấn chứ không được ngăn cản.

Ngoài các nguyên tắc trên, việc phân lập các quyền còn dựa vào một số nguyên tắc khác như: nguyên tắc nghiêm cấm bắt giữ...

b) Mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Theo nguyên tắc đối trọng, cân bằng, hạn chế lẫn nhau, hoạt động của 3 cơ quan; lập pháp, hành pháp và tư pháp có mối quan hệ với nhau. Về ý nghĩa, cơ quan lập pháp là cơ quan riêng biệt, nhưng các thành viên của cơ quan hành pháp đều nằm trong Quốc hội, đa số thành viên của Quốc hội lại nằm trong Đảng cầm quyền. Thực tế, hai cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Tất cả các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành đều xuất phát từ cơ quan hành pháp và cơ quan hành pháp là người thực hiện các đạo luật do Quốc hội thông qua. Ở Malaysia, Tư pháp là cơ quan độc lập, hành vi vi phạm của một vị thẩm phán không phải thảo luận tại Quốc hội trừ khi có 1/4 số nghị sĩ trong tổng số nghị sĩ Quốc hội yêu cầu. Nhưng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp thì lập pháp là tiếng nói cuối cùng. Nêu cơ quan lập pháp không đồng tình với quyết định của tòa án tư pháp, cơ quan lập pháp có thể thay đổi đạo luật liên quan đến quyết định. Mặt khác, các Tòa án không thể hoạt động nếu như không có sự phối hợp của cơ quan hành pháp và lập pháp. Để có sự hoạt động của Tòa án phải có các đạo luật do cơ quan lập pháp thông qua và để thực thi bản án phải có sự phối hợp của cơ quan hành pháp. Quyền hạn của Tòa án bị hạn chế bởi cơ quan hành pháp lập ra các sở để xử lý các khiếu nại của công dân; cơ quan chống tham nhũng theo dõi kiểm tra các hành vi tham nhũng liên quan đến công chức. Ngoài ra, còn có một số quy chế quy định chung về việc thực hiện các bộ luật. Bộ luật bao quát nhiều vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công chức. Nếu công chức vi phạm các quy chế sẽ bị cách chức, hoặc bị truy tố trước pháp luật và việc thực hiện quy chế phải theo đúng thủ tục cần thiết, nếu không công chức sẽ kiện lại Chính phủ.

Lý thuyết về sự phân lập các quyền ở Malaysia cho thấy: Điều quan trọng đối với từng nước là phải chọn được cách thức phù hợp, phải dựa vào nguyên tắc chỉ đạo của nền dân chủ - đó là chính quyền của nhân dân, vì nhân dân. Hiến pháp được nhân dân ủng hộ thì Hiến pháp mới có sức mạnh. Mặt khác, Chính phủ phải tạo cho nhân dân ý thức được rằng: nhân dân là người có vai trò trong việc điều hành đất nước.

Bộ máy Nhà nước muốn hoạt động tốt phải tuân thủ nguyên tắc sắp xếp 3 cơ quan quyền lực theo nguyện vọng của nhân dân vì nhân dân là người ủy nhiệm cho Nhà nước điều hành công việc đất nước. Về điểm này cũng cần tránh sự lạm dụng: đã được nhân dân ủy nhiệm rồi muốn làm gì cũng được.

Ý nghĩa và tác dụng của việc mua sắm Chính phủ

Để thích ứng với sự phát triển của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và quy phạm hóa, thể chế hóa hoạt động quản lý tài chính, những năm gần đây cơ quan chính quyền các cấp ở Trung Quốc đã tiến hành thí điểm chế độ mua sắm của chính phủ theo một phương thức mới. Mua sắm của chính phủ là việc chính phủ mua sắm hàng hóa, công trình, dịch vụ trên thị trường để cung cấp cho cơ quan của chính phủ hoặc tổ chức công ích trực thuộc chính phủ, bằng nguồn tiền của chính phủ, theo phương thức, phương pháp trình tự do luật định, dưới sự giám sát của cơ quan tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu hành chính bình thường của chính phủ hoặc cung cấp dịch vụ cho các tổ chức công cộng của chính phủ.

Công việc này bao gồm các bước như quy định chính sách mua sắm; quy định trình tự mua sắm, quản lý công việc mua sắm một cách chặt chẽ. Phương thức mua sắm được sử dụng là gọi thầu theo nguyên tắc công khai, bình đẳng, tự do cạnh tranh trên thị trường. Do chính sách mua sắm rõ ràng, theo trình tự quy định, tổ chức quản lý chặt chẽ, công khai minh bạch nên có tác dụng tích cực trong việc tiết kiệm ngân sách, quản lý chi tiêu, kiềm chế tham nhũng, xây dựng cơ chế quản lý dự toán tài chính khoa học, hiệu quả cao.

Trong việc mua sắm của chính phủ, nếu không thực hiện theo đúng quy phạm sẽ xảy ra tình trạng câu kết giữa quan chức chính phủ với nhà cung cấp, phát sinh tham nhũng có lợi cho cá nhân, có hại cho nhà nước. Hiện nay ở Trung Quốc, vẫn có nhiều nơi chưa thực hiện chế độ mua sắm của chính phủ theo thông lệ quốc tế. Ở một số ngành, một số địa phương, việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ, xây dựng công trình đều do các đơn vị tự làm, dễ dẫn đến tình trạng không minh bạch, tham nhũng. Nếu tổ chức đấu thầu công khai, cạnh tranh bình đẳng, kết hợp sự giám sát trong nội bộ với sự giám sát của xã hội thì có thể ngăn ngừa tham nhũng.

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, phương thức đấu thầu công khai có thể tiết kiệm chi phí khoảng 10% so với dự kiến. Chính phủ Trung Quốc mỗi năm trung bình chi khoảng 800 tỷ nhân dân tệ. Nếu dùng phương thức đấu thầu có thể tiết kiệm 80 tỷ nhân dân tệ. Do đó, phương thức đấu thầu có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Khi tổ chức đấu thầu, các tiêu chí về thực lực kinh tế, uy tín kinh doanh, dịch vụ hậu mãi đều được quy định chặt chẽ. Các doanh nghiệp nếu muốn tham gia đấu thầu, thắng thầu thì phải phấn đấu đạt tới các tiêu chí đó. Vì vậy, đấu thầu công khai có thể thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp.

Như vậy, số tiền mua sắm của chính phủ lớn, có ảnh hưởng nhất định đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, với sự phối hợp của các chính sách kinh tế khác, chính phủ có thể thông qua việc điều chỉnh quy mô mua sắm để thực hiện sự điều hành vĩ mô đối với nền kinh tế, tác động đến tốc độ tăng trưởng thúc đẩy sự phát triển liên tục, ổn định, lành mạnh của nền kinh tế.

Cơ quan nhà nước các cấp, các đơn vị sự nghiệp và đoàn thể xã hội thực hiện quản lý ngân sách (cơ quan mua sắm), sử dụng nguồn vốn tài chính (bao gồm vốn trong ngân sách và vốn ngoài ngân sách) khi mua sắm hàng hóa, dịch vụ, xây dựng công trình cho cơ quan thực hiện: “Quy định tạm thời về quy trình mua sắm của chính phủ” do bộ tài chính ban hành. Vốn trong ngân sách nói đây bao gồm vốn trong dự toán và vốn cấp thêm trong quá trình thực hiện dự toán. Vốn ngoài ngân sách bao gồm vốn đã nộp vào tài khoản chuyên dùng theo quy định và được cơ quan tài chính cho phép giữ lại và sử dụng.

Bên cạnh đó, cơ quan tài chính là cơ quan chức năng, quản lý việc mua sắm của chính phủ, thực hiện sự lãnh đạo thống nhất và phân cấp quản lý theo quan hệ lệ thuộc tài chính giữa ngành và đơn vị. Cơ quan tài chính các cấp cần xây dựng, kiện toàn chế độ quản lý, kế hoạch mua sắm của chính phủ, bảo đảm cho các chương trình mua sắm của chính phủ có thể tiến hành theo kế hoạch.

Mặt khác, các hạng mục mua sắm của chính phủ đạt trị giá từ mức do chính phủ hoặc do Bộ tài chính quy định trở lên phải áp dụng phương pháp gọi thầu hoặc mời thầu công khai. Nếu vì nguyên nhân đặc biệt, cần thực hiện phương thức đàm phán có tính cạnh tranh, hỏi giá hoặc chọn nguồn cung cấp duy nhất thì trước khi thực hiện phải được sự phê chuẩn của cơ quan tài chính cung cấp. Trong phạm vi một năm, cơ quan mua sắm chỉ được mua sắm một lần cùng một hạng mục mua sắm. Về phương thức, biện pháp mua sắm những hạng mục dưới định mức được thực hiện theo quy định của cơ quan tài chính cung cấp.

Cơ quan mua sắm là cơ quan thực thi hoạt động mua sắm của chính phủ. Cơ quan mua sắm được chia thành cơ quan mua sắm tập trung và đơn vị mua sắm.

Cơ quan mua sắm tập trung là bộ máy chuyên trách do chính phủ hoặc cơ quan tài chính của chính phủ lập ra để thực hiện việc mua sắm của chính phủ. Chức năng chủ yếu của nó là thực hiện mua sắm tập trung, mua sắm những loại hàng hóa, dịch vụ được ghi vào danh mục mua sắm tập trung, tổ chức những hoạt động mua sắm lớn bằng tiền ngân sách, thay mặt đơn vị mua sắm để tổ chức công việc mua sắm theo sự ủy thác của đơn vị đó, thực hiện công việc mua sắm do cơ quan chủ quản việc mua sắm của chính phủ giao phó. Đơn vị mua sắm tập trung của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ quan khác ở trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bộ phận chủ quản việc mua sắm chính phủ của cơ quan tài chính không được tham gia và can thiệp vào hoạt động thương mại cụ thể có liên quan đến việc mua sắm. Một yếu tố quan trọng là cơ quan mua sắm và tổ chức mua sắm xã hội phải căn cứ vào pháp luật, pháp quy và điều lệ có liên quan để triển khai phương pháp mua sắm. Đơn vị mua sắm là tổ chức mua sắm ngoài cơ quan mua sắm tập trung. Chức trách chủ yếu của nó là: thực hiện mua sắm phân tán, tức là mua sắm những thứ không ghi vào danh mục mua sắm tập trung kể cả các hoạt động mua sắm thống nhất do cơ quan chủ quản việc mua sắm tổ chức trong hệ thống của mình. Tổ chức mua sắm xã hội (tổ chức xã hội) là tổ chức gọi thầu của xã hội được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, năng lực gọi thầu và tiến hành hoạt động gọi thầu sau khi được cơ quan tài chính thừa nhận tư cách pháp nhân.

Để việc mua sắm công được thực hiện một cách hệ thống, các văn bản pháp luật của Trung Quốc quy định một trình tự mua sắm chính phủ chặt chẽ. Theo đó, trình tự mua sắm của chính phủ bao gồm: lập dự toán mua sắm, tổng hợp kế hoạch mua sắm, xác định và thực hiện phương thức mua sắm, ký và thực hiện hợp đồng mua sắm, nghiệm thu, thanh toán tiền.

Dự toán mua sắm là kế hoạch nội dung mua sắm trong năm của cơ quan cần mua sắm, là một bộ phận hợp thành của dự toán của cơ quan đó. Cơ quan cần mua sắm căn cứ vào yêu cầu của cơ quan tài chính, soạn thảo dự toán mua sắm và sau khi cơ quan chủ quản rà soát, tổng hợp thì báo cho cơ quan tài chính cùng cấp kiểm tra.

Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì việc mua sắm của chính phủ phải căn cứ vào dự toán của các ngành đã được phê duyệt, tổng hợp lại theo mặt hàng, theo hạng mục để soạn thảo kế hoạch mua sắm cấp mình rồi chuyển cho cơ quan mua sắm. Kế hoạch mua sắm là phương án cụ thể để thực hiện mua sắm đồng thời là căn cứ thực hiện và kiểm tra việc mua sắm. Nội dung kế hoạch mua sắm bao gồm: danh mục mua sắm trong năm, hình thức tổ chức mua sắm của các hạng mục mua sắm, phương thức mua sắm, biện pháp thanh toán tiền. Cơ quan mua sắm tập trung thực hiện việc mua sắm những hạng mục được ghi vào danh mục mua sắm tập trung. Các đơn vị mua sắm thực hiện việc mua sắm những hạng mục phân tán.

Thêm vào đó, sau khi nhận được kế hoạch mua sắm đã được cơ quan tài chính phê duyệt, bộ phận chủ quản của cơ quan mua sắm phải gửi cho cơ quan chính quyền cấp mình bản kê những hạng mục mua sắm tập trung trong thời hạn quy định. Bản kê này phải ghi rõ tên hàng, quy cách, số lượng, trị giá, thời gian giao hàng hoặc thời gian khởi công, thời gian hoàn thành công trình, đơn vị nhận hàng… Trên cơ sở đó, cơ quan tài chính căn cứ vào dự toán và kế hoạch mua sắm để kiểm tra bản kê danh mục mua sắm, nếu không có gì sai sót thì giao cho cơ quan mua sắm tập trung thực hiện. Nơi nào chưa thành lập cơ quan mua sắm tập trung thì ủy thác cho tổ chức mua sắm của xã hội thực hiện. Ngoài ra, cơ quan thực hiện việc mua sắm tập trung phải căn cứ vào phạm vi mua sắm đã ghi trong kế hoạch mua sắm để tổ chức hoạt động mua sắm. Cụ thể là: Đối với những hạng mục mua sắm theo phương pháp gọi thầu phải căn cứ theo yêu cầu, trình tự trong Luật Đấu thầu và các quy định có liên quan để biên soạn tài liệu gọi thầu, thông báo công khai hoặc gửi thư mời thầu, tiếp nhận hồ sơ dự thầu, tổ chức đấu thầu, đánh giá, kết luận và gửi hợp đồng mua sắm, các tài liệu có lien quan cho cơ quan tài chính cùng cấp. Đối với những hạng mục mua sắm theo phương thức đàm phán cạnh tranh phải tuân theo trình tự như:

Một, cơ quan mua sắm tập trung hoặc tổ chức mua sắm của xã hội xác định thành viên của tổ đàm phán, trình tự đàm phán, nội dung đàm phán, tiêu chuẩn lựa chọn người trúng thầu. Đơn vị mua sắm phải có đại diện trong tổ đàm phán.

Hai, tổ đàm phán dự thảo hợp đồng, đề xuất danh sách các nhà cung cấp được mời tham gia đàm phán, lý do mời những nhà cung cấp đó và báo cáo cho cơ quan tài chính cùng cấp.

Ba, tiến hành riêng rẽ với những nhà cung cấp. Trong quá trình đàm phán, các bên tham gia đàm phán nếu không được bên kia đồng ý, đều không được tiết lộ các tài liệu kỹ thuật, giá cả và các thông tin khác liên quan đến đàm phán.

Bốn, sau khi kết thúc đàm phán, tổ đàm phán phải yêu cầu các nhà cung cấp đưa ra báo giá cuối cùng, những cam kết cần thiết trong thời gian quy định để tổ đàm phán quyết định người trúng thầu rồi gửi biên bản đàm phán

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi mua sắm tài sản chính phủ, đối với những hạng mục mua sắm theo phương thức hỏi mua, cơ quan mua sắm phải tuân theo trình tự như cơ quan mua sắm tập trung hoặc tổ chức mua sắm của xã hội xác định thành viên tổ giao dịch, xác định cơ cấu giá, tiêu chuẩn trúng thầu. Đơn vị mua sắm phải có đại diện trong tổ giao dịch. Tiếp theo, tổ giao dịch đề xuất danh sách các nhà cung cấp, lý do chọn các nhà cung cấp đó và báo cáo cho cơ quan tài chính cùng cấp. Việc hỏi giá phải tiến hành một cách công bằng, người báo giá chỉ được báo giá một lần, không được thay đổi. Người trúng thầu phải là người đáp ứng được các yêu cầu mua sắm với mức giá thấp nhất. Trong vòng 5 ngày sau khi kết thúc giao dịch, tổ giao dịch phải gửi biên bản về quá trình giao dịch và thuyết minh lý do chọn người trúng thàu cho các cơ quan tài chính cùng cấp.

Ngoài ra, khi đơn vị mua sắm thực hiện các hoạt động mua sắm phân tán có giá trị trên định mức cũng phải tiến hành theo trình tự quy định trong Quy định mua sắm của Chính phủ Trung Quốc để gọi thầu, đàm phán cạnh tranh, hỏi giá.

Sau khi xác định được người trúng thầu, các bên phải ký kết hợp đồng theo quy định về giám sát hợp đồng mua sắm của chính phủ. Các hợp đồng mua sắm tập trung có thể ký kết giữa cơ quan mua sắm tập trung với người trúng thầu, hoặc cơ quan mua sắm tập trung và đơn vị mua sắm (đơn vị sử dụng) cùng ký với người trúng thầu. Hợp đồng mua sắm phân tán do đơn vị mua sắm (đơn vị sử dụng) ký với người trúng thầu. Trong vòng 7 ngày sau khi ký kết hợp đồng, cơ quan mua sắm phải gửi một bản sao hợp đồng cho cơ quan chính quyền cùng cấp. Ngoài ra, các bên ký kết hợp đồng phải nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng, không được tự ý sửa chữa hoặc hủy hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu cần sửa đổi điều khoản nào, hai bên phải thương lượng với nhau, do vậy nếu sửa đổi hợp đồng với nội dung tăng giá trị mua sắm vượt ngoài dự toán thì phải báo cho cơ quan cùng cấp xem xét. Khi hợp đồng mua sắm chấm dứt cơ quan thực hiện mua sắm phải báo cáo cho cơ quan tài chính cùng cấp biết. Việc nghiệm thu hợp đồng do đơn vị sử dụng thực hiện, cơ quan chủ quản mua sắm của cơ quan tài chính không được tham gia nghiệm thu hợp đồng mua sắm.

Đối với việc thanh toán tiền mua sắm, cơ quan mua sắm căn cứ vào các văn bản pháp luật có lien quan, gửi công văn đề nghị thanh toán cùng với văn bản có liên quan như chứng nhận của cơ quan nghiệm thu, báo cáo kết quả nghiệm thu, báo cáo thực hiện hợp đồng, tài khoản người trúng thầu…. cho cơ quan tài chính. Cơ quan tài chính cùng cơ quan mua sắm kiểm tra các văn bản nói trên, nếu không có gì sai sót thì thanh toán tiền cho người trúng thầu theo quy định của hợp đồng và tiến độ thực hiện hợp đồng.

Việc mua sắm công được giám sát một cách chặt chẽ nhằm tránh tình trạng lãng phí, thất thoát và tham nhũng. Như vậy, cơ quan tài chính phải tăng cường giám sát hoạt động mua sắm của chính phủ. Việc giám sát hoạt động mua sắm này gồm những nội dung như: tính phù hợp với các quy định của pháp luật; có phù hợp với kế hoạch được phê duyệt, tính chính xác về phương thức và trình tự mua sắm theo quy định của pháp luật, quy trình thủ tục thanh toán có đúng quy định không….

Ngoài ra, cơ quan tài chính phải căn cứ vào yêu cầu quản lý, phối hợp với các cơ quan hữu quan, đánh giá tình hình vận hành hạng mục mua sắm. Bên cạnh đó, cơ quan thanh tra và cơ quan kiểm toán các cấp giám sát hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định của pháp luật, đặc biệt đối với các hoạt động mua sắm quan trọng hoặc có giá trị lớn, cơ quan thanh tra phải tham gia giám sát ngay từ đầu.

Mặt khác, đối với các sản phẩm nước ngoài, cơ quan mua sắm cần được sự xác nhận của các cơ quan chuyên môn hoặc nhóm các chuyên gia kỹ thuật do sản phẩm trong nước không đáp ứng được nhu cầu sử dụng, hoặc thông qua mời thầu công khai, chứng minh rằng phải mua của nước ngoài và sau khi được cơ quan tài chính cùng cấp đồng ý, sẽ tổ chức mời thầu công khai để mua của nước ngoài, nhưng nội dung mời thầu không được có sự thay đổi về thực chất so với nội dung mời thầu trong nước.

Như vậy, hoạt động mua sắm của chính phủ ngày càng được thể chế hóa, công khai hóa, công tác quản lý tài chính công được quy phạm hóa, hợp lý hóa nhằm giảm bớt chi phí quản lý hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính.

Indonexia được xếp là nước có tệ nạn tham nhũng nghiêm trọng nhất trên trường quốc tế và hoạt động kiểm soát tham nhũng của Chính phủ Indonexia ngày càng tồi tệ, trong khi người dân Indonexia coi tham nhũng là một tệ nạn cần phải đấu tranh và tố giác đối với tất cả những vụ việc được phát giác. Những vấn đề này ảnh hưởng tới nền dân chủ ở Indonexia, nhưng do hậu quả nặng nề từ tham nhũng đã để lại cho nền kinh tế – xã hội và làm mất niềm tin của người dân vào Chính phủ Indonexia.

Vấn đề đặt ra là tại sao Trật tự mớiIndonexia lại có thể đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và giảm đói nghèo đáng kể hơn ba thập kỷ mặc dù vẫn ở trong tình trạng tham nhũng hoành hành. Chế độ Trật tự mới ở Indonexia đã hạn chế được phạm vi và tính không lường trước được của tham nhũng sao cho tham nhũng không cản trở đầu tư và hủy hoại những “con ngỗng đẻ trứng vàng” nhưng sự tham lam đã làm cho cơ chế được xây dựng một cách cẩn trọng mất ổn định kéo Chính phủ Indonexia vào tình trạng nợ công chồng chất, môi trường bị phá hoại và hậu quả nặng nền nhất là chế độ yếu kém và tham nhũng. Khi Tổng thống Suhacto đã bị phế truất nhưng những thế lực được Tổng thống ủng hộ vẫn tiếp tục phát triển và lợi dụng những cơ hội mới để tái lập quyền lực trong môi trường đầy biến động diễn ra đồng thời với quá trình chuyển đổi nền kinh tế và chính trị ở Indonexia. Ngày nay, tình trạng tham nhũng đã được hạn chế nhiều, nhưng vẫn rất nghiêm trọng.

Vậy đã có những thay đổi gì? những quy tắc chính thức đang dần được thiết lập một cách toàn diện nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình. Bầu cử tự do và dân chủ, kiềm chế và đối trọng chính thức, hạn chế ảnh hưởng chính thức của quân đội, một lực lượng truyền thông mạnh mẽ và xã hội dân sự, tất cả đang làm cho người dân trở nên gần hơn với những người đại diện của họ. Những đạo luật mới và một nghị viện cảnh giác hơn đang bắt đầu tăng cường quyền lực cho các chính trị gia có mong muốn kiểm soát tham nhũng trong những cơ quan của Chính phủ và những thể chế mới đã tiếp thêm sức mạnh cho cuộc chiến chống tham nhũng của Chính phủ. Bên cạnh đó, những cơ quan thực thi Pháp luật đang hoạt động được đặt dưới sự kiểm soát chặc chẽ của công chúng. Tất cả những thay đổi đó là kết quả của những nỗ lực của các nhà cải cách nhằm chuyển đổi Indonexia từ một xã hội dựa trên những quy định ngầm và các mối quan hệ sang một xã hội dựa trên những quy định chính thức, đây là nhiệm vụ khó khăn. Những nỗ lực chống tham nhũng kể từ thời Suhacto phần lớn chỉ là những lời hứa và sáng kiến bị phá hỏng bởi hoạt động thực thi nghèo nàn và kém hiệu quả. Quyết tâm chính trị đang mất đi, phản ánh uy tín hạn chế của các đảng chính trị khi tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng. Hệ thống chính trị bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng vị đảng của Indonexia đồng nghĩa với việc trách nhiệm giải trình là nghĩa vụ đối với các vị lãnh đạo đản hơn là với các cử tri. Chi phí cao cho các chiến dịch tranh cử hiện nay là nguyên nhân thúc đẩy tham nhũng. Đây không phải là môi trường thuận lợi cho một chiến lược chống tham nhũng toàn diện, cơ bản và rộng khắp đạt hiệu quả, nhưng là môi trường có thể phát huy hiệu quả cac giải pháp cục bộ mà chính quyền các cấp hoặc các ngành đưa ra và những nhà cải cách có thể thúc đẩy đi theo đường vòng này. Điều đó xử ra, chính quyền trung ương sẽ phải góp phần tạo ra một môi trường khuyến khích những cải cách theo chiều hướng đó.

Người dân Indonexia nhìn nhận về tham nhũng không quá khắc khe vì họ không phủ nhận tham nhũng ở nước mình. Tuy nhiên, theo đánh giá của ngân hàng thế giới thì Indonexia đã có tiến bộ trong việc thực thi quyền lực và trách nhiệm giải trình, nhưng các chỉ số về hiệu quả quản trị, chất lượng các quy định pháp luật và sự kiểm soát tham nhũng lại có chiều hướng xấu hơn. Sự tiến bộ phản ánh thành công của một Chính phủ được bầu cử dân chủ và lực lượng truyền thông mạnh mẽ cùng với sự vận động của xã hội dân chủ. Chiều hướng xấu hơn thể hiện sự thay đổi không đáng kể đối với chế độ lãnh đạo tập quyền và chính quyền tập trung, đồng thời phản ánh những yếu kém trong năng lực quản lý của nhà nước.

Tất cả những phương pháp này chủ yếu dựa trên nhận thức của những thương nhân, những chuyên gia phân tích rủi ro và những hộ gia đình đã được khảo sát tại một số quốc gia khác nhau và dựa trên những quan điểm chủ quan. nhận thức về tham nhũng tại Indonexia có thể đã bị ảnh hưởng từ chính những thay đổi của đất nước. tham nhũng được phơi bày nhiều hơn từ sau sự sụp đổ của chế độ Trật tự mới, đặc biệt là sự xuất hiện của lực lượng truyền thông mạnh mẽ chĩa mũi nhọn vào tham nhũng, điều này có thể đã hướng người dân tới kết luận là thực trạng đất nước tồi tệ hơn thực tế đang diễn ra. Vì vậy, mức độ tham nhũng của Indonexia có thể không khác mấy so với một số nước đang phát triển khác.

Cuộc khảo sát quốc gia về tham nhũng ở Indonexia trong chương trình đối tác cải cách quản trị đã cung cấp nguồn thông tin dồi dào về nhận thức của người dân, công chức và thương gia ddaxx đưa ra kết quả là 75% số người được hỏi trả lời rằng tham nhũng là chuyện bình thường trong khu vực công. Ngoài ra, 65% người dân trả lời rằng họ có kinh nghiệm về tham nhũng và 70% trong số tất cả những người được hỏi nhận thức tham nhũng như là một căn bệnh và tất cả người dân nên chống tham nhũng, tố cáo tất cả các vụ việc mà họ biết. Dưới 5% đồng ý tham nhũng là một sự kiện tự nhiên và là một phần trong đời sống thường nhận nên tố giác tham nhũng là điều không cần thiết.

Có thể thấy rằng, người dân Indonexia rất ít niềm tin vào cơ quan nhà nước. Những cơ quan được coi là tham nhũng nhất như các cơ quan tư pháp chủ yếu là cảnh sát, tòa án, công bố và Bộ Tư pháp, những cơ quan quan trọng trong lĩnh vực thu thuế và quản lý, Bộ công trình công cộng và ngân hàng trung ương. Ngược lại, các thiết chế phi nhà nước gồm các tổ chức tôn giáo, giới truyền thông mới các tổ chức phi Chính phủ được xếp vào những thể chế ít tham nhũng nhất.

Thứ hai, những cơ quan bị xếp loại tham nhũng nhất thì đồng thời hiệu quả hoạt động cũng thấp nhất. Người dân thường tìm đến các thiết chế phi nhà nước đáng tin cậy hơn, coi đó như một nguồn thay thế để cung cấp một số dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tư pháp và giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, từ những phân tích trên có thể thấy nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan của tham nhũng tại Indonexia. Mặc dù những nhận định đó chỉ rõ niềm tin mạnh mẽ rằng tham nhũng có thể bị quy là hậu quả của tình trạng lương thấp trong hoạt động công vụ, thiếu đạo đức cá nhân, thiếu sự kiểm soát và trách nhiệm giải trình, nhưng một phân tích dữ liệu thận trong hơn đã đưa đén một kết luận phức tạp hơn. Các nhà nghiên cứu đã xây dựng một chỉ số tham nhũng từ các biến số nhất định nhằm đạt được một phạm vi nhận thức về mức độ của tham nhũng từ cao xuống thấp. Sử dụng phép phân tích hồi quy, họ tìm ra bốn nhân tố có liên quan chặt chẽ tới nhận thức tham nhũng ở mức thấp là quản lý chất lượng cao, đây là sự hiện diện của những quy tắc chính thức, sự thực hiện hiểu quả những quy định đó và hạn chế sự tùy tiện; những giá trị chống tham nhũng mạnh mẽ về mặt tổ chức; quản lý công chức chất lượng cao và quản lý mua sắm công chất lượng cao. Lương công chức và đạo đức của họ không ảnh hưởng nhiều tới nhận thức thấp về tham nhũng, cá yếu tố khác như độ tuổi, giới tính và trình độ của công chức cũng ít ảnh hưởng đến nhận thức của họ về mức độ tham nhũng. Từ những nhận định của chuyên gia cho thấy chất lượng quản lý trong khu vực công là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc chiến chống tham nhũng mà không gì có thể thay thế được.

Xét về hậu quả kinh tế xã hộinặng nền của tham nhũng để lại hậu quả kinh tế xã hội nặng nền đối với Indonexia. Mặc dù tham nhũng gây hậu quả lên toàn bộ xã hội nhưng gây ra hậy quả nặng nền nhất đối với người nghèo. Tham nhũng gây hậu quả trên nhiều phương diện và được biểu hiện chủ yếu là những hành vi không có ích và nó hạn chế động lực tại ra những hành vi có ích. Hậu quả kinh tế của tham nhũng gồm những thiệt hại về mặt hiệu quả kinh tế phát sinh từ việc lãng phí hoặc phân phối không hợp các nguồn lực, thủ tiêu cạnh tranh và chi phí giao dịch cao. Chi phí cơ hội ở Indonexia là một minh chứng. Khoảng 35% doanh nghiệp Indonexia được hỏi cho biết họ đang từ bỏ đầu tư trong nước vì chi phí cao do tham nhũng. Trong chương trình đối tác cải cách quản trị ở Indonexia 2001 đã cố gắng định lượng một vài hậu quả kinh tế của tham nhũng trong cuộc khảo sát. Kết quả cho thấy hơn một phần tư công chức nước ngày có sai phạm về ngân sách trong năm 2000- 2001 vì gian lận, sử dụng quỹ sai mục đích hoặc những hình thức lạm dụng địa vị khác. Đồng thời, các cơ quan nhà nước phải trả tiền để được phân bổ ngân sách. Việc sử dụng quỹ sau mục đích dẫn đến những thất thoát công quỹ và làm giảm mức độ dịch vụ công mà các cán bộ có thể cung cấp.

Người dân và doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả kinh tế bởi những khoản chi phí không chính thức, người dân nước này cho biết họ đang phải mất đi khoảng 1% thu nhập hàng tháng cho những khoản chi phí như vậy và các doanh nghiệp phải chi khoảng 5% tổng thu nhập doanh nghiệp hàng tháng của họ, nhưng ảnh hưởng của tham nhũng lên những chi phí kinh doanh là không giống nhau: khoản chi không chính thức mà các nhà kinh doanh quy mô nhỏ phải bỏ ra thường chiếm một phần lớn hơn trên thu nhập của họ so với các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn.

Tham nhũng gây ra hậu quả đối với xã hội, thông qua sự phát triển nhanh chóng của những mạng lưới bất quy tắc và không minh bạch, những quy tắc ngầm này làm suy yếu các quy định của luật pháp và quyền lực của chính quyền, giảm trách nhiệm giải trình là hiệu lực của cơ quan công quyền trong việc thực thi quyền lực công vụ. Thực tiễn đã chứng minh khi quân đội, cảnh sát, cơ quan hải quản trong các vụ buôn lậu, tống tiền và những hình thức tội phạm có tổ chức khác đã được kết hợp với sự gia tăng của tình trạng không tuân thủ pháp luật của rất nhiều cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ công dân. Vì vậy, có lẽ tác hại lớn nhất của tham nhũng là sự mất niềm tin của người dân vào chính quyền và hậu quả trực tiếp nhất là người nghèo bị ảnh hưởng bởi họ không biết giá trị thực của hàng hóa và dịch vụ mà họ sử dụng bởi … các mức thuế của các hàng hóa dịch vụ sẽ bị áp đặt mà các cơ quan có trách nhiệm kiểm soát sẽ khó thực hiện được nhiệm vụ. Những người nghèo thường rơi vào tình trạng bị động bởi họ bị phụ thuộc vào hàng hóa công nên khi nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi tham nhũng các hoạt động cung cấp hàng hóa công bị ảnh hưởng và làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế, đẩy người nghèo vào dòng xoáy của cuộc khủng hoảng kinh tế.

Có 4 dạng tác hại chính của tham nhũng:

Thứ nhất, hậu quả về tài chính vì tham nhũng bòn rút ngân sách vốn rất eo hẹp

Thứ hai, hậu quả về tài chính vì tham nhũng làm xói mòn những nguyên tắc pháp luật và củng cố “văn hóa tham nhũng”

Thứ ba, làm mất nền tảng xã hội, vì tham nhũng hủy hoại niềm tin gây tổn hại những mối quan hệ và làm mục rỗng những mối liên kết cộng đồng

Thứ tư, ăn mòn nguồn lực con người, vì tham nhũng làm giảm cơ hội sử dụng những dịch vụ xã hội và hơn nữa là hạn chế tác dụng của những dịch vụ này.

Ở Indonexia tham nhũng có nguồn gốc từ thời kỳ thuộc địa, nhưng cũng là một phần di chứng từ thế kỷ của thời kỳ hậu thuộc địa, trong ba thập kỷ của Tổng thống Suhacto (1966-1998) thì tham nhũng là một hậu quả có thể lường trước được của một Nhà nước the chủ nghĩa can thiệp cao độ. Hệ thống chủ Chính phủ đã “được thiết lập có chủ định nhằm kiếm chác những khoản phí theo ý muốn của Suhacto vì lợi ích của phe cánh của ông ta”.

Mối quan hệ giữa Nhà nước và những kẻ tham nhũng là mối quan hệ cộng sinh, nó không có nghĩa là những tập đoàn có liên quan tới Suhacto trực tiếp làm lũng đoạn Nhà nước. Thay vào đó, những tập đoàn này là một phần của một hệ thống cấp phép phức tạp. Suhacto với vai trò là người đứng đầu hệ thống cấp phép, đã bóp méo vai trò xây dựng chính sách của một quốc gia để biến các chính sách thành một thứ hàng hóa có thể bán và trao đặc quyền về độ quyền cho những người thân tín của ông ta và sự bảo hộ trước hàng hóa nhập khẩu; trao các hợp đồng của Chính phủ, quyền sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và ban phát những đặc ân về thuế. Những văn bản của Tổng thống đem đến những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho những người được cấp phép. Các doanh nghiệp phải tiếp cận những người thân tín của Tổng thống để có được những dự án lớn. Việc cấp phép chỉ có ý nghĩa trong một chừng mực nhất định. Việc dùng thuật ngữ cấp phép có vẻ chứa đựng tính tích cực và hiện đại vì dễ làm cho người ta quên đi nguồn gốc phong kiến của những mối quan hệ này.

Trong ba thập kỷ qua mặc dù tham nhũng ở mức nghiêm trọng dẫn đến khủng hoảng tài chính nhưng Indonexia vẫn thu hút đầu tư mạnh mẽ, nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng và giảm nghèo đáng kể. Những thành tích tăng trưởng kinh tế được duy trì ở Indonexia, trong khi các nước Đông Nam Á khác đang phải đối mặt với vấn đề tham nhũng trầm trọng đã làm cho nhiều học giả cho rằng quản trị kém không phải là trở ngại đối với tăng trưởng kinh tế. có thể nhận thấy rằng các hình thức tham nhũng sẽ thay đổi cùng với các chính sách theo thời gian, các khoản phí có được từ hoạt động kiểm soát việc thực hiện các quy định được thay thế bằng các khoản bớt xén được từ mua sắm công, sau đó được thay thế bằng những khoản thuế trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng. Đến đầu những năm 1990 nhân tố phổ biến là sự tự hạn chế những lợi ích của sự duy trì quyền lực và kiểm soát dẫn đến mức thuế tăng lên nhưng tổng thu nhập từ thuế lại giảm. Tổng thống Suhacto đã trừng phạt nghiêm khắc những người có hành vi lạm dụng đặc quyền cấp phép, sa thải Bộ trưởng có hành vi tham nhũng quá mức và tư nhận hóa tạm thời dịch vụ hải quan. Điều này mang lại niềm tin và một kết quả có thể dự toán đối với tham nhũng trong hệ thống Indonexia và cũng có thể là lý do để quyết định đầu tư.

Từ năm 1970, Tổng thống Suhacto đã mở một tài khoản vốn với mục đích làm giảm những rủi ro, hạn chế những hành vi không thể dự báo của những nhà xây dựng chính sách trong nước vốn có thể châm ngòi cho các đồng vốn ra đi và đây cũng là cơ hội đảo ngược các quyết định chính sách để làm yên làm các nhà đầu tư khi cần thiết.

Các nhà phân tích cho rằng, năng lực được sử dụng để kiểm soát tham nhũng còn được sử dụng để dập tắt bất kỳ một sự chống đối nghiêm trọng nào đối với những thế lc thống trị. Điều này để lại hậu quả nặng nề đối với sự phát triển lâu dài của Indonexia. Những hậu quả này đã bộc lộ sức tấn công của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 khi Indonexia nhận thấy sự tích tụ nhanh chóng của các khoản nợ công và sự sụt giảm quá mức giá trị tài sản của ngân hàng. Ngoài ra, còn có những hậu quả khác đi liền với ự suy yếu có hệ thống của những nguồn tài nguyên rừng của Indonexia, đó là sự phá hủy về môi trường trong một thời gian dài.

Tóm lại, nền dân chủ non trẻ của Indonexia đã kế thừa một nền hành chính yếu kém và tham nhũng, những cơ quan điều tiết năng lực nghèo nàn và tham nhũng ẩn trong hệ thống pháp luật, nền kinh tế và cấu trúc chính trị quốc gia. Sự cấu kết giữa các doanh nghiệp với Chính phủ đã dẫn đến hậu quả là một nền kinh tế méo mó, kém phát triển và chỉ bảo vệ lợi cho tài chính của những nhóm quyền lực chính trị ngay cả khi những lợi ích xung đột với quyền lợi cộng đồng. Các thế lực kinh doanh hùng hậu của Indonexia đã trưởng thành và thành công trong một môi trường chủ yếu dựa trên những mạng lưới và mối quan hệ hơn là dựa trên nền tảng pháp luật.

a) Cải cách giáo dục là quá trình liên tục

Người Nhật Bản bước vào thế kỷ XXI với tham vọng xây dựng đất nước hùng cường và dẫn đầu thế giới. Giáo dục được coi là nền tảng trong một trăm năm tới của quốc gia. Muốn vậy phải đẩy mạnh cải cách giáo dục để xây dựng một đất nước của giáo dục và nguồn lực con người, một đất nước dựa trên sáng tạo và khoa học công nghệ. Cuộc cải cách giáo dục trong thế kỷ XXI này được gọi là cuộc cải cách giáo dục thứ ba.

Cuộc cải cách giáo dục thứ nhất ở Nhật Bản bắt đầu từ năm 1872, năm đầu tiên của vương triều Minh Trị. Thành công của cuộc cải cách này là chuyển nền giáo dục truyền thống của Nhật Bản sang hệ thống giáo dục mới, với các nhà trường hiện đại, bắt nhịp với cuộc cách mạng công nghiệp.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bước vào cuộc cải cách giáo dục thứ hai. Triết lý cơ bản của nó là bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi người. Triết lý này được thể chế hóa trong Luật cơ bản về giáo dục ban hành năm 1947, trong đó quy định giáo dục bắt buộc 9 năm. Cuộc cải cách này kéo dài cho đến cuối thế kỷ XX, được bổ sung và hoàn thiện không ngừng và được đánh giá là động lực hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản.

Tuy nhiên, Hội đồng quốc gia cải cách giáo dục của Nhật Bản cho rằng, cả hai cuộc cải cách giáo dục vừa qua đều theo đuổi một định hướng về chính sách như nhau. Đó là chính sách giáo dục đuổi kịp các nước đi trước. Chính sách này dẫn đến một tình trạng nghiêm trọng gọi là sự phân rã giáo dục mà nhiều biểu hiện bức xúc của nó đang gây lo lắng trong dư luận xã hội.

b) Sự phân rã giáo dục

Đó là tình trạng trong đó đã mất đi sự liên kết cần thiết giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và cộng đồng. Việc đô thị hóa xã hội Nhật Bản cùng việc giảm bớt tỷ lệ trẻ em trong cơ cấu dân số đã dẫn đến việc buông lỏng vai trò giáo dục của gia đình và cộng đồng. Về phía học sinh, do việc quá đề cao quyền tự do cá nhân, cùng việc thay đổi mạnh mẽ môi trường sống (trẻ em có buồng riêng, sử dụng rộng rãi điện thoại di động, chơi nhiều với thiết bị điện tử hơn là chơi với bạn bè), nên các em ít quan tâm đến giao tiếp gia đình và quan hệ cộng đồng, sống ích kỷ hoặc có mình trong thế giới riêng.

Nhà trường cũng có trách nhiệm trong hiện tượng phân rã này. Quy định cứng nhắc về việc tiêu chuẩn hóa giáo dục đã dẫn đến việc dạy và học trong nhà trường trở thành đơn điệu, thậm chí quá tải, miễn sao các em đều được cung cấp những kiến thức và kỹ năng như nhau theo quy định. Năng lực cá nhân không được quan tâm và càng học lên thì học sinh giỏi cũng như học sinh kém càng cảm thấy chán theo cách riêng của mình.

Hệ quả của sự phân rã giáo dục này là hiện tượng mất kỷ cương trường lớp, một vấn đề nhức nhối trong xã hội Nhật Bản hiện nay. Trong trường là các hành vi trốn học, bỏ học, bạo lực học đường. Ở nhà nảy sinh vấn đề con hư, “thế giới cô lập” của trẻ, sự phá vỡ các quan hệ truyền thống trong gia đình. Ngoài xã hội, có chiều hướng gia tăng các tội phạm hình sự do vị thành niên gây nên.

c) Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI của Nhật Bản

Bộ Giáo dục Nhật Bản đặt vấn đề xây dựng Chương trình cải cách giáo dục từ năm 1997. Nguyên tắc cơ bản là phải đặt cuộc cải cách giáo dục này trong mối quan hệ gắn bó với các cải cách khác về hành chính nhà nước, cơ cấu kinh tế, hệ thống tài chính, an sinh xã hội trong bối cảnh thế giới đang chuyển từ xã hội công nghiệp truyền thống sang xã hội dựa trên tri thức.

Chương trình cải cách giáo dục được lấy ý kiến và chỉnh lý hàng năm. Đến năm 2000, Thủ tướng Nhật Bản thành lập Ủy ban quốc gia cải cách giáo dục. Cuối năm 2000, Ủy ban này trình Báo cáo với 17 đề xuất về thay đổi giáo dục. .

Trong Báo cáo của mình, Ủy ban xuất phát từ một tư duy giáo dục chủ đạo hướng tới xã hội học tập suốt đời, trong đó năng lực cá nhân được tôn trọng và người học có khả năng ứng đáp linh hoạt trước những thay đổi của đời sống kinh tế - xãhội, trong đó có vấn đề quốc tế hóa và tin học hóa. Vì vậy, cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI phải là cải cách về Cơ cấu giáo dục để toàn bộ hệ thống giáo dục đáp ứng được tốt hơn các nhu cầu của người dân và yêu cầu của xã hội, trong đó những vấn đề ưu tiên là đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các nhà trường, đổi mới cách đánh giá. Ủy ban đưa ra hai nguyên tắc cơ bản: Một là, phải chuyển từ giáo dục theo chuẩn sang giáo dục phát huy năng lực cá nhân; Hai là, phải huy động toàn bộ nhà trường, gia đình và cộng đồng để thực hiện cải cách. Trên cơ sở đó, ba mục tiêu cơ bản được đề ra là: Thứ nhất, người học được bồi dưỡng tinh thần nhân văn phong phú; Thứ hai, hệ thống giáo dục tạo điều kiện phát huy năng lực cá nhân và bồi dưỡng tài năng sáng tạo; Thứ ba, tạo dựng các nhà trường mới phù hợp với các yêu cầu của thời đại mới.

Để đạt được các mục tiêu trên, Ủy ban đề xuất 17 giải pháp cụ thể. Trong đó rất đáng quan tâm là các giải pháp sau: giáo dục phải được bắt đầu tại nhà, ở đó, các em được trau dồi những thói quen tốt, được nuôi dưỡng những đức tính cần thiết, được làm quen với những quy tắc xã hội cơ bản; nhà trường phải đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức; cộng đồng phải tạo điều kiện và lôi cuốn học sinh vào các hoạt động xã hội; xây dựng hệ thống giáo dục mềm dẻo phù hợp với tính cách và năng lực khác nhau của người học; đa dạng hóa công tác tuyển sinh đại học, khắc phục tình trạng học vẹt; nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong trường đại học để có những nhân tài lãnh đạo trong các lĩnh vực; đẩy mạnh phân cấp quản lý trong giáo dục phổ thông để nhà trường có nhiều quyền tự chủ hơn về chuyên môn, tài chính và nhân sự, chú trọng đánh giá, bồi dưỡng giáo viên, khen thưởng giáo viên giỏi, chuyển giáo viên yếu sang làm việc khác.

d) Kế hoạch cầu vồng

Đó là kế hoạch hành động do Bộ trưởng Giáo dục Nhật Bản ban hành để triển khai thực hiện các đề xuất của Ủy ban quốc gia cải cách giáo dục. Kế hoạch này nhằm đem lại sức sống mới cho nhà trường, gia đình và cộng đồng để giáo dục được thay đổi và nhà trường được hoàn thiện. Nó dựa trên bảy ưu tiên chiến lược và vì vậy được gọi là kế hoạch cầu vồng.

Các ưu tiên chiến lược là:

- Nâng cao thành tích học tập cơ bản của học sinh trong các “lớp học dễ hiểu”;

- Bồi dưỡng cho tuổi trẻ tinh thần cởi mở và nhân văn thông qua việc tham gia các dịch vụ cộng đồng và nhiều chương trình khác;

- Hoàn thiện môi trường học tập đem lại niềm vui và không có âu lo;

- Tăng cường sự tin tưởng của các bậc phụ huynh và cộng đồng đối với nhà trường;

- Đào tạo giáo viên thành các nhà chuyên nghiệp thực thụ về giáo dục;

- Thúc đẩy thành lập các trường đại học đạt chuẩn quốc tế;

- Hình thành triết lý giáo dục phù hợp với thế kỷ mới và hoàn thiện việc cung ứng giáo dục;

- Để tổ chức thực hiện kế hoạch cầu vồng, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã triển khai nhiều giải pháp, mở đầu bằng cuộc “vận động quốc gia và cải cách giáo dục” trong đó Bộ trưởng Giáo dục cùng các quan chức giáo dục đi khắp cả nước để giao lưu và đối thoại trực tiếp với dân chúng.

đ) Triển khai vững chắc

Khẩu hiệu trong cải cách giáo dục Nhật Bản hiện nay là “đầu tư cho giáo dục là chiến lược quốc gia”. Nhà nước tăng cường đầu tư cho giáo dục, coi đó là điều kiện cần để cải cách thành công. Tuy nhiên, để bảo đảm sử dụng có hiệu quả tiền đóng thuế của người dân, yêu cầu đặt ra là phải cung cấp thông tin kịp thời và minh bạch về các khoản chi cho cải cách và kết quả đạt được.

Một trong những hoạt động đầu tiên mà người dân Nhật Bản quan tâm là việc triển khai chế độ tuần học 5 ngày toàn diện. Mục tiêu của chế độ học tập này là giảm áp lực học tập cho học sinh, dành cho các em nhiều thời gian hơn ở nhà và cộng đồng, tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động xã hội và thiên nhiên, qua đó các em sẽ nuôi dưỡng niềm vui sống, khả năng tự học, tự suy nghĩ, nhân cách phong phú, sức khỏe dồi dào.

Ngành giáo dục Nhật Bản triển khai chế độ học tập này một cách thận trọng từ năm 1992. Thoạt đầu chỉ là có thêm một ngày nghỉ học vào thứ bảy trong tuần thứ hai của mỗi tháng. Trong hai năm liên tiếp, nhà trường, gia đình và cộng đồng phối hợp chặt chẽ để đánh giá mặt được và chưa được của chế độ học tập đó theo mục tiêu đề ra. Trên cơ sở kết quả tích cực đạt được, từ năm 1995, thực hiện chế độ có hai ngày nghỉ học vào các ngày thứ bảy trong tuần thứ hai và thứ tư của tháng và phải đến năm 2002, mới triển khai đại trà trong toàn quốc chế độ tuần học 5 ngày toàn diện.

Sở dĩ phải làm như vậy vì việc thay đổi chế độ học tập này đòi hỏi phải có sự thiết kế lại chương trình giáo dục nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra, đồng thời chú trọng đến từng cá nhân học sinh. Chương trình cũng phải tính đến những hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, trong đó điều quan trọng là làm thế nào lôi kéo được sự tham gia của mọi người, xây dựng cho họ năng lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Đến nay, những kết quả tích cực đạt được về đạo đức, phẩm cách và năng lực của học sinh qua chế độ tuần học 5 ngày được khẳng định và đem lại niềm tin cho xã hội trong việc khắc phục tình trạng phân rã giáo dục.

Một hoạt động khác được đánh giá cao là việc xây dựng mới Luật cơ bản về giáo dục. Hơn nửa thế kỷ qua, giáo dục Nhật Bản hoạt động trong khuôn khổ của Luật cơ bản về giáo dục ban hành từ năm 1947. Cuộc cải cách giáo dục ngày nay đòi hỏi phải xây dựng mới luật này với các mục tiêu cơ bản là: phát triển ở người học các năng lực cá nhân, tinh thần độc lập, trái tim nhân hậu và đời sống khỏe mạnh để trở thành người dẫn đầu sáng tạo trong thế kỷ tri thức, nuôi dưỡng ý thức công dân để người học đóng góp tích cực vào việc hình thành nhà nước và xã hội của thế kỷ XXI; người học biết giữ vững truyền thống và văn hóa Nhật Bản để sống trong thế giới toàn cầu hóa.

Dự thảo luật đã được xây dựng từ năm 2001, được đóng góp ý kiến rộng rãi và đã được trình thông qua vào tháng 12-2006 với nhiều quy định mới về: xây dựng giáo dục nhà trường tin cậy đẩy mạnh học tập suốt đời; thúc đẩy cải cách đại học, khôi phục năng lực giáo dục tại nhà, trách nhiệm công dân; sự tôn trọng truyền thống văn hóa, tình yêu đối với gia đình, đất nước và tinh thần quốc tế.

e) Kế hoạch cơ bản để đẩy mạnh giáo dục

Thực thi Luật cơ bản về giáo dục (sửa đổi), năm 2008 Chính phủ Nhật Bản ban hành Kế hoạch cơ bản lần thứ nhất về đẩy mạnh giáo dục. Kế hoạch này xác định tầm nhìn trong 10 năm tiếp theo là: Một là, tạo dựng nền móng về tinh thần độc lập cho mọi trẻ em khi kết thúc giáo dục cưỡng bức; Hai là, phát triển nguồn nhân lực đủ năng lực thúc đẩy và phát triển xã hội Nhật Bản, đồng thời dẫn dắt cộng đồng quốc tế. Bốn định hướng chính cách được đưa ra: Một là, huy động toàn xã hội cải thiện giáo dục; Hai là, xây dựng nền tảng để từng người sống với tư cách cá nhân, đồng thời là thành viên của một xã hội biết tôn trọng và phát triển năng lực cá nhân; Ba là, bồi dưỡng những con người trí tuệ có giáo dục và chuyên sâu để hỗ trợ sự phát triển xã hội; Bốn là, bảo đảm an toàn và an sinh cho trẻ em, duy trì một môi trường chất lượng cao cho giáo dục.

Đánh giá việc thực hiện Kế hoạch lần thứ nhất, Chính phủ Nhật Bản cho rằng, giáo dục vẫn còn xa với tầm nhìn đặt ra. Đó là vì ba lý do chính sau đây trong tổ chức thực hiện của ngành giáo dục: 1) Thiếu viễn kiến trong đánh giá các điểm mạnh của cá nhân; 2) Thiếu gắn kết giữa các giai đoạn học tập, cũng như giữa nhà trường và xã hội; 3) Thiếu hiệu quả trong việc thực hiện chu trình PDCA (Plan-Do-Check-Act, tạm dịch là Hoạch định - Thực thi - Kiểm tra - Hành động, một chu trình chuẩn gồm bốn bước trong quản lý sự thay đổi để bảo đảm có bước tiến không ngừng trong tổ chức thực hiện). Vì thế, cùng với những bài học từ thảm họa động đất, sóng thần năm 2011, Kế hoạch lần thứ hai cho giai đoạn 5 năm 2013 - 2017 cụ thể hóa tầm nhìn trong định hướng xây dựng một xã hội học tập suốt đời với ba đặc trưng cơ bản: 1) Tính độc lập của cá nhân; 2) Tinh thần hợp tác giữa người với người; 3) Việc sáng tạo các giá trị mới dựa trên tính độc lập và tinh thần hợp tác.

Bốn định hướng chính sách mới được đưa ra: 1) Bảo đảm rằng các kết quả học tập đầu ra đem lại cho người học những năng lực xã hội để sinh tồn trong những bối cảnh biến động; 3) Phát triển nguồn nhân lực để tạo ra bước tiến nhanh hướng đến tương lai; 3) Xây dựng những mạng lưới học tập an toàn đường đến tính độc lập và tinh thần tham dự trong xã hội;4) Thiết lập các mối liên kết và cộng đồng sôi động để tạo nên một vòng phát triển, trong đó xã hội nuôi dưỡng con người và con người thúc đẩy xã hội.

Ngoài ra, với tinh thần áp dụng hiệu quả mô hình PDCA, bốn định hướng chính sách trên được cụ thể hóa thành tâm mục tiêu cụ thể, cùng với những chỉ tiêu và giải pháp thực hiện. Trên hết là một yêu cầu về nhận thức đối với toàn xã hội là nước Nhật Bản đang trong tình trạng khủng hoảng, với một ngành công nghiệp đang rỗng ruột, một dân số già hóa với lực lượng lao động giảm, cùng nhiều vấn đề nghiêm trọng khác trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh chóng và phức tạp. Nhật Bản cho rằng, chẳng có giải pháp nào là trọn vẹn, vấn đề là ở chỗ mỗi người cùng hiểu rõ tình thế để thấy rằng không làm gì cả là điều nguy hiểm nhất, rằng cải cách giáo dục không phải là công việc của một ngày, nó cần sự hỗ trợ của toàn xã hội để giáo dục hoàn thành được chiến lược nguồn lực con người với các mục tiêu cơ bản là: đào tạo những người Nhật Bản khỏe mạnh, suy nghĩ và hành động tự tin, nuôi dưỡng các tài năng dẫn đầu thế kỷ tri thức, phát huy người Nhật Bản trong việc giữ gìn và phát triển một xã hội văn hóa phong phú về tinh thần; khuyến khích người Nhật Bản được giáo dục trong đời sống quốc tế. Việc triển khai chiến lược đang được sự quan tâm của toàn xã hội, với tầm nhìn là đưa Nhật Bản trở thành “một quốc gia giáo dục và văn hóa”, “một quốc gia dựa trên sáng tạo khoa học và công nghệ”.

I. Giới thiệu toàn cảnh về nền giáo dục và đào tạo ở Việt Nam khi tiến hành đổi mới

Hiện nay vẫn còn nhiều cách tiếp cận khác nhau khi đánh giá về giáo dục, nhưng trước hết phải xuất phát từ những quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục ở tầm bao quát chung đã được nêu trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết sô 29 NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo nước ta. Tại thời điểm bắt đầu triển khai thực hiện, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phụ thuộc rất nhiều vào cách tiếp cận, đánh giá trên từng lĩnh vực. Khi đánh giá thực trạng giáo dục cần phải được tiếp cận một cách lôgích, biện chứng, phải phân tích theo quan điểm lịch sử - cụ thể, có sự so sánh giữa kết quả đạt được trong từng giai đoạn phát triển giáo dục; so sánh với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là đối với những nước có hoàn cảnh tương tự như Việt Nam. Việc đánh giá cần bảo đảm tính khách quan, khoa học, toàn diện, không thể tránh những vấn đề khó, chỉ rõ những thành tựu, cũng như những bất cập, yếu kém, khuyết điểm chủ yếu đang được xã hội hết sức quan tâm, đặc biệt là làm rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đánh giá giáo dục phải dựa trên chất lượng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vào nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển đất nước.

Hơn sáu thập kỉ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ sau khi có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết số 29 NQ/TW khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tạo nên một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức và tay nghề, có những đóng góp xứng đáng vào việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp sau gần 30 năm đổi mới; cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần đào tạo, bồi dưỡng nên những thế hệ cán bộ trẻ kế tiếp, giàu trí tuệ và năng động.

Thứ năm, 15 Tháng 3 2018 08:12

Cuộc cách mạng học tập

Kể từ thời La Mã, khi mà những dữ liệu đầu tiên về sản lượng bình quân đầu người được sử dụng, cho đến năm 1800, mức sống trung bình của con người hầu như không hề tăng thêm một chút nào (xem ví dụ trong Madison 2011). Nhu cầu tiêu thị của đại đa số nhân loại đều tập trung chủ yếu vào lương thực, và lương thực thì lại bị giới hạn rất lớn ở một số sản phẩm nông sản như gạo, bột mì và các loại hạt khác. Nhà ở thì vẫn còn thô sơ và không hề có chút riêng tư, và nguồn nhiệt sưởi vào mùa đông là cách thức duy nhất để kiểm soát khí hậu. Con người ăn mặc chủ yếu hướng đến sự tiện lợi và hiếm khi được khoác thêm một món đồ nào khác ngoài quần áo mặc ngoài khi giao mùa. Chăm sóc y tế gần như không hề tồn tại. Du lịch cũng rất hiếm thấy, phần lớn chỉ tại địa phương, đã thế lại rất khó khan và không thoải mái. Các trò giải trí đều là tự nghĩ và rất thô sơ. Chỉ có một phần nhỏ những người quý tộc là được phép hưởng thụ thứ mà ngày nay chúng ta chỉ xem như một mức sống thích hợp của một người bình thường – các loại thực phẩm tươi sống, bao gồm thịt: những căn phòng ấm cúng và kín đáo; nhiều bộ quần áo để mặc vào những dịp khác nhau; chăm sóc y tế và cá nhân ở cấp độ cơ bản; và các cơ hội đi du lịch và trải nghiệm các hoạt động giải trí sành điệu khác.

Bắt đầu từ năm 1800, với một sự tăng tốc rõ rệt cho tới nửa sau thế kỷ XIX, mức sống đặc quyền do đã bắt đầu trở nên phổ biến trên khắp châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương. Tác động của sự thay đổi này là rất rõ ràng, ngay cả trong những bài luận quan trọng vào thời đó. Bằng nhiều cách khác nhau, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã trở thành khúc khải hoàn cho những tiến bộ rõ rệt của một tiềm năng kinh tế mới - những lợi ích từ những điều vẫn chưa được chia sẻ rộng rãi.

Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam thực chất là một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng gắn liền với đổi mới tư duy của Đảng về giáo dục, từ tư duy đổi mới từng phần, có tính chắp vá trước kia sang tư duy đổi mới tổng thể, đồng bộ, nhất quán và hướng tới một mô hình mới về phát triển giáo dục với những đặc trưng cơ bản theo hướng chuyển phát triển giáo dục từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu về số lượng. Đồng thời, chuyển trọng tâm giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Cùng với đó, chuyển hệ thống giáo dục từ khép kín sang mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường đi đôi với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục.

Thực hiện bước chuyển sang mô hình phát triển giáo dục nêu trên là công việc lâu dài, khó khăn và phức tạp. Công việc này đòi hỏi trước hết nhận dạng cho đúng các rào cản cơ bản đang ngáng trở quá trình chuyển đổi. Các rào cản này được hình thành từ các điểm yếu và thách thức nêu trên và được đánh giá như các điểm nghẽn của giáo dục. Xét như vậy thì giáo dục nước ta đang đứng trước ba điểm nghẽn sau đây:

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Quản lý theo pháp luật là nguyên tắc cơ bản của hành chính công. Hành vi quản lý của Nhà nước phải đúng đắn, công bằng. Người làm trái pháp luật phải chịu trách nhiệm về pháp luật hành chính. Muốn pháp chế hóa hành chính công thì phải kiện toàn hệ thống pháp luật hành chính, hoàn thiện chế độ pháp luật hành chính, tăng cường giám sát hoạt động hành chính. Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý nhà nước bằng pháp luật, dựa vào pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thực hiện mục tiêu thượng tôn pháp luật.

Pháp trị là một hình thái ý thức có từ lâu, là phương châm quản lý nhà nước và là một hiện tượng văn hóa xã hội. Trong các thời đại khác nhau, nội hàm và ý nghĩa của nó không giống nhau. Ở Việt Nam, quan niệm này đã có từ thời xa xưa, theo đó, ý nghĩa của pháp trị trong giai đoạn này là thuật cai trị dân, khác với quan niệm pháp trị cận đại và hiện đại. Nhà triết học Aristote cũng đề cao quan điểm pháp trị, theo ông thì “Pháp trị nên bao hàm hai ý nghĩa: pháp luật đã xây dựng được phục tùng một cách phổ biến và pháp luật được mọi người phục tùng là pháp luật được xây dựng tốt”.

Chủ nghĩa pháp trị là nguyên tắc chính trị và nguyên tắc trị quốc cơ bản, ra đời và xác lập trong cách mạng dân chủ cận đại. Trong thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản, để chống lại chế độ phong kiến, giai cấp tư sản đã đề xướng chủ nghĩa pháp trị. Sau khi cách mạng tư sản thắng lợi, lý luận pháp trị đã đi vào thực tiễn, được coi là nguyên tắc cơ bản của các quốc gia lập hiến.

Theo quan niệm pháp trị thì pháp luật giữ địa vị thống trị trong đời sống xã hội và chính phủ phải làm việc theo pháp luật.

Các học giả Anh đương đại lại cho rằng pháp trị có ý nghĩa là: Thứ nhất, mọi hoạt động của chính phủ phải tuân theo pháp luật; Thứ hai, tôn trọng quyền lợi và tự do của công dân; Thứ 3, mọi người được pháp luật bảo hộ một cách bình đẳng; Thứ tư, pháp luật không thiên vị giữa công dân và nhà nước.

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu pháp luật của Mỹ cho rằng: Bản chất của pháp trị là khi đối xử với công dân, nhà nước phải vận dụng một cách trung thực những nguyên tắc đã được tuyên bố trước mà công dân phải tuân theo và quyết định quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Theo đó, pháp trị, với tư cách là một một nguyên tắc và phương thức quản lý phổ biến của hành chính công, có nghĩa là nhà nước phải căn cứ vào pháp luật để tổ chức công việc và sử dụng quyền lực của mình, hành vi hành chính của nhà nước phải chịu sự ràng buộc của pháp luật, không được vượt quá phạm vi cho phép của pháp luật. Nếu vượt qua sự cho phép đấy tức là vi phạm pháp luật, và tất nhiên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Kế toán ngân sách là việc hạch toán, phản ánh, giám sát tình hình thu chi ngân sách của cơ quan chính quyền các cấp và các đơn vị hành chính, sự nghiệp từ trung ương đến địa phương. Đó là hệ thống thông tin quản lý và phương tiện quản lý vĩ mô mà trung tâm là quản lý ngân sách. Như vậy, có thể nhận thấy, kế toán ngân sách có các ý nghĩa như sau:

Một, kế toán ngân sách phục vụ cho việc quản lý ngân sách. Nó cung cấp những thông tin chuẩn xác, đáng tin cậy về kế toán để phục vụ việc quản lý vĩ mô đối với dự toán tài chính, đồng thời thông qua việc hạch toán, giám sát để quản lý vi mô đối với dự toán của các đơn vị (bao gồm dự toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp).

Hai, kế toán ngân sách và kế toán doanh nghiệp là hai hệ thống kế toán lớn. kế toán ngân sách và kế toán doanh nghiệp đều lấy tiền làm đơn vị tính toán. Kế toán ngân sách phản ánh một cách liên tục, có hệ thống, hoàn chỉnh nghiệp vụ kinh tế và giám sát hoạt động quản lý kinh tế của các chủ thể kế toán, Trong quá trình thực hiện ngân sách, chức năng của kế toán ngân sách gắn liền với chức năng quản lý ngân sách, Chức năng cơ bản của nó là hạch toán phản ánh và giám sát tình hình thực hiện ngân sách.

Ba, đặc điểm của kế toán ngân sách là tính công cộng, tính phi lợi nhuận và tính tài chính. Tính công cộng của nó thể hiện ở chỗ chủ thể kế toán (các cơ quan của chính phủ và đơn vị sự nghiệp) là những tổ chức công cộng thực hiện các chức năng công cộng, đối tượng hạch toán là những khoản tiền công cộng, căn cứ hạch toán là công việc công cộng, chỉ tiêu kiểm tra chủ yếu là thành quả của các nghiệp vụ công cộng. Tính phi lợi nhuận của nó thể hiện ở chỗ, các chủ thể kế toán không theo đuổi mục đích lợi nhuận. Tính tài chính của nó thể hiện ở chỗ, quan hệ giữa tài chính quốc gia và ngân sách đơn vị là quan hệ cấp phát. Đó là những đặc điểm mà kế toán doanh nghiệp không có.

Bốn, khi kinh tế xã hội phát triển, chức năng tài chính thay đổi thì nhiệm vụ và vai trò của kế toán ngân sách cũng thay đổi. Trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, kế toán ngân sách có nhiệm vụ theo dõi tình hình thực hiện ngân sách, thực hiện sự điều hành vĩ mô và giám sát trật tự tài chính.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Thứ hai, 22 Tháng 1 2018 12:07

Xây dựng doanh nghiệp học tập

Xây dựng một doanh nghiệp “học tập” và “đổi mới”

Doanh nghiệp với tư cách là hạt nhân, là tế bào của nền kinh tế, với yêu cầu thúc đẩy học tập và đổi mới ở từng doanh nghiệp thì mới có hy vọng xây dựng một nền kinh tế tri thức, nền kinh tế học tập. Một trong những lợi thế của doanh nghiệp học tập là đầu tư nghiên cứu và chịu đựng những rủi ro

Những doanh nghiệp lớn thường xây dựng những bộ máy nhân lực để quản lý việc phân bổ nguồn lực, nếu kiến thức được xem là lưu truyền tự do trong một tổ chức, thì các cá nhân nhận ra rằng “kiến thức là sức mạnh và nỗ lực. Những doanh nghiệp đổi mới xây dựng nguồn nhân lực tri thức nhằm ứng dụng được thành quả của khoa học kỹ thuật, của tri thức vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc chuyển giao công nghệ.

Những doanh nghiệp mới là những doanh nghiệp ứng dụng được thành quả của việc học tập vào hoạt động của mình, học tập ở đây được hiểu là học tập thông qua kinh nghiệm thực tế và học tập thông qua thực hành. Các doanh nghiệp này còn ứng dụng việc phát triển nguồn nhân lực của mình với việc ứng dụng tri thức nhân lực, phát triển kinh nghiệm quản lý của cán bộ lãnh đạo quản lý thông qua việc học tập kinh nghiệm quản lý từ những thành quả của tri thức, của các doanh nghiệp khác trong nước và trên thế giới.

Thực tế cho thấy rằng, những doanh nghiệp công nghiệp là nguồn gốc của đổi mới. Hoạt động đổi mới diễn ra ở những doanh nghiệp (có liên quan đến những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác) (1) lớn, (2) lâu dài, (3) ổn định và (4) tập trung với mật độ cao về địa lý. Ngược lại, sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp diễn ra điển hình trên cơ sở phi tập trung cao độ giữa nhiều doanh nghiệp nhỏ, ngắn hạn và không ổn định.

Những thuộc tính này rất có ích đối với việc học tập, một vài trong số những lý do cho lợi thế cạnh tranh của lĩnh vực công nghiệp trong việc học tập và lĩnh vực đó có nhiều khả năng đẩy mạnh việc học tập từ những thứ bên ngoài hơn.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm 

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành