Trần Tố Oanh

Trần Tố Oanh

Thứ sáu, 29 Tháng 3 2019 08:27

test tập san 2020

 
Thứ sáu, 29 Tháng 3 2019 05:39

test tập san

 

Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là những tài sản còn lại của doanh nghiệp hợp tác xã khi bị yêu cầu mở thủ tục phá sản. Theo quy định tại điều 49 Luật phá sản doanh nghiệp 2004 tài sản này bao gồm: tài sản, quyền tài sản doanh nghiệp có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn; các khoản lợi nhuận và quyền tài sản doanh nghiệp sẽ có do giao dịch trước thời điểm thụ lý đơn; tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp; giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp. Theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp 2004 nghĩa vụ về tải sản doanh nghiệp hay còn gọi là tài sản nợ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thanh toán. Căn cứ để xác định nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp được quy định tại điều 33 Luật phá sản doanh nghiệp 2004. Xác định nghĩa vụ này của doanh nghiệp thực chất là xác định tổng khoản nợ bao gồm cả nợ đến hạn và nợ chưa đến hạn của doanh nghiệp. Việc xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải căn cứ vào quyết định mở thủ tục phá sản thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Các trường hơp xử lý nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bao gồm xử lý các khoản nợ chưa đến hạn; xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản cầm cố hoặc thế chấp, xử lý tài sản của Nhà nước được dùng để áp dụng các biện pháp đặc biệt về tài sản, xử lý tài sản, xử lý các tài sản thuê mượn khi doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý, xử lý tài sản đã giao trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản…. Việc xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi không tiến hành phục hồi kinh doanh được chia làm 2 giai đoạn. Ngay sau khi thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp thì việc phân chia tài sản của doanh nghiệp được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau: thứ nhất là phí phá sản doanh nghiệp; thứ hai là các khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội…; thứ ba là các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ theo nguyên tắc trả toàn bộ hay tỷ lệ tương xứng tuỳ thuộc vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp. Sau khi đã thanh toán đủ các khoản ở trên mà tài sản của doanh nghiệp vẫn còn thì phần giá trị tài sản các này sẽ được phân chia cho các chủ thể như chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông của công ty, chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, xã viên hợp tác xã.

Ngoài ra, việc đảm toàn khối tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại thời điểm toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhằm thực hiện các nghĩa vụ tài sản hoặc phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là hết sức quan trọng. Các biện pháp bảo toàn tài sản theo quy định của luật phá sản doanh nghiệp 2004 bao gồm: các giao dịch bị coi là vô hiệu và quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu; đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực, văn bản yêu cầu tiến hành đình chỉ thực hiện hợp đồng; thanh toán, bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện; bù trừ nghĩa vụ; kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, lập danh sách người mắc nợ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nghĩa vụ của ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có tài sản.

Nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cho các chủ nợ, Luật phá sản doanh nghiệp 2004 quy định về Hội nghị chủ nợ. Theo đó, trong trường hợp việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp kết thúc trước khi lập xong danh sách chủ nợ thì trong thời hạn 30 ngày thẩm phán triệu tập hội nghị chủ nợ, nếu việc kiểm kê tài sản này kết thúc sau khi lập xong danh sách chủ nợ thì thời hạn triệu tập Hội nghị chủ nợ tính từ thời điểm kiểm kê xong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Hội nghị chủ nợ do thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản chủ trì. Tham gia hội nghị chủ nợ bao gồm những chủ thể sau: thứ nhất, các chủ nợ có tên trong danh sách hoặc người được uỷ quyền bằng văn bản; thứ hai là đại diện công đoàn, đại diện người lao động (có quyền và nghĩa vụ như chủ nợ); thứ ba là người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp. Hội nghị chủ nợ có nội dung chính như thông báo tình hình kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp; các phương án, đề xuất, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh… Trong trường hợp cần trên cơ sở đề nghị của đại diện ít nhất 1/3 chủ nợ hoặc tổ thanh lý tài sản thẩm phán quyết định tổ chức Hội nghị chủ nợ tiếp theo.

Trên cơ sở những phân tích trên, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị như sau:

-  Đề nghị bổ sung thêm một số loại tài sản vào tài sản phá sản của doanh nghiệp như: tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ những giao dịch vô hiệu của doanh nghiệp, tài sản thừa kế của chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh sau ngày mở thủ tục phá sản.

-  Xem xét việc bổ sung quy định của luật phá sản 2004 về xử lý tài sản phá sản ở nước ngoài.

-  Sửa đổi, bổ sung quy định về đình chỉ và tạm đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản kể từ ngày toà án thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.

-  Bổ sung quy định về giải quyêt tranh chấp có liên quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cho phù hợp với thực tiễn.

Trải qua 10 năm thi hành, luật phá sản doanh nghiệp 2004 bên cạnh những kết quả đạt được cũng bộc lộ một số điểm còn hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn giải quyết phá sản ở nước ta cũng như thông lệ quốc tế. Do đó, việc xem xét nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật phá sản doanh nghiệp 2004 là điều tất yếu, nhằm củng cố hành lang pháp lý cho thủ tục, trình tự phá sản của doanh nghiệp.

Thứ ba, 25 Tháng 2 2014 05:13

Thủ tục phá sản và những bất cập

Điều 5 Luật phá sản doanh nghiệp năm 2004 quy định về thủ tục phá sản, theo đó, thủ tục phá sản được áp dụng với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm trình tự, thủ tục như nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; phục hồi hoạt động kinh doanh; thanh lý tài sản, các khoản nợ; tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

So với Luật phá sản doanh nghiệp 1993, Luật phá sản doanh nghiệp năm 2004 mở rộng đối tượng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đó là chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, người lao động, đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, thành viên công ty hợp danh, các cổ đông của công ty cổ phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp với doanh nghiệp đó; Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp 2004, các chủ nợ không có bảo đảm và các chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp. Theo cách hiểu thông thường, chủ nợ là người cho vay nợ; theo pháp luật về phá sản thì chủ nợ được hiểu theo nghĩa rộng hơn, mối quan hệ giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ cũng đa dạng và phong phú hơn. Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ mà một phần khoản vay của họ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc của một bên thứ 3 có liên quan. Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ mà khoản vay của họ hoàn toàn không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ hoặc bên thứ 3 có liên quan. Như vậy có thể thấy rằng, ngoài hai đối tượng trên, chủ nợ có bảo đảm toàn bộ không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, điều này vô hình chung làm mất tính bình đẳng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Đối với chủ thể nộp đơn là người lao động tại doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Luật phá sản năm 2004 quy định người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp nợ khi có đủ các điều kiện như doanh nghiệp nợ lương hoặc các khoản nợ khác như nợ tiền phụ cấp, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Ở đây, người lao động trong doanh nghiệp nộp đơn thông qua người đại diện của mình hoặc đại diện của công đoàn trong doanh nghiêp. Hình thức đại diện được t ực hiện bằng cách lấy phiếu kín hoặc lấy chữ ký người lao động trong doanh nghiệp khi có quá nửa số người lao động trong doanh nghiệp tán thành. Khi người đại diện nộp đơn tại toà án yêu cầu mở thủ tục phá sản họ phải nộp kèm theo biên bản bỏ phiếu hoặc chữ ký của tập thể người lao động cử họ làm đại diện nộp đơn, ngoài ra còn phải có các biên bản chứng minh số tiền lương doanh nghiệp nợ người lao động, số tháng nợ lương, và cac khoản nợ khác mà doanh nghiệp chưa trả cho người lao động. trong khi đó dự thảo luật mới

Đối với chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước, Luật phá sản doanh nghiệp năm 2004 quy định nếu doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn thì đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước sẽ thực hiện quyền này.

Luật phá sản năm 2004 quy định khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty, nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn sẽ thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông. Trường hợp điều lệ công ty không quy định và cũng không thực hiện được đại hội cổ đông thì nhóm cổ đông hoặc cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông liên tục trong 6 thán sẽ có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp/

Đối với công ty hợp danh, luật quy định chỉ có thành viên của công ty hợp danh mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó.

Bên cạnh đó, việc xác định chính xác thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là hết sức quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà còn đối vơi chủ nợ, người lao động và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan khác.

Việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản được thực hiện bằng việc Toà án nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Theo quy định tại Luật phá sản năm 2004 thì thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là Toà án nhân dân cấp quận, huyện nơi doanh nghiệp đăng kí kinh doanh hoặc nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, Toà án tiến hành xác định tính hợp pháp của đơn. Đối với trường hợp chủ thể nộp đơn là chủ nợ thì toà án trước hết phải xác minh xem người nộp đơn có thực sự là chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không có bảo đảm không và khoản nợ này là khoản nợ đã đến hạn chưa. Đối với trường hợp người nộp đơn là người lao động, trước hết Toà án xem xét các văn bản về khoản nợ lương của doanh nghiệp đối với người lao động, và các khoản nợ khác, tư cách người nộp đơn có đúng là người đại diện hợp pháp của người lao động theo quy định của Luật phá sản không. Đối với đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, Toà án phải kiểm tra tính hợp pháp của đơn và người kí đơnnh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp, hợp tác xã phải gửi kèm theo đơn các giấy tờ, tài liệu như: Báo cáo tình hình hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã; Báo cáo về các biện pháp khắc phục tình hình doanh nghiệp đã thực hiện nhưng không khắc phục được; Bảng kê chi tiết tài sản ; Danh sách các chủ nợ; Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp…

Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp Toà án có quyền yêu cầu người nộp đơn nộp bổ sung những giấy tờ, tài liệu cần thiết khác.

Về phí và tạm ứng phí phá sản tuỳ từng trường hợp cụ thể toà án sẽ quyết định mức phí. Trong một số trường hợp ngân sách nhà nước sẽ tạm ứng phí phá sản

Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp và kiểm tra tính hợp pháp, Toà án tiến hành thụ lý đơn. Toà án tiến hành thụ lý đơn yêu cầu phá sản kể từ ngày người nộp đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản. Trường hợp người nộp đơn không phải nộp tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý là ngày nộp đơn.

Sau khi thụ lý đơn, Toà án tiến hành ra thông báo thụ lý đơn. Kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản việc giải quyết các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tạm đình chỉ. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp cụ thể, Toà án có quyền triệu tập họp giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với chủ nợ, người nộp đơn. Việc triệu tập họp được thực hiện trong vòng 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn.

Sau khi kiểm tra tính hợp pháp của đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tư cách người nộp đơn, các giấy tờ tài liệu liên quan,Toà án có thể ra quyết định mở thủ tục phá sản, quyết định không mở thủ tục phá sản, quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản…

Tuy nhiên, thủ tục nộp đơn, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vẫn còn một số bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung một số điều cụ thể trong dự thảo luật phá sản doanh nghiệp như sau:

Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 3 Luật Phá sản để xác định DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản theo hướng quy định cụ thể các tiêu chí, định lượng hóa và gắn với nguyên nhân, thực trạng tình hình tài chính của DN, HTX.

Điều quan trọng là cần xác định được khả năng thanh toán nợ của DN, HTX chứ không phải là số lượng các khoản nợ mà DN, HTX không có khả năng trả. Một khoản nợ phải trả khi đến hạn và có yêu cầu thanh toán mà việc trả nợ đó có thể dẫn đến DN, HTX không còn tài sản và khoản nợ đó vẫn không được trả hết, thì cần phải xác định đó là dấu hiệu DN, HTX mất khả năng thanh toán.

Thứ hai, nghiên cứu bổ sung quy định tại Điều 13 về quyền của chủ nợ có bảo đảm trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Thứ ba, quy định cụ thể tại Điều 14 về cơ chế thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động thông qua cơ chế cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn; nghiên cứu bổ sung quy định về quyền trực tiếp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động (có thể về quy trình, thủ tục hoặc số lượng người lao động trực tiếp nộp đơn).

Thứ tư, bổ sung vào Điều 15 quy định tất cả các loại hình DN, HTX phải áp dụng biện pháp kiểm toán tài sản trước khi DN, HTX đó nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nhằm tạo điều kiện cho Tòa án có căn cứ xem xét khách quan yêu cầu của DN, HTX, tránh trường hợp DN, HTX lạm dụng vay nợ rồi nộp đơn yêu cầu tuyên bố DN, HTX bị phá sản để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ.

Thứ năm, bổ sung quy định thủ tục giải quyết vắng mặt người đại diện hợp pháp của DN, HTX.

Thứ sáu, quy định cụ thể hơn tại Điều 21 về phí phá sản và tạm ứng phí phá sản.

Trên đây là những quy định về thủ tục nộp đơn, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp được quy định tại Luật phá sản doanh nghiệp năm 2004 và những vấn đề bất cập cần được sửa đổi bổ sung trong dự thảo luật Phá sản doanh nghiệp nhằm tạo ra khung pháp lý quan trọng cho hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã, đảm bảo quyền lợi của người lao động, chủ nợ, của mọi loại hình doanh nghiệp khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.

Sau khi thoát khỏi thời kỳ bao cấp chuyển dần sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường từ quyết định đổi mới năm 1986, thị trường nhà đất Việt Nam đã có những chuyển biến khởi sắc. Giá nhà, giá đất dần dần đã được chính các chủ sở hữu thực hiện giao dịch định đoạt. Đến năm 1994 Nghị quyết Trung ương 7, khoá VII quyết định cắt bỏ cơ chế bao cấp về nhà đất, năm 1996 chính thức vận hành thị trường bất động sản theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VIII. Thị trường thật sự chuyển biến khi đến năm 1998, Nhà nước bắt đầu cho phép thực hiện các dự án nhà ở bán và cho thuê.

Từ năm 2003 trở đi, thị trường bất động sản Việt Nam nóng hơn bao giờ hết, ở bất cứ sàn giao dịch bất động sản nào trong giai đoạn này đều tấp nập người mua người bán. Các dự án nhà ở chung cư, khu đô thị cao cấp mọc lên làm thay đổi diện mạo của Việt Nam, cho thấy đời sống của người dân đã dần được nâng cao và cần đến những nhu cầu xa xỉ hơn.

Tự do hoá thị trường bất động sản mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nhà đất nhưng không tránh khỏi những nghịch lý và tồn tại trên thị trường Việt Nam. Tốc độ tăng giá đất trên thị trường diễn ra quá nhanh so với giá trị thật, nguy cơ đầu cơ thổi phồng giá khó kiểm soát gây ra tổn thất không nhỏ cho nền kinh tế.

Do trình độ kỹ thuật hoặc hành vi đạo đứng mà quá trình định giá bất động sản gây ra nhiều điều bất hợp lý, từ đó gây ra hiện tượng thổi phồng giá so với giá trị thật. Các khung pháp lý của Nhà nước tạo cơ hội cho thị trường nhưng còn tồn tại khá nhiều vấn đề chưa phù hợp với cơ chế thị trường. Chỉ cách nhau 10 năm đã diễn ra 2 giai đoạn khủng hoảng giá nhà đất ở Việt Nam từ sau đổi mới đó là vào năm 1991-1993 và 2001-2003. Bấy giờ tại các đô thị lớn như Hà Nội hay TP.Hồ Chí Minh giá đất tăng lên đến những mức giá khó chấp nhận được. Điều này thể hiện sự thiếu chuyên nghiệp trong thị trường từ khâu quản lý cho đến khâu đầu tư và đến tay người tiêu dùng.

Vấn đề trợ giúp của Nhà nước Việt Nam đối với thị trường cũng mang nặng cơ chế bao cấp và thiếu chuyên nghiệp cho thấy tư duy về quản lý kinh tế không đáp ứng kịp với cơ chế thị trường.

Các nhà đầu tư nhìn thấy giá đất tăng liên tục với tốc độ cao nên có cảm giác an toàn khi đầu tư vào lĩnh vực này tạo sức nóng cao cho thị trường. Ở Việt Nam, có lúc thị trường bất động sản hút đến 50% tổng vốn đầu tư của cả nước tạo nên tình trạng mất cân đối. Các doanh nghiệp đều từ bỏ ngành nghề kinh doanh cũ của mình quay sang đầu tư nhà đất và lấy đây làm lĩnh vực kinh doanh chính. Từ những tình trạng đó gây ra hiện tượng cầu “ảo” mua đi bán lại chứ không tiêu thụ được làm bong bóng giá ngày càng được thổi to hậu quả là trong tương lai khi bong bóng bị nổ thì thị trường sẽ đóng băng, ế thừa. Tình trạng lạm phát năm 2008 và 2011 chính là do bong bóng bất động sản gây ra.

Hệ thống Pháp lý chồng chéo và thiếu tính chuyên nghiệp và để lại nhiều khe hở, các dự án quy hoạch mang nặng tính hình thức mà thiếu tính khả thi nên gây bất cập, không đáp ứng được nguyện vọng của người tiêu dùng. Độ minh bạch trong quản lý yếu, hệ thống hành chính phức tạp, quan liêu và tạo nhiều cơ hội tham nhũng.

Các nhà đầu tư và nhà quản lý thiếu cập nhật về thông tin thị trường, các thông tin thiếu đầy đủ và chính xác, thiếu khả năng phân tích và đánh giá thị trường dẫn đến thị trường hoạt động tự phát và thiếu chuyên nghiệp, các rủi ro trong giao dịch tư nhân là không thể kiểm soát.

Cơn sốt giá do bong bóng thổi phổng đã tạo ra những hậu quả và nghịch lý không hề nhỏ trong thị trường hiện nay:

+ So với thế giới thì giá nhà đất ở Việt Nam trung bình cao gấp 25 lần thu nhập của người dân.

+ Phần lớn người dân Việt Nam là người lao động, thu nhập thấp cần nhà ở bình dân thì các dự án nhà ở cao cấp lại quá nhiều mà không có cầu dẫn đến nợ xấu tràn lan. Từ đó cung và cầu đều cao nhưng không đáp ứng được cho nhau.

+ Các dự án nhà ở huy động vốn từ người tiêu dùng dẫn đến tình trạng mua nhà trên giấy, dự án bất động sản thì tồn đọng nhưng không chịu giảm giá để tiêu thụ.

+ Nhà ở xã hội có ưu đãi của Chính phủ do được quản lý theo cơ chế thuần tuý bao cấp nên có giá cao hơn giá nhà ở thương mại cùng loại.

+ Trên thực tế vẫn có tới 80% doanh nghiệp bất động sản kinh doanh có lãi nhưng tất cả đều kêu cứu và báo cáo là rơi vào tình cảnh khó khăn có thể dẫn đến phá sản.

+ Gói ưu đãi 21 nghìn tỉ đồng của Chính phủ hỗ trợ xây nhà cho người có thu nhập thấp nhưng trên thực tế người có thu nhập thấp rất khó, thậm chí là không thể tiếp cận nguồn ưu đãi này.

 Về quy hoạch và đổi mới bất động sản cũng còn khá nhiều bất cập và khiếm khuyết:

+ Nhiều đô thị đã hình thành nhưng không thể thu hút dân về cư trú vì các yếu tố phụ như việc làm, đường, trường, trạm chưa được đáp ứng.

 + Việc quy hoạch, sử dụng đất chưa xác định cách tiếp cận quy hoạch không gian, nhiệm vụ đặt ra phát triển bất động sản trong 10 năm bằng chỉ tiêu diện tích các loại đất thì khi rơi vào tình trạng phát triển “nóng” đã được thực hiện ngay trong vòng 2-3 năm.

+ Các dự án quy hoạch chồng chéo nhau nhau gây lãng phí làm phức tạp cho công tác quản lý.

+ Nhiều dự án nhà ở chung cư được quy hoạch thiếu đồng bộ làm dẫn đến tình trạng nhiều khu đô thị mới, khu dân cư bị bỏ hoang sau khi hoàn thành.

+ Nhiều địa phương chạy theo nhu cầu phát triển mở rộng đô thị, vạch ranh giới hành chính của đô thị quá rộng làm tồn tại nhiều vùng chậm phát triển nhưng lại được quản lý theo cách quản lý đô thị gây khó khăn cho quản lý.

+ Cách quy hoạch và công cụ quy hoạch còn thiếu tính chuyên nghiệp, thông tin về quy hoạch chưa được công khai minh bạch, lợi ích từ các dự án được quy hoạch cũng chưa được minh bạch rõ ràng.

+ Các dự án mới thường chú trọng đến lợi nhuận mà không quan tâm đến các hạng tầng xã hội như khu vui chơi cho trẻ em, chỗ để xe…

Nhìn chung, những cơn sốt trong thị trường bất động sản chủ yếu là sốt ảo do hình thức mua đi bán lại gây nên hiện tượng bong bóng giá, đến lúc thị trường bảo hoà tức là bong bóng giá bị vỡ thì thị trường sẽ rơi vào tình trạng đóng băng.

Từ những bất cập nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng gói kích cầu của Chính phủ nhằm hỗ trợ hâm nóng thị trường bất động sản vào năm 2009 tuy có mang lại một số hiệu quả nhất định nhưng chưa mang tính lâu dài.

Trọng tâm vấn đề tháo gỡ khó khăn cho thị trường là xử lý khẩn trương các khoản nợ xấu của các ngân hàng do sản phẩm bất động sản đang tồn kho khá nhiều. Có một thực tế cần phải thẳng thắn nhìn nhận là nợ xấu của thị trường bất động sản không phải chỉ có nguồn tín dụng của các ngân hàng mà tồn tại khá nhiều từ nguồn vốn góp của người tiêu dùng, ước tính có đến 50% trong tổng nợ xấu là nguồn huy động từ dân và các nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Chuyển hướng phân khúc thị trường, tập trung vào các dự án nhà xã hội, nhà cho người thu nhập thấp, những người có nhu cầu nhà ở rất cao nhưng lại không đủ khả năng mua nhà ở những khu đô thị cao cấp. Điều này góp phần làm giảm tình trạng đem bán cho người tiêu dùng cái họ không cần mà cái họ cần thì không có để bán.

Nhà nước và Chính phủ chỉ nên có những tác động vừa phải, phù hợp với cơ chế thị trường, Nhà nước và Chính phủ chỉ nên ban hành các điều kiện, quy định về giao dịch bất động sản bắt buộc để thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Còn cách thức chuyển quyền sử dụng đất, giao dịch với nhau như thế nào là do các bên thoả thuận với nhau.

Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 07/01/2013 đã tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho thị trường nói chung và thị trường bất động sản nói riêng, trong đó có các giải pháp xử lý nợ xấu, hỗ trợ thị trường, hỗ trợ tái sản xuất kinh doanh. Cụ thể:

+ Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lượng lao động ít hơn 200 và doanh thu không quá 20 tỷ đồng/1 năm và Các doanh nghiệp có trên 300 lao động thuộc các ngành nghề xây dựng, bất động sản thì được gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng.

+ Từ ngày 1/7/2013, Quốc hội thông qua áp dụng mức thuế 20% đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 10% đối với các doanh nghiệp đầu tư các dự án nhà ở xã hội. Ngoài ra giảm 50% VAT đối với hoạt động đầu tư kinh doanh các công trình phúc lợi xã hội, giảm 30% VAT cho các doanh nghiệp kinh doanh bán hoặc cho thuê với mức giám thấp dưới 15 triệu đồng/1m2 và diện tích dưới 70m2.

+ Đối với các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế chưa hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất do khó khăn về tài chính, cho phép thanh toán theo tiến độ bán hàng và được giảm tiền thuê đất năm 2013, 2014 tới mức 2 lần tiền thuê đất phải nộp của năm 2010.

+ Hệ thống ngân hàng thương mại thuộc quản lý của Nhà nước dành ra một nguồn vốn tối thiểu 3% tổng dư nợ với lãi suất ưu đãi, giãn kỳ hạn trả nợ để cho các đối tượng phù hợp được tiếp cận nhà ở xã hội hoặc đất thương mại có diện tích không quá 70m2 và với giá bán hoặc thuê dưới 15 triệu/1m2. Công việc này nhằm giúp cho các doanh nghiệp xây dựng có vốn đầu tư các dự án nhà xã hội, nhà cho người thu nhập thấp.

+ Ban hành các chính sách về tín dụng nhằm ưu đãi cho người thuộc diện được tiếp cận nhà ở xã hội dễ dàng mua được nhà. Bên cạnh đó cần có cơ chế khuyến khích đầu tư các dự án nhà ở xã hội.

+ Nhu cầu của thị trường hiện nay trọng tâm là nhà cho người thu nhập thấp vì vậy cần tập trung kiểm tra rà soát các dự án đang dở dang xem dự án nào cần tạm dừng để điều chỉnh cơ cấu hoặc chuyển đổi sang hướng phát triển nhà ở xã hội.

Then chốt của vấn đề là cần chỉ đạo các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng tự kiểm soát và xử lý nợ xấu, tự đánh giá tình hình nợ xấu đến đâu. Cần phân loại những dự án có tiềm năng phát triển thì vẫn có thể rót vốn để tiếp tục hoàn thiện, từ đó hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai.

Tóm lại những việc cần làm cấp bách để vực dậy thị trường bất động sản: Trước tiên cần tăng nguồn cung cho khu vực nhà xã hội, nhà cho người thu nhập thấp vì khu vực này nhu cầu nhà ở rất cao; Thêm nữa cần giải quyết dứt điểm vấn nạn tồn kho bất động sản bằng tất cả các giải pháp thậm chí là giảm giá để kích cầu thị trường.

Việt Nam có truyền thống là một nước thuần về nông nghiệp với hơn 70% dân số sinh sống ở các vùng nông thôn, trong đó đa số người dân làm nông nghiệp. Sau 28 năm đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu khởi sắc và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trở thành lĩnh vực phát triển hàng đầu của nền kinh tế.

Bất chấp những khó khăn do dịch bệnh, thiên tai, suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế trong nước trì trệ từ năm 2008 đến nay, ngành nông nghiệp (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản) đã phấn đấu, nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức để đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, mức tăng trưởng GDP năm 2013 (đạt 2,67%) tương đương với mức tăng của năm 2012 (đạt 2,68%). Trong đó, trồng trọt tăng 2,6%, lâm nghiệp tăng 5,18%, chăn nuôi tăng 1,4%, thủy sản tăng 3,05%. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2013 ước đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với 2012, trong đó, ngành trồng trọt đóng góp 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%; lâm nghiệp đạt 22,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04%; thuỷ sản đạt 176,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,22%. 

Ngành nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò là “phao cứu sinh” và là mặt trận hàng đầu giúp đất nước vượt qua khó khăn chung. Năm 2013 là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,21% của năm 2012. Do sản xuất cung ứng đủ lương thực thực phẩm, trong năm 2013 chỉ số giá lương thực và thực phẩm giảm góp phần kéo CPI tiêu dùng chung giảm 5,6% so với tháng 12/2012, góp phần quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát.

Dựa trên những thành quả đã đạt được Việt Nam lọt vào tốp những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với các mặt hàng cơ bản như: gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, sản phẩm lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng rơi vào tình trạng khó khăn, các ngành thương mại liên tục thâm hụt thì ở Việt Nam ngành nông nghiệp là ngành duy nhất tạo ra giá trị thặng dư xuất khẩu ròng tăng đều đặn giúp cân bằng cán cân thương mại quốc gia.

Tỷ lệ xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam liên tục được cải thiện trong suốt thời gian dài với mức giảm ấn tượng khoảng 2%/năm nhờ vào tăng trưởng nông nghiệp. Ngoài ra, ngành nông nghiệp tăng trưởng đều đảm bảo an ninh lương thực quốc gia giúp cải thiện đời sống cho hàng triệu hộ dân ở nông thôn, giải quyết việc làm tại chỗ, giảm bớt gánh nặng cho các đô thị lớn.

Những hạn chế, yếu kém của một nền nông nghiệp dựa trên kinh tế hộ manh mún, thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp đã từng bước bộc lộ, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Sự hình thành và phát triển của phương thức tổ chức sản xuất, quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp còn chậm; chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều mặt hàng nông sản còn thấp... 

Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo xu hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá còn diễn ra chậm chạp, trồng trọt vẫn chiếm trên 50% cơ cấu ngành nông nghiệp, chất lượng nông sản sau thu hoạch không đồng đều, giá nông sản thấp dẫn đến hệ luỵ nông dân không còn thiết tha với đất lúa, không thâm canh tăng vụ. Ngành chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản chưa phát triển về chiều sâu, các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi và thuỷ sản còn có tâm lý chộp giật, chưa đầu tư nghiêm túc vào các vùng nuôi trồng dẫn đến phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững. Vấn đều kiểm soát dịch bệnh và thiên tai còn nhiều bất cập, còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Tình trạng suy thoái kinh thế toàn cầu cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ngành nông nghiệp Việt Nam, vấn đề nợ xấu buộc các ngân hàng thắt chặt cơ chế cho vay dẫn đến các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn phải cắt giảm sản xuất. Ngoài ra lạm phát tăng cao làm giá cả các vật tư, nhiên liệu tăng theo, sản xuất nông nghiệp đình trệ việc làm và thu nhập của người nông dân bị ảnh hưởng khả năng tái sản xuất mở rộng của nông dân cũng giảm sút.

Các công trình thuỷ điện, khu khai thác khoáng sản mọc lên trên đất rừng nhưng không có biện pháp khôi phục môi trường đã làm thiên tai trong thời gian gần đây tăng lên đáng kể cả về mức độ lẫn cường độ. Tình trạng sạt lở, lũ lụt, hạn hán, ngập mặn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người nông dân.

Các đối thủ cạnh tranh của nền nông nghiệp nước ta đang mạnh lên từng ngày. Trong năm 2012, chính phủ Thái Lan đã chi khoảng 3.5% GDP cho chương trình trợ giá gạo ở nước này. Nhiều chính sách hỗ trợ nông dân trồng lúa được chính phủ Thái Lan đưa ra như: Chương trình hoãn nợ cho nông dân vay tiền của ngân hàng nông nghiệp, Chương trình “Mỗi làng một triệu bath”, Chương trình “Mỗi làng một sản phẩm”. Nông dân Thái Lan còn được hỗ trợ mua phân bón với giá thấp và miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao. Các nước đối thủ như Trung Quốc, Indonesia, Mianma… đều có những bước phát triển mạnh trong việc cải tổ hệ thống tổ chức và chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn.

Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ nhằm phổ biến rộng rãi công nghệ mới, giống mới đến người nông dân. Phát triển nguồn giống mới có khả năng chống chịu và thích nghi tốt với các biến đổi của môi trường. Xây dựng và lan rộng hệ thống cảnh báo thiên tai, dịch bệnh giúp ứng phó tốt với biến đổi khí hậu, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường làm cơ sở cho công tác điều hành và dự báo thị trường.

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp để thúc đẩy tăng trưởng theo tầm nhìn “tái cơ cấu nền kinh tế” của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11 đề ra, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phải chủ động chuẩn bị đề án tái cơ cấu ngành nhằm hướng tới phát triển một ngành nông nghiệp hiệu quả, bền vững. Ứng dụng thành tựu công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế từ đó nâng cao và cải thiện thu nhập cho người nông dân.

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, chuyển từ sản xuất nông sản bình dân sang sản xuất các sản phẩm có giá trị cao nhằm mở rộng thị trường. Hỗ trợ nông dân nông dân, hỗ trợ tài chính, giãn nợ… giúp các hộ chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản giữ vững quy mô hoạt động và tái đầu tư vụ mới. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư vốn của tư nhân và nước ngoài, nhanh chóng đưa các nguồn tài nguyên đang bị bỏ hoang vào sản xuất. Ngoài ra, ngành cần đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành. Đối với vấn đề cải thiện hiệu quả việc sử dụng đất phải xử lý dứt điểm, cổ phần hoá và sắp xếp lại các doanh nghiệp nông lâm nghiệp bằng cách làm rõ đối tượng quản lý và sử dụng có hiệu quả cao nhất.

Từ sau giai đoạn đổi mới (1986), Việt Nam đã thực hiện một loạt quá trình nhằm hội nhập kinh tế quốc tế, các chính sách giảm thuế nhập khẩu, dở bỏ hàng rào thương mại, tham gia các tổ chức kinh tế và các liên minh thuế quan trong khu vực và trên thế giới là một bước tiến lớn của Việt Nam trong cơ cấu thương mại quốc tế. Các loại thuế nhập khẩu được giảm đáng kể như thuế nhập khẩu bình quân đơn giản đạt mức 9,8% trong năm 2010, đối với các nhóm ngành nông nghiệp, công nghiệp thuế nhập khẩu cũng đã được cắt giảm để phù hợp với các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO.

Đối với khu vực ASEAN, Việt Nam thực hiện cam kết CEPT giai đoạn 2008-2013 nhằm cắt giảm thuế suất đối với một số ngành sản phẩm, cụ thể bao gồm 1600 nhóm sản phẩm thuộc các ngành hải sản, dệt may, công nghệ thông tin nhằm đưa mức thuế nhập khẩu của các sản phẩm thuộc nhóm ngành này về mức 0% trong năm 2012. Từ 20% giảm xuống còn từ 5%-10% là mức giảm đối với một số sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm, khoảng 600 dòng thuế với các nhóm hàng nhạy cảm sẽ giảm về mức MFN vào giai đoạn 2015-2018 là động thái của Việt Nam nhằm thực hiện cam kết ASEAN - Trung Quốc. Cũng theo cam kết này, 3700 dòng thuế thuộc 8900 dòng thuế trong bảng MFN sẽ được Việt Nam đưa về mức thấp hơn 5% so với mức thuế MFN. Việc sử dụng hạn ngạch thuế quan dần dần thay thế cho hạn ngạch tuyệt đối được thực hiện trong các biện pháp phi thuế quan và hạn ngạch xuất nhập khẩu nhằm xoá bỏ hoàn toàn hạn ngạch tuyệt đối trong năm 2015.

Việc mở cửa thị trường, thông thương ra thế giới bao gồm cả cơ hội lẫn thách thức do vậy để bình ổn kinh tế vĩ mô và bảo hộ sản xuất trong nước, các biện pháp xây dựng hàng rào kỹ thuật (TBTs), giấy phép về vệ sinh dịch tễ (SPSs) dưới dạng giấy phép nhập khẩu được thực hiện thường xuyên hơn.

Từ những thay đổi, cải cách cho nền kinh tế mở cửa, tự do hoá thương mại, phát triển kinh tế thị trường trong hơn một thập niên qua cho thấy những thành quả đáng ghi nhận của quá trình đổi mới. Kim ngạch xuất khẩu trong nước có mức tăng trưởng cao, giá trị xuất khẩu/GDP tăng lên 80,9% so với mức 46% của năm 2001 nhờ đó giá trị thương mại/GDP tăng lên đạt mức 161,63% từ mức 100%, thể hiện chính sách mở cửa đang đi đúng hướng và có những bước tiến vượt bậc so với một số nước trong khu vực.

Chủ trương nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế được Chính phủ khá chú trọng khi đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế giai đoạn 2013-2020 nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế, Đề án này còn nhằm hướng tới các mục tiêu tích cực khác như nâng cao năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp. Đối với các mặt hàng công nghiệp và công nghệ cao việc nâng cao năng lực cạnh tranh được thực hiện thông qua 80 chiến lược phát triển nhằm quy hoạch tổng thể các ngành công nghiệp với nội dung và chính sách cụ thể cho từng giai đoạn. Từ những biện pháp trên trong năm 2013 xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) Việt Nam đã vọt lên vị trí 14 so với vị trí 58 trong năm 2009.

Từ chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế, một lượng lớn hàng hoá quốc tế được giảm thuế nhập khẩu vào Việt Nam từ đó làm nhập khẩu tăng đột biến, trước năm 2011 tốc độ nhập khẩu tăng vọt cụ thể vào năm 2003 nhập siêu đạt mức 12,9% GDP, đến năm 2008 đạt gần 20% GDP gây thâm hụt tới 14,1 tỷ USD cho nền kinh tế. Đến năm 2011 giá trị nhập siêu giảm còn 8% GDP và đến 2012 Việt Nam lần đầu tiên xuất siêu trong vòng 20 năm với giá trị xuất siêu đạt 0,2% GDP tương đương 284 triệu USD nhưng nguyên nhân chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế, tiêu dùng trong nước suy giảm làm giảm tốc độ nhập khẩu chứ không phải là do kim ngạch xuất khẩu tăng.

Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn chưa cân bằng, trong khi Việt Nam xuất khẩu phần lớn dựa vào tài nguyên khoáng sản, chưa đầu tư được hàm lượng công nghệ cao thì nhập khẩu của Việt Nam đa phần là các trang thiết bị, máy móc tiên tiến, dụng cụ và nguyên nhiên vật liệu công nghệ cao. Điều này cho thấy xuất khẩu của Việt Nam ngoài nông sản thì không có dấu hiệu bền vững (vì dựa vào nguồn tài nguyên khoáng sản có sẵn), hàng hoá xuất khẩu thì hàm lượng công nghệ thấp trong khi một số nước trong khu vực đã có dấu hiệu tăng tỷ trọng các ngành sử dụng công nghệ cao lên tới 30%, vì vậy làm ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới.

Mặc dù xuất khẩu của Việt Nam đã có dấu hiệu giảm dần tỷ trọng các ngành thô hoặc mới sơ chế (từ 70% tỷ trọng năm 1995 giảm còn 40% tỷ trọng nắm 2010), nhưng nhìn chung so với các nước trong khu vực hoặc Trung Quốc thì hàng hoá xuất khẩu Việt Nam vẫn còn thiên về các mặt hàng thô sơ hoặc mới sơ chế. Tuy tạo ra thặng dư trong các ngành sản phẩm sử dụng công nghệ thấp nhưng lại bị thâm hụt thương mại đối với các ngành hàng có hàm lượng công nghệ cao, trong những năm gần đây tỷ tọng của các ngành sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam chỉ đạt 20% và không có dấu hiệu tăng thêm, điều này đã khiến hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tụt hậu so với Trung Quốc và một số nước trong khu vực. Như vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu và chất lượng công nghệ của các sản phẩm chế tạo xuất khẩu nhằm gia tăng hàm lượng công nghệ và năng lực cạnh tranh vẫn chưa có chuyển biến khởi sắc.

Về công nghiệp phụ trợ và phát triển chế tạo sản xuất trong nước, Chính phủ cũng có các động thái tích cực như ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 22 tháng 2 năm 2011 hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ hoặc Quyết định số 34/2007 của Bộ Công Thương về quy hoạch phát triển công nghiệp phụ trợ đến năm 2010 tầm nhìn 2020 nhưng kết quả còn khá hạn chế. Trong năm 2013 chỉ có khoảng 1000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi ngành công nghiệp phụ trợ, ngoài ra còn bị các doanh nghiệp lớn của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan… tham gia đầu tư vào Việt Nam chiếm lĩnh thị phần. Lĩnh vực công nghiệp phụ trợ công nghệ cao của Việt Nam trong nhiều năm nay chủ yếu nằm trong tay các doanh nghiệp FDI, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn khá lạc hậu, chủ yếu dựa vào lắp ráp chứ chưa trực tiếp tạo ra sản phẩm.

Hội nhập kinh tế quốc tế, dở bỏ các hàng rào thuế quan bao gồm cả cơ hội và thách thức, lợi ích trước mắt là người tiêu dùng được tiếp xúc và sử dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới nhưng cũng chính vì vậy mà gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp nội địa vì va phải sự cạnh tranh lớn từ những doanh nghiệp nổi tiếng và có tiềm lực mạnh từ nước ngoài vào Việt Nam. Vì vậy cẩn phải có giải pháp để cân bằng cán cân thương mại, làm sao vẫn đáp ứng được các cam kết với quốc tế nhưng phải tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước phát triển.

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, vấn đề bức thiết là phải đổi mới công nghệ, tích cực chuyển giao công nghệ để áp dụng được các thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nhóm doanh nghiệp này có đủ khả năng đổi mới công nghệ sản xuất thông qua xây dựng các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Thường xuyên cập nhật công nghệ tiên tiến, thực hiện giải pháp đi tắt đón đầu, tránh tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cung cấp thông tin đẩy đủ, kịp thời và chính xác về các công nghệ hiện đại trên thế giới thông qua hệ thống thông tin công nghệ từ đó doanh nghiệp có thể tự điều chỉnh lựa chọn cho mình công nghệ mới phù hợp với khả năng mà không gây lãng phí.

Các trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn Ngân sách Nhà nước nên chưa kích thích được tính tự giác nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu mới, cần phải tái cơ cấu, cổ phần hoá các trung tâm này nhằm khơi dậy tính sáng tạo, phát triển tư duy công nghệ áp dụng vào thực tế các doanh nghiệp Việt Nam tránh tình trạng nhập khẩu công nghệ tràn lan như bây giờ. Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề cho người lao động, thường xuyên tập huấn để người lao động có cơ hội tiếp xúc với máy móc, trang thiết bị hiện đại.

Về đẩy mạnh xuất khẩu, các doanh nghiệp cần nghiêm túc nghiên cứu thật kỹ phân khúc thị trường cũng như chiến lược về mặt hàng thế mạnh của doanh nghiệp mình từ đó tạo ra một sản phẩm chủ lực và là thế mạnh của mình để phát triển trên thị trường thế giới. Một điều quan trọng nữa là phải đổi mới phương thức sản xuất, chất lượng sản phẩm để phù hợp với các tiêu chuẩn của quốc tế giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình. Nhận thức rõ giữa cạnh tranh và hợp tác, tăng cường hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang, đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, liên kết chặt chẽ với các tổ chức, hiệp hội về ngành hàng của mình sản xuất, tích cực tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại.

Về phía Chính phủ và các nhà quản lý cần có tầm nhìn chiến lược và khả năng phân tích, dự báo tình hình từ đó đưa ra những chính sách điều hành đúng đắn để phát triển kinh tế vĩ mô. Các doanh nghiệp Việt Nam và các nhà quản lý cần liên kết chặt chẽ với nhau để tăng hiệu quả sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành