Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

Đối với quản lý hành chính, phương pháp lãnh đạo là một yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự thành bại của công tác quản lý. Về cơ bản, việc lãnh đạo trong quản lý hành chính được chia thành những phương pháp sau:

Phương pháp lãnh đạo cơ bản

“Tất cả phương pháp xuất phát từ thực tế”

Đây là phương pháp công tác cơ bản nhất cần phải ghi nhớ. Để nắm vững phương pháp lãnh đạo cơ bản này, cần chú ý hai điểm. Một là, việc xử lý mọi vấn đề không thể xuất phát từ định nghĩa trừu tượng, không thể xuất phát từ sách vở mà phải từ tồn tại khách quan, từ mối liên hệ nội tại của sự vật, tức quy luật. Hai là lý luận phải được liên hệ chặt chẽ với thực tế, phải kết hợp đường lối, phương châm, chính sách của cấp trên với tình hình cụ thể của đơn vị mình, ngành mình, kết hợp việc kêu gọi với chỉ đạo cụ thể mới có thể triển khai công tác lãnh đạo một cách sáng tạo.

Phương pháp kết hợp lãnh đạo và quần chúng

Mọi sự lãnh đạo đúng đắn đều phải xuất phát từ quần chúng rồi đi vào quần chúng. Điều đó có nghĩa là phải tập hợp những ý kiến phân tán, không có hệ thống trong quần chúng, hình hành quyết sách rồi tổ chức quần chúng thực hiện. Tất cả vì quần chúng và dự vào quần chúng. Kinh nghiệm và trí tuệ của quần chúng nhân dân rất phong phú. Người lãnh đạo hành chính phải khiêm tốn học tập quần chúng nhân dân. Phải làm học trò trước rồi mới có thể làm thầy. Phải đi sâu vào thực tế, điều tra, nghiên cứu, mở rộng dân chủ, hình thành cơ chế quần chúng tham gia quyết sách một cách trật tự để bảo đảm cho quyết sách của lãnh đạo thật sự đại diện cho ý nguyện và lợi ích quần chúng nhân dân. Sau khi có quyết sách, người lãnh đạo hành chính phải biết phát động quần chúng, tổ chức quần chúng, giáo dục quần chúng, cổ vũ quần chúng, biến quyết sách thành hành động tự giác của quần chúng.

Phương pháp điều tra nghiên cứu.

Điều tra nghiên cứu là thông qua nhiều biện pháp để quan sát, tìm hiểu sự vật, rồi trên cơ sở những tài liệu thu thập được, gia công xử lý một cách khoa học để nhận thức bản chất, quy luật của sự vật. Qua điều tra, nghiên cứu có thể phát hiện ra vấn đề, từ đó tìm cách giải quyết. Điều tra nghiên cứu là cơ sở của quyết sách, là cơ sở của hoạt động lãnh đạo, là tiền đề để lãnh đạo đúng. Phương pháp điều tra nghiên cứu cụ thể bao gồm: Điều tra toàn diện, điều tra xác suất, điều tra điển hình, điều tra thống kê. Trong công tác điều tra nghiên cứu, phải giữ vững nguyên tắc thực sự cầu thị, không kèm theo định kiến, không thể chỉ tiếp nhận những kết luận phù hợp với quan điểm của mình và phủ nhận những kết luận trái với quan điểm của mình. Mọi kết luận phải hình thành sau khi điều tra, nghiên cứu, không thể hình thành trước khi điều tra, nghiên cứu.

Phương pháp phân tích hệ thống

Phương pháp này coi công tác lãnh đạo là một hệ thống gồm nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Người lãnh đạo hành chính của thế kỷ 21 phải có tầm nhìn xa, khi giải quyết vấn đề gì phải xuất phát từ tổng thể, không thể xuất phát từ cục bộ, từ một yếu tố đơn độc; khi phân tích hệ thống phải xét đến ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống. Khi kết cấu của hệ thống thay đổi thì công năng của hệ thống cũng thay đổi, do đó việc nghiên cứu kết cấu và công năng của hệt thống là rất quan trọng. Hệ thống không ngừng thay đổi, do đó việc phân tích hệ thống phải theo quan điểm phát triển, phải hướng về tương lai, kết hợp lợi ích trước mắt và lâu dài, phải phân tích định lượng và định tính, ví dụ phải xác định mục tiêu, xây dựng mô hình, bao gồm mô hình thực tế, mô hình số học, mô hình so sánh.

Phương pháp lãnh đạo hàng ngày

Phương pháp lãnh đạo hàng ngày bao gồm phương pháp vận trù thời gian, chủ trì hội nghị, xử lý công văn.

Phương pháp vận trù thời gian

Công việc của người lãnh đạo hành chính rất nhiều. Nếu muốn nâng cao hiệu quả hành chính thì phải biết vận trù thời gian. Thí dụ chia công việc hàng ngày thành ba loại A,B, C theo tầm quan trọng và cấp bách, dành thời gian, tâm sức giải quyết các việc loại A, loại B, còn loại C không quan trọng lắm thì giao cho cấp dưới giải quyết, tập trung thời gian giải quyết những công việc lãnh đạo chủ yếu, biết dùng điện thoại, email, nối mạng để xử lý công văn, tiết kiệm thời gian.

Phương pháp chủ trì hội nghị

Khi chủ trì hội nghi, người lãnh đạo hành chính phải chú ý những điểm sau đây:

-        Xác định mục đích hội nghị, làm tốt công tác chuẩn bị

-        Sắp xếp chương trình nghị sự, xác định những vấn đề cần bàn

-        Chú ý kỹ xảo ngôn ngữ, tập trung vào vấn đề chính, khêu gợi tư duy tích cực, nhiệt tình của người tham gia.

-        Biết phá vỡ tình trạng im lặng, khéo léo kết thúc những tranh chấp, cãi vã tạm thời xuất hiện trong quá trình hội nghị

-        Nắm vững thời gian hội nghị, điều khiển quá trình hội nghị.

-        Đã họp thì phải có nghị quyết, hình thành nhận thức chung.

-        Kịp thời tiếp thu những thông tin, tư tưởng, sáng kiến có ích trong hội nghị, phát triển thành quả hội nghị.

-        Thông qua hội nghị để trao đổi ý kiến, kịp thời phát hiện nhân tài, bồi dưỡng nhân tài.

Phương pháp xử lý công văn

Công văn là một phương pháp hữu hiệu để truyền đạt thông tin, thực hiện công tác lãnh đạo. Trong việc xử lý công văn, người lãnh đạo hành chính phải chú ý mấy vấn đề:

-        Kiểm tra việc gửi công văn đi.

-        Sàng lọc công văn đến.

-        Quy định thời hạn giải quyết công văn

-        Đôn đốc việc hoàn thành công văn

-        Việc ghi lời phê vào công văn phải rõ ràng, thiết thực và hạn định thời gian giải quyết

Phương pháp tư vấn, đánh giá công tác lãnh đạo hành chính hiện đại

So với trước kia, công tác lãnh đạo thời nay phức tạp, khó khăn hơn rất nhiều, nếu chỉ dựa vào năng lực, kinh nghiệm cá nhân là không đủ. Do đó, trước khi quyết định một vấn đề quan trọng, người lãnh đạo hành chính cần tranh thủ ý kiến chuyên gia.

Việc đánh giá hiệu quả lãnh đạo, hiệu quả thực hiện quyết sách là rất cần thiết. Sự đánh giá này có thể là đánh giá định tính, có thể là đánh giá định lượng, tự mình đánh giá, mời người khác đánh giá, đánh giá trong quá trình thực hiện, đánh giá sau khi xong việc. Trên cơ sở đánh giá mới có thể xác định công việc đã hoàn thành hay chưa, nếu chưa hoàn thành thì nên tiếp tục hay cần điều chỉnh.

Phương pháp làm việc qua mạng và lãnh đạo qua mạng

Người lãnh đạo hành chính phải biết sử dụng máy tính và mạng Internet để thu thập thông tin, xử lý công việc, trao đổi ý kiến với cấp trên, đồng cấp và cấp dưới. Thông qua việc sử dụng Internet để đẩy mạnh việc công khai hóa, minh bạch hóa, quy phạm hóa hoạt động hành chính, nâng cao hiệu quả hành chính, tổ chức đối thoại giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo, nhanh chóng trả lời yêu cầu của quần chúng, thích ứng với sự thay đổi của tình hình.

Như vậy, xét về mặt tổng thể, việc lãnh đạo trong quản lý hành chính cần vận dụng những phương pháp cơ bản trên để đạt được hiệu quả tối ưu, thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động công vụ, đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước.

           

Cùng với sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, sự ra đời của kinh tế tri thức; phương thức sản xuất và quan hệ xã hội của xã hội loài người đang thay đổi sâu sắc. Để thích ứng với sự thay đổi đó, từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX, các nước phương tây đã dấy lên phong trào cải cách hành chính với mức độ lớn, trên diện rộng chưa từng có. Là một trong những trọng điểm của cải cách hành chính, lý luận, nguyên tắc, cơ chế và phương thức vận hành quản lý nhân sự đã có những thay đổi sâu sắc.

Cách làm nổi bật nhất của chế độ nhân sự phương Tây hiện đại là phát triển phương thức tuyển dụng theo hợp đồng, thời hạn hợp đồng có thể dài, ngắn khác nhau.

Bên cạnh đó, thị trường hóa chế độ tiền lương, xóa bỏ chế độ trả tiền lương theo cấp bậc thống nhất. Tiền lương của công chức do người phụ trách cơ quan căn cứ vào thị trường, thông qua đàm phán để xác định. Ngoài ra, các nước phương tây còn áp dụng quản lý công chức theo kiểu doanh nghiệp, tức là không quy định biên chế cho các cơ quan, chỉ quy định ngân sách và giao bớt quyền quản lý nhân sự cho cấp dưới, giao cho người nhận thầu tự quyết định số lượng nhân viên, nhân viên chỉ chịu trách nhiệm với người nhận thầu và chịu sự quản lý của xã hội.

Ngoài ra, các cơ quan của Chính phủ chỉ phụ trách những việc có tính chất quyết sách, còn những việc mang tính chất chấp hành, tính chất phục vụ thì giao cho các tổ chức xã hội và tư nhân. Công chức cần nêu cao ý thức phục vụ, công chức phải coi công dân như khách hàng, lấy việc làm thỏa mãn khách hàng là nguyên tắc, không ngừng cải tiến công tác và phương thức phục vụ.

Các nước phương tây còn rất linh hoạt trong quản lý, đặc biệt là quản lý nhân sự, dần xóa bỏ những quy định về quản lý nhân sự quá nhiều, quá chặt, phát huy tính năng động của cơ sở và công chức, làm việc một cách sáng tạo. Những cải cách nói trên đã nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, nâng cao hiệu quả của nền hành chính công vụ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và ngày càng tỏ rõ sức sống của nó.

Song song với việc cải cách thể chế, mở cửa, hội nhập, phát triển, chế độ công chức của nước ta đã trải qua quá trình phát triển từ nghiên cứu lý luận đến thực thi toàn tiện và hoàn thiện từng bước.

Việc tuyển dụng công chức từ chỗ nhà nước thống nhất phân phối chuyển thành cạnh tranh công khai, bình đẳng đối với toàn xã hội, xóa bỏ những hạn chế về thân phận, địa phương, thi tuyển công khai, kiểm tra nghiêm ngặt, lựa chọn được đúng người. Việc thôi chức, từ chức được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Việc bổ nhiệm không dựa vào quan hệ thân quen mà dựa trên năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và đạo đức xã hội.Phương thức thi tuyển vào các chức danh lãnh đạo đang dần dần được thực hiện.Phương thức dùng người “có lên, có xuống” đang được triển khai dần dần. Bên cạnh đó, việc sắp xếp cương vị công tác từ chỗ một lần bổ nhiệm, quyết định cả đời, chuyển dần sang việc có thể thay đổi chức vụ, có lên có xuống phù hợp với năng lực chuyên môn. Ngoài ra, công tác quản lý nhân sự đã từ chỗ không có quy định pháp luật chuyển thành quản lý chặt chẽ theo pháp luật. Việc đào tạo công chức được chính quy hóa. Hệ thống đào tạo công chức do Chính phủ quản lý thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chung về công vụ, về nền hành chính phục vụ được nhân rộng.

Việc quản lý công chức từ mô hình quản lý kinh tế theo kế hoạch chuyển sang thể chế mới, thích ứng với nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và nền chính trị dân chủ là một bước tiến mới có ý nghĩa lịch sử.

TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO VÀ NHIỆM VỤ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ CÔNG CHỨC

Hiện nay, ở Trung Quốc công cuộc hiện đại hóa đã bước vào thời kì mới. Sự ra đời của nền kinh tế tri thức, của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, của kỷ nguyên số cùng với quá trình toàn cầu hóa về kinh tế, những thay đổi về cơ cấu kinh tế xã hội đã đặt ra cho chế độ công chức và việc xây dựng đội ngũ công chức những tình huống mới, vấn đề mới.

Trước hết, cuộc cạnh tranh quyết liệt trên trường quốc tế đã đặt ra cho đội ngũ công chức những thách thức mới. Xu thế đa cực trên thế giới, quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đang làm cho các lực lượng chính trị không ngừng phân hóa, tổ hợp. Kinh tế của các nước xâm nhập lẫn nhau, dựa vào nhau, cạnh tranh tăng lên, rủi ro nhiều hơn. Quản lý hành chính liên quan đến nhiều chủ thể lợi ích, những vấn đề, mâu thuẫn cần cơ quan hành chính giải quyết nhiều hơn nữa, trách nhiệm quản lý rộng hơn, công việc quản lý khó hơn.Việc nâng cao tố chất công chức, đặc biệt là nâng cao năng lực quyết sách lãnh đạo, năng lực điều hòa có tính chất toàn cục có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển nhanh chóng, ổn định về kinh tế, xã hội. Từ những bài học của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á, nhiều nước đã chú ý hơn đến việc cải cách chế độ công chức, nâng cao tố chất công chức, coi đó là chiến lược quan trọng để đối phó với những thách thức của toàn cầu hóa về kinh tế, tăng cường sức mạnh cạnh tranh của quốc gia. Công cuộc hiện đại hóa của Trung Quốc được tiến hành trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế quyết liệt. Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam từng bước bước vào quỹ đạo tuần hoàn lớn của thế giới. Việc đào tạo đội ngũ quản lý hành chính có năng lực tốt, thích ứng với cuộc cạnh tranh quốc tế là rất cần thiết.

Song song với nó, môi trường kinh tế, xã hội không ngừng thay đổi cũng đặt ra cho chế độ công chức những thách thức mới. Cùng với sự thay đổi của môi trường kinh tế, môi trường hành chính cũng đã có những thay đổi to lớn. Thành phần kinh tế, chủ thể lợi ích, phương thức tìm kiếm việc làm ngày càng đa dạng. Sự dịch chuyển về nhân tài, cạnh tranh nhân tài tăng lên. Nhiều thách thức đang đặt ra cho các cơ quan nhà nước trong việc thu hút nhân tài, ổn định nhân tài, chế độ công chức. Cơ chế lợi ích có tác dụng kích thích tính tích cực của con người nhưng đồng thời cũng dẫn đến xu hướng thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, sùng bái đồng tiền và chủ nghĩa hưởng lạc. Những ảnh hưởng của hoạt động thị trường cũng dẫn đến cơ hội mua bán giữa tiền và quyền. Trong điều kiện đó, làm thế nào để giữ cho công chức được liêm khiết là vấn đề lớn. Ngoài ra, việc tinh giản bộ máy, tinh giản biên chế, việc thay đổi chức năng chính phủ và làm thế nào để nâng cao hiệu quả công việc trong tình hình đó cũng là một thử thách mới đối với chế độ công chức.

Hơn nữa, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện cũng đặt ra những yêu cầu đổi mới đối với việc quản lý công chức và hoạt động dịch vụ. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và nền chính trị dân chủ, yêu cầu của quảng đại quần chúng nhân dân đối với các dịch vụ công cộng ngày càng cao và đa dạng, đồng thời nhân dân cũng đòi hỏi quyền được thông tin, quyền tham gia quản lý, quyền lựa chọn, quyền giám sát. Làm thế nào để thỏa mãn tốt hơn yêu cầu mới, nguyện vọng mới của nhân dân là một đề tài mới đối với chế độ công chức trong thời đại hiện nay, có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân, xây dựng hình tượng của Chính phủ, xây dựng nền chính trị dân chủ.

Để hoàn thiện hơn nữa chế độ công chức, cần quán triệt tư tưởng ba đại diện, kết hợp việc cải cách thể chế kinh tế với cải cách thể chế hành chính, căn cứ theo yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến, giải phóng tư tưởng, đi sâu cải cách, tăng cường sức sống của chế độ, căn cứ theo phương hướng tiến lên của nền văn hóa tiên tiến, xây dựng đội ngũ công chức phù hợp với yêu cầu của thời đại, nâng cao tố chất đội ngũ, nắm vững những yêu cầu mới của nhân dân, đi sát thực tế, phát triển sáng tạo, cải tiến dịch vụ công cộng. Cần kết hợp giữa tính thống nhất về nguyên tắc và tính đa dạng về phương pháp, bước đi, tăng cường việc xây dựng chế độ công chức hoàn chỉnh và đội ngũ công chức chuyên nghiệp có tố chất cao, cung cấp những dịch vụ tốt, hiệu quả cao cho quần chúng nhân dân và xã hội.

Để xây dựng một nền công vụ hiện đại, xây dựng một chế độ công chức hoàn thiện cần chú ý một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, cần hoàn thiện chế độ công chức mà trọng điểm là tăng cường cơ chế cạnh tranh, khích lệ

Hiện nay, do cơ chế cạnh tranh, khích lệ chưa đầy đủ, thiếu quy phạm, biện pháp không đồng bộ nên cần mở rộng phạm vi cạnh tranh, tăng cường khích lệ. Cần phát triển mạnh hình thức thi tuyển, thi tuyển thực chất, công khai thông tin và bình đẳng quyền lợi, quán triệt nguyên tắc cạnh tranh, khích lệ trong khâu sử dụng, sát hạch, thưởng phạt, tiền lương, phúc lợi, hoàn thiện biện pháp, quy phạm, trình tự. Mở rộng sự tham gia của quần chúng, cải cách chế độ bảo hiểm đối với công chức như dưỡng lão, y tế, trợ cấp thất nghiệp, hoàn thiện hơn nữa cơ chế cạnh tranh.

Thứ hai, cần nghiên cứu quy luật phát triển nhân tài quản lý hành chính và yêu cầu tố chất cao, chuyên nghiệp hóa để nâng cao tố chất toàn diện của công chức, nâng cao tố chất chính trị, tư tưởng của công chức, xây dựng quy phạm đạo đức nghề nghiệp, tăng cường bồi dưỡng tri thức mới và năng lực công chức theo yêu cầu hiện đại hóa để công chức nắm được xu thế phát triển của lĩnh vực công tác mà họ đảm nhiệm, nắm được những kiến thức về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, pháp chế, trào lưu tư tưởng đương đại, dựa vào đổi mới tri thức để sáng tạo trong công tác, xây dựng ý thức học tập suốt đời trong công chức, khả năng tự học của công chức, phát huy tính tích cực của công chức trong việc học tập, phát triển không gian nghề nghiệp, phát huy chí tiến thủ của công chức.

Thứ ba, cần cải cách nội dung, phương thức, phương pháp và phương tiện phục vụ, biến tôn chỉ phục vụ nhân dân thành hành động làm nhân dân hài lòng

Cùng với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế, dịch chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đời sống nhân dân được nâng cao nhanh chóng. Cùng với đó, yêu cầu của nhân dân đối với dịch vụ công cộng đã có sự thay đổi về nội dung và trọng điểm, do đó cần tiếp tục làm tốt những dịch vụ mang tính sinh tồn, đồng thời cần nâng cao các dịch vụ mang tính phát triển lên vị trí quan trọng. Cần thay đổi phương thức phục vụ, học cách làm theo quy định của pháp luật, tôn trọng nguyện vọng và sự lựa chọn của quần chúng, xử lý tốt quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, giữa lợi ích cục bộ với lợi ích tổng thể, tích cực vận dụng các phương thức tuyên truyền, hướng dẫn, giáo dục, nêu gương hiệp thương trong quản lý công việc công cộng, tích cực thực hiện chế độ cam kết phục vụ, phát triển công nghệ thông tin, phát triển phương thức quản lý hành chính điện tử, thông qua mạng internet và kỹ thuật thông tin khác để tăng cường quan hệ giữa các cơ quan của chính phủ với cơ sở quần chúng, giảm chi phí quản lý, từng bước thực hiện phục vụ quần chúng nhân dân và xã hội về mọi mặt.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác lập pháp, tăng cường công tác chấp pháp, nỗ lực thực hiện quản lý nhân sự bằng pháp luật, khắc phục hiện tượng chấp pháp không nghiêm, vi phạm pháp luật mà không bị truy cứu, tăng cường giám sát, kiện toàn pháp luật về công chức và cơ chế giám sát tình hình chấp hành pháp luật trong lĩnh vực này.

Khi một vấn đề xã hội đã trở thành vấn đề chính sách thì cần nghiên cứu nhiều phương án để giải quyết vấn đề từ đó chọn ra một phương án tối ưu nhất. Xây dựng chính sách là một quá trình vận động, bao gồm nhiều khâu hoặc nhiều bước. Khi xây dựng một chính sách, có hai vấn đề cần lựa chọn, đó là lựa chọn mục tiêu và lựa chọn phương án chính sách.

Quá trình xây dựng phương án chính sách gồm ba bước, đó là chẩn đoán vấn đề; xác định mục tiêu chính sách; dự thảo các phương án để lựa chọn. Quá trình xây dựng một chính sách là một quá trình liên tục từ đầu tới cuối, bao gồm nhiều khâu, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Như vậy, sẽ vừa có thể phát huy tác dụng của tổng thể, vừa có thể phát huy tác dụng của từng khâu.

Nêu vấn đề -> Xác định mục tiêu-> Dự thảo các phương án-> Lựa chọn phương án tối ưu-> Thực thi chính sách

Như vậy, qua phân tích quá trình xây dựng phương án chính sách, có thể thấy rằng quá trình xây dựng chính sách là một thể thống nhất, do nhiều khâu hợp thành, không thể tự ý giảm khâu nào; các khâu đó tạo thành một quá trình khép kín, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau; quan hệ giữa các khâu tương đối phức tạp, không thể thao tác theo thứ tự mà phải xuất phát từ thực tế.

Để xây dựng chính sách cần chú ý tới các nhân tố cơ bản. Quá trình xây dựng chính sách có hai nhân tố cơ bản. Đó là mục tiêu chính sách và phương án chính sách. Sau khi có mục tiêu đúng thì không những có thể có hướng phấn đấu mà còn có thể căn cứ vào mục tiêu đó để dự thảo các phương án chính sách rồi từ đó lựa chọn phương án tối ưu. Có mục tiêu đúng sẽ có thể cơ bản thống nhất tư tưởng của những người tham gia toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách, dù tín ngưỡng, quan niệm giá trị và lợi ích của họ khác nhau, khiến họ hợp tác với nhau một cách hữu hiệu, đồng thời cung cấp tiêu chuẩn để đánh giá kết quả chính sách. Một là việc thiết kế mục tiêu phải chính xác. Hai là những người tham gia có nhận thức thống nhất đối với mục tiêu chính xách. Phải đi sâu, phân tích toàn diện, phân biệt rõ đâu là mục tiêu chủ yếu (phải thực hiện), đâu là mục tiêu thứ yếu (cố gắng thực hiện), đâu là mục tiêu thứ yếu hơn (mong muốn thực hiện).

Để bảo đảm xác định mục tiêu một cách chính xác, cần đạt được các yêu cầu sau:

  Thứ nhất, mục tiêu chính sách phải rõ ràng, cụ thể. Phân phối lợi ích một cách công bằng là xuất phát điểm của chính sách. Mục tiêu chính sách phải phù hợp với nguyên tắc công bằng, mục tiêu phải cao hơn mức thực hiện nhằm tạo ra tác dụng khích lệ, đồng thời có mức độ khó khăn nhất định để mọi người cảm thấy có động lực phấn đấu có thể thực hiện được. Mục tiêu phải có tính khả thi, xuất phát từ thực tế, phân tích toàn diện điều kiện khách quan, chủ quan để mục tiêu được xây dựng trên cơ sở khách quan vững chắc.

  Thứ hai, các mục tiêu phải hài hòa. Một chính sách thường là sự kết hợp hữu cơ của nhiều mục tiêu. Nếu một hệ thống càng lớn, càng phức tạp thì càng phải nghĩ đến nhiều mục tiêu. Giữa các mục tiêu phải có sự hài hòa. Để thực hiện sự hài hòa giữa các mục tiêu, cần củng cố tính đồng nhất về phương hướng của các mục tiêu. Một hệ thống chính sách có nhiều mục tiêu. Việc thực hiện một mục tiêu có nhiều biện pháp. Do đó, sự phối hợp giữa mục tiêu và biện pháp rất phức tạp, để tránh sự đối lập giữa các mục tiêu của chính sách, cần chú trọng sự phối hợp giữa các biện pháp.

  Thứ ba, phải có sự thống nhất giữa mục tiêu và biện pháp. Một hệ thống chính sách là một hệ thống mục tiêu rõ ràng về tầng nấc. Ngoài mục tiêu tổng thể, còn có nhiều mục tiêu con. Trong cơ cấu mục tiêu do mục tiêu tổng thể và các mục tiêu cụ thể tạo nên, các biện pháp để thực hiện mục tiêu của cấp trên thường là mục tiêu của cấp dưới, hoặc có thể nói mục tiêu của cấp dưới là biện pháp của cấp trên. Do đó, không thể chỉ xem xét mục tiêu của một cấp nào đó mà phải xem xét mối quan hệ giữa mục tiêu của cấp trên và mục tiêu của cấp dưới, không nên dùng mục tiêu của cấp trên để thay thế mục tiêu của cấp mình, cũng không nên dùng mục tiêu của cấp mình để can thiệp vào mục tiêu của cấp dưới.

Thiết kế phương án chính sách công

Trước khi quyết định phương án chính sách, cần thiết kế ít nhất là hai phương án, nêu rõ ưu, khuyết điểm của mỗi phương án rồi chọn lấy một phương án tốt nhất, không nên chỉ đưa ra một phương án. Việc lựa chọn phương án chính sách, trên thực tế là lựa chọn các yếu tố của hoạt động thực tiễn và phương án kết hợp các yếu tố đó. Trước hết là lựa chọn chủ thể thực tiễn, tức là giải quyết vấn đề “ai làm, ai không làm, ai làm là chính, ai làm là thứ yếu”. Chủ thể thực tiễn có thể là cá nhân, có thể là nhóm người. Tiếp đó là lựa chọn phương pháp hành động. Điều này có liên quan trực tiếp đến khả năng thực hiện mục tiêu và mức độ thực hiện. Cuối cùng là lựa chọn thời gian giải quyết, nơi giải quyết vấn đề, tức là giải quyết vấn đề điều kiện và môi trường tác động lẫn nhau giữa các khách thể của thực tiễn.

Khi dự thảo các phương án để lựa chọn, cần chú ý ba vấn đề:

-      Các phương án được đưa ra để lựa chọn cần bao gồm tất cả các phương án đã chuẩn bị, bởi vì phương án bị bỏ sót có thể là phương án tốt nhất.

-      Mỗi phương án được đưa ra phải là phương án độc lập. nếu các biện pháp hành động của phương án A đều có trong phương án B thì phương án A không thể coi là phương án độc lập.

-      Các phương án được dự thảo phải xét đến nhiều nhân tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau vì hành vi của chính phủ có đặc tính là liên quan đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ, nhiều tầng nấc phức tạp.

Việc dự thảo các phương án là một quá trình vận động, bao gồm nhiều bước, từ ý tưởng, thiết kế đến phân tích, sơ tuyển, đánh giá, đào thải. Quá trình này thường được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn mạnh dạn tìm tòi và giai đoạn thiết kế cụ thể.

Giai đoạn mạnh dạn tìm tòi là giai đoạn đưa ra ý tưởng sơ bộ cảu phương án. Đây là khâu then chốt trong việc xây dựng phương án. Trong giai đoạn này, người ta thường dựa vào kinh nghiệm và tri thức đã có đặc biệt là kinh nghiệm thành công. Nhưng không phải kinh nghiệm nào cũng thích hợp cho mọi tình huống. Do đó, cần phải biết kinh nghiệm nào là thích hợp, kinh nghiệm nào là không thích hợp, đồng thời phải nâng kinh nghiệm lên tầm lý luận, dùng tư tưởng khoa học để bổ sung cho kinh nghiệm. Giai đoạn này gồm hai nội dung chủ yếu: Một là đưa ra nhiều phương án chính sách để thực hiện mục tiêu đã định. Hai là vẽ sơ đồ của các phương án. Phải đảm bảo tính toàn diện và đa dạng của các phương án, dùng nhiều biện pháp, đưa tất cả các phương án đã chuẩn bị để lựa chọn.

Giai đoạn thiết kế chủ yếu gồm hai việc: Một là cụ thể hóa các phương án đã chuẩn bị, xác định các nhân tố và biện pháp quan trọng. Hai là đánh giá hiệu quả của phương án. Nếu không có sự đánh giá này thì sẽ không phân biệt được ưu, nhược điểm của mỗi phương án, do đó sẽ khó lựa chọn. Vì vậy, cần tính toán kỹ lưỡng, chứng minh nghiêm túc, kể cả việc xem xét các ý kiến phản đối, hoài nghi.

Phương pháp xây dựng chính sách công được sử dụng rộng rãi nhất là phương pháp trưng cầu ý kiến các chuyên gia. Đây là phương pháp căn cứ vào lĩnh vực có liên quan để nêu vấn đề với các chuyên gia. Sau khi có ý kiến trả lời, tiến hành tổng hợp, chỉnh lý, tập hợp rồi chuyển đi. Sau nhiều lần như vậy sẽ có được những ý kiến tương đối hữu dụng. So với phương pháp tổ chức hội thảo, phương pháp này có ưu điểm là:

Thứ nhất, những chuyên gia được trưng cầu ý kiến không biết nhau, do đó họ có thể thẳng thắn bộc lộ quan điểm, ý kiến, thay đổi quan điểm khi cần thiết, các luận điểm khác nhau đều có thể được đưa ra.

Thứ hai, qua các bản trưng cầu ý kiến của những lần khác nhau, các chuyên gia có thể biết được ý kiến của tập thể, lý do tán thành hay không tán thành trên cơ sở đó, đưa ra ý kiến mới.

Thứ ba, qua nhiều lần trưng cầu, có thể biết được ý kiến của tất cả các chuyên gia, tìm ra ý kiến thống nhất của đa số chuyên gia.

Việc sử dụng phương pháp này phải trải qua các bước sau:

Một là phải căn cứ vào lĩnh vực của vấn đề cần nghiên cứu, đưa ra bản kê các vấn đề cần thảo luận và hình thành bảng kê câu hỏi.

Hai là, cần lựa chọn đối tượng trưng cầu ý kiến

Những người được trưng cầu ý kiến không nhất thiết là chuyên gia trong lĩnh vực đó, mà là những người có quan điểm khác nhau. Khi đã chọn được một người thì đề nghị người đó giới thiệu hai người cùng quan điểm, cho đến lúc có được một số lượng người cần thiết để trưng cầu ý kiến.

Ba là, việc thiết kế câu hỏi phải làm nhiều lần. Các câu hỏi phải thể hiện được chủ đề, câu hỏi phải đơn giản, số lượng câu hỏi nên vừa phải, khi cần phải hướng dẫn tài liệu tham khảo, ở vòng thứ nhất, cần nêu rõ mục tiêu của việc đó, những điều kiện để thực hiện mục tiêu, biện pháp thực hiện mục tiêu, phân loại và phân cấp, tầm quan trọng của các đề mục có liên quan.

Bốn là, cần tính toán và phân tích những ý kiến giống nhau, khác nhau, tạo cơ sở cho vòng xin ý kiến lần hai.

Năm là, tổ chức diễn đàn để những người có liên quan thảo luận trực tiếp, phát biểu ý kiến.

Sáu là, viết báo cáo trình bày tất cả các ý kiến khác nhau, gửi đến người có thẩm quyền để lựa chọn phương án tối ưu.

Như vậy, có thể thấy, việc xây dựng chính sách cần có sự nghiên cứu, đầu tư và có phương pháp cụ thể. Tính hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào nội dung chính sách mà còn phụ thuộc vào phương pháp và kỹ thuật xây dựng chính sách đó.

Ý nghĩa của chế độ công chức

Công chức nhà nước là những người làm việc cho nhà nước. Nói chung, công chức nhà nước là do nhà nước tuyển dụng để thực hiện công việc công cộng của xã hội và hưởng lương từ ngân sách. Chế độ công chức là những quy phạm và chuẩn mực về hành vi quản lý của công chức, bao gồm quyền và nghĩa vụ công chức, chế độ tuyển dụng, sát hạch, thưởng phạt, thăng chức, đào tạo, tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi, nghỉ hưu. Việc quản lý công chức phải tuân theo nguyên tắc công khai, bình đẳng, cạnh tranh, liêm khiết, pháp chế, gọn nhẹ và phục vụ, phù hợp với kinh tế thị trường và nền chính trị dân chủ.

Chế độ công chức là một bộ phận hợp thành của chế độ chính trị. Do chế độ chính trị và lịch sử, văn hóa của các nước khác nhau nên tính chất, hình thức và yêu cầu của chế độ công chức không giống nhau. Chế độ công chức ở các nước phương Tây được xây dựng sau cách mạng tư sản, trên cơ sở phân chia quyền lực giữa các chính đảng. Nó vừa thể hiện yêu cầu cơ bản của nền kinh tế thị trường, vừa mang dấu ấn của nền chính trị dân chủ tư sản. Ví dụ, để giảm bớt ảnh hưởng của sự cạnh tranh đa đảng đối với sự vận hành của chính phủ và nguyên tắc cạnh tranh công bằng, các nước tư bản đã chia công chức nhà nước thành 2 loại chính là chính vụ và sự vụ. Loại thứ nhất do chính đảng đã giành được thắng lợi trong bầu cử phân phối trong nội bộ của đảng của họ. Loại thứ hai là do thi tuyển, thường xuyên làm việc và trung lập về chính trị, không được tham gia hoạt động chính trị có tính chất đảng phái.

Hiện nay, chế độ công chức của Trung Quốc được xây dựng theo yêu cầu cải cách nền kinh tế có kế hoạch, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và nền chính trị dân chủ. Một mặt nó sửa chữa những khuyết điểm của chế độ công chức cũ như nhà nước thống nhất kế hoạch phân bổ nguồn lực nhân tài cả nước, phương thức quản lý cán bộ đơn nhất, thiếu những quy định pháp luật trong việc dùng người, xây dựng chế độ công chức mới. Mặt khác, nó thể hiện những đặc điểm và yêu cầu của chế độ chính trị. Cụ thể như, công chức phải kiên quyết ủng hộ và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không đi theo cái gọi là trung lập chính trị. Chế độ chính trị ở Trung Quốc là chế độ hợp tác nhiều đảng và chế độ hiệp thương chính trị do Đảng cộng sản lãnh đạo. Đảng cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ “cùng tồn tại lâu dài, giám sát lẫn nhau, chân thành hợp tác, vinh nhục có nhau”. Các đảng phái dân chủ đều tham gia chính sự.Trong các việc lớn của đất nước, Đảng cộng sản và các đảng phái dân chủ cùng bình đẳng bàn bạc, không có sự đấu tranh lẫn nhau. Công chức tích cực tham gia hoạt động chính trị không những không ảnh hưởng đến sự ổn định của chính phủ và sự cạnh tranh công bằng mà còn có lợi cho việc quán triệt đường lối, phương châm, chính sách của đảng cầm quyền trong hoạt động công vụ, giúp cho các cơ quan hành chính có thể vận hành với hiệu quả cao.

Phạm vi và phân loại công chức

Do chế độ chính trị và tập quán khác nhau nên khái niệm công chức ở các nước là không giống nhau. Ví dụ, ở Anh và một số nước thuộc khối Liên hiệp Anh, công chức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, nhưng không bao gồm thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng do bầu cử hoặc bổ nhiệm, cũng không bao gồm quan tòa, những người làm việc trong các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp, không bao gồm cả quân nhân. Ở Mỹ, Canada, công chức được gọi là nhân viên chính phủ. Đó là những người làm thuê cho Chính phủ, kể cả những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công cộng, những nhà quản lý trong các xí nghiệp do Chính phủ kinh doanh, nhưng không bao gồm những quan chức do bầu cử hoặc bổ nhiệm và những người do quan chức thuê với danh nghĩa cá nhân. Ở Nhật bản và Hàn quốc, công chức là những người làm việc trong cơ quan nhà nước, quốc hội, tòa án, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp của nhà nước. Luật công chức không áp dụng đối với những người do bầu cử hoặc bổ nhiệm.

Mặc dầu phạm vi công chức ở các nước có rộng hẹp khác nhau, nhưng đa số các nước coi công chức là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, nhưng không tính những người do bầu cử và bổ nhiệm.

Ở Trung Quốc, công chức là những cán bộ làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên bình thường, tức là những người làm việc trong cơ quan quốc vụ viện, cơ quan chính quyền tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, thành phố (châu tự trị), huyện, xã (thị trấn), không tính nhân viên bình thường.

So với các nước khác, việc xác định phạm vi công chức ở Trung Quốc có hai đặc điểm: Một là, những cán bộ do đại hội đại biểu nhân dân các cấp bầu ra và quyết định bổ nhiệm cũng là công chức. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm những công chức này không giống việc bổ nhiệm, miễn nhiệm những công chức thông thường mà phải theo trình tự do pháp luật quy định, còn các mặt khác thì giống như công chức bình thường. Hai là, đối với những cán bộ chuyên trách trong cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án, viện kiểm sát, khi ban hành chế độ công chức năm 1993, không đưa vào phạm vi công chức mà chỉ áp dụng một số chế độ công chức giống như một số đơn vị sự nghiệp có chức năng quản lý hành chính. Nguyên nhân là việc cải cách chế độ công chức cần có một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm nên lúc đầu chưa muốn mở rộng phạm vi. Ngoài ra, việc quản lý những cán bộ này không hoàn toàn giống việc quản lý cán bộ của cơ quan hành chính. Nhưng qua quá trình nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, những cán bộ đó vẫn nên đưa vào phạm vi công chức và xây dựng thành quy phạm thống nhất.

Phân loại công chức

Công chức là một lực lượng đông đảo ở các nước. Muốn quản lý công chức một cách hữu hiệu, trước hết phải phân loại công chức.Việc phân loại công chức có liên quan đến cơ cấu công chức, chế độ công chức và là cơ sở để khoa học hóa công tác quản lý.

Phương pháp phân loại công chức, tiêu chuẩn phân loại công chức ở các nước là không giống nhau. Cụ thể, căn cứ vào nguyên tắc sử dụng và yêu cầu chính trị, có thể chia ra công chức chính vụ và công chức nghiệp vụ. Căn cứ theo chủ thể sử dụng, có thể chia thành công chức quốc gia và công chức địa phương. Căn cứ theo tính chất cơ quan, có thể chia ra thành công chức cơ quan hành chính, công chức cơ quan lập pháp, công chức cơ quan tư pháp. Căn cứ theo phương thức sử dụng, có thể chia ra thành công chức bổ nhiệm và công chức làm thuê. Căn cứ theo thời gian sử dụng, có thể chia ra công chức thường xuyên và công chức theo nhiệm kỳ. Căn cứ theo tính chất nghiệp vụ, có thể chia thành công chức của các ngành nghề khác nhau.

Nói chung, có hai cách phân loại công chức. Một là phân loại theo tầng nấc chính trị. Ví dụ, công chức chính vụ và công chức nghiệp vụ, công chức trung ương và công chức địa phương. Đối với các nước theo chế độ chính trị đa đảng, cách phân loại này là không thể thiếu được, nhưng ở các nước không theo chế độ chính trị đa đảng thì không nhất thiết cần đến. Đối với những nước theo chế độ liên bang, việc phân chia công chức trung ương và địa phương là cần thiết, nhưng ở các nước không theo chế độ liên bang thì không cần thiết. Hai là phân loại theo tầng nấc quản lý. Ví dụ, phân loại theo phương thức sư dụng, tính chất ngành nghề, theo cấp bậc công chức.

Phương pháp phân loại tầng nấc quản lý chủ yếu có hai dạng. Một là phân loại theo tính chất công việc, mức độ khó dễ, trách nhiệm nặng nhẹ, điều kiện cần có. Ví dụ, ở Mỹ chia các chức vị trong chính quyền thành 27 nhóm, 569 ngành nghề, 18 chức. Cách phân công này có ưu điểm là tiêu chuẩn khách quan, chức quyền rõ ràng, công việc như nhau thì hưởng lương như nhau, đây là một cách phân công quản lý một cách khoa học. Nhược điểm của nó là khó phân loại, quá tỉ mỉ, tiêu chuẩn cứng nhắc, không có lợi cho việc đào tạo nhân tài toàn diện và phát huy tính năng động của công chức. Hai là phân loại theo phẩm hàm, tức là căn cứ vào trình độ học vấn, quá trình làm việc, chức vụ cao thấp. Nước Anh là điển hình của cách phân loại này.

Do sự phát triển của xã hội, phương pháp và tiêu chuẩn phân loại công chức cũng thay đổi. Ví dụ, trước kia nguyên tắc thành tích không áp dụng đối với những công chức chính vụ, chỉ áp dụng đối với công chức nghiệp vụ, nhưng hiện nay phạm vi không áp dụng nguyên tắc thành tích đã được mở rộng, bao gồm:

-  Những người do dân bầu ra như tổng thống, phó tổng thống, thống đốc bang, thị trưởng, huyện trưởng

-  Những người của các ủy ban đặc biệt

-  Những người được bổ nhiệm, tức là những người được các chức vụ dân cử đề nghị và quốc hội đồng ý như bộ trưởng.

-  Các chuyên gia được thuê theo hợp đồng đặc biệt. Trước kia, các công chức nghiệp vụ thực hiện chế độ làm việc lâu dài, nhưng bây giờ số người làm việc theo hợp đồng đang tăng lên nhiều.

Ở Trung Quốc, không phân loại công chức theo chính vụ và nghiệp vụ, cũng không phân loại thành công chức trung ương và địa phương mà phân thành công chức giữ cương vị lãnh đạo và công chức không giữ cương vị lãnh đạo.

Theo quy định hiện nay, công chức Trung Quốc có 15 bậc, tương ứng với 12 chức vụ. Ví dụ, Thủ tướng quốc vụ viện là bậc 1, phó thủ tướng bậc 2, ủy viên quốc vụ viện là bậc 2-3, bộ trưởng, tỉnh tưởng là bậc 3-4, thứ trưởng, phó tỉnh trưởng bậc 4-5, vụ trưởng, giám độc sở, thanh tra bậc 5-7, vụ phó, phó giám đốc sở, trợ lý thanh tra bậc 6-8, trưởng phòng, huyện trưởng, nghiên cứu viên bậc 7-10, phó trưởng phòng, phó huyện trưởng, trợ lý nghiên cứu viên bậc 8-11…

Nội dung chủ yếu của chế độ công chức bao gồm những quy phạm quản lý về các mặt tuyển dụng, sát hạch, khen thưởng, xử phạt, thăng cấp, đào tạo, tiền lương, phúc lợi, về hưu, quyền và nghĩa vụ của công chức, kỷ luật, bảo đảm quyền lợi theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định cụ thể của mỗi nước không hoàn toàn giống nhau. Ví dụ, có nước quy định công chức mới tuyển dụng không được qúa 35 tuổi, cũng có nước không quy định độ tuổi.Có nước quy định tuổi về lưu của công chức nam và nữ khác nhau. Nhưng về tinh thần và nguyên tắc thì các nước có nhiều điểm giống nhau hoặc gần giống nhau như cạnh tranh công bằng, chức quyền rõ ràng, kỷ luật nghiêm minh, quản lý bằng pháp luật.

Chế độ công chức của Trung Quốc hiện nay vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp trong chế độ công chức trước đây như Đảng quản lý cán bộ, dùng người theo tiêu chuẩn, đức tài trọn vẹn, phục vụ nhân dân, cần kiệm liêm chính, đồng thời có những cải cách quan trọng về phương thức, phương pháp quản lý, tiếp thu và nhấn mạnh những nguyên tắc, yêu cầu cơ bản được sử dụng phổ biến trong công tác quản lý nhân sự, phù hợp với kinh tế thị trường và nền chính trị dân chủ.

Chế độ công chức ngày càng được thực hiện một cách dân chủ, công bằng, trên cơ sở sử dụng năng lực, tuy nhiên, cần phải tiếp tục thực hiện và nâng cao chất lượng tuyển dụng, bổ nhiệm công chức căn cứ trên những vấn đề như:

Thứ nhất, kiên trì nguyên tắc công khai, bình đẳng, cạnh tranh, chọn người tốt.Khi tuyển dụng công chức, cơ quan chính quyền các cấp đều tổ chức thi tuyển công khai, nghiêm túc.Điều kiện dự tuyển, phương pháp và trình tự thi tuyển đều được thông báo công khai. Mọi công dân có đủ điều kiện quy định đều có quyền và cơ hội dự tuyển, không phân biệt gia đình, xuất thân, nam nữ, nghề nghiệp, tình trạng tài sản. Việc thăng cấp cho công chức đều phải căn cứ theo tiêu chuẩn đức tài kết hợp, chú trọng thành tích công tác thực tế, thông qua sát hạch, khảo sát để lựa chọn.

Thứ hai, quy định rõ chức trách, kiểm tra chặt chẽ, xây dựng chế độ trách nhiệm trong công tác, dùng kết quả công tác để xem xét việc thưởng phạt, thăng cấp, nâng lương.

Thứ ba, công chức có thể vào ra, lên, xuống. Một mặt, cần thông qua sát hạch công khai để thu hút, tuyển dụng người giỏi, thông qua trao đổi để cải thiện cơ cấu cán bộ. Mặt khác, cần kiện toàn chế độ nghỉ hưu. Khi công chức không muốn làm việc trong cơ quan nữa, có thể từ chức theo yêu cầu và trình tự do pháp luật quy định. Đối với những người không nên tiếp tục làm việc trong cơ quan, cơ quan quản lý sẽ trên cơ sở sát hạch, căn cứ vào những điều kiện đã quy định để cho thôi việc. Đối với một số chức vụ, có thể áp dụng chế độ thuê, khi hết thời hạn, có thể rời khỏi cơ quan. Ngoài ra, nên từng bước hạn chế độ tuổi tối đa của các chức vụ nhằm tạo ra cơ cấu hợp lý về tuổi tác của công chức, tăng cường sức sống cho cơ quan.

Thứ tư, nêu cao yêu cầu liêm khiết. Vừa tăng cường giáo dục, vừa có chế độ phòng ngừa cần thiết, coi liêm khiết là một chuẩn mực quan trọng đối với công chức. Điều này phải được quán triệt trong các khâu quyền lợi và nghĩa vụ, tuyển dụng, sát hạch, thăng cấp. Đồng thời với việc giáo dục công chức, cần xây dựng chế độ kỷ luật nghiêm minh, những người vi phạm phải bị trừng phạt, có những hạn chế đối với một số công chức trong việc sử dụng người nhà, tránh mưu lợi cá nhân. Đối với một số công chức giữ một số cương vị đặc biệt, cần có chế độ định kỳ thay đổi nhằm giảm bớt ảnh hưởng của quan hệ xã hội đối với họ, đảm bảo cho công chức làm việc đúng pháp luật. Ngoài ra, cần hoàn thiện chế độ tiền lương, không ngừng nâng cao mức lương, tạo môi trường hành chính liêm khiết.

Thứ năm, kiện toàn hệ thống pháp chế, thực hiện việc quản lý theo pháp luật, nguyên tắc pháp trị trong quản lý nhân sự, ban hành luật công chức nhà nước để quản lý công chức có chỗ dựa về pháp lý. Khi quyền lợi chính đáng của công chức bị xâm phạm, có thể khởi kiện. Các quy định về quản lý công chức đều được thông báo công khai cho xã hội và chịu sự giám sát của xã hội.

Thứ sáu, 19 Tháng 1 2018 02:23

Xây dựng chính sách công

1. Quá trình xây dựng chính sách công

Khi một vấn đề xã hội đã trở thành vấn đề chính sách thì cần nghiên cứu nhiều phương án để giải quyết vấn đề rồi từ đó chọn ra một phương án tối ưu. Xây dựng chính sách là một quá trình vận động, bao gồm nhiều khâu hoặc nhiều bước. Khi xây dựng chính sách, có hai vấn đề cần lựa chọn, đó là lựa chọn mục tiêu và lựa chọn phương án chính sách.

Phân tích tổng hợp

Quá trình xây dựng phương án chính sách bao gồm chuẩn đoán vấn đề, xác định mục tiêu chính sách, dự thảo các phương án để lựa chọn. Quá trình xây dựng một chính sách là một quá trình liên tục từ đầu chí cuối, bao gồm nhiều khâu, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Như vậy, sẽ vừa có thể phát huy tác dụng của tổng thể, vừa có thể phát huy tác dụng cả từng khâu.

Qua phân tích quá trình xây dựng phương án chính sách, có thể kết luận:

Quá trình xây dựng chính sách là một thể thống nhất, do nhiều khâu hợp thành, không thể thiếu bất kỳ khâu nào, không thể tự ý giảm khâu nào.

Các khâu đó tạo thành một quá trình khép kín, tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.

Quan hệ giữa các khâu tương đối phức tạp, không thể thao tác theo thứ tự mà phải xuất phát từ thực tế.

2. Các nhân tố cơ bản trong việc xây dựng chính sách

Quá trình xây dựng chính sách có hai nhân tố cơ bản. Đó là mục tiêu chính sách và phương án chính sách. Sau khi có mục tiêu đúng thì không những có thể hướng phấn đấu mà còn có thể căn cứ vào mục tiêu đó để dự thảo các phương án chính sách rồi từ đó lựa chọn phương án tối ưu. Có mục tiêu đúng sẽ có thể cơ bản thống nhất tư tưởng của những người tham gia toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách, dù tín ngưỡng, quan niệm giá trị và lợi ích của họ khác nhau, khiến họ hợp tác với nhau một cách hữu hiệu, đồng thời cung cấp tiêu chuẩn để đánh giá kết quả chính sách. Hiệu quả của mục tiêu chính sách phụ thuộc vào hai khâu chủ yếu: Một là việc thiết kế mục tiêu phải chính xác. Hai là những người tham gia có nhận thức thống nhất đối với mục tiêu chính sách. Phải đi sâu, phân tích toàn diện, phân biệt rõ đâu là mục tiêu chủ yếu (phải thực hiện) đâu là mục tiêu thứ yếu (cố gắng thực hiện), đâu là mục tiêu thứ yếu hơn (mong muốn thực hiện).

Để bảo đảm xác định mục tiêu một cách chính xác, cần đạt được các yêu cầu sau:

Thứ nhất, mục tiêu chính sách phải rõ ràng, cụ thể. Phân phối lợi ích một cách công bằng là xuất phát điểm của một chính sách. Mục tiêu chính sách phải phù hợp với nguyên tắc công bằng, mục tiêu phải cao hơn mức thực hiện nhằm tạo ra tác dụng khích lệ, đồng thời có mức độ khó khăn nhất định để mọi người cảm thấy thông qua phấn đấu có thể thực hiện được. Mục tiêu phải có tính khả thi, xuất phát từ thực tế, phân tích toàn diện điều kiện khách quan, chủ quan để mục tiêu được xây dựng trên cơ sở khách quan vững chắc.

Thứ hai, các mục tiêu phải hài hòa. Một chính sách thường là sự kết hợp hữu cơ của nhiều mục tiêu. Nếu hệ thống càng lớn, càng phức tạp thì càng phải nghĩ đến nhiều mục tiêu. Giữa các mục tiêu phải có sự hài hòa. Để thực hiện sự hài hòa giữa các mục tiêu, cần củng cố tính đồng nhất về phương hướng của các mục tiêu, giảm bớt sự khác nhau về phương hướng của các mục tiêu. Một hệ thống chính sách có nhiều mục tiêu. Việc thực hiện một mục tiêu có nhiều biện pháp. Do đó, sự phối hợp giữa mục tiêu và biện pháp rất phức tạp, để tránh sự đối lập giữa các mục tiêu của chính sách, cần chú trọng sự phối hợp giữa các biện pháp.

Thứ ba, phải có sự thống nhất giữa mục tiêu và biện pháp. Một hệ thống chính sách là một hệ thống mục tiêu rõ ràng về tầng nấc. Ngoài mục tiêu tổng thể, còn có nhiều mục tiêu con. Trong cơ cấu mục tiêu do mục tiêu tổng thể và các mục tiêu cụ thể tạo nên, các biện pháp để thực hiện mục tiêu của cấp trên thường là mực tiêu của cấp dưới, hoặc có thể nói mục tiêu của cấp dưới là biện pháp của cấp trên. Do đó, không thể chỉ xem xét mục tiêu của một cấp nào đó mà phải xem xét mối quan hệ giữa mục tiêu của cấp trên và mục tiêu của cấp dưới, không nên dùng mục tiêu của cấp trên để thay thế mục tiêu của cấp mình, cũng không nên dùng mục tiêu của cấp mình để can thiệp vào mục tiêu của cấp dưới.

3. Thiết kế phương án chính sách

Trước khi quyết định phương án chính sách, cần thiết kế ít nhất là hai phương án, nêu rõ ưu, khuyết điểm của mỗi phương án rồi chọn lấy một phương án tốt nhất, không nên chỉ đưa ra một phương án. Việc lựa chọn phương án chính sách, trên thực tế là lựa chọn các yếu tố của hoạt động thực tiễn và phương án kết hợp các yếu tố đó. Trước hết là lựa chọn chủ thể thực tiễn, tức là giải quyết vấn đề “ai làm, ai không làm, ai làm là chính, ai làm là thứ yếu”. Chủ thể thực tiễn có thể là cá nhân, có thể là nhóm người. Tiếp đó là lựa chọn phương pháp hành động. Điều này có liên quan trực tiếp đến khả năng thực hiện mục tiêu và mức độ thực hiện. Cuối cùng là lựa chọn thời gian giải quyết, nơi giải quyết vấn đề, tức là giải quyết vấn đề điều kiện và môi trường tác động lẫn nhau giữa các khách thể của thực tiễn.

Khi dự thảo các phương án để lựa chọn, cần chú ý ba vấn đề:

Thứ nhất, các phương án được đưa ra để lựa chọn cần bao gồm tất cả các phương án đã chuẩn bị, bởi vì phương án bị bỏ sót có thể là phương án tốt nhất.

Thứ hai, mỗi phương án được đưa ra là phương án độc lập. Nếu các biện pháp hành động của phương án A đều có trong phương án B thì phương án A không thể coi là phương án độc lập.

Thứ ba, các phương án được dự thảo phải xét đến nhiều nhân tố và mối quan hệ giữa chúng với nhau vì hành vi Chính phủ có đặc điểm là liên quan đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ, nhiều tầng nấc phức tạp.

Việc dự thảo các phương án là một quá trình vận động, bao gồm nhiều bước, từ ý tưởng, thiết kế đến phân tích, sơ tuyển, đánh giá, đào thải. Quá trình này thường được chia làm hai giai đoạn mạnh dạn tìm tòi và giai đoạn thiết kế cụ thể.

Giai đoạn mạnh dạn tìm tòi là giai đoạn đưa ra ý tưởng sơ bộ của phương án. Trong giai đoạn này người ta thường dựa vào kinh nghiệm và tri thức đã có, nhất là kinh nghiệm thành công. Nhưng không phải kinh nghiệm nào cũng thích hợp cho mọi tình huống. Do đó, chúng ta phải biết kinh nghiệm nào là thích hợp, kinh nghiệm nào là không thích hợp, đồng thời phải nâng kinh nghiệm thành lý luận, dùng tư tưởng khoa học để bổ sung cho kinh nghiệm. Giai đoạn này gồm hai nội dung chủ yếu: Một là đưa ra nhiều phương án chính sách để thực hiện mục tiêu đã định. Hai là vẽ sơ đồ của các phương án. Phải đảm bảo tính toàn diện và đa dạng của các phương án, dùng nhiều biện pháp, đưa tất cả các phương án đã chuẩn bị lên bàn để lựa chọn.

Giai đoạn thiết kế chủ yếu là cụ thể hóa các phương đã đã chuẩn bị, xác định các nhân tố và biện pháp quan trọng và đánh giá hiệu quả của phương án. Nếu không có sự đánh giá này thì sẽ không phân biệt được ưu, nhược điểm của mỗi phương án, do đó sẽ khó lựa chọn. Vì vậy, cần tính toán kỹ lưỡng, chứng minh nghiêm túc, kể cả việc xem xét các ý kiến phản hồi, hoài nghi.

4. Kỹ năng xây dựng chính sách công

Để chính sách công thực sự có hiệu quả khi đi vào cuộc sống khi xây dựng cần phải đảm bảo một số yêu cầu cụ thể trong đó yêu cầu về trưng cầu ý kiến là một trong những yêu cầu quan trọng. Căn cứ vào lĩnh vực có liên quan để nêu vấn đề với các chuyên gia. Việc trưng cầu ý kiến được tiến hành sau khi có ý kiến trả lời, tiến hành tổng hợp, chỉnh lý, quy nạp rồi lại gửi đi. Sau nhiều lần như vậy, sẽ có được những ý kiến tương đối tin cậy, bởi những chuyên gia được trưng cầu ý kiến không biết nhau nên họ có thể mạnh dạn phát biểu ý kiến và thay đổi ý kiến khi cần thiết, các luận điểm khác nhau đề có thể được nêu ra. Bên cạnh đó, việc trưng cầu ý kiến của những lần khác nhau, các chuyên gia có thể biết được ý kiến của tập thể, lý do tán thành hay không tán thành và trên cơ sở đó, đưa ra ý kiến mới.

Qua nhiều lần trưng cầu ý kiến có thể biết được ý kiến của tất cả các chuyên gia, tìm ra ý kiến thống nhất của đa số chuyên gia. Khi trưng cầu ý kiến cần chú ý tới các căn cứ trong lĩnh vực của vấn đề cần nghiên cứu, đưa ra bản kê các vấn đề cần thảo luận và hình thành bản kê câu hỏi.

Những người được trưng cầu ý kiến không nhất thiết là chuyên gia mà là những người có quan điểm khác nhau. Khi đã chọn được một người thì đề nghị người đó giới thiệu hai người cùng quan điểm, cho đến lúc có được một số lượng người cần thiết để trưng cầu ý kiến.

Việc thiết kế câu hỏi phải làm mấy vòng. Các câu hỏi phải thể hiện được chủ đề, câu hỏi phải đơn giản, số lượng câu hỏi nên vừa phải, khi cần phải hướng dẫn tài liệu tham khảo. Ở vòng thứ nhất, cần nêu rõ mục tiêu của việc đó, những điều kiện để thực hiện mục tiêu, biện pháp thực hiện mục tiêu, phân loại và phân cấp, tầm quan trọng của các đề mục có liên quan.

Ngoài ra, cần phải tính toán và phân tích những ý kiến giống nhau, khác nhau, tạo cơ sở cho vùng trưng cầu thứ hai. Việc tổ chức những người có liên quan thảo luận trực tiếp, phát biểu ý kiến và việc việc báo cáo trình bày tất cả các ý kiến khác nhau, gửi đến người chính sách thẩm quyền để lựa chọn phương án tối ưu cũng là các kỹ năng quan trong trong quá trình xây dựng chính sách công.

Thứ năm, 18 Tháng 1 2018 02:20

Thực hiện và đánh giá chính sách công

Việc lựa chọn chính sách công là rất quan trọng nhưng việc tổ chức thực thi và đánh giá chính sách công lại quyết định kết quả của hoạt động.

Cần phân tích hiện tượng vô hiệu trong quá trình thực hiện chính sách, bởi các chính sách công được đề ra trên cơ sở nhận thức mâu thuẫn giữa các sự vật khách quan của xã hội và quy luật của nó. Sự vật không ngừng phát triển, biến hóa, còn chính sách có tính ổn định tương đối. Đó là một sự mâu thuẫn. Vì vậy, mỗi chính sách đều có một quá trình vô hiệu. Để bảo đảm cho việc thực hiện mục tiêu đã định, cần khống chế mức độ vô hiệu của chính sách. Trong quá trình thực hiện chính sách, hiện tượng vô hiệu xảy ra ở giao đoạn đầu do tập quán truyền thống, do mọi người chưa hiểu chính sách và bản thân chính sách có thiếu sót nên trong thời gian này, chính sách có thể chưa có hiệu quả rõ ràng.

Bên cạnh đó, chính sách cũng có thể rơi vào tình trạng vô hiệu ngẫu nhiên do mọi người dần dần hiểu chính sách và đồng tình với chính sách và bản thân chính sách cũng từng bước được hoàn thiện, hiện tượng vô hiệu có thể vẫn tồn tại nhưng ở mức thấp. Ngoài ra, chính sách có thể rơi vào tình trạng vô hiệu ở cuối giai đoạn do điều kiện khách quan thay đổi, chính sách trở nên “lão hóa”, mức độ vô hiệu dần dần tăng lên, đòi hỏi phải được điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách mới.

Vì vậy, trong giai đoạn đầu, nếu chính sách tỏ ra kém hiệu quả, không nên hoang mang mà cần phân tích nguyên nhân của nó để tìm cách giải quyết.

1. Tổ chức và con người thực hiện chính sách

Quá trình xây dựng chính sách có nhiều chủ thể tham gia nhưng việc tổ chức thực hiện chính sách về cơ bản chỉ có một chủ thể. Đó là các tổ chức của Chính phủ. Với số lượng nhân viên đông đảo, các tổ chức thực hiện chính sách có ảnh hưởng tương đối lớn trong quá trình thực hiện chính sách. Họ không những có nhiều quyền trong việc xây dựng chính sách mà còn nắm được những thông tin chủ yếu và chính trị và chính sách.

Trong quá trình thực hiện chính sách, các cấp, các ngành trước hết phải nghiêm chỉnh chấp hành những chính sách, biện pháp do trung ương quy định, vì những chính sách, biện pháp đó là xuất phát từ tình hình chung, trong phạm vi toàn quốc, mang tính phương hướng, tính toàn cục. Các địa phương phải dựa vào đó để xây dựng chính sách cụ thể một cách sáng tạo. Các cấp, các ngành vừa là người chấp hành chính sách của trung ương, vừa là người định ra các chính sách ở địa phương. Trong quá trình thi hành chính sách của trung ương, các địa phương phải căn cứ vào tình hình của địa phương để vận dụng linh hoạt, trong trường hợp cần thiết, có thể có những quy định bổ sung, nhưng không được trái với chính sách của trung ương.

2. Đối tượng chính sách

Đối tượng chính sách là những người, tập thể trực tiếp chịu ảnh hưởng của chính sách, được hưởng lợi từ chính sách. Chính sách công tác động đến họ và họ có tác động đến chính sách công. Hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào quan hệ qua lại giữa người thực hiện chính sách và đối tượng chính sách.

Khi chính sách mới ra đời, nhận thức tư tưởng của mọi người thường không giống nhau. Thậm chí có một số ít người, sau khi chính sách đã được thực hiện một thời gian, vẫn chưa biết rằng có một chính sách liên quan đến lợi ích của họ. Do đó, Chính phủ phải tuyên truyền chính sách, chuẩn bị dư luận cho việc thực hiện chính sách để nhiều người đồng tình với chính sách. Cơ ban thực hiện chính sách phải tuyên truyền ý nghĩa, mục tiêu và bước đi, biện pháp thực hiện chính sách và hiệu quả chính sách.

Khi nhiều người hiểu được chính sách, đặc biệt là hiểu được lợi ích của chính sách, họ sẽ có thái độ khác nhau. Nếu chính sách mang lại lợi ích cho họ thì việc thực hiện chính sách sẽ thuận lợi. Nếu chính sách nhất thời không mang lại lợi ích cho họ thì việc thực hiện chính sách có thể gặp trở ngại.

Đối tượng chính sách có thể chi làm hai loại: tán thành và không tán thành. Trong số người tán thành lại có thể chia làm hai loại tán thành hoàn toàn và tán thành có mức độ. Các đối tượng chính sách khác nhau có thể căn cứ vào nguồn lực của mình để tác động trở lại đối với chính sách. Đối với một chính sách, trong xã hội có thể có 3 thái độ là phục tùng, chấp nhận, tích cực ủng hộ. Vì chính sách của Chính phủ có tính quy phạm, những người chống lại có thể bị phạt ở mức độ khác nhau nên một số người tỏ ra phục tùng trong tổng thể hoặc hình thức và do sức ép mạnh mẽ của chính sách nên họ chấp hành chính sách một cách bị động.

Loại thứ hai là do thói quan tôn trọng quyền lực công cộng nên họ tự nguyện thực hiện chính sách nhưng kết quả thực hiện chính sách rất khác nhau và thường phát sinh tình trạng xa rời mục tiêu hoặc thực hiện một cách cực đoan.

Loại thứ ba là hiểu đúng, hiểu rõ chính sách và tự giác hành động một cách tích cực.

Việc tiếp thu một chính sách nào đó chủ yếu có mấy nguyên nhân:

Một là qua nhiều năm giáo dục, một số người đã hình thành thói quen tôn trọng quyền lực Chính phủ, phục tùng các quyết định của Chính phủ.

Hai là qua so sánh, họ nhận thức được lợi ích của chính sách đối với họ, biết rằng nếu thực hiện thì có lợi gì, không thực hiện thì có bất lợi gì.

Ba là do chính sách được thông qua một cách hợp pháp nên những thành viên trong một xã hội pháp chế sẽ phải tuân theo.

Bốn là một số người do sợ bị phạt nên phải chấp hành.

Năm là đối với bất kỳ đối tượng nào, sự hiểu biết chính sách cũng trải qua một quá trình từ không đến có, từ ít đến nhiều.

3. Môi trường chính sách

Môi trường chính sách là những nhân tố liên quan đến việc xây dựng chính sách, là tổng hòa những điều kiện tự nhiên và xã hội quyết định hoặc ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực thi chính sách.

Môi trường chính sách là căn cứ khách quan để Đảng và Chính phủ xây dựng chính sách đối nội, đối ngoại. Chỉ có xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước như tính chất xã hội, tình hình chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, dân số, tài nguyên, điều kiện tự nhiên và môi trường quốc tế mới có thể quy định một cách thực sự cầu thị nội dung của chính sách.

Ảnh hưởng của môi trường chính sách đối với việc xây dựng và thực thi chính sách có những đặc trưng sau:

Về tính đa dạng của chính sách. Trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chính sách. Những người xây dựng chính sách phải tỉnh táo, có tầm nhìn toàn cục, nắm vững mâu thuẫn chủ yếu, chú trọng lợi ích căn bản của nhân dân, lợi ích lâu dài, lợi ích toàn thể, điều hòa mâu thuẫn giữa các nhân tố.

Về tính vận động của chính sách. Tất cả các nhân tố của môi trường đều vận động không ngừng. Trong toàn bộ xã hội, các mâu thuẫn cơ bản của xã hội luôn ở trong trạng thái vận động, phát triển, khiến cho tình hình xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa cũng thay đổi một cách tương ứng.

Về tính giao thoa của chính sách. Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đối với chính sách không chỉ là ảnh hưởng một chiều mà còn có ảnh hưởng ngược chiều, dẫn đến những tình huống phức tạp, bất ngờ. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến chính sách, chính sách ảnh hưởng đến môi trường, dẫn đến các chính sách ảnh hưởng lẫn nhau.

Về tính đột xuất của chính sách, được thể hiện khi có những sự kiện thiên nhiên bất ngờ.

Do những đặc trưng trên, chính sách phải vừa có tính nguyên tắc vừa phải linh hoạt. Khi chấp hành chính sách, phải phân tích cụ thể đối với từng vấn đề cụ thể, phải kiên định về chính trị và linh hoạt về sách lược.

4. Giải quyết mâu thuẫn và điều chỉnh phương án trong quá trình chấp hành chính sách.

Giải quyết mâu thuẫn trong quá trình chấp hành chính sách, phải kéo dài, đồng thời phải phát hiện kịp thời những thay đổi của tình hình, những nhược điểm của phương án ban đầu. Muốn thế, các tổ chức hành chính quan trọng và người lãnh đạo các tổ chức đó phải dành sự ủng hộ hoàn toàn về chính trị đối với quá trình chấp hành chính sách, những người chấp hành chính sách ở cấp cao phải tán thành chính sách về bản chất, có kỹ năng quản lý về chính trị. Nếu không, những bất đồng nội bộ, những bất đồng với tổ chức, với người đồng cấp, với tổ chức cấp dưới, sẽ khiến việc chấp hành chính sách lâm vào tình thế khó khăn.

Trong quá trình chấp hành chính sách, cần áp dụng những phương pháp thích hợp để điều tiết các hoạt động chấp hành chính sách, giải quyết hoặc triệt tiêu mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra, hướng dẫn các cơ quan hành chính hoặc đối tượng chính sách phối hợp với nhau một cách thân thiện, nhất trí đề thực hiện mục tiêu chính sách. Trong thực tiễn, cách giải quyết mâu thuẫn có thể là dùng ý kiến của một bên hoặc ý kiến mang tính đại diện làm ý kiến chủ đạo, các bên khác phải phục tùng, hoặc là các bên thỏa hiệp, nhượng bộ lẫn nhau, thực hiện sự phân phối quyền lực và lợi ích mà các bên đều có thể chấp nhận, hoặc là các bên thống nhất với nhau đi đến một phương án mới, hoặc các bên không nhượng bộ lẫn nhau, cuối cùng cấp trên phải quyết định.

Xét theo quan hệ lợi ích, cải cách và phát triển là thay đổi quan hệ lợi ích cũng, là điều chỉnh quan hệ lợi ích. Khi các biện pháp chính sách đụng chạm đến quan hệ lợi ích đã hình thành, những người có lợi trong quan hệ lợi ích đã có sẽ phản đối, còn những người có thể được hưởng lợi từ chính sách mới sẽ ủng hộ. Lợi ích là động lực chấp hành chính sách, cũng là nguyên nhân cản trở việc chấp hành chính sách. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, chủ thể lợi ích rất nhiều và mỗi chủ thể đều muốn có được lợi ích lớn nhất. Những mâu thuẫn giữa họ với nhau sẽ phản ánh vào cơ quan chấp hành chính sách, khiến cho giữa các cơ quan đó cũng nảy sinh mâu thuẫn.

5. Điều chỉnh phương án

Một chính sách có thể thực hiện tốt hay không, trước hết là do nội dung của chính sách. Trong quá trình xây dựng chính sách, cơ quan xây dựng chính sách đã thông qua nhiều phương pháp và kỹ thuật để tìm ra phương án hài lòng nhất. Nhưng trong quá trình chấp hành, vẫn có thể có những điểu không phù hợp với tình hình thực tế. Xây dựng chính sách là một quá trình vận động, chấp hành chính sách cũng vậy. Do đó, trong quá trình chấp hành chính sách, cần chú ý thu thập thông tin, nhất là khi điều kiện chủ quan, khách quan có sự thay đổi. Nếu xét thấy cần điều chỉnh phương án ban đầu thì phải điều chỉnh, nếu trong quá trình chấp hành chính sách, thấy rằng mục tiêu chính sách đúng, nội dung phương án nhìn chung là hợp lý, chỉ có một số điểm không thích hợp thì nhất định phải điều chỉnh những điểm đó.

Quá trình xây dựng và thực hiện chính sách đều cần đến những nguồn lực nhất định

Ở Trung Quốc, quyền lực quyết sách, phạm vi trách nhiệm, phân định lợi ích giữa các cấp chưa được quy định rõ ràng, giữa Chính phủ, xí nghiệp và cá nhân, giữa các ngành của Chính phủ, giữa các địa phương chưa có mối quan hệ phối hợp ổn định. Trong quá trình lựa chọn mục tiêu chính sách còn có tình trạng mặc cả, lợi dụng sơ hở của chính sách, thậm chí có những chính sách, ai cũng nói là nên làm nhưng không ai muốn đóng góp nguồn lực. Đó là điều nên tránh và cần giải quyết khi chấp hành chính sách.

Cơ cấu tổ chức hệ thống cơ quan hành chính của Malaysia gồm có Nhà vua, Thủ tướng, Nội các và các Bộ trưởng

1. Vai trò của nhà Vua

Theo truyền thống lịch sử, Vua Malaysia là người thừa kế, bảo đảm sự trị vì liên tục của đất nước, là công cụ hữu hiệu trong việc kiểm soát 3 ngành: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Nhà Vua có quyền bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ, bổ nhiệm Bộ trưởng và bổ nhiệm Thẩm phán; có quyền giải tán Quốc hội khi cần thiết.

Nhà Vua cũng là người ký ban hành các đạo luật. Theo quy trình làm luật, dự luật muốn được trở thành luật phải được Hạ nghị viện + Thượng nghị viện thông qua và Nhà Vua chấp thuận.

Trong lĩnh vực quân sự, nhà Vua là Tổng tư lệnh tối cao. Khi đất nước lâm nguy, Vua có quyền ban bố tình trạng khẩn cấp (điều 150 Hiến pháp).

Ngoài ra Vua còn có một số đặc quyền khác như: quyền ân xá, quyền bảo vệ quyền lợi cho các dân tộc thiểu số, bảo vệ quyền đặc biệt của người Mã lai...

Trong hoạt động của Chính phủ, Nhà Vua là nguyên thủ Quốc gia, nắm quyền hành pháp tối cao (Hiến pháp quy định). Tuy nhiên, điều hành công việc đất nước hàng ngày được giao cho Nội các. Để tránh tình trạng quyền lực tập trung trong tay Nhà Vua, Hiến pháp quy định rõ: “Nhà Vua quyết định trên cơ sở tư vấn của Thủ tướng và Nội các” trừ ba trường hợp sau Nhà Vua có thẩm quyền tự quyết định không phải tham khảo ý kiến của Nội các, đó là:

+ Bổ nhiệm Thủ tướng

+ Giải tán Quốc hội

+ Triệu tập Hội nghị 9 Tiểu vương quốc

Các trường hợp này trong thực tế được Nhà vua tham khảo ý kiến của vị thủ tướng đã cầm quyền và các thành viên Nội các

2. Cơ chế hoạt động của Chính phủ

Theo thể thức quy định và theo Hiến pháp thì người đứng đầu Chính Đảng có đa số ở Quốc hội sẽ được chọn làm Thủ tướng. Trong những trường hợp không có một Đảng nào giành được đa số ghế tại Quốc hội thì Nhà Vua sẽ phải chọn Thủ tướng Chính phủ. Ở Malaysia, suốt 34 năm nay, Đảng Liên minh của ba Đảng phái lớn Mã lai. Hoa - Ấn liên tục nắm quyền lãnh đạo Chính phủ và được cử Thủ tướng. Dù rằng Hiến pháp không nói thành văn, nhưng theo thông lệ Đảng Mã lai - Đảng lớn nhất trong Liên minh sẽ tổ chức cuộc bầu cử chính trị riêng, bầu ra Chủ tịch Đảng và ông Chủ tịch Đảng này sẽ trở thành Thủ tướng Chính phủ. Ranh giới giữa chính trị của Đảng phái và chính trị chính phủ rõ ràng.

Khi được Nhà vua chính thức bổ nhiệm Thủ tướng và được giao quyền thành lập Chính phủ, Thủ tướng sẽ phải xem xét đến Số ghế tương quan giữa ba Đảng và số ghế giữa các Bang, tránh tình trạng có nhiều thành viên Nội các nằm trong một Đảng hoặc một Bang nào đó. Song yếu tố quan trọng nhất là Thủ tướng phải tính đến là độ tin cậy và tính gắn bó tập thể của các thành viên Nội các đối với Thủ tướng; ngoài ra cũng cần phải tính đến một số yếu tố khác như: tiêu chuẩn, tuổi tác...

Bộ trưởng được chọn trong số đại biểu của hai viện. Theo nguyên tắc chung, Bộ trưởng chủ yếu được chọn trong danh sách đại biểu Hạ nghị viện.

Sau khi hình thành danh sách Nội các, Thủ tướng đệ trình lên Nhà Vua và Nhà Vua thường chấp thuận danh sách này. Sau đó, các Bộ trưởng trình diện và tuyên thệ lòng trung thành của mình trước nhà Vua và họ chính thức được bổ nhiệm,

Thủ tướng có toàn quyền trong việc bổ nhiệm Thứ trưởng và có quyền lập ra một Bộ mới hoặc cắt giảm bớt các Bộ. Thứ trưởng được bổ nhiệm phải là đại biểu Quốc hội. Tùy theo tầm quan trọng của các Bộ mà số lượng thứ trưởng được bổ nhiệm khác nhau và cũng tùy theo nhu cầu của đất nước để định ra số lượng Bộ và Bộ trưởng. Riêng các Bộ như: Bộ Quốc phòng, Bộ ngoại giao bắt buộc phải có.

Hiện nay, Malaysia có 27 Bộ trưởng, trong đó có 4 Bộ trưởng không Bộ nằm trong văn phòng Thủ tướng. Thủ tướng có quyền kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng ở bất kỳ Bộ nào (không hạn chế) vì đây là đặc quyền của Thủ tướng.

Hỗ trợ cho Thủ tướng trong điều hành công việc đất nước có Phó Thủ tướng. Hiến pháp Malaysia không quy định cụ thể chức vụ Phó Thủ tướng. Thông thường, Thủ tướng sẽ chọn những người thân tín trong hàng ngũ Bộ trưởng để bổ nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng (có thể một hoặc hai Phó Thủ tướng). Phó Thủ tướng có vai trò thay mặt cho Thủ tướng khi Thủ tướng đi vắng và có quyền ký thay Thủ tướng trong trường hợp Thủ tướng vì một lý do nào đấy không thực hiện được chức năng trực tiếp của minh.

Theo tập quán, Phó Thủ tướng có thể trở thành Thủ tướng. Do đó, bản thân Phó Thủ tướng cũng phải tạo được sự tin cậy với các Bộ trưởng.

Nội các: Hiến pháp Malaysia không quy định cách thức tổ chức công việc của nội các. Toàn bộ hoạt động của nội các do tập quán, phong tục quy định và được quần chúng chấp nhận. Điều khoản quan trọng được ghi trong Hiến pháp là: “Nội các chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội”. Nói cách khác, một Bộ trưởng nếu có hành vi sai trái thì không riêng gì Bộ trưởng đó phải chịu trách nhiệm mà toàn bộ Nội các cũng phải chịu trách nhiệm. Thủ tướng và các thành viên Nội các đều phần lớn thuộc Đảng đa số.

Chủ nhiệm văn phòng Nội các là vị công chức Nhà nước cao nhất, không phải là một chính khách có nhiệm vụ làm Tổng thư ký Chính phủ.

Nội các họp vào sáng thứ 4 hàng tuần do Thủ tướng chủ trì. Thủ tướng có quyền triệu tập thêm các cuộc họp khẩn cấp nếu thấy cần thiết.

Theo thông lệ vào các sáng thứ 4, Thủ tướng sẽ đích thân đến gặp nhà Vua để thông báo Chương trình nghị sự. Nhà Vua xem xét có thể đưa ra hoặc không đưa ra lời bình luận gì thêm. Sau đó, Thủ tướng trở về chủ trì cuộc họp.

Cuộc họp Nội các là cuộc họp kín nên báo chí không thể đăng tin, trừ khi sau cuộc họp Thủ tướng hoặc Bộ trưởng được sự ủy nhiệm của Chính phủ có thể thông báo về một vấn đề gì đó.

Trong cuộc họp, các thành viên Nội các sẽ thảo luận các chính sách lớn liên quan đến vận mệnh đất nước do Thủ tướng đưa ra và thảo luận các dự thảo luật do các Bộ khởi thảo. Nội các thảo luận và thông qua tập thể, theo sự nhất trí chung. Nội các không có bỏ phiếu sự nhất trí (consennes) là tương đối.

Các Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Bộ và hoạt động của nhân viên Bộ mình. Bộ trưởng có thể bị chất vấn về hành vi của nhân viên trong Bộ khi nhân viên này có những vi phạm về chính sách. Về chức năng, nhiệm vụ của Bộ trưởng có một đạo luật riêng quy định, trong đó ghi rõ: Phạm vi quyền hạn duy nhất của Bộ trưởng là thực thi quyền hạn của Nội các.

Trong cơ cấu tổ chức của một Bộ, bên cạnh các Bộ trưởng, Thứ trưởng, còn có vị Thư ký quốc hội, đóng vai trò phối hợp, liên lạc giữa Bộ trưởng với Quốc Hội. Vị Thư ký này đương nhiên phải là thành viên của Quốc hội.

Nhân viên của Bộ là viên chức Nhà nước. Các viên chức này trực thuộc các Hội đồng công chức khác nhau. Họ không có quyền tham gia vào hoạt động của các đảng phái chính trị, không trực thuộc bất kỳ thành viên nào của Nội các. Các Bộ trưởng không có quyền bố trí người của Đảng phái mình vào bộ máy của Bộ. Điều này sẽ đảm bảo cho bộ máy Nhà nước hoạt động liên tục ngay cả khi Đảng cầm quyền thất cử, Bộ trưởng phải ra đi.

Để thực thi nhiệm vụ của Nội các giao, sau cuộc họp Nội các, các Bộ trưởng họp thông báo cho các Vụ trưởng biết nhiệm vụ có liên quan đến Bộ mình. Sau đó, họp các chuyên gia để lập đề án thi hành.

Ở Malaysia, việc kiểm tra, kiểm soát công việc của Nội các được thực hiện thông qua các biên bản cuộc họp Nội các. Việc triển khai thực hiện công việc của Bộ trưởng cũng được ghi vào biên bản. Nếu Bộ trưởng nào đó không triển khai thi cuộc họp sau Bộ trưởng đó bị chất vấn cho đến khi Bộ trưởng phải thực hiện...

Các dự luật được thảo luận trong nội các trước khi trình Quốc hội, thể hiện ngành Hành pháp đã tham gia vào quá trình lập pháp. Chính phủ là bộ máy được giao trách nhiệm điều hành công việc đất nước và thực thi trách nhiệm, nhưng phải thông qua luật và các chính sách của Chính phủ mới được thực hiện.

Trong bối cảnh cải cách hiện nay của Indonexia, tham nhũng là vấn đề cần phải được xem xét. Tham nhũng không chỉ có riêng ở Indonexia nó thực sự là hiện tượng phổ biến của nhiều quốc gia, cả phát triển và đang phát triển. Theo các cuộc khảo sát quốc tế, Indonexia được xếp hạng là một trong những nước có mức độ tham nhũng cao nhất thế giới, chỉ có thể phản ánh rõ mức độ công khai về tham nhũng trong quốc gia này – nơi đang nhanh chóng trở thành một trong những xã hội cởi mở trên thế giới- hơn là phản ánh mức độ tham nhũng trên thực tế.

Liệu tham nhũng ở Indonexia nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng hơn các nước khác có thực sự là vấn đề? Phần lớn người dân Indonexia đều nhận thức rằng tham nhũng là một thảm họa của đất nước và cần phải diệt trừ tận gốc. Tham nhũng làm suy yếu khả năng của nhà nước trong việc cung cấp những hàng hóa, dịch vụ công cộng thiết yếu và những quy định giúp xã hội hoạt động hiệu quả. Kết quả là, tham nhũng tác động nặng nề đến hầu hết những người dân nghèo và những đối tượng nhạy cảm của Indonexia, gây ra các rủi ro kinh tế vĩ mô nghiêm trọng, xâm hại sự ổn định tài chính, xâm phạm an ninh, pháp luật và trật tự công cộng và hơn hết, hủy hoại tính pháp chế và uy tín của nhà nước trong mắt của người dân. Bởi vậy, tham nhũng là mối đe dọa nghiêm trọng đến công cuộc chuyển đổi chính trị và kinh tế của Indonexia. Với việc xâm hại các quy tắc chính thống và các tổ chức trung tâm bảo vệ những quy tắc này, hủy hoại niềm tin của dân chúng vào những thể chế đó, tham nhũng đã đeo dọa trực tiếp đến nền dân chủ.

Tại sao chế độ Trật tự mới của Tổng thống Suhacto có thể có được sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và mức giảm nghèo đáng kể trong hoàn cảnh tham nhũng vẫn ở mức độ cao? Câu trả lời có hai vế:

Thứ nhất, chế độ này đã rất thận trọng để bảo đảm rằng tham nhũng không rảu ra ở phạm vi có thể cản trở những hoạt động đầu tư, kinh tế và tiêu diệt “những con ngỗng đẻ trứng vàng”. Điều này đòi hỏi sự quản lý và kiểm soát đặc biệt tốt và không yếu tố nào trong các yếu tố này tồn tại cho đến cuối những năm 1990, khi sự tham lam bắt đầu lên tiếng.

Thứ hai, thành công này đã bị cường điệu hóa. Cái giá phải trả rất cao với những cơ chế yếu kém và thối nát, những khoản công nợ nghiêm trọng di sự quản lý sai trái của khu vực tài chính, sự khánh kiệt nhanh chóng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Indonexia, một nền văn hóa ân huệ và tham nhũng trong một bộ phận những nhà doanh nghiệp hàng đầu. Ngày nay, các kết quả nghiên cứu khẳng định các cơ chế đúng đắn đóng vai trò thiết yếu đối với phát triển bền vững. Các đánh giá đa quốc gia về những đóng góp của thương mại, địa lý và cơ chế đối với tăng trưởng thu nhập cho thấy “chất lượng của cơ chế quyết định đến mọi vấn đề khác” Vì vậy, sự thiếu quan tâm đối với vấn đề cơ chế ở Indonexia, kết hợp với sự hủy hoại môi trường và những hậu quả tiêu cực bắt nguồn từ thời kỳ trật tự mới đã phá hoại sự bền vững của những nổ lực phát triển của Indonexia.

Phải chăng tham nhũng đã trở nên tồi tệ hơn kể từ khi Trật tự mới sụp đổ? Những bằng chứng về nhận định này còn thiết rõ ràng. Với sự suy giảm của đầu tư công, việc tham nhũng lớn đã có những điều kiện căn bản, trong khi đó với sự điều hành chính trị kém cỏi, tham nhũng nhỏ có thể đã gia tăng. Tuy nhiên, canh tranh chính trị có thể lại là một nguyên nhân gia tăng tham nhũng lớn. Vấn đề đặt ra ở đây là tham nhũng vẫn ở mức trầm trọng và gây rắc hại nhiều nhất cho tầng lớp dân nghèo. Tình trạng tham nhũng kéo dài đã khiến không ít người kết luận rằng đó là một phần bình thường trong quan niệm của người Indonexia. Người dân Indonexia cũng như người dân ở các quốc gia khác đều căm ghét tham nhũng, và chính họ ũng ít tham những hơn khi được đặt trong môi trường làm việc có khen thưởng về các hoạt động và hành vi đúng đắn, trừng phạt hành vi tham nhũng. Nhiều người dân Indonexia đã rất bất bình với những gì diễn ra trước mắt và muốn làm một cái gì đó để cải thiện tình hình. Họ đang tranh đấu trong một cuộc đấu tranh lành mạnh ở tất cả các chính quyền ở nông thôn, cũng như thành thị và trong mọi lĩnh vực đời sống của người Indonexia.

Tham nhũng đã được đề cập rất nhiều tại Indonexia. Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới thì việc xem xét lại, nghiên cứu, trách nhiệm giải trình và tham nhũng từ sau cuộc khủng hoảng tài chính và biến động chính trị có liên quan đối với Indonexia đã được triển khai rà soát. Trong ý nghĩ của nhiều người dân Indonexia, Ngân hàng thế giới đã có sự liên quan với chế độ của cựu Tổng Thống Suhacto vì đã ủng hộ chế độ này trong vòng 32 năm. Điều này có liên quan đến khoản nợ khổng lồ - vấn đề nghiêm trọng nhất trong những vấn đề kinh tế là hậu quả của thời kỳ Trật tự mới. Cụ thể, việc này được nhìn nhận là đã có sự thất bại trong đấu tranh chống tham nhũng khi cho một chế độ tham nhũng vay những khoản tiền khổng lồ.

Ngân hàng thế giới đã phải mất ba năm để đối đầu với những sai lầm đó. Trong quá trình đàm phán kỹ lưỡng với chính quyền mới của Indonexia và để giải quyết sự nợ nần và những yếu kém trong quản lý tài chính ở mức độ cao của quốc gia này, Ngân hàng đã quyết định giảm đáng kể các khoản vay cho Indonexia. Ngân hàng thế giới đã thay đổi phần lớn trong danh mục hỗ trợ hướng tới những hoạt động đổi mới, mà ở đó có sự hỗ trợ giảm nghèo thông qua những chương trình cộng đồng với việc những đối tượng thụ hưởng tham gia quyết định những ưu tiên đầu tư và giám sát việc sử dụng đúng đắn các quỹ đầu tư. Ngân hàng cũng đặt quản trị và chống tham nhũng là ưu tiên và là trọng tâm trong chiến lượng phát triển, dành một phần đáng kể hoạt động phân tích, hoạt động cho vay và các nguồn giám sát của mình nhằm hỗ trợ tăng cường quản trị và trách nhiệm giải trình, đồng thời chủ chủ động điều tra những tố cáo tham nhũng trong các dự án của mình và công khai những kết quả điều tra. Ngân hàng trọng tâm việc phê phán đối với sự im lặng của mình trức tham nhũng thông qua việc lên tiếng khi cần thiết. Ví dụ như vụ ngân hàng Bali…

Từ những phân tích nêu trên việc xây dựng dựa trên một chuỗi toàn diện những đánh giá, nhận định của các chuyên gia ngân hàng thế giới trong một số lĩnh vực chính này sinh tham nhũng như chi tiêu công, hệ thống quản lý tài chính, mua sắm công, quan hệ tài chính liên chính quyền, lĩnh vực tài chính, lĩnh vực cơ sở hạ tầng, lâm nghiệp, lĩnh vực tư pháp và lĩnh vực dịch vụ công. Ngoài ra, Ngân hàng thế giới đã dành thêm nguồn lực cho việc tìm hiểu tham nhũng diễn ra trong những dự án do mình tài trợ như thế nào? Ngân hàng thế giới đã tích cực phối hợp vói những đối tác phát triển của ình thông qua Chương trình đối tác cải cách quản trị tại Indonexia và trong quá trình đó đã nắm bắt được rất nhiều vấn đề về quản trị, đặc biệt là thông qua những nhóm làm việc chuyên đề với những đối tác trong lĩnh vực này. Báo cáo cố gắng chọn lọc những bài học kinh nghiệm về tham nhũng và trách nhiệm giải trình mà Ngân hàng thế giới tổng kết được từ những nghiên cứu nói trên. Nó cũng cố gắng nhận diện rõ hơn việc tham nhũng diễn ra như thế nào trong những lĩnh vực và quá trình cụ thể. Thông qua hàng loạt các nghiên cứu chuyên đề làm cơ sở cho nghiên cứu này. Mặc dù vậy, báo cáo này không phải là một công trình nghiên cứu toàn diện về tham nhũng ở Indonexia, nội dung của nó chỉ thể hiện những nhận thức và hiểu biết mà Ngân hàng thế giới có được cho đến thời điểm này.

Vấn đề trọng tâm được nghiên cứu là tại sao trách nhiệm giải trình công lại thường xuyên bị vi phạm và có thể làm được gì để thay đổi điều đó. Sau khi phân tích bối cảnh hoạt động của những nỗ lực chống tham nhũng tài Indonexia, báo cáo đề cập đến ba lĩnh vực có tham nhũng phổ biến nhất: Ngân sách quốc gia, hoạt động của chính quyền địa phương, việc thực hiện các chức năng điều tiết của Chính phủ trong lĩnh vực ngân hàng, điện, lâm nghiệp. Sau đó báo cáo xem xét hai nhân tố vừa là một phần của vấn đề và là một phần của giải pháp: những chủ thể chủ chốt trong lĩnh vực tư pháp (Cảnh sát, công tố viên, tòa án) và lĩnh vực dịch vụ công của Indonexia. Việc phân tích biện pháp mà nhà tài trợ đương đầu với những thách thức của tham nhũng, chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm của ngân hàng thế giới. Mỗi chương trong đều cố gắng giải thích vì sao trách nhiệm giải trình thất bại, để đánh giá những nỗ lực tăng cường trách nhiệm giải trình đang được tiến hành và để rút ra những bài học chính sách. Phần tổng quan cũng cố gắng đưa ra những thông điệp chung và phác họa một chiến lược khả thi vì một tương lai sáng sủa hơn.

Cách tiếp cận này dẫn đến một vài thiếu sót trong phân phân tích của báo cáo về cách mà tham nhũng diễn ra ở Indonexia. Thiếu sót lớn nhất là chỉ đề cập rất sơ lược về vai trò của các đảng phái Chính trị, quân đội và khu vực tư. Một thiết sót lớn khác là tham nhũng trong thu ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, lĩnh vực đất đai ở cả nông thôn và thành thị. Trong nhiều trường hợp, thông tin tin cậy về tham nhũng trong những lĩnh vực này vẫn rất khó tiếp cận và tìm hiểu, mặc dù một số trong những thiếu sót trên sẽ được sửa chữa trong quá trình nghiên cứu. Phần tổng quan cố gắng đề cập đến một số nhân tố cần thiết mà có thể đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh tham nhũng.

Thực hiện chính sách công là quá trình thực thi nội dung của chính sách. Lựa chọn chính sách là quan trọng, nhưng thực hiện lại càng quan trọng hơn.

Chính sách công được đề ra trên cơ sở nhận thức mâu thuẫn giữa các sự vật khách quan của xã hội và quy luật của nó. Sự vật không ngừng phát triển, biến hóa, còn chính sách có tính ổn định tương đối. Đó là một sự mâu thuẫn. Vì vậy, mỗi chính sách đều có một quá trình vô hiệu. Để đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu đã định, cần khống chế mức độ vô hiệu của chính sách. Trong quá trình thực hiện chính sách, hiện tượng “vô hiệu” xảy ra ở 3 giai đoạn.

Một, vô hiệu trong giai đoạn đầu

Do tập quán truyền thống, do mọi người chưa hiểu chính sách và bản thân chính sách có thiếu sót nên trong thời gian đầu, chính sách có thể chưa có hiệu quả rõ ràng.

Hai, vô hiệu ngẫu nhiên

Do mọi người dần dần hiểu chính sách và đồng tình với chính sách và bản thân chính sách cũng từng bước được hoàn thiện, hiện tượng vô hiệu có thể vẫn tồn tại nhưng ở mức thấp

Ba, vô hiệu trong giai đoạn cuối

Do điều kiện khách quan thay đổi, chính sách nên “lão hóa”, mức độ vô hiệu dần tăng lên, đòi hỏi phải được điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách mới.

Vì vậy, trong giai đoạn đầu, nếu chính sách tỏ ra kém hiệu quả, không nên hoang mang mà cần phải phân tích nguyên nhân của nó để tìm cách giải quyết.

Quá trình xây dựng chính sách có nhiều chủ thể tham gia nhưng việc tổ chức thực hiện chính sách về cơ bản chỉ có một chủ thể. Đó là các tổ chức của chính phủ. Với số lượng nhân viên đông đảo, các tổ chức thực hiện chính sách có ảnh hưởng tương đối lớn trong quá trình thực hiện chính sách. Họ không những có nhiều quyền trong việc xây dựng chính sách mà còn nắm được những thông tin chủ yếu về chính trị và chính sách.

Trong quá trình thực hiện chính sách, các cấp, các ngành trước hết phải nghiêm chỉnh chấp hành những chính sách, biện pháp do trung ương quy định, vì những chính sách, biện pháp đó là xuất phát từ tình hình chung, trong phạm vi toàn quốc, mang tính phương hướng, tính toàn cục. Các địa phương phải dựa vào đó để xây dựng chính sách cụ thể một cách sáng tạo. Các cấp, các ngành vừa là người chấp hành chính sách của trung ương, vừa là người định ra các chính sách ở địa phương. Trong quá trình thi hành chính sách của trung ương, các địa phương phải căn cứ vào tình hình của địa phương để vận dụng linh hoạt, trong trường hợp cần thiết, có thể có những quy định bổ sung, nhưng không được trái với chính sách của trung ương.

Đối tượng chính sách công tác động là những người và quần thể trực tiếp chịu ảnh hưởng của chính sách, được hưởng lợi từ chính sách. Chính sách công tác động đến họ và họ cũng có tác động đến chính sách công. Hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào quan hệ qua lại giữa người thực hiện chính sách và đối tượng chính sách.

Khi chính sách mới ra đời, nhận thức tư tưởng của mọi người thường không giống nhau. Thậm chí có một số ít người, sau khi chính sách đã được thực hiện một thời gian, vẫn chưa biết rằng có một chính sách liên quan đến lợi ích của họ. Do đó, chính phủ phải tuyên truyền chính sách, chuẩn bị dư luận cho việc thực hiện chính sách để nhiều người đồng tình với chính sách. Cơ quan thực hiện chính sách phải tuyên truyền ý nghĩa, mục tiêu và bước đi, biện pháp thực hiện chính sách và hiệu quả chính sách.

Khi nhiều người hiểu được chính sách, đặc biệt là hiểu được lợi ích của chính sách, họ sẽ có những thái độ khác nhau. Nếu chính sách nhất thời không mang lại lợi ích cho họ thì việc thực hiện chính sách có thể gặp trở ngại.

Đối tượng chính sách có thể chia làm hai loại: tán thành và không tán thành. Trong số người tán thành có thể chia làm hai loại tán thành hoàn toàn và tán thành có mức độ. Các đối tượng chính sách khác nhau có thể căn cứ vào nguồn lực của mình để tác động trở lại đối với chính sách. Đối với một chính sách, trong xã hội có thể có 3 thái độ: phục tùng, chấp nhận, tích cực ủng hộ.

Vì chính sách của chính phủ có tính quy phạm, những người chống lại có thể bị phạt ở mức độ khác nhau nên một số người tỏ ra phục tùng trên tổng thể hoặc hình thức và do sức ép mạnh mẽ của chính sách nên họ chấp hành chính sách một cách bị động.

Loại thứ hai là do thói quen tôn trọng quyền lực công cộng nên họ tự nguyện thực hiện chính sách nhưng kết quả thực hiện chính sách rất khác nhau và thường phát sinh tình trạng xa rời mục tiêu hoặc thực hiện một cách cực đoan.

Loại thứ ba là hiểu đúng, hiểu rõ chính sách và tự giác hành động một cách tích cực.

Việc tiếp thu một chính sách nào đó chủ yếu có mấy nguyên nhân:

Thứ nhất, qua nhiều năm giáo dục, một số người đã hình thành thói quen tôn trọng quyền lực chính phủ, phục tùng các quyết định của chính phủ.

Thứ hai, qua so sánh, họ nhận thức được lợi ích của chính sách đối với họ, biết rằng nếu thực hiện thì có lợi gì, không thực hiện thì có bất lợi gì

Thứ ba, do chính sách được thông qua một cách hợp pháp nên những thành viên trong một xã hội pháp chế sẽ phải tuân theo.

Thứ tư, một số người do sợ bị phạt nên phải chấp hành.

Thứ năm, đối với bất kỳ đối tượng nào, sự hiểu biết chính sách cũng trải qua một quá trình từ không đến có, từ ít đến nhiều.

Môi trường chính sách

Môi trường chính sách là những nhân tố liên quan đến việc xây dựng chính sách, là tổng hòa những điều kiện tự nhiên và xã hội quyết định hoặc ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực thi chính sách.

Môi trường chính sách là căn cứ khách quan để Đảng và Chính phủ xây dựng chính sách đối nội, đối ngoại. Chỉ có xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước như tính chất xã hội, tình hình chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa, dân số, tài nguyên, điều kiện tự nhiên và môi trường quốc tế mới có thể quy định một cách thực sự cầu thị nội dung của chính sách.

Ảnh hưởng của môi trường chính sách đối với việc xây dựng và thực thi chính sách có những đặc trưng sau:

Một là tính đa dạng

Trong suốt quá trình xây dựng và thực thi chính sách, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chính sách. Những người xây dựng chính sách phải tỉnh táo, có tầm nhìn toàn cục, nắm vững mâu thuẫn chủ yếu, chú trọng lợi ích căn bản của nhân dân, lợi ích lâu dài, lợi ích toàn thể, điều hòa mâu thuẫn giữa các nhân tố.

Hai là tính vận động

Tất cả các nhân tố của môi trường đều vận động không ngừng. Trong toàn bộ xã hội, các mâu thuẫn cơ bản của xã hội luôn ở trong trạng thái vận động, phát triển, khiến cho tình hình xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa cũng thay đổi một cách tương ứng.

Ba là tính giao thoa

Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đối với chính sách không chỉ là ảnh hưởng một chiều mà còn có ảnh hưởng ngược chiều, dẫn đến những tình huống phức tạp, bất ngờ. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến chính sách, chính sách ảnh hưởng đến môi trường, dẫn đến các chính sách ảnh hưởng lẫn nhau.

Bốn là tính đột xuất

Đặc trưng này thường thể hiện khi có những sự kiện thiên nhiên bất ngờ.

Do những đặc trưng trên, chính sách phải vừa có tính nguyên tắc vừa phải linh hoạt. Khi chấp hành chính sách, phải phân tích cụ thể đối với từng vấn đề cụ thể, phải kiên định về chính trị và linh hoạt về sách lược.

Ngoài ra, trong quá trình chấp hành chính sách đôi khi phát sinh các mâu thuẫn lợi ích do đó, cần có những phương án nhằm giải quyết mâu thuẫn và điều chỉnh phương án trong quá trình chấp hành chính sách.

Trong quá trình chấp hành chính sách, phải tránh kéo dài, đồng thời phải phát hiện kịp thời những thay đổi của tình hình, những nhược điểm của phương án ban đầu. Muốn thế, các tổ chức hành chính quan trọng và người lãnh đạo các tổ chức đó phải dành sự ủng hộ hoàn toàn về chính trị đối với quá trình chấp hành chính sách, những người chấp hành chính sách ở cấp cao phải tán thành chính sách về bản chất, có kỹ năng quản lý về chính trị. Nếu không, những bất đồng nội bộ, những bất đồng với tổ chức, với người đồng cấp, với tổ chức cấp dưới, sẽ khiến việc chấp hành chính sách lâm vào tình thế khó khăn.

Trong quá trình chấp hành chính sách, cần áp dụng những phương pháp thích hợp để điều tiết các hoạt động chấp hành chính sách, giải quyết hoặc triệt tiêu mâu thuẫn, xung đột có thể xảy ra, hướng dẫn các cơ quan hành chính hoặc đối tượng chính sách phối hợp với nhau một cách thân thiện, nhất trí để thực hiện mục tiêu chính sách. Trong thực tiễn, cách giải quyết mâu thuẫn có thể là dùng ý kiến của một bên hoặc ý kiến mang tính đại diện làm ý kiến chủ đạo, các bên khác phải phục tùng, hoặc là các bên thỏa hiệp, nhượng bộ lẫn nhau, thực hiện sự phân phối quyền lực và lợi ích mà các bên đều có thẻ chấp nhận, hoặc là các bên thống nhất với nhau đi đến một phương án mới, hoặc các bên không nhượng bộ lẫn nhau, cuối cùng cấp trên phải quyết định.

Xét theo quan hệ lợi ích, cải cách và phát triển là thay đổi quan hệ lợi ích cũ, là điều chỉnh quan hệ lợi ích. Khi các biện pháp chính sách đụng chạm đến quan hệ lợi ích đã hình thành, những người có lợi trong quan hệ lợi ích đã có sẽ phản đối, còn những người có thể được hưởng lợi từ chính sách mới sẽ ủng hộ. Lợi ích là động lực chấp hành chính sách, cũng là nguyên nhân cản trở việc chấp hành chính sách. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, chủ thể lợi ích rất nhiều và mỗi chủ thể đều muốn có được lợi ích lớn nhất. Những mâu thuẫn giữa họ với nhau sẽ phản ánh vào cơ quan chấp hành chính sách, khiến cho giữa các cơ quan đó cũng nảy sinh mâu thuẫn.

Một trong những nội dung cơ bản nhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá trình thực hiện chính sách công đó chính là việc điều chỉnh phương pháp thực hiện chính sách công. Một chính sách có thể thực hiện tốt hay không, trước hết là do nội dung của chính sách. Trong quá trình xây dựng chính sách, cơ quan xây dựng chính sách đã thông qua nhiều phương pháp và kỹ thuật để tìm ra phương án hài lòng nhất. Nhưng trong quá trình chấp hành, vẫn có thể có những quan điểm không phù hợp với tình hình thực tế. Xây dựng chính sách là một quá trình vận động, chấp hành chính sách cũng vậy. Do đó, trong quá trình chấp hành chính sách, cần chú ý thu thập thông tin, nhất là khi điều kiện chủ quan, khách quan có sự thay đổi. Nếu xét thấy cần điều chỉnh phương án ban đầu thì phải điều chỉnh, nếu trong quá trình chấp hành chính sách thấy rằng mục tiêu chính sách đúng, nội dung phương án nhìn chung là hợp lý, chỉ có một số điểm không thích hợp thì nhất định phải điều chỉnh những điểm đó.

1. Quốc hội

Quốc hội Malaysia gồm: Hạ nghị viện + Thượng nghị viện

a) Hạ nghị viện:

Hạ nghị viện có 180 đại biểu do dân bầu, có nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch Hạ nghị viện được chọn trong số đại biểu trúng cử vào Quốc hội. Đại biểu Hạ nghị viện làm chuyên trách, chỉ có một số ít kiêm nhiệm. Các đại biểu kiêm nhiệm thường là luật sư.

Việc bầu cử ở Malaysia mang tính chất tự do, nhiều ứng cử viên có thể ứng cử vào một ghế. Lãnh thổ được chia thành nhiều đơn vị bầu cử và một đơn vị bầu cử được bầu một đại biểu Quốc hội. Thông thường Đảng nào giành được đa số phiếu trong Quốc hội thì Đảng đó nắm quyền lãnh đạo Chính phủ và được thành lập nội các. Vấn đề dân chủ ở Malaysia cũng cho phép nhiều Đảng phái ra đời, mỗi chính Đảng được thành lập đều nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của chủng tộc, cộng đồng mình. Các thành viên của các Đảng đều có quyền ứng cử vào Quốc hội. Điều này đã xảy ra tình trạng, Chính phủ đang nắm quyền có thể bị mất một số ghế tại Quốc hội. Một Đảng duy nhất từ khi Malaysia giành được độc lập đến nay giành được số phiếu cao nhất trong Quốc hội, nắm quyền lãnh đạo - đó là Đảng Liên minh của ba chủng tộc: Mã lại - Hoa - Ấn. Đây là ba chủng tộc chủ yếu nắm quyền lực về kinh tế, chính trị ở Malaysia. Ngoài ra còn có một số Đảng khác được thành lập trên cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Nhân dân Malaysia cũng ý thức được rằng một chính đảng mạnh có khả năng đưa đất nước phát triển. Do đó, hiện nay đã có thêm một số Đảng khác gia nhập vào Đảng Liên minh.

b) Thượng nghị viện:

Thượng nghị viện có 69 đại biểu không do dân bầu, trong đó có 29 đại biểu do các Bang cử và 40 đại biểu do Chính phủ cử. Cấu tạo thành viên của Thượng nghị viện phản ánh sự khác nhau về chủng tộc, tôn giáo, nghề nghiệp... Chủ tịch Thượng nghị viện là một Thượng nghị sĩ. Thượng nghị viện được lập nên nhằm để kiểm soát Hạ nghị viện.

Vai trò của Thượng nghị viện không quan trọng bằng Hạ nghị viện nhưng Thượng nghị viện đóng vai trò không thể thiếu được trong quá trình lập pháp vì các dự luật muốn ban hành đều phải được thông qua tại Thượng nghị viện sau khi Hạ nghị viện biểu quyết.

Giữa thượng viện và hạ viện có sự chia sẻ chức năng lập pháp. Hai viện thảo luận và thông qua các luật nhà Vua phê chuẩn. Không có các quy định việc tham gia trực tiếp của cử tri. Bộ trưởng có trách nhiệm của một luật có thể thảo luận các khía cạnh gây tranh cãi của dự án luật với cử tri

2. Quy trình lập pháp

Trong quy trình lập pháp, Hạ nghị viện là nơi chuẩn bị các dự thảo luật. Việc sửa đổi các đạo luật bình thường được tiến hành theo hình thức giản đơn nhưng việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải tuân thủ những quy định đặc biệt hơn và phải có 2/3 số phiếu tán thành tại Quốc hội.

Sáng kiến luật thuộc về Chính phủ và nghị sỹ. Các dự án luật về thuế và các khoản chi tiêu phải do Bộ trưởng phụ trách về tài chính trình và chỉ phải trình ra Hạ viện. Sáng kiến luật được xuất phát từ chương trình hàng năm. Khi một Bộ quyết định phải có một dự luật, Bộ đó phải soạn thảo dự luật gửi cho bộ phận soạn thảo văn kiện của Quốc hội và các Bộ có liên quan để tham khảo ý kiến. Lần đọc thứ nhất phải được báo trước một ngày đối với dự án luật và 14 ngày đối với kiến nghị luật được chấp nhận. Các kiến nghị luật phải được kèm theo một bản giải thích. Sau đó dự luật được thảo luận tại Nội các trước khi trình Quốc hội.

- Giai đoạn ở Quốc hội: dự luật được chuẩn bị tại Thượng nghị viện hoặc Hạ nghị viện, thông thường được chuẩn bị ở Hạ nghị viện theo quy trình 3 lần dự thảo:

+ Dự thảo lần 1: thảo luận về tên gọi của dự luật

+ Dự thảo lần 2: Bộ trưởng có liên quan đệ trình trước Quốc hội để Quốc hội thảo luận, bổ sung. (Dự thảo lần 2 không làm cùng ngày với dự thảo lần 1 và văn bản dự luật được gửi cho các đại biểu trước đó)

+ Dự thảo lần 3: dự luật tiếp tục được bổ sung, sửa đổi và đưa ra biểu quyết dự luật có được thông qua hay không?

Trường hợp dự luật được Hạ nghị viện thông qua, Hạ nghị viện có thông điệp gửi cho Thượng nghị viện đề nghị Thượng nghị viện xem xét, chuẩn y.

Tại cuộc họp của Thượng nghị viện, thông điệp được đọc toàn văn, các đại biểu thảo luận. Thượng nghị viện có quyền làm chậm trễ dự luật trong vòng một năm hoặc một tháng. Nếu không đồng tình với dự luật, Thượng nghị viện gửi trở lại cho Hạ nghị viện, và Thượng nghị viện sẽ xem xét lại dự luật sau một năm đối với các dự luật bình thường, còn đối với các dự luật quan trọng được xem xét lại sau một tháng.

Trường hợp Hạ nghị viện không đồng tình với sửa đổi của Thượng nghị viện, Hạ nghị viện gửi trả lại cho Thượng nghị viện và Thượng nghị viện có một tháng để xem xét.

Trường hợp dự luật được sự đồng ý của Thượng nghị viện, sau một tháng, dự luật được gửi cho nhà vua để phê chuẩn. Nếu không đồng ý một số điều khoản nào đó, nhà vua sẽ gửi trở lại cho Hạ nghị viện kèm theo lý do không tán thành.

Hạ nghị viện sẽ thảo luận lại. Sau thời gian một tháng Hạ nghị viện gửi trở lại cho Nhà vua toàn bộ nội dung văn bản sửa đổi do Nhà Vua yêu cầu. Nếu như sau 60 ngày Nhà Vua không có ý kiến gì, điều đó có nghĩa văn bản dự luật đã được Nhà Vua chấp thuận.

Khi được công bố, dự luật trở thành văn bản luật chỉnh thức và nó sẽ được tồn tại mãi mãi, cho dù Chính phủ hoặc Quốc hội có thể bị thay đổi. Văn bản luật được ban hành chỉ bị thay đổi trong trường hợp Quốc hội quyết định sửa đổi, bổ sung. Năm 1968, Quốc hội Malaysia đã thông qua đạo luật về sửa đổi luật. Ủy ban sửa đổi luật có quyền xem xét các đạo luật đã thông qua và có kiến nghị với Quốc hội. Các đạo luật ban hành được ghi vào danh mục theo Số thứ tự nhằm tạo thuận lợi cho việc tra cứu, xem xét.

Thông thường Quốc hội chỉ thông qua các đạo luật chung, còn các hướng dẫn chi tiết thì Quốc hội ủy nhiệm cho các Bộ có liên quan ban hành. Văn bản do các Bộ ban hành gọi là văn bản dưới luật. Đây là chế độ “lập pháp ủy nhiệm” và nghị viện kiểm tra việc ủy quyền này bằng cách thông tin được trình Nghị viện theo các quy định của Luật.

Các Ban và các Tiểu ban của Quốc hội

a) Ban Thư ký: xử lý công việc hàng ngày của Quốc hội. Đứng đầu Ban Thư ký là vị công chức cao nhất của Văn phòng Quốc hội do Tổng Thư ký phụ trách công vụ của Chính phủ bổ nhiệm.

b) Ủy ban lựa chọn: do Chủ tịch Hạ nghị viện làm Chủ tịch Ủy ban, có 5 thành viên do Quốc hội bầu. Ủy ban có nhiệm vụ ủy nhiệm hoặc lựa chọn các ủy ban khác.

- Tiểu ban ngân sách: Gồm 6 thành viên có nhiệm vụ thẩm tra ngân sách cho Quốc hội và đóng vai trò kế toán, thẩm kế, có quyền yêu cầu bất kỳ cơ quan nào của Chính phủ giải trình về ngân sách chi tiêu.

- Tiểu ban về những quy định của Quốc hội: có nhiệm vụ xem xét các thủ tục quy định và những vấn đề liên quan đến Quốc hội.

- Tiểu ban hai viện: có nhiệm vụ về hành chính quản trị, xem xét điều kiện về vật chất, sinh hoạt của các đại biểu Quốc hội.

- Tiểu ban đặc quyền của đại biểu Quốc hội: có quyền xem xét và đình chỉ tư cách đại biểu Quốc hội. Đây là mặt hạn chế của cơ quan tư pháp vì hành vi của đại biểu Quốc hội được miễn thứ ở Tòa án. Trong Tiểu ban này có cả thành viên của Đảng đối lập.

4. Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội và nhân dân

Đại biểu Quốc hội (chủ yếu đại biểu Hạ nghị viện) có văn phòng của mình đặt tại đơn vị bầu cử, có người phụ trách văn phòng. Nhân dân có thể gặp người phụ trách văn phòng để đề đạt ý kiến của mình với đại biểu Quốc hội. Một tháng, đại biểu Quốc hội đến Văn phòng của mình một đến hai lần để xem xét nguyện vọng của nhân dân và cùng với lãnh đạo cơ quan hành chính địa phương xem xét và bàn hướng phát triển của đơn vị hành chính địa phương.

Để hỗ trợ cho hoạt động này, mỗi năm một đại biểu Quốc hội được chi phí 500 ngàn đô la Malaysia. (2,7 đôla Malaysia = 1 đôla Mỹ)

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành