Tạ Đình Tân

Tạ Đình Tân

Chủ nhật, 19 Tháng 11 2017 13:36

Tổng quan về khủng hoảng nợ công

1. Khái niệm khủng hoảng nợ công

Khủng hoảng nợ công được định nghĩa là các vấn đề về tài chính và kinh tế xảy ra do các quốc gia mất khả năng trả các khoản nợ của chính phủ hoặc các khoản nợ do chính phủ bảo lãnh. Khủng hoảng nợ công bùng nổ khi khoản nợ của chính phủ đã ở mức không an toàn so với quy mô nền kinh tế đồng thời nền kinh tế đạt mức tăng trưởng thấp.

Khủng hoảng nợ công thường xuất hiện với những dấu hiệu cơ bản như sau:

- Lãi suất trái phiếu chính phủ tăng mạnh, việc phát hành thêm trái phiếu trở nên khó khăn.

- Thâm hụt ngân sách lớn, nợ công vượt ngưỡng an toàn cho phép và chính phủ không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

- Chính phủ phải kêu gọi hỗ trợ tài chính từ các quốc gia khác và các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế.

- Hệ thống thể chế, giám sát tài chính không theo kịp sự biến động của thị trường tài chính.

- Lòng tin của nhà đầu tư cũng như công chúng giảm sút, dẫn đến tình trạng thoái lui đầu tư và nguy cơ xảy ra các cuộc đình công, biểu tình.

2. Các hình thức khủng hoảng nợ công

Cho đến nay, Quỹ Tiền tệ quốc tế đã tổng hợp ba hình thức chủ yếu của khủng hoảng nợ ở quy mô quốc gia, đó là khi quốc gia đó bị vỡ nợ, có khoản nợ xấu lớn và có khoản vay quy mô lớn từ Quỹ Tiền tệ quốc tế.

a) Bị vỡ nợ

Yếu tố này được các tổ chức định mức tín dụng xây dựng dựa vào khả năng không chi trả được nợ của một quốc gia. Tổ chức định mức tín dụng Moody's năm 2003 đã xác định các biểu hiện của một quốc gia vỡ nợ theo các tiêu chí:

Thứ nhất, có sự chậm trễ trong thanh toán lãi và/hoặc gốc, ngay cả khi việc thanh toán được thực hiện trong thời gian ân hạn.

Thứ hai, việc hoán đổi nợ xảy ra, trong đó quốc gia phát hành trái phiếu đề nghị người nắm giữ trái phiếu một khoản nợ mới, hoặc một gói chứng khoán mới tương đương nghĩa vụ tài chính giảm bớt. Khi đó, việc hoán đổi nợ có mục đích rõ ràng là giúp quốc gia đi vay tránh khả năng vỡ nợ

Thứ ba, đối với vay nợ bằng phát hành trái phiếu, tín phiếu, hối phiếu bằng nội tệ hoặc ngoại tệ, mỗi khoản nợ của quốc gia phát hành được coi là không có khả năng chi trả khi việc thanh toán nợ hằng năm không được thực hiện vào ngày đáo hạn, hoặc khi đề nghị hoán đổi khoản nợ mới bao hàm các điều kiện kém thuận lợi hơn so với lần phát hành ban đầu.

Thứ tư, có các khoản vay ngân hàng được gia hạn cuối cùng bị chiết khấu một khoản so với giá trị ban đầu hay những thỏa thuận khác kèm theo đề nghị hoán đổi nợ, hoán đổi nợ/vốn chủ sở hữu liên quan tới các chương trình tư nhân hóa của chính phủ, và/hoặc mua lại băng tiền mặt. Các giao dịch này được coi là dâu hiệu vỡ nợ bởi chúng bao gồm những điều kiện kém thuận lợi hơn so với ban đầu.

-Thứ năm, Chính phủ thoái thác hoàn toàn trách nhiệm nợ.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Hiện nay, quy mô nợ công của Chính phủ Việt Nam  đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và đã tiến sát mức ngưỡng kiểm soát của Quốc hội nên cần phải tăng trưởng tính hiệu quả của công tác quản lý nợ công. Luật Quản lý nợ công năm 2009 đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như tình hình nợ công tại Việt Nam. Chính vì vậy, Dự thảo luật Quản lý nợ công dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5.

Nội dung dự thảo Luật Quản lý nợ công sửa đổi đã khắc phục được nhiều hạn chế của Luật hiện hành. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số vấn đề gây tranh luận và cần được lưu ý  xem xét, có thể kể đến như tính cập nhật và đầy đủ của hệ thống số liệu thống kê về nợ công, phạm vi nợ công, ngưỡng an toàn nợ công và việc có nên hay không thống nhất đầu mối quản lý nợ công vào một cơ quan duy nhất, cụ thể là Bộ Tài chính đã đưa ra số liệu báo cáo đến cuối năm 2016, nợ công của Việt Nam đã lên đến 94,8 tỷ USD, tương đương với 64,73% GDP và đã sát mức trần cho phép là 65% GDP. Tuy nhiên, để có số liệu đánh giá sát trong quản lý và điều hành kinh tế xã hội cần có sự minh bạch thông tin về nợ công. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về nợ công là rất quan trọng trong đó Bộ tài chính là cơ quan đầu mối và thống nhất quản lý. Bên cạnh đó, tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV, đã thông qua Nghị quyết số 25 về kế hoạch tài chính 5 năm giai đoạn 2016- 2020, trong đó đặt ra một số mục tiêu như bảo đảm an toàn nợ công, nợ công hằng năm không quá 65% GDP; nợ Chính phủ không quá 54% GDP; nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP... và một số nhiệm vụ, giải pháp như: hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý nợ công theo hướng điều chỉnh phạm vi nợ công hợp lý, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tế của Việt Nam.

Với chức năng nhiệm vụ được giao Bộ tài chính là cơ quan đầu mối xây dựng và quản lý thống nhất cơ sở dữ liệu về nợ công theo quy trình cụ thể như: tổ chức thông tin về nợ công, cơ chế cung cấp, báo cáo và công bố thông tin về nợ công.   

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Thanh, thiếu niên là những người xây dựng tương lai cho Tổ quốc, là lớp kế cận sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, tư tưởng đạo đức của họ như thế nào, trực tiếp liên quan đến tình hình đội ngũ nhân tài tương lai, ảnh hưởng đến cả tố chất của dân tộc Việt Nam, đến tiền đồ của đất nước và vận mệnh của dân tộc.

  1. Ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường và cải cách tư tưởng đạo đức thanh, thiếu niên

Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước Chính phủ luôn kiên trì theo phương châm “giáo dục toàn diện, tăng cường chất lượng nguồn nhân lực”, trong quá trình đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp xây dựng tinh thần xã hội chủ nghĩa văn minh, đã thực hiện hàng loạt biện pháp quan trọng, nỗ lực tăng cường bồi dưỡng tư tưởng đạo đức cho thanh, thiếu niên, tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội và tinh thần dân tộc, tăng cường giáo dục đạo đức công dân, cải cách công tác giáo dục “đức” trong nhà trường, triển khai rộng rãi tinh thần văn minh tạo nên các hoạt động đạo đức thực tiễn và thực tiễn xã hội đa dạng muôn hình muôn vẻ, tích cực tạo nên dư luận tốt và môi trường xã hội có lợi cho sự phát triển lành mạnh của thanh, thiếu niên, nhằm nâng cao tố chất tổng hợp cho các em. Yêu tổ quốc, tích cực vươn lên, đoàn kết hữu hảo, lễ phép văn minh là trào lưu tinh thần thế giới của thanh, thiếu niên Việt Nam thời nay.

Muốn thực hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh sánh vai cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới cần sự nỗ lực của lớp lớp người Việt Nam, bắt đầu thế hệ thanh, thiếu niên, bồi dưỡng và tạo dựng hàng triệu triệu lớp người kế cận có tư tưởng phẩm chất tốt, có tu dưỡng đạo đức, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, vừa là nhiệm vụ thực tế cấp thiết. Đứng từ góc độ bảo đảm có người kế tục sự nghiệp của Đảng và sự hưng thịnh của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, từ góc độ xây dựng xã hội khá giả, từ quan điểm xây dựng và thực hiện khoa học phát triển, kiên trì theo đuổi lấy dân làm gốc, ý thức tăng cường và cải thiện tầm quan trọng và bức thiết của việc xây dựng tư tưởng đạo đức cho thanh niên, thiếu niên, đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới, nhiệm vụ mới, tích cực đối mặt với thách thức, tăng cường các khâu còn yếu, trên cơ sở củng cố các thành quả đã có, áp dụng các biện pháp thiết thực, nỗ lực xây dựng cục diện mới cho công tác xây dựng tư tưởng đạo đức cho thanh, thiếu niên.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Có thể thấy rằng để triển khai có hiệu quả giáo dục tố chất, cần nắm được bốn vấn đề cốt lõi và khâu quan trọng sau: tăng cường và cải tiến công tác giáo dục đạo đức, thay đổi hiện trạng chương trình, cải cách chế độ thi cử và đánh giá đang thực hiện, tăng cường xây dựng đội ngũ giáo viên, cải cách chế độ thi và đánh giá điều tiết quá trình giáo dục, tạo hướng phát triển cho giáo dục, là một trong những vấn đề quan trọng trong thực hiện giáo dục tố chất.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Nhật Bản là nước thành công trong việc sử dụng giải pháp kinh tế để bảo vệ môi trường. Năm 1973, nước này đã áp dụng chính sách thuế nhiên liệu đối với xe ôtô, nhất là xe ôtô chạy trong khu vực đô thị. Năm 1989, Nhật Bản đã tiến hành dán nhãn sinh thái đối với một số loại hàng hóa tiêu dùng. Việc làm trên đã được người mua ủng hộ nhiệt tình và đưa Nhật Bản dần trở thành hình mẫu về nhãn hàng sinh thái trên thế giới.

Ở phương diện vĩ mô, Chính phủ Nhật Bản cũng đã thực hiện một số giải pháp cần thiết để thúc đẩy áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, đặc biệt là tại các đô thị. Chẳng hạn, Chính phủ hỗ trợ tài chính, thực thi chính sách tín dụng mềm và giảm thuế đối với các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới trong tái chế phế thải, công nghệ tiêt kiệm năng lượng, công nghệ ít phát thải, dán nhãn sinh thái cho các hàng hóa thân thiện với môi trường v.v.. Thành phố Sappôrô, Tôkyô từ năm 2010 đã tiến hành giảm thuế với các dòng xe thân thiện với môi trường (ecocar) chạy bằng dầu diesel sạch (loại dầu nhẹ làm nhiên liệu).

1. Thuế, phí môi trường

Hướng tới xây dựng một xã hội có chu kỳ vật chất bền vững, kiềm chế việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, ứng phó với biến đổi khí hậu, Nhật Bản ban hành thuế môi trường vào năm 2012 và đẩy mạnh thực hiện xúc tiến chương trình “chất lượng” xanh. Chính phủ và các Bộ, ngành phấn đấu cấp chứng chỉ “Hành động sinh thái trong thế kỷ XX cho tới 6.000 loại hàng hóa. Để giảm chi phí xử lý chất thải rắn, Nhật Bản rất quan tâm tới việc phân loại chất thải rắn từ nguồn và tái sử dụng các vật liệu nhựa, bao bì thay vì đốt. Ví dụ, năm 2009, tại thành phố Tôkyô, người ta đặt các thùng thu gom đồ gia dụng hỏng tại các nhà ga tàu điện ngầm.

Thành phố Yôkôhama năm 2009 đã tiết kiệm được một khoản kinh phí tương đương 110 tỉ yên nhờ xóa bỏ kế hoạch tái thiết hai nhà máy đốt rác trong thành phố và giảm 3 tỉ yên chi phí vận hành chúng hằng năm, hay thành phố Chiba có thể tiết kiệm được xấp xỉ 20 tỉ yên nếu không xây dựng thêm một nhà máy xử lý chất thải rắn.

Thu thuế, phí môi trường đối với nhiên liệu, đồ gia dụng, chất thải rắn, nước thải, v.v. cũng được áp dụng phổ biến ở Nhật Bản nói chung và khu vực đô thị nói riêng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Bản chất của quá trình chuyển đổi ở Indonexia hạn chế đáng kể những lựa chọn cho cải cách. Indonexia đang chứng kiến sự sụp đổ từ từ của một Nhà nước trung ương tập quyền cao độ đã từng bị thống trị bởi một kẻ lộng quyền. Về hệ quả là sự phân chia quyền lực đã được thể hiện ở việc nổi lên các lực lượng chính trị đối lập, cả cũ lẫn mới ở cấp trung ương, sự chuyển giao quyền lực xuống địa phương, nơi những chính trị gia địa phương được trang bị thẩm quyền theo quy định của các đạo luật phân cấp, bắt đầu đấu tranh với chính quyền trung ương. Xã hội dân sự đang phát triển nhanh chóng và hình thành lực lượng thứ ba độc lập với Nhà nước.

Quá trình chuyển đổi ở Indonexia trên thực tế có vẻ phức tạp. Bản thân xã hội của Indonexia và quyết tâm của tầng lớp nhân dân trung lưu đã mang lại một sự gắng kết vô hình, mà sức mạnh của nó thường không được đánh giá đúng mức. Với lực lượng chính trị chủ chốt đã thể hiện khả năng cùng nhau tiến hành các cuộc cải cách thể chế và kinh tế trọng tâm vốn được coi là thiết yếu đối với sự ổn định của đất nước. Tuy nhiên, tình trạng không ổn định hiện nay cho phép những quy tắc không chính thức và những quan niệm sai trái trong quá khứ được tồn tại mà không bị kiểm soát, mặc dù những quy định chính thức vẫn đang có hiệu lực. Cùng với thời gian, khi các chính trị gia có kinh nghiệm hơn, người dân có kiến thức và thận trọng hơn trong việc bảo vệ lợi ích của mình, xã hội công dân hiệu quả hơn, thì trách nhiệm giải trình có khả năng được cải thiện. Nhưng hầu hết các chế độ dân chủ, cả cũ và mới, đều đang ở trong quá trình bày và điều này đòi hỏi sự lãnh đạo mạnh mẽ, quyết tâm của giới lãnh đạo cao cấp nhằm có được tầm nhìn sáng suốt đối với những lợi ích lâu dài của mình, người dân vẫn tiếp tục thận trọng để bảo đảm rằng trách nhiệm giải trình được cải thiện và nguyên tắc pháp quyền sẽ được áp dụng. Đó là một cuộc đấu tranh liên tục, với các kết quả không chắc chắn và những mối rủi ro dai dẳng về việc không đạt được mục đích. Trong giai đoạn này, quá trình nói trên chắc chắn sẽ xuất hiện những phức tạp và bất lợi với những tiến bộ ở nơi này và thụt lùi ở nơi khác.

Môi trường hiện tại dường như không có lợi cho một chiến lực toàn diện, rộng khắp nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình và hạn chế tham nhũng. Các lợi ích được trao là rất mạnh mẽ và năng lực của Nhà nước trong việc thực hiện những chương trình cải cách rộng khắp lại hạn chế. Nhưng đây có thể là một môi trường cho những giải pháp mang tính địa phương, với sự ủng hộ của các nhóm quyền lực địa phương, phát triển mạnh mẽ, dù là trong các khu vực hay các tiểu khu vực cụ thể, các tỉnh hay huyện, hay các tỉnh có các nhà lãnh đạo cải cách. Đây cũng có thể là một môi trường hợp lý trong đó nỗ lực cải cách trọng tâm là tạo điều kiện cho những giải pháp mang tính địa phương nói trên được thúc đẩy từ chính quyền trung ương.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

1. Tổng quan các văn bản pháp luật về khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường ở Việt Nam

Để thực hiện mục tiêu ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, ngày 25-6-1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, ngày 22-4-2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nội dung của Quyết định 64/2003 chỉ rõ đến năm 2005 phải xử lý triệt để 51 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng có tên tại Phụ lục 1 của Quyết định 64; đến năm 2007 tiếp tục xử lý xong 388 cơ sở (có tên tại Phụ lục 2 của Quyết định 64/2003/QĐ-TTg) và đến năm 2012 tiếp tục xử lý xong đối với 3.856 cơ sở gây ô nhiễm môi trường khác và các cơ sở mới phát sinh. Vấn đề khắc phục ô nhiễm môi trường còn được đề cập trong “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm, 2020” với hai nội dung, đó là: (1) Phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003, và (2) Khắc phục tình trang ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường nghiêm trọng .

Trong mục 2, chương IX của Luật Bảo vệ môi trường ban hành năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2006 có Điều 92 và 93 quy định về các căn cứ, các nội dung đề các định khu vực môi trường ô nhiễm, quy định trách nhiệm của các cấp trong việc tổ chức điều tra, xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi gây ra ô nhiễm môi trường. Tiếp đó là Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9-8-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9-8-2006 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường các lưu vực sông, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông cầu, sông Nhuệ, sông Đáy và sông Đồng Nai”. Quyết định nêu rõ nhiệm vụ, mục tiêu ưu tiên phải xử ]ý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong lưu vực các sông trên theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg. Ngoài ra, ngày 29-4-2008, Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg về việc hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái ô nhiễm môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

  1. Tổng quan các văn bản pháp luật về đánh giá tác động môi trường

Ở Việt Nam bắt đầu triển khai thí điểm đánh giá tác động môi trường từ những năm 80 của thế kỷ XX và đến năm 1993 khi có Luật Bảo vệ môi trường thì đánh giá tác động môi trường chính thức có chế định, nhưng trong thực tế vấn đề này chưa được quan tâm. Đến năm 2005, khi Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi và ban hành, chế định về đánh giá tác động môi trường đã được thiết kế lại và phân thành ba loại: (1) Các dự án quy hoạch chiến lược kinh tế - xã hội; (2) Các doanh nghiệp khác; (3) Các chủ hộ kinh doanh cá thể. Tại chương III, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 về đánh giá tác động môi trường quy định những nội dung sau:

a) Về đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường

- Một là, đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược:

Theo quy định của Điều 14 và Điều 15, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, có sáu chủ dự án dưới đây phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược đó là:

(1) Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

(2) Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước.

(3) Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), vùng.

(4) Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng.

(5) Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm.

(6) Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh.

- Hai là, đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường:

Các tổ chức, cá nhân là chủ dự án đầu tư quy định tại Điều 18 phải lập đánh giá tác động môi trường. Các tổ chức, cá nhân này tự tổ chức hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn có đủ điều kiện về cán bộ chuyên môn, cơ sở vật chất - kỹ thuật để tiến hành đánh giá tác động môi trường và lập đánh giá tác động môi trường. Các chủ dự án phải chịu trách nhiệm về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo. Nếu thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian thực hiện dự án thì chủ dự án phải trình với cơ quan phê duyệt; trường hợp cần thiết phải lập đánh giá tác động môi trường bổ sung. Các chủ dự án sau đây phải lập đánh giá tác động môi trường:

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Tham nhũng được định nghĩa là việc sử dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Định nghĩa này khá rộng, bao hàm được ba yếu tố của tham nhũng đã được mô tả trong cụm từ được sử dụng rộng rãi ở Indonexia là KNN (korupsi, kolusi, nepotisme - tham nhũng, kết cấu, cục bộ). Tham nhũng là một dấu hiệu của những sai sót của trách nhiệm giải trình hơn là chính sai sót đó.Vì vậy, việc nghiên cứu tập trung vào thể chế và quy trình của trách nhiệm giải trình và vì các mục đích của mình cần áp dụng một khuôn khổ đã được xây dựng cho báo cáo phát triển thế giới năm 2004: tạo ra những dịch vụ phục vụ người nghèo (2003) của ngân hàng thế giới. Trên cơ sở khuôn khổ này, cần nghiên cứu xem xét trách nhiệm giải trình ở Indonexia dưới góc độ mối quan hệ giữa người dân, những người nắm giữ chủ quyền tối cao, với các chính trị gia và những nhà hoạch định chính sách những người được bầu lên để đại diện cho dân chúng như Tổng thống, đại biểu quốc hội; mối quan hệ giữa các chính trị gia với những người hoạch định chính sách, mặt khác, với những cơ quan hành pháp và những cơ quan cung cấp dịch vụ công và mối quan hệ giữa những nhà cung cấp dịch vụ phổ biến nhất với người dân và người tiêu dùng.

Người dân, thông qua các hình thức bầu cử, áp lực chính trị, xã hội công dân, trao quyền cho và tác động tới những người đại diện, nhân danh quyền lực nhân dân để điều hành và cung cấp những dịch vụ thiết yếu. Tiếp theo, các nhà hoạch định chính sách xây dựng một cơ chế với các cơ quan cung cấp dịch vụ công, cung cấp tài chính và những nguồn lực khác đồng thời trao trách nhiệm và quyền hạn cho họ, thông qua các quy định của pháp luật, các sắc lệnh của Tổng thống, để đổi lại các dịch vụ được cung cấp. Họ cũng yêu cầu các cơ quan phải cung cấp thông tin về hoạt động của mình và giám sát đối với các hoạt động đó thông qua kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động. Cơ chế này được thực hiện thông qua việc đãi ngộ (lương, thưởng) và xử phạt (chế tài hành chính và những hình thức pháp luật khác). Về phần mình, nhân dân có thể tham gia giám sát hoạt động của cơ quan cung cấp dịch vị công, trên cơ sở thông tin mà những cơ quan này cung cấp và kinh nghiệm của riêng mình và bày tỏ sự quan tâm của họ về chất lượng và hiệu quả của những dịch vụ công một cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức phi chính phủ hoặc các đại diện mà họ bầu ra.

Khuôn khổ này sẽ cho phép giải thích những sai sót trong hệ thống trách nhiệm giải trình đã góp phần tạo ra những tham nhũng. Khuôn khổ này được xây dựng trên cơ sở mô hình chủ thể - đại diện. Tại mỗi nhánh của hệ thống trách nhiệm giải trình có một chủ thể và một đại diện. Công dân là chủ thể, chính trị gia và những người hoạch định chính sách do dân bầu ra là đại diện của nhân dân. Chính trị gia và những nhà hoạch định chính sách là chủ thể và đại diện là những người đứng đầu các cơ quân cung cấp dịch vụ công. Trong mỗi cơ quan, người đứng đầu các cơ quan là chủ thể và những người trực tiếp cung cấp dịch vụ công là đại diện.

1. Đánh giá chính sách giải quyết khủng  hoảng của Châu Âu

Quỹ bình ổn tài chính châu Âu

Quỹ bình ổn tài chính châu Âu được coi là bước đầu tiên hướng tới quá trình Châu Âu hóa các khoản. Tuy nhiên, quỹ này có hai điểm yếu:

Thứ nhất, vốn của quỹ không đủ lớn để có thể tài trợ cho các nước đang gặp phải vấn đề về nợ công. Khối lượng các khoản cho vay mà Quỹ bình ổn tài chính Châu Âu có thể cung cấp là 440 tỉ euro, trong đó 140 tỉ euro đã dành cho Hy Lạp, Ailen và Bổ Đào Nha.

Thứ hai, mỗi nước trong khu vực đứng ra góp một phần xác định vào Quỹ bình ổn tài chính châu Âu, đồng thời những nước cần đến các khoản vay không tham gia đóng góp. Như vậy, trong trường hợp khủng hoảng lan tới các quốc gia khác, khả năng cho vay của Quỹ bình ổn tài chính châu Âu khó có thể được đảm bảo.

 Cơ chế bình ổn châu Âu - Hạn chế về tài chính:

Cơ chế bình ổn châu Âu ra đời với nguồn ngân quỹ 700 tỷ euro (có khả năng cho vay 500 tỉ euro và 200 tỉ euro kế thừa từ Quỹ bình ổn tài chính Châu Âu). Tuy nhiên nguồn tài chính này là không đủ để giải quyết khủng hoảng nợ công của khu vực Eurozone đã lên tới con số khổng lồ: Nợ chính phủ thuộc Eurozone hiện đã tăng lên 88,2%GDP. Hy Lạp có tỷ lệ nợ trên GDP cao nhất  khu vực là 132,4%, Italia 123,3%, Bồ đào nha là 111,7%, Ailen 108,5%, Pháp 88,5% và Tây Ban Nha là 71,9%. Do đó, muốn thực hiện hiệu quả mục tiêu cứu trợ, cơ chế bình ổn Châu Âu cần phải có sự hỗ trợ tích cự hơn nữa từ các tổ chức khác như quỹ tiền tệ quốc tế và ngân hàng Trung ương châu âu

Hạn chế về cách thức thực thi quyết định.

Để có thể được thành lập, cơ chế bình ổn châu âu cần sự phê chuẩn của các nước đóng góp 90% ngân quỹ. Đức đóng góp 27,14% ngân quỹ của cơ chế bình ổn châu âu đồng nghĩa với việc cơ chế bình ổn châu âu không thể đi vào hoạt động nếu thiếu sự ủng hộ của Đức.

Đức tỏ thái độ ủng hộ cơ chế bình ổn Châu Âu ngay từ đầu, tuy nhiên, khi cơ chế bình ổn Châu Âu sắp được thành lập, Đức lại tỏ thái độ do dự. Nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề lợi ích. Chính quyền Đức luôn cho rằng, các nước gặp phải vấn đề nợ công và khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng phải tự tìm cách cứu lấy mình trước khi viện đến sự trợ giúp từ các nước thành viên khác trong khu vực hay từ các tổ chức tín dụng quốc tế. Dưới quan điểm đó, ngày 12-9-2012, Tòa án hiến pháp liên Bang Đức mới phê chuẩn cơ chế bình ổn Châu Âu với tuyên bố cơ chế này không phạm luật cơ bản của Đức. Tuy nhiên, Đức lại đưa ra một số điều kiện rằng buộc kèm theo.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.  

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành