Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

Thứ hai, 27 Tháng 11 2017 14:31

Thị trường trái phiếu - cổ phiếu

Thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu bao gồm hai thị trường cổ phiếu niêm yết (HSX và HNX), thị trường cổ phiếu các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCOM), cũng như triển vọng cho các thị trường này trong thời gian tới. Đánh giá thị trường chứng khoán Việt Nam, cần sử dụng nhiều yếu tố định lượng áp dụng tại các nghiên cứu quốc tế như phương pháp xác định giá trị chịu rủi ro của thị trường chứng khoán (VAR), bản đồ nhiệt (Heatmap) phản ánh mức độ rủi ro hiện tại dựa trên lịch sử giao dịch chứng khoán, thống kê mức độ tương quan giữa các thị trường chứng khoán (TTCK).

Thời gian qua, nhờ những điều kiện thuận lợi của thị trường, Kho bạc nhà nước đã hoàn thành kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ 2016 điều chỉnh lần 1 ngay khi hết thời điểm ba quý đầu năm và đến cuối năm 2016 đầu 2017 đã huy động thêm được 31 nghìn tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch phát -hành điều chỉnh lần 2. Khối lượng phát hành trái phiếu chính phủ năm 2016 đạt mức 281,3 nghìn tỷ VND, ghi nhận năm phát hành thành công nhất kể từ 2008 đến nay. Lượng phát hành ròng (phát hành mới trừ thanh toán đáo hạn) đạt 172 nghìn tỷ VND. Kỳ hạn TPCP vay bình quân năm 2016 tăng lên mức 8,7 năm từ mức 6,1 năm và 5,2 năm thời điểm 2015 và 2014. Lãi suất TPCP năm 2016 giảm dần từ đầu năm và tạo đáy vào thời điểm đầu tháng 10. 08 tháng đầu năm 2017 Kho bạc nhà nước phát hành 3.179 tỷ đồng trái phiếu. Thị trường bắt nhịp đầu năm khá tích cực, Tính quý 2/2017, chỉ số VN-Index đạt 778,88 điểm, tăng 17,1% so với cuối năm 2016. Mặc dù nhu cầu cầu đầu tư TPCP vẫn ở mức cao song thị trường giao dịch, có phần kém sôi động, đặc biệt cuối năm 2016 lãi suất thị trường 2 bước vào giai đoạn tăng mạnh cuối năm. Nhìn chung, thị trường được phân đoạn rõ rệt, cho thấy KBNN đã tranh thủ được các điều kiện thuận lợi của thị trường năm 2016 để huy động vốn trái phiếu với lãi suất ở mức thấp. Ngoài ra, năm 6 tháng đầu năm 2017 vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tiếp tục vào ròng. Giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài đến cuối tháng 5 đạt trên 22 tỷ USD, tăng 28% so với cuối năm 2016.         

Bên cạnh đó, lãi suất phát hành có xu hướng giảm từ đầu năm, nhờ dòng tiền đầu tư trái phiếu được hỗ trợ mạnh. Thị trường ngoại hối ổn định, cung ngoại tệ dồi dào, NHNN liên tiếp mua vào ngoại tệ đầu năm, đẩy lượng tương ứng VND bổ sung cho thanh khoản hệ thống. Nhu cầu vay mượn của các Tổ chức tín dụng (TCTD) không lớn khiến thị trường tiền tệ liên ngân hàng giao dịch kém sôi động. Đặc biệt, quý 2, khi thanh khoản hệ thống dư thừa lượng lớn, lãi suất liên ngân hàng đứng ở mức rất thấp, nhu cầu đầu tư trái phiếu tăng, lãi suất các kỳ hạn 5 năm và 7 năm ghi nhận mức giảm mạnh. Lãi suất phát hành TPCP kỳ hạn. 5 năm giảm từ mức 6,5-6,6% đầu năm xuống mức 6%, tiếp theo đó là bước giảm mạnh xuống mức 4,9%. Tuy nhiên, lãi suất TPCP kỳ hạn 5 năm có xu hướng tăng trở lại trong giai đoạn cuối năm, phiên phát hành 12, lãi suất kỳ hạn này điều chỉnh tăng nhẹ lên mức 5,28%.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Hành chính công là hoạt động quản lý của chính phủ với công việc chung của xã hội. Nhiệm vụ của nó là hữu hiệu hóa chính phủ và bộ máy chính quyền các cấp nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, bảo đảm sự bình yên, phát triển của xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Hành chính công nhằm thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản đó là tư vấn chính sách nhằm đưa ra những chính sách phát triển quốc gia phù hợp trong từng thời kỳ, và triển khai các hoạt động cụ thể biến chính sách trên giấy đó thành các hoạt động cụ thể phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng. Từ đó có thể nhận thấy rằng hành chính công chú trọng tới tổ chức và và hoạt động của hệ thống cơ quan hành pháp, chú trọng tới hiệu quả hoạt động và quản lý của nhóm các cơ quan này. Bên cạnh đó, hành chính công còn được hiểu là công cụ nhằm bảo vệ việc thực hiện hiến pháp, pháp luật biến các chủ trương chính sách, pháp luật thành các sản phẩm hữu dụng cho xã hội. Ngoài ra, hành chính công dưới giác độ khác còn được xem là tổng thể các hoạt động theo đó pháp luật được thực hiện và đi vào đời sống xã hội thông qua việc đưa các văn bản pháp luật của Nhà nước thành các sản phẩm cụ thể và đưa vào đời sống xã hội một cách hiệu quả nhất.

Nội dung của hành chính công bao gồm: việc xây dựng bộ máy hành chính và đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc, hoàn thiện các quan hệ làm việc giữa các cơ quan nhà nước. việc hoạch định và thực hiện chính sách, quản lý nhân sự, quản lý tài chính công, quản lý chính quyền địa phương, quản lý hiệu quả chính phủ, trong đó việc hoạch định chính sách và luật pháp là vô cùng quan trọng. Hoạch định chính sách và luật pháp bao gồm việc phân tích chính sách, phê duyệt chính sách, soạn thảo dự luật, thẩm định và phê duyệt dự luật trước khi trình Quốc hội thông qua. Việc hoạch định chính sách là một khâu rất quan trọng, sao cho chính sách phải có tính khả thi, thiết thực và đi vào đời sống.

Chính sách phải mang lại lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân, nhất là lợi ích căn bản và lợi ích lâu dài, phải phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và có tính khả thi. Trong quá trình thực hiện, nếu phát hiện điều gì không phù hợp thì phải điều chỉnh. Nếu chính sách sai thì phải đình chỉ, thay chính sách khác.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

  1. I. Chủ thể và đối tượng của hành chính công

Chính phủ là gì? Có ba cách hiểu về chính phủ.

Cách hiểu thứ nhất cho rằng chính phủ là tên gọi chung của các cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp. Cách hiểu này đồng hóa khái niệm chính phủ với khái niệm nhà nước.

Cách hiểu thứ hai cho rằng chính phủ bao gồm các cơ quan hành chính và các cơ quan độc lập, có quyền hành chính nhất định được thành lập theo quy định của pháp luật.

Cách hiểu thứ ba cho rằng chính phủ chỉ là cơ quan hành chính.

Ở đây, khái niệm chính phủ bao gồm các cơ quan hành chính của chính phủ và các tổ chức hành chính độc lập.

Chủ thể của hành chính công là các tổ chức quản lý công cộng, chủ yếu là các cơ quan hành chính của nhà nước. Cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp không phải là chủ thể của hành chính công. Ngoài các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức quản lý công cộng còn bao gồm các cơ quan hành chính độc lập, có quyền hành chính nhất định, được thành lập theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan hành chính nhà nước là những cơ quan hành chính công, được thành lập theo quy định của pháp luật, bao gồm nhiều cấp, từ chính phủ trung ương đến cơ quan chính quyền các cấp tạo nên chủ thể của hành chính công, phát huy vai trò của chính phủ ở các mức độ khác nhau. Nói chung, chính phủ trung ương phụ trách việc cung cấp các sản phẩm công cộng mang tính chất toàn quốc như quốc phòng, ngoại giao, tiền tệ, ngân hàng, đường sắt toàn quốc, quốc lộ, tức là những công việc công cộng mang tính chất toàn quốc, chính quyền địa phương phụ trách việc cung cấp các sản phẩm công cộng mang tính chất địa phương như đường sắt địa phương, đường ô tô địa phương, cơ sở hạ tầng địa phương, y tế và giáo dục địa phương, tức là những công việc công cộng mang tính chất địa phương. Các ủy ban đường phố, ủy ban thôn là tổ chức tự trị ở cơ sở, mang tính chất quần chúng, chịu trách nhiệm cung cấp những sản phẩm công cộng trong địa bàn cư trú như hòa giải nhân dân, bảo vệ trị an, vệ sinh công cộng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

  1. 1.Hệ thống luật pháp, chính sách về bảo vệ môi trường

Tài nguyên môi trường có vai trò thiết yếu đối với con người. Trong hơn 302 năm thực hiện đường lối đổi mới để quản lý và khai thác tài nguyên môi trường một cách hiệu quả, bền vững Đảng và Nhà nước luôn hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hệ thống văn bản pháp luật hiện nay vẫn còn nhiều bất cập cần phải được nghiên cứu để hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Thứ nhất, hệ thống chính sách pháp luật hiện hành chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, chồng chéo và mâu thuẫn nhau.

Giữa Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Luật Đầu tư có sự không thống nhất. Chẳng hạn, theo Điều 22, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, mục 4 quy định các dự án đầu tư chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng sau khi có báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường đã được cấp giấy xác nhận. Trong khi đó, Luật Đầu tư năm 2014 chỉ quy định các dự án phải đăng ký đầu tư có nội dung về cam kết bảo vệ môi trường và các dự án phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư có nội dung về giải pháp bảo vệ môi trường. Các quy định này không nêu rõ mức độ chi tiết, cụ thể của cam kết hoặc giải pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt là không có yêu cầu cần phải đánh giá tác động môi trường. Giữa Luật Bảo vệ môi trường và Luật Xây dựng cũng có sự chưa thông nhất. Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định thẩm quyền thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án là: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt của mình (trừ các dự án liên tỉnh, liên ngành). Trong khi đó, Luật Xây dựng năm 2014, quy định các dự án sử dụng nguồn vốn hỗn hợp, không phải là vốn của ngân sách nhà nước, thì các chủ đầu tư sẽ tự tổ chức thẩm định và quyết định đầu tư. Việc quy định về phí và lệ phí cũng có sự mâu thuẫn nhau., với mức quy định 50% tổng thu từ phí bảo vệ môi trường được trích vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam. Trong khi đó, Pháp lệnh về phí và lệ phí năm 2001 lại quy định nguồn thu từ phí và lệ phí về cơ bản được giữ lại cho ngân sách địa phương sử dụng.

- Thứ hai, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật Bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, thiếu cụ thể. Luật bảo vệ môi trường Việt Nam chưa quan tâm đúng mức tới môi trường nhân tạo, môi trường lao động, tới việc xây dựng các luật về bảo vệ một số yếu tố môi trường cụ thể. Việc cụ thể hóa điều luật quy định trách nhiệm đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường, vấn đề bồi thường thiệt hại khi gây tổn thất cho môi trường vẫn còn bị bỏ trống. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không có hướng dẫn xử lý trường hợp những cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cam kết bảo vệ môi trường nhưng không thực hiện mà vẫn đang hoạt động. Điều này cũng làm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh “coi thường pháp luật”. Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng chưa đầy đủ. Nghị định này đã bỏ qua rất nhiều các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Ví dụ: các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường biển; bảo vệ môi trường nơi công cộng; khu đô thị; khu dân cư; các hành vi vi phạm các quy định về nộp phí bảo vệ môi trường; vi phạm các quy định về thực hiện dân chủ cơ sở về bảo vệ môi trường. Khung và mức phạt cho từng hành vi vi phạm cũng thiếu cụ thể, gây khó khăn cho thực hiện trên thực tế.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Thứ sáu, 24 Tháng 11 2017 14:07

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4 dựa trên nền tảng số hóa của cuộc Cách mạng công nghiệp 3 nhưng mang một bản chất khác, đó là việc máy móc đã bắt đầu thay thế, tr giúp cho sức suy nghĩ, tư duy hay năng lực trí tuệ của con người. Điều này sẽ tạo ra những thay đổi chưa từng có và được cho là sẽ tạo ra một bước ngoặt mới, có thể sánh ngang hay vượt hơn về tầm ảnh hưởng so với bước ngoặt của nhân loại khi máy móc bắt đầu thay thế cho sức cơ bắp của con người và động vật trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ  nhất. Có thể nói, số hóa, sự hội tụ của các công nghệ, tương tác giữa hai thế giới thực và ảo, tốc độ xử lý thông tin nhanh chưa từng thấy, sự tham gia cung cấp nội dung số của lực lượng đông đảo người (nội dung trên các mạng xã hội, bách khoa toàn thư mở, các cộng đồng mở khác v.v…) và thiết bị (thông tin gửi từ các máy điện thoại di động, xe tô tô lưu thông trên đường, camera giao thông, các website v.v..) là những đặc trưng cơ bản của Cách mạng công nghiệp 4.0.

Các khâu chế biến, chế tạo được tự động hóa với người máy tiên tiến cộng thêm sự phát triển của vận trù dựa trên Big Data có thể khiến hoạt động này được chuyển ngược lại (re-shoring) các nước phát triển, để lại khoảng trống không dễ lấp đầy ở các nước vốn là “công xưởng” của thế giới. Nguy cơ này đặt các nước đang phát triển phải xem xét lại tiến trình công nghiệp hóa hiện nay (dựa trên lợi thế lao động giá rẻ) cũng như hệ quả của sự thay đổi nhu cầu lao động (lao động giản đơn bị thay thế bằng máy móc, rô-bốt) đi cùng vi đó là nguy cơ mất việc hàng loạt do những thay đổi đột ngột trong phương thức sản xuất (nhiều công đoạn được tự động hóa).

Ngày nay, công nghệ tự động hóa s dụng robot đã và đang đặt ra những thách thức trực tiếp và trước mắt cho các nước đang phát triển, đang tham gia vào quá trình tự do hóa thương mại và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu bằng lao động rẻ. Hiện tại có một xu hướng đang nổi lên đó là: Xu hướng sử dụng số lượng robot nhiều hơn, tại nhiều nghiệp có quy mô nhỏ hơn và trong nhiều ngành hơn.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường không chỉ phụ thuộc vào các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, vào hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường các cấp, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường cần thiết phải xây dựng và nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của toàn xã hội.

Đầu tiên cần phải nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong các cấp lãnh đạo. Hiện nay, các chính sách kinh tế và chính sách môi trường chưa hoàn toàn gắn kết với nhau. Các nhà hoạch định chính sách thường chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết của việc gắn kết các cân nhắc về môi trường vào các chính sách phát triển kinh tế. Trong khi đó, các nhà quản lý môi trường lại thường bị đứng ngoài quá trình xây dựng các chính sách phát triển đó. Do vậy, cần phải thay đổi tư duy của các cấp lãnh đạo, quản lý về vấn đề này. Để làm được điều đó cần phải tổ chức các lớp tập huấn về phát triển bền vững, về mối quan hệ giữa môi trường và phát triển cho các nhà lãnh đạo các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương. Bên cạnh đó cần nghiên cứu và ban hành cơ chế nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa các ngành với nhau và giữa các ngành với địa phương để đảm bảo kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố chính, đó là: sự điều chỉnh của Nhà nước bằng các công cụ luật pháp, sự điều chỉnh của nền kinh tế thị trường bằng các quy luật của thị trường và sự điều chỉnh của cộng đồng thông qua giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Cùng với việc phải làm thay đổi tư duy của các cấp lãnh đạo, quản lý về bảo vệ môi trường, cần phải có những điều khoản quy định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cấp lãnh đạo. Chẳng hạn, cần có quy định lãnh đạo các tỉnh, thành phố, lãnh đạo các bộ, ngành phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở địa phương, bộ, ngành mình mà không có biện pháp kịp thời xử lý. Phải đưa vấn đề chỉ đạo, điều hành thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường thành một trong những chỉ tiêu trong công tác thi đua, khen thưởng, đề bạt cán bộ lãnh đạo thuộc các bộ, ngành, địa phương.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Thứ năm, 23 Tháng 11 2017 14:01

Sự đa dạng của nền kinh tế Việt Nam

Trong quá trình phát triển, các nước không chỉ tăng số lượng sản xuất cùng loại hàng hoá mà còn thay đổi thành phần các loại hàng hoá. Các nước chuyển từ giai đoạn sản xuất một vài sản phẩm tương đối đơn giản sang cơ cấu hàng hóa và dịch vụ đa dạng, phức tạp hơn. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này, và là một trong những ví dụ rõ nét nhất. Năm 1986 bắt đầu thời kỳ đổi mới, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cá, nông sản và dầu khí, đến nay danh mục xuất khẩu đã lên tới 300 lần, bao gồm nhiều loại thiết bị điện tử, sản phẩm dệt may, giày dép, và hóa chất bên cạnh các sản phẩm truyền thống từ năm 1986.

Sự mở rộng về số lượng và mức độ phức tạp của các sản phẩm mà quốc gia có lợi thế cạnh tranh phản ánh quá trình phổ biến và ứng dụng công nghệ. Theo đó, công nghệ là tổng thể của ba loại hình kiến thức: kiến thức về công cụ, vật liệu dùng trong sản xuất; các kiến thức mã hoá về công thức, bằng sáng chế, và các hướng dẫn; và kiến thức về know-how (kiến thức và kinh nghiệm thực hành) chỉ có trong não bộ của con người. Ba loại hình kiến thức này được sử dụng đồng thời trong sản xuất và có tính bổ trợ cao, nhưng nếu như công cụ và mã hoá tương đối dễ dàng dịch chuyển, thì việc dịch chuyển know-how từ người này sang người khác là rất khó, đòi hỏi quá trình học tập và vận dụng lâu dài. Do đó, tỷ lệ phổ biến công nghệ có xu hướng bị giới hạn bởi tốc độ của loại hình kiến thức khó dịch chuyển nhất, đó chính là know-how.

Thêm vào đó, công nghệ hiện đại không thể chỉ do một người triển khai. Thay vào đó, cần có một nhóm nhiều người nắm giữ các cấu phần khác nhau của các know-how cùng hợp tác sản xuất, giống như một bản giao hưởng cần nhiều nhạc sĩ với kiến thức về các dụng cụ âm nhạc khác nhau. Ví dụ, một công ty hàng không cần có phi công, tiếp viên, thợ cơ khí, nhân viên bốc vác hành lý, dịch vụ mặt đất, phục vụ thực phẩm, kiểm soát không lưu... Điều này khiến cho việc phổ biến công nghệ thậm chí còn chậm hơn vì các ngành công nghiệp phức tạp cần có nhiều loại kiến thức chuyên môn khác nhau.

Như vậy, các ngành công nghiệp không xuất hiện theo trình tự ngẫu nhiên mà có xu hướng dịch chuyển theo các mô hình, công cụ đánh giá tính phức tạp về kinh tế và mạng lưới sản phẩm. Các sản phẩm được sản xuất bằng cách ghép nối các loại hình know-how khác nhau theo cách thức giống như ta kết hợp các chữ cái để tạo thành từ khi ghép nhiều chữ cái hơn ta có nhiều từ hơn, có từ dài hơn. Tương tự như vậy, các nước có nhiều loại know-how có thể tạo ra sản phẩm đa dạng và phức tạp hơn. Do đó, quá hình phát triển bao gồm sự tích lũy các know-how thể hiện bằng loại hình sản xuất đa dạng và phức tạp hơn.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 6 tháng đầu năm 2017 tăng 3,79%,  nhóm giao thông giảm 0,89% và nhóm thực phẩm giảm 0,12%.

Tựu chung lại, lạm phát tăng bình quân 1,53% tháng, tăng 4,74% so với cuối năm 2016 tăng 2,66% nếu tính theo lạm phát bình quân so với cùng kỳ năm trước (cách tính mới được áp dụng từ tháng 1/2017).

Như vậy, mức tăng GPI bình quân năm 2016 và mức tăng CPI bình quân tăng khoảng 4% so với năm 2016

- Thứ nhất, do điều chnh giá theo theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính có hiệu, lực từ ngày 1/3/2016 nên các mặt hàng dịch vụ y tế là nhóm hàng có mức tăng giá mạnh nhất 06 tháng đầu năm khi tăng tới 77,57% và ước đóng góp khoảng 2,7 điểm % vào lạm phát chung.

- Thứ hai, do thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị đnh số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 ca Chính phủ nên dịch vụ giáo dục là nhóm hàng hóa tăng cao thứ hai khi tăng tới 12,5% và ước đóng góp khoảng 0,58% vào CPI chung cả năm. Như vậy, chỉ tính riêng vic điều chnh giá các mt hàng nhàc quản lý y tế và giáo dục đã đóng góp vào mức tăng CPI 6 tháng đầu năm 2017.

-  chiều ngược lại, kiểm soát lạm phát đầu năm 2017có nhiều yếu tố thuận lợi, đó là tổng cầu nền kinh tế còn yếu, mặt bằng giá các hàng hóa thiết yếu trên thị trường quốc tế vẫn ở mức thấp nên những nhóm hàng chiếm tỷ trọng tính CPI đều gim hoặc tăng nhẹ, cụ thể:

-  Do giá một số mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng phục hồi, trong quý I và quý II như nhiên liệu, chất đốt, sắt thép nên chỉ số giá nhập khẩu 06 tháng đầu năm 2017 tăng 17,3% so với năm 2016, chỉ số giá xuất khẩu tăng 14,4% chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp (PPI) giảm 0,49%;

-  Bên cạnh đó, do giá lương thực đầu năm 2017 trên thị trường quốc tế tăng dần nên mặc dù thời tiết khắc nghiệt, mưa bão nhiều, GDP ngành nông lâm thủy sản đều tăng trưởng, cụ thể nông nghiệp tăng 1,96%, lâm nghiệp tăng 5,04%, thủy sản tăng 5,42%. Kim ngạch xuất khẩu của ngành này dự kiến cả năm đạt 35 tỷ USD, tốc độ tăng GHDP toàn ngành đạt khoảng 3%.

-  Những diễn biến này tương đồng với những nhận định mà Chính phủ  đã nêu xuyên suốt trong các báo cáo kinh tế vĩ mô hàng năm, theo đó: mục tiêu gi lạm phát cả năm 2017 dưới 5% không phải là thách thức lớn nếu như việc điều chỉnh giá các mặt hàng nhà nước quản lý được thực hiện tốt, song song với việc điều chỉnh giá các mặt hàng nhà nước quản lý sẽ là yếu t chi phi diễn biến lạm phát năm nay.

-  Lạm phát 6 tháng đầu năm 2017 cao hơn năm 2016  nhưng chủ yếu do yếu mức tiêu dùng vào dịp tết và việc tăng giá xăng dầu khiến nhiều mặt hàng tăng giá theo 6 tháng 2017, với việc tổng cầu của nền kinh tế chưa có sự bứt phá, yếu tố cầu kéo nhiều khả năng sẽ không đóng vai trò lớn vào diễn biến CPI. Thay vào đó, việc điều chnh giá các mặt hàng nhà nước quản lý sẽ tiếp tục là yếu tố chi phối lạm phát cả năm 2017, cụ thể:

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Khuôn khổ lập trình tài chính (LTTC) được xây dựng dựa trên 4 tài khoản vĩ mô quan trọng nhất của nền kinh tế đó là tài khoản quốc gia, tài khoản chính phủ, tài khoản tiền tệ và tài khoản cán cân thanh toàn quốc tế nhằm mô phỏng định lượng các mối quan hệ giữa 4 khu vực trong nền kinh tế: (i) khu vực kinh tế thực (gồm khu vực sn xuất và khu vực chi tiêu); (ii) khu vực đối ngoại (xuất nhập khẩu, FDI, (iii) khu vực tài khóa và (iv) khu vực tiền tệ.

Vì nền kinh tế có tính “động” nên những thay đổi phát sinh tại một khu vực có thể ảnh hưởng đến các khu vực còn lại từ đó làm thay đổi các cân đối vĩ mô tổng thể có liên quan. Như vậy, nền kinh tế sẽ có nhiều kịch bản khả thi khác nhau phụ thuộc vào nội lực của nền kinh tế, diễn biến kinh tế thế giới và cả chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của cơ quan quản lý. Mối quan hệ giữa các biến số vĩ mô trong các khu vực kinh tế khác nhau có thể được minh họa với một vài đại diện chính như sau:

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Trong quá trình đẩy nhanh hiện đại hóa, các cấp giáo dục cần chú trọng chức năng truyền bá và sáng tạo tri thức, nỗ lực đào tạo nhân tài sáng tạo, có tố chất, trực tiếp tham gia các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, văn hóa, dịch vụ, cung cấp nguồn trí lực và nhân tài dồi dào cho công cuộc xây dựng đất nước sáng tạo và xã hội học tập. So với trường ở các cấp, các cơ sở giáo dục khác, các trường đại học, cao đẳng kết hợp ba chức năng là đào tạo nhân tài, nghiên cứu khoa học và phục vụ cho xã hội. Đặc trưng sáng tạo tri thức càng trở nên rõ nét, trong quá trình đẩy mạnh hiện đại hóa giáo dục, cần tăng cường khả năng cống hiến tri thức của các trường đại học, cao đẳng.

Khả năng sáng tạo tri thức là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hiện đại hóa giáo dục. Giáo dục hiện đại phải là nền giáo dục cung cấp cho xã hội những cống hiến tri thức trình độ cao, chất lượng tốt. Trong thực tiễn xây dựng đất nước sáng tạo, giáo dục các cấp đặc biệt là giáo dục đại học, cao đẳng bên cạnh nhiệm vụ đào tạo nhân tài, còn phải tham gia công cuộc xây dựng hiện đại hóa dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo ra những cống hiến tri thức và phục vụ tri thức cho xã hội.

  1. Công cuộc xây dựng đất nước sáng tạo đặt ra yêu cầu mới đối với giáo dục

Xây dựng đất nước kiểu sáng tạo, nòng cốt chính là coi tăng cường khả năng tự sáng tạo thành cơ sở chiến lược cho phát triển khoa học - kỹ thuật, tự chủ sáng tạo, thúc đẩy khoa học - kỹ thuật phát triển vượt bậc; chính là coi tăng cường khả năng tự sáng tạo là mắt xích quan trọng trong quá trình điều chỉnh cơ cấu ngành, thay đổi phương thức tăng trưởng, xây dựng một xã hội tiết kiệm tài nguyên, hạn chế ô nhiễm môi trường,  làm cho nền kinh tế quốc dân phát triển vừa nhanh vừa hiệu quả; chính là coi tăng cường khả năng tự sáng tạo là chiến lược của quốc gia, xuyên suốt quá trình hiện đại hóa, kích thích tinh thần sáng tạo của toàn dân tộc, đào tạo nhân tài sáng tạo trình độ cao, hình thành cơ chế, thể chế có lợi cho việc tự sáng tạo, thúc đẩy mạnh mẽ sáng tạo lý luận, sáng tạo chế độ, sáng tạo khoa học kỹ thuật. Trong thực tiễn xây dựng đất nước sáng tạo, giáo dục là cơ sở, doanh nghiệp là chủ thể, khoa học - kỹ thuật là chủ đạo. Nếu không có giáo dục bồi dưỡng tinh thần sáng tạo cho toàn dân tộc, không có giáo dục đào tạo nhân tài, không có sự tự chủ trong sáng tạo của các trường đại học, cao đẳng, công cuộc xây dựng đất nước sáng tạo sẽ không thể thực hiện được.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành