Trần Tố Oanh

Trần Tố Oanh

“Tái cơ cấu” là một thuật ngữ khá phổ biến trong những năm gần đây, thuật ngữ được nhắc nhiều lần trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các diễn đàn kinh tế, các báo cáo của cơ quan Nhà nước có liên quan.

Về tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công giai đoạn vừa qua đã đạt được nhiều kết quả rõ nét. Trong những năm qua tỷ trọng đầu tư trên GDP đã giảm đáng kể từ 39% của giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn hơn 33% năm 2011 và 30,5% năm 2012. Tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế năm 2010 là 136% đã giảm xuống còn 121% năm 2011 và 108% năm 2012. Số vốn đầu tư Nhà nước không tăng trong ba năm gần đây, tỷ trọng đầu tư Nhà nước giảm xuống còn khoảng 37% trong 9 tháng đầu năm 2013 so với 39% của giai đoạn 2006 - 2010. Ý thức trách nhiệm và kỷ cương Nhà nước trong quản lý đầu tư công đã được cải thiện đáng kể, số vốn phân bố cũng đã tập trung hơn.

Quá trình tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp mà trọng tâm là tập trung sắp xếp, cổ phần hoá các tổ chức, tập đoàn kinh tế, các tổng công ty thuộc Nhà nước trong thời gian qua được Đảng và lãnh đạo Nhà nước quan tâm đúng mức, triển khai thực hiện song song cùng quá trình đổi mới đất nước. Qua quá trình đổi mới hơn 20 năm, hệ thống doanh nghiệp Nhà nước nhiều nơi đã được điều chỉnh hợp lý hơn về cơ cấu.

Trong lĩnh vực tài chính - tín dụng, từ sau công cuộc đổi mới năm 1986, thị trường tài chính và tín dụng nước ta đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, Nhà nước dần dần bớt can thiệp vào thị trường bằng các công cụ hành chính, thay vào đó là các công cụ mang tính định hướng được sử dụng phổ biến nhằm xây dựng nền tảng và năng lực của thể chế điều hành một cách vững chắc. Từ năm 2000 trở đi năng lực cạnh tranh và quá trình phát triển của thị trường tài chính đã có nhiều cải thiện nổi bật về thể chế và chính sách điều hành thị trường, khả năng huy động và phân bố nguồn lực hợp lý nhờ đó tạo nên những tác động tích cực thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Sự lớn mạnh cả về quy mô lẫn năng lực của các Ngân hàng thương mại trong thời gian qua đánh giá một sự thay đổi tích cực trong cấu trúc thị trường tài chính ở Việt Nam.

Việc tái cơ cấu đầu tư công trong thời gian qua về cơ bản còn mang nặng tính tình thế và ngắn hạn, các giải pháp đưa ra chủ yếu để giải quyết những thực trạng tức thời, không có tính ổn định lâu dài. Những vấn đề yếu kém trong nội bộ nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết triệt để, tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao gây những gây cản trở nền kinh tế. Chính sách chi Ngân sách Nhà nước chưa được triển khai đúng hướng, đúng đối tượng. Quá trình tái cơ cấu đầu tư công tuy có gặt hái được thành quả nhưng nhìn chung diễn ra còn chậm, các thể chế liên quan đến tái cơ cấu đầu tư công như Luật Quy Hoạch, Luật Đô thị, Luật Quản lý, sửa dụng Ngân sách và sản xuất kinh doanh, Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi, Luật Đầu tư công... còn chậm được ban hành.

Về thị trường tài chính - tiền tệ, trong bối cảnh diễn biến kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động đáng kể thì việc nới lỏng chính sách tiền tệ trong thời gian dài để duy trì mục tiêu tăng trưởng vẫn chưa được chú ý điều chỉnh kịp thời. Một số các công cụ điều hành chính sách tiền tệ đã tỏ ra khá lạc hậu và lỗi thời, không mang lại tính tối ưu cao đã gây ra một số tác động tiêu cực trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Ngoài ra, sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ và các chính sách về kinh tế vĩ mô vẫn chưa được thực hiện thực sự có hiệu quả.

Các thành phần tồn tại trong thị trường tài chính Việt Nam có mức độ phát triển không tương đồng, lại thêm không có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần này để tạo thành một thị trường tài chính bền vững gây khó khăn cho việc thu hút và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả cho nền kinh tế, sau khi Việt Nam gia nhập WTO sự khác biệt về trình độ phát triển của các thành phần trong thị trường tài chính càng lộ rõ.

Kết quả thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian qua cũng còn tồn tại khá nhiều bất cập. Đầu tiên phải nói đến đó là vấn đề nhận thức có phần sai lệch về vai trò của doanh nghiệp Nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Chức năng kinh tế của doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chế thị trường cũng như sự phân vai của Nhà nước và thị trường trong quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế nhiều khi chưa được xác định rõ ràng. Từ sau thập niên 90 của thế kỷ trước đến nay tuy nhận thức về vai trò, chức năng của doanh nghiệp Nhà nước có phần nào được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại tư duy xem doanh nghiệp Nhà nước như một lực lượng vật chất của Nhà nước, đóng vai trò giúp Nhà nước điều tiết và quản lý thị trường vẫn là hạn chế đáng kể tạo trở ngại cho quá trình tái cơ cấu.

Định vị vai trò và thu hẹp phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước.Đẩy mạnh cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước không cần thiết phải nắm giữ 100% vốn chủ sở hữu. Thực hiện tái cơ cấu danh mục đầu tư và ngành nghề kinh doanh đối với từng tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước; đẩy nhanh thực hiện nguyên tắc thị trường, tập trung vào các ngành nghề kinh doanh mũi nhọn, tiến hành thoái vốn đối với các ngành nghề kinh doanh mang tính dàn trải.

Tiến hành áp dụng đầy đủ khung quản trị hiện đại theo thông lệ chung của thị trường. Đổi mới, phát triển các hình thức quản trị các doanh nghiệp và tập đoàn Nhà nước. Thực hiện nghiêm pháp luật, kỷ cương hành chính Nhà nước và kỷ luật thị trường, đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích đảm bảo doanh nghiệp Nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa và giảm bớt thủ tục cũng như giảm chi phí đăng ký kinh doanh. Loại bỏ bốn thủ tục gia nhập thị trường sau đăng ký, gồm thủ tục đăng báo, thủ tục đăng ký lao động, đăng ký công đoàn và đăng ký bảo hiểm. Việc mở tài khoản ngân hàng có thể kết hợp và lồng với đăng ký kinh doanh. Bỏ yêu cầu đăng ký ngành nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Về tái cơ cấu đầu tư công cần phải thay đổi chính sách phục hồi tăng trưởng theo hướng “trọng cung” nhằm tối ưu hóa các giải pháp cải cách, thay đổi phía cung theo hướng giảm chi phí, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Thiết lập quy trình thống nhất thẩm định, lựa chọn, phê duyệt và quyết định đầu tư nhằm lựa chọn được dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Thay đổi vai trò của chính quyền địa phương, đổi mới phân cấp trung ương - địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội.

Về tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng phải luôn song hành với hoạt động điều chỉnh cấu trúc của thị trường tài chính nhằm đồng bộ hoá trình độ và mức độ phát triển của các nhân tố cấu thành thị trường thành một thể thống nhất, qua đó cụ thể hoá các mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ. Ngoài ra, ngân hàng Nhà nước cần phải phát huy tốt vai trò điều hành thị trường, cần xây dựng những hoạch định mang tầm chiến lược, có tính khả thi và tính thuyết phục cao nhằm tạo lập một hệ thống tài chính lành mạnh, môi trường cạnh tranh bình đẳng và hệ thống thông tin minh bạch, qua đó giúp thị trường phát triển ổn định hơn.

Trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân thì vai trò của lao động, việc làm ở khu vực nông thôn ngày càng được nhà nước quan tâm hơn. Điều này có ý nghĩa trong sự điều chỉnh chiến lược nhằm phát triển kinh tế ở nước ta trong những năm vừa qua. Việc thay đổi về cơ chế quản lý tạo động lực giải phóng sức sản xuất, ứng dụng có hiệu quả hơn những thành tựu của tiến bộ kỹ thuật công nghệ, sự hỗ trợ của Nhà nước và việc tổ chức quan hệ kinh tế kỹ thuật với các ngành kinh tế khác. Sự ra đời cũng như bổ sung, sửa đổi của Luật đất đai trong những năm qua đã gắn bó hơn trách nhiệm và quyền lợi với ruộng đất mà nông dân được giao quyền sử dụng lâu dài. Từ đây vấn đề lao động, việc làm ở khu vực nông thôn cần được giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời nhằm khắc phục lỗ hổng trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn bên cạnh việc đô thị hóa nông thôn.

Khái niệm công nghiệp hoá-hiện đại hoá được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW Đảng khoá VII: “Công nghiệp hoá-hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dùa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đó là một quá trình lâu dài”.

Việt Nam phải thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá là một tất yếu và nhiệm vụ này đã được đặt ra từ năm 1960. Đối với Việt Nam, công nghiệp hoá ở những năm 90 khác căn bản so với công nghiệp hoá ở những năm 60 trên các mặt: công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá; công nghiệp hoá tiến hành trong điều kiện phát triển nền kinh tế mở với các nước thuộc các chế độ chính trị khác nhau, đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ đối ngoại; công nghiệp hoá-hiện đại hoá được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việt Nam hiện nay còn là một nước dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (sản xuất nông nghiệp chiếm 18,39% tổng sản phẩm trong nước; 70% dân số ở nông thôn), do đó để thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước thì công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn chiếm vị trí quan trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là: đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn”.

Công nghiệp hoá nông thôn là một quá trình phát triển kinh tế xã hội mà nội dung chủ yếu của nó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở nông thôn gắn liền với đổi mới công nghệ theo hướng công nghiệp và dịch vô - là những ngành kinh tế ngày càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong kinh tế nông thôn.

Hiện đại hoá nông thôn có nghĩa là nói về tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất và văn minh tiến bộ trong đời sống vật chất tinh thần cũng như lối sống ở nông thôn. Công nghệ tiến bộ hơn về chất và công nghệ đó có trình độ hiện đại hơn so với công nghệ hiện có, đời sống và lối sống được nâng cao và văn minh hơn thì đó chính là quá trình hiện đại hoá. Với ý nghĩa như vậy: công nghiệp hoá sẽ gắn liền với hiện đại hoá và hiện đại hoá chỉ tiến hành thực hiện được khi tiến hành công nghiệp hoá.

Với mục tiêu của công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nông thôn nhằm giải quyết việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn, nâng cao thu nhập và mức sống cho dân cư nông thôn; đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn, đa dạng hoá ngành nghề lao động ở nông thôn trên cơ sở thị trườngạo ra ngành nghề mới; sử dụng lao động dư thừa tại chổ trên địa bàn nông thôn, vừa là ruộng vừa làm nghề khác như công nghiệp và dịch vụ nông thôn hay phương thức làm nghề khác như làm ở các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ nông thôn ở làng xã, thị trấn huyện lỵ (nhưng vẫn sinh sống ở làng) đi đôi với hiện đại hoá nông nghiệp và đô thị hoá nông thôn.

2. Vai trò của đại biểu dân cử trong giải quyết vấn đề lao động việc làm ở nông thôn

2.1. Về mặt kinh tế

Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại không ít khó khăn cản trở sự phát triển của nền kinh tế mà thất nghiệp được xem là một trong những khó khăn lớn nhất.

Đại biểu dân cử với vai trò là người tham gia xây dựng và ban hành chính sách đối với vấn đề giải quyết thất nghiệp ngày càng bức xúc hơn khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Vì vậy, việc giải quyết việc làm cho lao động trong cả nước nói chung và ở nông thôn Việt Nam nói riêng có ý nghĩa to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để thấy rõ ý nghĩa về mặt kinh tế của vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn các đại biểu cần xem xét trên hai mặt của lao động: đó là chi phí và lợi ích.

Để có sản xuất cần phải có sự kết hợp của rất nhiều nhân tố như vốn, tài nguyên, lao động, khoa học công nghệ... Như vậy, trong quá trình xây dựng và han hành chính sách đại biểu cân nhắn về mặt chi phí khi giải quyết việc làm cho người lao động thì số người tham gia vào quá trình sản xuất sẽ tăng lên, việc sử dụng lao động trong sản xuất đạt hiệu quả hơn. Mặt khác, việc giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn sẽ khai thác được tối đa những nguồn lực quan trọng đang còn tiềm ẩn trong khu vực kinh tế nông thôn như tài nguyên, vốn, ngành nghề...thông qua lao động của con người, đây là những vấn đề cần có sự giám sát của đại biểu dân cử cũng như cơ quan dân cử.

  Thực tế cho thấy những tiềm năng trên ở nông thôn còn rất lớn cả về mặt nhiên liệu, năng lượng, khoáng sản, cảnh quan thiên nhiên, vốn nhàn rỗi trong nông thôn và các ngành nghề truyền thống... Tuy nhiên, tất cả chỉ là tiềm năng nếu con người không biết sử dụng sức lao động để khai thác, cải biến chúng phục vụ cho mục đích của con người. Khi người lao động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ và từ đó tạo tích luỹ, Nhà nước không những không phải chi trợ cấp cho những người nghèo không có việc làm mà khi giải quyết việc làm cho họ, họ có thể mang lại tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân. Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất được mở rộng, thu hót thêm nhiều lao động. Vì vậy, khi tiếp xúc cử tri việc tìm hiểu quá trình thực hiện chính sách ở các địa phương đối là rất quan trọng trong việc xây dựng, ban hành và điều chỉnh các chính sách đang được thực hiện nhằm hỗ trợ người dân ở khu vực nông thôn một cách hiệu quả nhất.

  Về mặt lợi ích, khi người lao động có thu nhập sẽ làm tăng sức mua của khu vực nông nghiệp nông thôn trong tổng sức mua của xã hội. Theo thống kê cho thấy lao động nông thôn chiếm khoảng 76% tổng số lao động cả nước và nếu tính theo đóng góp GDP thì sức mua của khu vực nông nghiệp nông thôn ước tính chiếm hơn 40% tổng sức mua của toàn xã hội.

Việc tăng tiêu dùng có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam hiện nay. Bởi vì Việt Nam là một thị trường tương đối lớn mà đặc biệt là khu vực nông thôn, dân số tập trung cao (80% dân số) nhưng chưa khai thác được nhiều. Nếu mức tiêu dùng của khu vực này tăng có tác động rất lớn đến sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là những ngành sản xuất phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.

Như vậy, việc giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn vừa có tác dụng làm tăng tích luỹ, vừa có tác dụng làm tăng tiêu dùng. Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất được mở rộng, tức là tác động đến tổng cung; tăng tiêu dùng sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của sản xuất từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.

2.2. Về mặt xã hội

Bên cạnh những cản trở gây ra cho nền kinh tế, thất nghiệp đồng thời là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Số lao động tăng thêm khoảng trên 1 triệu người/năm, số người thất nghiệp hoàn toàn chưa được giải quyết. Trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá, do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp, số lao động dôi ra phải tìm việc làm mới khoảng 3 triệu người.

Vấn đề tệ nạn xã hội nảy sinh từ nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó là do thất nghiệp. Bởi vì trong lực lượng lao động, tầng líp thanh niên chiếm một tỷ lệ cao mà đối tượng này dễ bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh nên dễ dàng sa đà vào các tệ nạn xã hội, làm rối loạn trật tự an ninh xã hội, tha hoá nhân phẩm người lao động, làm cản trở sự phát triển của đất nước.

Mặt khác, trong thời gian qua với sự dư thừa lao động quá nhiều ở nông thôn đã tạo ra sức ép di dân rất lớn từ nông thôn ra thành thị và giữa các vùng không kiểm soát được. Đặc điểm của lao động di cư thường là lao động trẻ, có sức khoẻ nhưng trình độ chuyên môn thấp. Việc di dân này đã bổ sung một lượng đáng kể cho lao động ở các đô thị, góp phần tích cực vào việc sử dụng đầy đủ và hiệu quả hơn nguồn lao động nông thôn, đồng thời góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho bản thân người lao động và các thành viên trong gia đình họ ở nông thôn.

Song bên cạnh những mặt tích cực đó cũng tạo nên sức ép quá lớn cho đô thị về nhà cửa, điện nước sinh hoạt, y tế, thậm chí gây ra cả những rối loạn về mặt xã hội. Do đó nếu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ngay tại chổ sẽ làm giảm đáng kể sức ép di dân tự do như tình trạng hiện nay.

Hơn nữa khi người lao động ở nông thôn được giải quyết việc làm sẽ làm cho thu nhập tăng lên, trong chõng mực nào đó sẽ nâng cao hiểu biết của người dân. Bởi vì khi thu nhập tăng thì việc chi cho giáo dục đào tạo, cho đời sống tính thần sẽ cao hơn. Họ sẽ nhận thức được về nguyên nhân, hậu quả của việc gia tăng dân số, từ đó có ý thức làm giảm tốc độ này. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp như hiện nay.

Bản chất của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam được đặc trưng bởi hai yếu tố quan trọng là tính hiệu quả và tính công bằng. Do vây, trong số những vấn đề kinh tế đáng quan tâm thì thu nhập của nông dân là hết sức quan trọng có liên quan đến cả hai đặc trưng nêu trên và là một vấn đề lớn ở Việt Nam. Vấn đề thu nhập của người nông dân có liên quan đến khoảng 70% dân cư sống ở nông thôn, mà để nâng cao thu nhập của người nông dân thì chỉ có biện pháp là giải quyết việc làm và nâng cao năng suất lao động của họ.

Với vai trò của mình, đại biểu dân cử tham gia vào quá trình xây dựng, hoạch định chính sách cụ thể cho địa phương cũng như trên cả nước cần có những chiến lược cụ thể, chính xác trong việc giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn là rất quan trọng bởi nếu có chính sách giải quyết cho khu vực này ngày càng giàu mạnh thì sẽ làm cho quá trình đổi mới kinh tế của chúng ta càng thêm bền vững.

Chính sách đối với lao động ở nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là rất cần thiết, góp phần phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết lao động, việc làm ở khu vực nông thôn trong những năm gần đây còn có nhiều vướng mắc. Xin giới thiệu kinh nghiệm giải quyết việc làm của một số nước Châu á để các đại biểu tham khảo.

1. Nhật Bản

Sau năm 1945, nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề do chiến tranh. Số hộ ở ông thôn tăng lên do người thất nghiệp ở khu vực thành thị di cư xuống. Trước năm 1945, số hộ ở nông thôn khoảng 5,5 triệu, năm 1960 là 6,18 triệu hộ. Nhật Bản đã có chính sách hữu hiệu nhằm thực hiện công nghiệp hoá nông thôn vừa biến nền nông nghiệp truyền thống thành nền nông nghiệp tiên tiến, vừa phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng đa dạng nhằm giải quyết việc làm ở nông thôn.

Trong quá trình hiện đại hoá nông nghiệp Nhật Bản, các loại máy phục vụ nông nghiệp được trang bị cho các hộ gia đình là loại máy đơn giản, rẻ tiền, còn các loại máy hiện đại, đắt tiền (máy gặt đập, máy kéo lúa,...) được trang bị sử dụng chung. Đến những năm 1990, nông dân Nhật Bản đã đủ máy móc thiết bị nhằm cơ giới hoá trong canh tác nông nghiệp. Cơ giới hoá đạt 98%-100% khâu làm đất, tưới tiêu 100%, gặt đập 99%, sấy thóc 95%. Do vây, chi phí sản xuất ra một tạ thóc giảm từ 60 giê công xuống còn 8 giê công. Giá trị sản phẩm nông nghiệp của Nhật năm 1990 tăng 30 lần so với năm 1960. Do năng suất lao động tăng nên chi phí lao động giảm, hàng chục triệu lao động từ nông nghiệp đã được chuyển sang công nghiệp. Tỷ trọng lao động công nghiệp đã giảm đi nhanh chóng, năm 1950 là 45%, năm 1990 còn 6,3% trong tổng số lao động toàn xã hội. Cơ cấu kinh tế của các trại gia đình ở Nhật Bản đã chuyển dịch từ thuần nông sang nông công nghiệp .

Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản cũng đã chú trọng đến phát triển nền công nghiệp nông thôn. Công nghiệp nông thôn ra đời góp phần quan trọng trọng phát triển kinh tế nông thôn mà điểm hình là mô hình xí nghiệp gia đình thường làm nhiệm vụ gia công chi tiết máy đơn giản. Người lao động không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, chỉ cần đào tạo bồi dưỡng trong thời gian ngắn là có đủ kiến thức đảm nhận các công việc chế tạo đơn giản. Do đó, một bộ phận lớn lao động nông thôn đã được giải quyết việc làm, đồng thời di chuyển dần lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống cũng được khuyến khích phát triển. Vào những năm 1970, tỉnh OITA (Tây nam Nhật Bản) đã có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm khai thác các ngành nghề cổ truyền ở nông thôn. Ngay năm đầu tiên họ đã tạo ra 143 loại sản phẩm thu được 250 triệu USD. Phong trào phục hồi ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống lan rộng ra cả nước, Nhật Bản đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động ở nông thôn và làm tăng mức sống cũng như tốc độ đô thị hoá của nông thôn Nhật Bản.

Như vậy, Ở Nhật Bản đã thành công với chính sách chuyển đổi cơ cấu ngành ở nông thôn trên cơ sở nhu cầu sản xuất và đời sống ở nông thôn thúc đẩu các ngành dịch vụ thương mại, tín dụng, kỹ thuật và những ngành chế biến nông lâm thuỷ sản cũng phát triển.

2.Đài Loan

Chính sách phát triển công nghiệp hóa ở Đài Loan lặ kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp với nông nghiệp, từ đô thị xuống nông thôn, đồng thời phát triển cả công nghiệp đô thị và công nghiệp nông thôn với những nội dung, hình thức thích hợp đan xen nhau.

Những năm 50 của thế kỷ XX, Chính phủ Đài Loan đã rất chú trọng và có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho mô hình kinh tế trang trại ở nông thôn phát triển thông qua những biện pháp tích cực để hiện đại hoá nông nghiệp. Đó là tác động công nghệ sinh học và cây trồng vật nuôi. Do vây, năng suất đã tăng lên rõ rệt. Sản xuất nông nghiệp ở Đài Loan được hiện đại hoá cao cả về điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá và cơ giới hóa trong các khâu sản xuất. Máy móc sử dụng trong nông nghiệp là các loại máy nhỏ phù hợp với điều kiện sản xuất của trang trại quy mô nhỏ. Năm 1990, 98% diện tích canh tác, 95% diện tích lúa, 70% lượng ngò cốc được sử dụng máy móc.

Đài Loan đã xây dựng được các xí nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn. ở Đài Loan, năm 1993, có trên 700.000 xí nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98% tổng số xí nghiệp và 60% tổng số lao động của ngành công nghiệp. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở Đài Loan được phát triển một cách nhanh chóng. Các xí nghiệp theo mô hình gia đình cũng được hình thành. Kinh tế dịch vụ hàng tiêu dùng, vật tư kỹ thuật cho nông nghiệp cũng rất phát triển nhanh chóng nhất là thời gian từ năm 2005 trở lại đây.

Trong qúa trình công nghiệp hoá nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm vừa đáp ứng yêu cầu phục vụ nông nghiệp tại chỗ vừa thu hút lao động địa phương tạo thêm việc làm mới. Trong vòng bốn thập kỷ từ 1951 đến 1990 cơ cấu ngành của Đài Loan đã có sự cải biến sâu sắc triệt để. Ngành nông nghiệp từ 35,5% trong GDP giảm xuống còn 4,2%. Điều đó chứng tỏ nông thôn nông nghiệp cũng cải biến một cách sâu sắc triệt để.

Công nghiệp hoá nông thôn ở Đài Loan đã thu được những thành tựu quan trọng. Thu nhập hộ nông dân năm 1972 tăng lên hai lần so với năm 1952. Năm 1952, bình quân thu nhập đầu người ở nông thôn nông nghiệp chỉ là 122 USD thì đến năm 1990 là 5648 USD, tức là trong vòng ba thập kỷ, Đài Loan đã nâng thu nhập bình quân đầu người trong lĩnh vực nông thôn nông nghiệp lên 42,29 lần. Sự tăng thu nhập chủ yếu do nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp: năm 1952 chiếm 13%, năm 1966 chiếm 34%, năm 1979 chiếm 69%. Công nghiệp hoá nông thôn thúc đẩy sự hình thành các liên hiệp nông - công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị nông sản, thực phẩm. Công nghiệp hoá nông thôn đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Năm 1952, ở Đài Loan lao động nông nghiệp chiếm 56%, lao động công nghiệp chiếm 16,9%, lao động dịch vụ chiếm 27%. Đến năm 1992, lao động nông nghiệp giảm còn 12,8%, lao động công nghiệp tăng lên 40,2%, lao động dịch vụ tăng lên 46,9%. Đến đầu những năm 2000 lao động nông nghiệp ở Đài Loan chiếm 6% trong khi đó, lao động dịch vụ 58.2%, công nghiệp 35.8%, nông nghiệp 6%. Tuy nhiên, đến năm 2011 thì tỷ lệ lao động thất nghiệp vẫn là 4.28%, đây là một thách thức lớn cho Đài Loan trong những năm tiếp theo.

3. Thái Lan

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên trong nông nghiệp, Thái Lan có nhiều thuận lợi về diện tích canh tác hơn so với các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, so với Đài Loan thì công nghiệp hóa nông thôn ở Thái Lan còn nhiều hạn chế.

Thái Lan đã áp dụng tiến trình công nghiệp hóa tập trung vào đô thị từ những năm 50 của thế kỷ XX, tuy nhiên, tiến trình công nghiệp hóa khi đó đã không thành công, nông nghiệp vẫn trong tình trạng kém phát triển. Vì vậy, Chính phủ Thái Lan đã kịp thời chuyển hướng chiến lược công nghiệp hóa từ đơn thuần tập trung cho công nghiệp hoá đô thị sang công nghiệp hoá cả đô thị và nông thôn, công nghiệp và nông nghiệp đều hướng vào xuất khẩu.

Qúa trình công nghiệp hoá nông thôn ở Thái Lan vừa tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mở mang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.

Về nông nghiệp, sản xuất lúa được cơ giới hoá 96% khâu làm đất, 70% khâu tưới nước, 92% khâu đập tuốt lúa và 10% khâu sẩy hạt. Diện tích sản xuất mía, cơ giới khâu làm đất đạt 100%, trồng mía đạt 87%, chế biến đường đạt 100%. Máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp tăng nhanh. Năm 1957, số lượng máy kéo là 250 cái, năm 1967 là 19.500 cái, năm 1992 là 1.084.331 cái. Nhìn chung, đến năm 2013, cơ giới hoá nông nghiệp đã đạt được một số kết quả quan trọng, chi phí lao động làm đất giảm xuống 315 giê công với máy kéo nhỏ loại hai bánh và 225 giê công/1ha với loại máy kéo bốn bánh.

Về điện khí hoá, trong nông nghiệp nông thôn cũng có những tiến bộ, năm 1991, Thái Lan có 58.044 làng có điện trong tổng số 64.205 làng đạt tỷ lệ 94%.

Để khuyến khích nông nghiệp nông thôn phát triển, Nhà nước đã có một số chính sách, biện pháp hỗ trợ, cung cấp vốn tín dụng, bồi dưỡng tay nghề, tạo mối quan hệ hợp đồng gia công giữa công nghiệp nhỏ và công nghiệp lớn. Do vậy, các ngành nghề thủ công truyền thống, ngành nghề mới chế biến nông phẩm, cơ khí nhỏ và các loại hình dịch vụ thương mại, tín dụng cũng phát triển tạo thêm nhiều việc làm cho lao động nông thôn đồng thời di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất ngoài nông nghiệp.

Chính sách công nghiệp hoá nông thôn ở Thái Lan đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nông nghiệp. Thu nhập và đời sống nông dân tăng lên, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nhưng nguồn thu nhập chủ yếu vẫn từ nông nghiệp, thu từ các ngành kinh tế ngoài nông nghiệp còn thấp.

Như vậy, từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Đài Loan và Thái Lan cho thấy quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nông thôn đã giải quyết được lao động dư thừa ở nông thôn, nâng cao mức sống dân cư nông thôn, đa dạng hoá kinh tế, ngành nghề lao động ở nông thôn trên cơ sở tạo thêm ngành nghề mới sử dụng lao động dư thừa tại chổ và tạo sự phân công lao động tại khu vực. Đây là một trong những mô hình điển hình trong việc giải quyết lao động việc làm ở khu vực nông thôn, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

I. THÀNH TỰU CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM:

1. Thành tựu của quá trình phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam:

            Xét cả về quy mô, phạm vi, số lượng và chất lượng, thị trường bất động sản nước ta thời gian qua đã có những bước phát triển đáng kể.

            Thị trường bất động sản phát triển ngày càng sôi động và đa dạng ở các phân khúc thị trường khác nhau, nhất là phân khúc về nhà đô thị mới, văn phòng cho thuê, căn hộ chung cư… Trong những thời điểm nóng của thị trường điều này càng thể hiện rõ rệt, điển hình như giai đoạn từ năm 2001 đến 2004 hay giai đoạn từ năm 2005 đến 2008 là những giai đoạn thị trường hoạt đột sôi động và khởi sắc. Có thể thấy trong những giai đoạn sôi động của thị trường thì phân khúc về nhà ở chung cư, khu đô thị mới hay văn phòng cho thuê luôn là phân khúc sôi động nhất với lượng giao dịch lớn và liên tục.

            Bên cạnh đó chủ thể tham gia vào phân khúc nhà ở chung chư, khu đô thị mới và văn phòng cho thuê cũng rất đa dạng. Có thể thấy tất cả các chủ thể, các loại hình doanh nghiệp đều trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào phân khúc này. Ngoài ra còn có các doanh nghiệp, các tổng công ty lớn trong ngành giao thông, ngân hàng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay thậm chí là các đơn vị kinh doanh tư nhân nhỏ cũng tham gia vào phân khúc này một các trực tiếp hoặc gián tiếp.

            Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bất động sản những năm qua đóng góp một phần rất lớn vào công cuộc nâng cấp diện mạo của các đô thị khi một lượng lớn nhà ở và sản phẩm bất động sản được đưa vào vận hành và sử dụng. Chất lượng cuộc sống của người dân thành thị, chất lượng quy hoạch đô thị hay diện mạo của các đô thị ngày càng được cải thiện và nâng cao.

            Ngoài phân khúc về nhà ở chung cư cao cấp, khu đô thị mới, văn phòng cho thuê thì một lượng lớn các dự án về khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưởng trên biển cũng đã và đang được đầu tư đưa vào sử dụng. Ngoài việc đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước và sự tăng trưởng kinh tế từ các nguồn thu của dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng, các sản phẩm này còn tận dụng và hiện thực hoá một tiềm năng rất lớn của Việt Nam đó là kho tàng danh lam thắng cảnh và tài nguyên du lịch biển.

            Một số chỉ tiêu về ngành kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn bất động sản năm 2005 và 2007

TT

Tên chỉ tiêu

2005

2007

1

Giá trị sản xuất (tỷ đồng)

52,470

70,180

2

Tỷ trọng GO của ngành trên GO của nềnh kinh tế (%)

2.67

2.44

3

Giá trị tăng thêm (VA) (tỷ đồng)

33,635

43,509

4

Tỷ trọng VA của ngành trên GDP (%)

4.00

3.80

5

Vốn đầu tư (tỷ đồng)

35,705

68,427

6

Tỷ trọng vốn đầu tư trong toàn bộ nền kinh tế (%)

10.41

12.86

7

Độ nhạy (Forward linkage - Sensitive for despersion) ((%)

0.73

0.82

8

Hệ số lan toả (Back ward linkage - Power of dispersion) (%)

0.67

1.68

            Nguồn: Tổng cục Thống kê

            Trong các nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, số thu từ các nguồn liên quan đến đất đai mà bất động sản là một bộ phận trong các năm đều tăng theo giá trị tuyệt đối, đặc biệt là tỷ lệ năm sau luôn cao hơn năm trước. Ngoài ra sự phát triển của thị trường bất động sản đã tạo ra được những sản phẩm bất động sản có chất lượng cao cho xã hội và nền kinh tế. Nhiều khu đô thị mới có chuẩn mực sống tốt đã được quy hoạch, đầu tư và đưa vào sử dụng có tác động tích cực đến hình ảnh nền kinh tế và thị trường bất động sản của Việt Nam.

            Một điểm nữa trong thị trường bất động sản tạo nền tảng cho nền kinh tế Việt Nam bước lên đà phát triển đó là một lượng lớn khu công nghiệp có vốn từ nước ngoài và trong nước đã được đầu tư hình thành. Lượng vốn đầu tư vào các khu công nghiệp đã đóng một vai trò lớn trong việc tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế, ngoài ra việc đầu tư kinh doanh các khu công nghiệp còn góp phần tạo diện mạo mới cho nền công nghiệp Việt Nam.

            Số thu ngân sách của một số khoản thu liên quan đến tài sản theo năm

TT

Chỉ tiêu

QT 2002

QT 2003

QT 2005

DT 2007

DT 2008

Số tuyệt đối

So với năm trước

Số tuyệt đối

So với năm trước

Số tuyệt đối

So với năm trước

Số tuyệt đối

So với năm trước

1

Thuế sử dụng đất nông nghiệp

772

151

19,6%

132

101,5%

81

95,3%

82

101,2%

2

Lệ phí trước bạ

1.332

1.817

136,4%

2.797

107,3%

3.750

117,2%

5.194

138,5%

3

Thuế nhà đất

336

359

106,8%

515

117,6%

584

119,2%

698

119,5%

4

Thuế chuyển quyền sử dụng đất

327

408

124,8%

984

153,8%

1.249

148,7%

1.974

158%

5

Thu tiền thuê đất

459

513

111,8%

799

94,4%

967

140,1%

1.569

162,3%

6

Thu tiền sử dụng đất

3.244

8.149

251,2%

14.176

99,8%

14.500

107,4%

16.500

113,8%

7

Thu bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước

1.120

1.116

99,6%

1.283

95,9%

843

74,6%

1.051

124,7%

8

Tổng thu liên quan đến tài sản

7.590

12.513

164,9%

20.686

102,4%

21.974

110,2%

27.068

123,2%

Nguồn: Bộ Tài chính

            Các sản phẩm bất động sản thương mại đã góp phần tạo ra những sản phẩm quan trọng cho nền kinh tế. Các sản phẩm bất động sản thương mại đã và đang làm thay đổi hình ảnh nền kinh tế Việt Nam. Những dự án cao cấp, mang tầm vóc quốc tế nhưng những khu nghỉ dưỡng, sân golf, khách sạn cao cấp đã tạo một thế năng mới cho thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Ngoài ra, Các doanh nghiệp hiện nay đang có xu thế thay đổi phân khúc kinh doanh để đáp ứng nhu cầu mới của thị trường. Hiện nay phân khúc nhà ở sinh viên, nhà cho người lao động có thu nhập thấp, người lao động trong các khu công nghiệp tuy chỉ mới bắt đầu những đã có những dự án lớn được kỳ vọng sẽ giải quyết được một lượng lớn nhu cầu về nhà ở cho người lao động ở thành thị.

            Sau khi thoát khỏi thời kỳ bao cấp chuyển dần sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường từ quyết định đổi mới năm 1986, thị trường nhà đất Việt Nam đã có những chuyển biến khởi sắc. Giá nhà, giá đất dần dần đã được chính các chủ sở hữu thực hiện giao dịch định đoạt. Đến năm 1994 Nghị quyết Trung ương 7, khoá VII quyết định cắt bỏ cơ chế bao cấp về nhà đất, năm 1996 chính thức vận hành thị trường bất động sản theo nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VIII. Thị trường thật sự chuyển biến khi đến năm 1998, Nhà nước bắt đầu cho phép thực hiện các dự án nhà ở bán và cho thuê.

            Từ năm 2003 trở đi, thị trường bất động sản Việt Nam nóng hơn bao giờ hết, ở bất cứ sàn giao dịch bất động sản nào trong giai đoạn này đều tấp nập người mua người bán. Các dự án nhà ở chung cư, khu đô thị cao cấp mọc lên làm thay đổi diện mạo của Việt Nam, cho thấy đời sống của người dân đã dần được nâng cao và cần đến những nhu cầu xa xỉ hơn.

2. Thành tựu của chính sách phát triển thị trường bất động sản Việt Nam những năm qua:

            Từ giai đoạn 2003 - 2004 các chính sách của Nhà nước và Chính phủ nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản Việt Nam đã ngày càng đầy đủ và có những cập nhật thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Từ Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX và Nghị quyết 06/2004/NQ-CP cho đến nay các khung chính sách phát triển thị trường bất động sản đã có những bước tiến tích cực, bao phủ trên một bình diện khá rộng từ đất đai, nhà, xây dựng, kinh doanh bất động sản đến doanh nghiệp, đầu tư, tiền tê, tài chính, tư pháp. Việc thay đổi và cải tiến các chính sách nhằm phát triển hơn nữa thị trường bất động sản không chỉ nhận được sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước, Chính phủ mà còn thu hút sự quan tâm từ các doanh nghiệp, quần chúng nhân dân.

            Sức ảnh hưởng của các chính sách phát triển thị trường bất động sản đến thị trường qua thời gian càng có tác dụng rõ rệt.

            Trong những năm 90 của thế kỷ trước, bình thường một chính sách được ban hành thường có thời gian áp dụng trễ hơn 1 đến 2 năm mới có tác động đến thị trường nhưng đến giai đoạn 2007 - 2008 sức ảnh hưởng và sức lan toả của các chính sách phát triển đối với thị trường bất động sản đã nhanh và mạnh mẽ hơn rất nhiều. Điển hình giai đoạn 1996 - 1997 Nhà nước ban hành chính sách thuế nhưng phải đến giai đoạn 1997 - 1998 thì chính sách mới phát huy hiệu lực. Trong khi thông tư 161/TT-BTC hướng dẫn về việc thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân liên quan đến kinh doanh bất động sản được ban hành năm 2009 thì gần như ngay lập tức có tác động mạnh mẽ đến các giao dịch trong thị trường bất động sản vào thời điểm đó.

            Sự phát triển của thị trường bất động sản thời gian qua được điều chỉnh rất nhiều từ những quy định và điều lệ của các chính sách phát triển thị trường bất động sản.

            Giai đoạn 1996 - 1997, những chính sách về giá và thuế đối với thị trường bất động sản được điều chỉnh bằng việc ban hành Nghị định 87 về khung giá đất cùng với việc đưa ra các sắc thuế giao dịch và trước bạ. Đây là lần điều chỉnh đầu tiên và cũng là quan trọng nhất trong quá trình phát triển của thị trường bất động sản. Nhiều diễn biến tiêu cực của thị trường đã bị ngăn chặn kịp thời như quá trình bùng phát của các dự án phân lô bán nền. Mặc dù thời điểm điều chỉnh này thị trường bị đóng băng nhưng mặt khác có tác dụng làm giảm sự bùng nổ của thị trường, tránh những cú sốc khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á năm 1996 - 1997.

            Đến giai đoạn 2003 - 2004, khi thị trường bất động sản phát triển quá nóng nhất là vào năm 2002 - 2003, một loạt các chính sách đã được ban hành như theo quy định của Luật Đất đai 2003 và Nghị định 181, cấm phân lô bán nền; Nghị định 90 hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở 2004, cấm thu tiền của người mua trước khi hoàn thành móng; Nghị định 01/2006/NĐ-CP về khu đô thị mới, quy định doanh nghiệp đầu tư khu đô thị mới phải có số vốn bằng 20% tổng vốn đầu tư. Những điều chỉnh kịp thời này đã phần nào ngăn chặn và làm đóng băng quá trình bùng nổ các dự án đầu tư phát triển khu đô thị mới và chung cư cao tầng. Hiện tượng thị trường “bong bóng” do phát triển quá mức các dự án bất động sản cũng đã được kiềm chế và giảm thiểu thiệt hại.

            Đến năm 2008, lần điều chỉnh thứ hai vẫn nhằm vào các chính sách về tài chính tiền tệ. Một số các chính sách điều chỉnh nổi bật trong thời điểm này nhưng Ngân hàng Nhà nước thông qua kỳ phiếu thu 20500 tỷ đồng đối với các ngân hàng thương mại, tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, rà soát các khoản vay đối với bất động sản… Kết quả là làm thị trường bất động sản đóng băng nhưng cũng như giai đoạn 1996 - 1997, thị trường bất động sản Việt Nam tránh được những cú sốc lớn khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu.

II. NHỮNG TỒN TẠI HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM:

1. Những tồn tại hạn chế trong quá trình phát triển của thị trường bất động sản:

            Thị trường bất động sản Việt Nam bắt đầu có những khởi sắc từ khoảng những năm 2006 - 2008, sau thời gian phát triển mạnh mẽ này thị trường đã bắt đầu xuất hiện nhiều bất cập khiến các nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp bắt đầu rơi vào khó khăn, kèm theo đó là nhiều hệ luỵ cho nền kinh tế.

            Từ đầu năm 2011 đến nay là thời điểm phản ánh rõ nét nhất các bất cập của thị trường, nhiều thông tin, tín hiệu sai lệch và thiếu lành mạnh đã tác động tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư khiến thị trường xuất hiện những trạng thái bùng phát một cách thái quá về giá cũng như lượng giao dịch. Trong những thời điểm nóng, thị trường bất động sản thực sự đã hấp thụ một lượng vốn tương đối lớn từ các nhà đầu tư cũng như từ trong nhân dân, nhưng thực tế hiện tượng “cầu ảo” diễn ra tràn lan, mua đi bán lại chuyền từ người này sang người khác nhưng không thực sự tìm được đầu ra cho thị trường.

            Nhiều nhà đầu tư nhìn thấy giá đất tăng liên tục với tốc độ cao nên có cảm giác an toàn khi đầu tư vào lĩnh vực này tạo sức nóng cao cho thị trường. Ở Việt Nam, có lúc thị trường bất động sản hút đến 50% tổng vốn đầu tư của cả nước tạo nên tình trạng mất cân đối. Các doanh nghiệp đều từ bỏ ngành nghề kinh doanh cũ của mình quay sang đầu tư nhà đất và lấy đây làm lĩnh vực kinh doanh chính. Từ những tình trạng đó gây ra hiện tượng cầu “ảo” mua đi bán lại chứ không tiêu thụ được làm bong bóng giá ngày càng được thổi to hậu quả là trong tương lai khi bong bóng bị nổ thì thị trường sẽ đóng băng, ế thừa. Tình trạng lạm phát năm 2008 và 2011 chính là do bong bóng bất động sản gây ra.

            Thị trường bất động sản Việt Nam được đánh giá là chưa có tính minh bạch cao

            Thị trường bất động sản Việt Nam bị xếp hạng rất kém minh bạch trong năm 2006 và đến năm 2008 vẫn còn bị đánh giá nằm trong vùng kém minh bạch so với các nền kinh tế trên thế giới. Do vậy cần phải có những thay đổi tích cực hơn nữa thì mới có thể hi vọng thị trường đạt được tính minh bạch cần thiết.

            Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kém minh bạch trong thị trường bất động sản Việt Nam phải kể đến đầu tiên là do thị trường được chính thức công nhận chậm hơn so với các thị trường khác, để đạt được tính minh bạch cao cần phải trải qua thời gian dài hình thành và phát triển. Tiếp đến là do một lượng tài sản quá lớn được điều tiết bởi thị trường bất động sản, kèm theo đó là những tiêu cực nảy sinh do lợi ích đem lại quá cao, lợi ích siêu ngạch càng lớn thị trường càng kém minh bạch. Một nguyên nhân nữa là do công tác dự báo còn nhiều hạn chế, tính minh bạch của các thông tin trên thị trường chưa cao. Các nguồn thông tin không rõ ràng gây ra một hạn chế lớn trong việc cập nhật thông tin của các nhà đầu tư, rất nhiều dự án đã được phê duyệt, nhiều công trình đã được xây dựng và hoàn thành nhưng thông tin về những vấn đề liên quan còn thiếu chính xác.

            Các nhà đầu tư và nhà quản lý thiếu cập nhật về thông tin thị trường, các thông tin thiếu đầy đủ và chính xác, thiếu khả năng phân tích và đánh giá thị trường dẫn đến thị trường hoạt động tự phát và thiếu chuyên nghiệp, các rủi ro trong giao dịch tư nhân là không thể kiểm soát.

            Thị trường bất động sản Việt Nam chưa có chỉ báo về độ đo chính thức

            Các dự báo về thị trường bất động sản Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có những căn cứ đáng tin cậy, đa số là những nhận định mang tính định tính trên cơ sở quan sát một bộ phận thị trường hoặc một phân mảng thị trường. Đến cuối năm 2009, cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý Nhà nước đối với thị trường bất động sản nước ta là Bộ Xây dựng mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa có được những bộ số liệu chính thống, đủ tin cậy về thị trường bất động sản.

            Trong khi các thị trường trên thế giới đã có nhiều các chỉ số khác nhau phục vụ cho việc đo lường và phân tích thị trường bất động sản như chỉ số giá bất động sản (RPI), chỉ số thị trường bất động sản (REMI), chỉ số giá nhà (HPI) nhưng ở Việt Nam các khái niệm này hầu như còn rất xa lạ, chưa có một chỉ số tối thiểu để đo lường thị trường bất động sản nói chung và thị trường nhả ở, khu đô thị nói riêng. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chưa có sự phân công, phân cấp quản lý Nhà nước một các đồng bộ và hệ thống trong thị trường bất động sản Việt Nam. Mặt khác, cũng là do thị trường bất động sản nước ta mới được chính thức công nhận, thời gian hình thành và phát triển chưa lâu dẫn đến chưa có nhiều nghiên cứu bài bản và sức ép từ yêu cầu cung cấp thông tin của bản thân nhiều cơ quan quản lý Nhà nước.

            Các phân khúc thị trường, các chủ thể đầu tư và địa bàn trong thị trường bất động sản Việt Nam chưa có sự phả triển đồng đều

            Nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản của Việt Nam chưa có được sự thành công đồng đều trên tất cả các địa bàn hoạt động, các doanh nghiệp kinh doanh thành công ở miền Nam thì lại không đạt được hiệu quả như mong muốn ở các vùng khác và ngược lại. Chẳng hạn, một doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh nhà đô thị nổi tiếng là tổng công ty HUD hoạt động rất thành công và đạt được nhiều hiệu quả trên địa bạn các tỉnh miền Bắc nhưng khi lấn sân đến các thị trường mới để đầu tư như dự án khu đô thị mới phường Đông Tăng Long tại Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh thì tiến độ triển khai rất chậm và vấp phải rất nhiều khó khăn. Tương tự như Tổng công ty xây dựng và kinh doanh nhà đô thị HUD, một doanh nghiệp nổi tiếng tại khu vực phía Nam là Công ty Đất Lành cũng chỉ đạt được thành công khi đầu tư dự án nhà chung cư tại địa bàn quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

            Ngoài ra còn một thực trạng nữa là các doanh nghiệp có tỉ lệ phân bố không đồng đều. Trong khi tại khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng Sông Hồng có số doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh bất động sản chiếm 70% cả nước thì 30% còn lại nằm rải rác tại nhiều vùng khác nhau, tạo ra sự phát triển không đồng đều cả về trình độ lẫn quy mô.

            Bản thân các doanh nghiệp cũng chưa có sự phát triển toàn diện, các doanh nghiệp vấp phải thực trạng nếu mạnh về mảng này thì lại yếu về mảng khác. Từ đó các chủ đầu tư vấp phải tâm lý chỉ đầu tư cho những mảng thế mạnh và mang lại lợi nhuận cao mà không quan tâm đến những mảng khác tạo ra sự đa dạng sản phẩm cho doanh nghiệp mình. Cả nước chỉ có Tập đoàn đầu tư phát triển Sài Gòn là có sự phát triển đồng đều ở cả ba mảng thuộc các sản phẩm nhà khu đô thị mới và chung cư, sản phẩm hạ tầng đô thị và sản phẩm khu du lịch nghỉ dưỡng.

            Một vấn đề nữa, do thị trường bất động sản còn phụ thuộc vào cơ chế xin cho nên sự tiếp cần với thị trường bất động sản tren địa bàn cả nước của các chủ thể chưa được tối ưu hoá. Điều này dẫn đến có sự phân hoá giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi doanh nghiệp trong nước có thể được giao đất dài hạn và việc thế chấp bất động sản chỉ được thế chấp cho các tổ chức tín dụng đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được giao đất có thời hạn để phát triển dự án. Người dân khi mua nhà thuộc dự án của các chủ đầu tư trong nước thì mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, còn nếu mua nhà của doanh nghiệp nước ngoài thì phải nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất hoặc chỉ được mua căn hộ trong thời gian dự án.

            Có những thay đổi trong thị trường nhiều khi không thể kiểm soát được do thị trường bất động sản Việt Nam đang còn non yếu và đang trong quá trình phát triển

            Sự non yếu của thị trường bất động sản Việt Nam thể hiện rõ qua việc dễ bị tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh, chẳng hạn từ năm 2004 đến nay có những chính sách về tiền tệ và tín dụng khiến thị trường bất động sản cũng bị ảnh hưởng. Điển hình nhất, khi Nhà nước thi hành một loạt các chính sách tiền tệ để bình ổn kinh tế vĩ mô vào năm 2008 thì thị trường cũng rơi vào tình trạng bị ngưng trệ và bắt đầu đóng băng. Hoặc khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành kìm hãm dòng tín dụng đổ vào bất động sản thì thị trường cũng bị tác động rất nặng nề.

            Một số thực trạng khác

            Các khoản dư nợ tín dụng của thị trường trong giai đoạn này cũng bắt đầu tăng, tính đến cuối năm 2010 tổng dư nợ tín dụng của thị trường bất động sản đã tăng 24% so với cùng kỳ năm 2009. Nhiều dự án tại các địa phương được cấp phép đầu tư một cách quá dễ dãi mà chưa trải qua quá trình nghiên cứu nhu cầu và mức tiêu thụ của người dân, thậm chí nhiều địa phương còn cho triển khai những dự án lớn trong khi về hạ tầng cơ sở hay phúc lợi xã hội cho chưa đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu nhất.

            Hệ thống Pháp lý chồng chéo và thiếu tính chuyên nghiệp và để lại nhiều khe hở, các dự án quy hoạch mang nặng tính hình thức mà thiếu tính khả thi nên gây bất cập, không đáp ứng được nguyện vọng của người tiêu dùng. Độ minh bạch trong quản lý yếu, hệ thống hành chính phức tạp, quan liêu và tạo nhiều cơ hội tham nhũng.

            Do trình độ kỹ thuật hoặc hành vi đạo đức mà quá trình định giá bất động sản gây ra nhiều điều bất hợp lý, từ đó gây ra hiện tượng thổi phồng giá so với giá trị thật. Các khung pháp lý của Nhà nước tạo cơ hội cho thị trường nhưng còn tồn tại khá nhiều vấn đề chưa phù hợp với cơ chế thị trường. Chỉ cách nhau 10 năm đã diễn ra 2 giai đoạn khủng hoảng giá nhà đất ở Việt Nam từ sau đổi mới đó là vào năm 1991-1993 và 2001-2003. Bấy giờ tại các đô thị lớn như Hà Nội hay TP.Hồ Chí Minh giá đất tăng lên đến những mức giá khó chấp nhận được. Điều này thể hiện sự thiếu chuyên nghiệp trong thị trường từ khâu quản lý cho đến khâu đầu tư và đến tay người tiêu dùng.

            Vấn đề trợ giúp của Nhà nước Việt Nam đối với thị trường cũng mang nặng cơ chế bao cấp và thiếu chuyên nghiệp cho thấy tư duy về quản lý kinh tế không đáp ứng kịp với cơ chế thị trường.

            Từ những khó khăn của thị trường, các doanh nghiệp bắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn khi bị ngân hàng cắt vốn, trong khi sản phẩm là các dự án nhà đất nằm ế ẩm mà không tìm được đầu ra. Đã có nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn tức thời cho thị trường như tận dụng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để vực dậy thị trường, tuy nhiên do đa số nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đều hướng tới phân khúc nhà cao cấp và các khu biệt thự nghỉ dưỡng… mà trong khi phân khúc này đã đóng băng và bão hoà từ lâu ở thị trường trong nước cho nên tác động từ nguồn vốn này đến thị trường bất động sản Việt Nam không có dấu hiệu gì gọi là tích cực.

            Về tính chất chung của nền kinh tế quốc dân, thị trường bất động sản có tác động khá lớn đến tình hình chung của nền kinh tế, bởi vì thị trường bất động sản nước ta chiếm một phần vốn khổng lồ trong nền kinh tế quốc dân, cả về quy mô lẫn giá trị của tài sản. Qua đó có thể thấy phần lớn số nợ xấu của các ngân hàng đều nằm trong thị trường này.

            Tổng hoạt động của nền kinh tế bị chi phối bởi các hoạt động liên quan của thị trường bất động sản lên đến 30%, tác nhân chính là do thị trường này chiếm dụng một phần tài sản khổng lồ của nền kinh tế cũng như số nợ xấu của các ngân hàng.

            Thị trường bất động sản đóng băng không chỉ gây ảnh hưởng cho các doanh nghiệp liên quan mà còn tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng trong nước. Do thị trường có thời điểm quá nóng, các nhà đầu tư vội vàng huy động vốn để mong kiếm lãi nhanh mà không nghĩ đến vấn đề thanh khoản cũng như tiềm lực tài chính của mình. Đến khi thị trường đóng băng, sản phẩm bất động sản tồn kho không tìm được đầu ra thì cũng là lúc nợ xấu ngân hàng tăng lên mức báo động. Theo Uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia, tính đến cuối năm 2011, tổng dư nợ tín dụng bất động sản đạt con số 348 nghìn tỷ đồng, cao gấp 1,8 lần so với con số được các ngân hàng công bố trước đây.

            Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xây dựng bị thua lỗ vì thị trường bất động sản trong năm 2012 đạt 17.000 doanh nghiệp, tăng hơn 2000 doanh nghiệp so với năm 201, ngoài ra còn có hơn 2.637 doanh nghiệp phải dừng hoạt động hoặc tuyên bố phán sản trong năm 2012. Nguyên nhân chính là do tiềm lực tài chính hạn chế, hoạt động phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn vay ngân hàng dẫn đến không đủ khả năng duy trì hoạt động khi thị trường đóng bằng và lượng tồn kho quá lớn.

            Suy thoái của thị trường bất động sản cũng ảnh hướng đến an sinh xã hội cũng như cuộc sống của người dân. Nhiều người dân do chạy theo sức nóng của thị trường mà không đủ tiềm lực tài chính cũng như kinh nghiệm kinh doanh đã huy động vốn từ nhiều nguồn trong đó có các nguồn tín dụng đen, đến khi bất động sản tồn kho không thanh lý được đã phải rơi vào tình cảnh khốn đốn. Vỡ nợ tràn lan, doanh nghiệp phá sản, người lao động mất việc làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp ngày càng cao.

2. Những hạn chế trong các chính sách phát triển thị trường bất động sản:

            Chính sách phát triển thị trường bất động sản VIệt Nam đang còn thiếu toàn diện và thiếu tính đồng bộ

            Bộ Luật về Kinh doanh bất động sản chưa có những điều chỉnh để hướng đến sự đồng bộ và hoàn thiện thị trường bất động sản, nhiều quy định được ban hành còn mang tính chất tản mạn trong các văn bản pháp luật khác nhau như Quy chế khu đô thị mới, Luật đất đai 2005, Luật dân sự 2005, Luật Nhà ở 2005, Luật xây dựng… Các thể chế thị trường bất động sản trong thị trường sơ cấp chưa được xây dựng cụ thể và rõ ràng gây ảnh hưởng và kéo theo những hệ luỵ sang thị trường thứ cấp. Nhiều sản phẩm bất động sản chưa chính thức được tham gia vào thị trường bất động sản như: Đất sử dụng không phải trả tiền sử dụng đất nhưng sử dụng tiền từ nguồn Ngân sách Nhà nước, đất sử dụng có trả tiền sử dụng đất, đất thuê của Nhà nước theo hình thức trả tiền hằng năm. Nguyên nhân là do khung pháp lý chưa được xây dựng hiệu quả cho phép mọi sản phẩm bất động sản được tham gia vào thị trường.

            Các giao dịch bất động sản hầu hết vẫn được giao dịch một cách tự phát trong nhân dân, chỉ có một số giao dịch kinh doanh bất động sản mới bị bắt buộc giao dịch qua sàn. Nguyên nhân chính là do các công cụ pháp lý hữu hiệu chưa được thiết lập để bắt buộc mọi giao dịch bất động sản phải được thực hiện trên thị trường chính thức.

            Sự phát triển của thị trường bất động sản nước ta vấp phải rào cản rất lớn chủ yếu từ sự không đồng bộ và phức tạp của các quy định pháp luật về quy hoạch, xây dựng và thủ tục đất đai kéo dài, rườm rà. Về giá đất vẫn chưa có quy định nào của pháp luật bám sát với thực tế gây ra một số bất cập như giá đật địa phương quy định chưa sát với giá chuyển nhượng thực tế; chưa xác định đầy đủ các căn cứ để xây dựng giá đất trên thị trường. Hệ thống theo dõi giá đất trên thị trường là một công cụ quan trọng và hữu hiệu để làm cơ sở định giá đất một các hợp lý và công bằng nhưng vẫn chưa được tổ chức một cách hiệu quả. Có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa nội dung của các bộ luật gây ra nhiều vấn đề khó khăn trong thực hiện.

            Hai thị trường cho thuê và thế chấp vẫn phải hoạt động trong khung pháp lý nghèo nàn làm chậm quá trình phát triển, trong khi thị trường mua bán có khung pháp lý chuyển dịch khá chi tiết nên phát triển sôi động hơn từ đó gây ra sự méo mó của thị trường bất động sản Việt Nam. Sự hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư tham gia vào thị trường cho thuê không được chú trọng trong các quy định của pháp luật, dẫn đến giá thuê không thể tiếp cận với mặt bằng chung của nền kinh tế. Về thị trường thế chấp, các thủ tục liên quan như thủ tục phát mãi, thủ tục xác định giá trị bất động sản rất rườm rà và phức tạp, gây mất hứng thú đối với nhiều tổ chức tín dụng, từ đó các nguồn vốn thông qua thị trường thế chấp bị ách tắc, kìm hãm.

            Những bất cập về chính sách dẫn đến một số bất cập về cơ cấu thị trường bất động sản Việt Nam

            Những thành phần quan trọng có khả năng cung cấp nguồn vốn cho thị trường bất động sản như các tổ chức tài chính như quỹ đầu tư, quỹ tín dụng… vẫn chưa được hình thành và tổ chức hoạt động hiệu quả.

            Nguồn thế cấp của thị trường bất động sản tồn tại trong rất nhiều ngân hàng nhưng không thể giải ngân và khó khăn trong việc thanh khoản, điều này chủ yếu là do một kênh quan trọng trong việc tăng vốn cho thị trường bất động sản là thị trường thế chấp thứ cấp bất động sản vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu tiềm năng.

            Nền kinh tế Việt Nam chưa tạo ra được các tiền đề để hệ thống tín dụng tiết kiểm bất động sản hình thành và phát triển, đây là một hệ thống rất hiệu quả đã vận hành thành công tại nhiều nước ở châu Âu và Đông Âu có nền kinh tế chuyển đổi.

            Một sự thiếu đồng bộ không đáng có trong hệ thống pháp luật và trong vận hành thị trường bất động sản Việt Nam đó là vẫn chưa xây dựng được hệ thống đăng ký hoàn công cho các công trình đầu tư bất động sản tại Việt Nam.

            Thị trường bất động sản nước ta thể hiện sự thiếu đồng bộ rõ nét nhất là ở sự phân bố nguồn lực. Trong khi các thị trường ở các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng thì các tỉnh thành khác đặc biệt là các tỉnh miền núi thị trường bất động sản còn rất non nớt thậm chí có nơi thị trường còn chưa hình thành xong. Vấn đề này chủ yếu là do chưa có một thiết kế tổng thể về chính sách phát triển thị trường bất động sản.

            Chính sách doanh nghiệp, đầu tư hiện còn một số bất cập nên hạn chế sự phát triển của thị trường bất động sản

            Đánh giá mức độ quan trọng của các chính sách thu hút doanh nghiệp, hộ gia đình tham gia đầu tư kinh doanh bất động sản

TT

Tên chính sách

Tỷ lệ tác động

Xếp loại tầm quan trọng của chính sách

1

Luật Doanh nghiệp 1999, 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

28%

2

2

Luật Đầu tư 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

29%

1

3

Nghị định 92/2006/NĐ-CP về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội

20%

4

4

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển csac khu công nghiệp đến năm 2020

23%

3

            Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

            Chính sách doanh nghiệp, đầu tư tồn tại một số vấn đề như sau:

            - Việc ban hành các bộ luật Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư còn một số nội dung chưa thật cụ thể và rõ ràng, một số nội dung được hướng dẫn chưa phù hợp với nội dung tương ứng của Luật. Đặt biệt là các nội dung cần hướng dâ thực hiện chưa được bao quát hết bởi các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này được thể hiện những điểm yếu và chưa cụ thể trong chính sách bảo vệ nhà đàu tư chưa được khắc phục trong các nội dung của Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp. Từ đó dẫn đến không ít các khó khăn cho các bên liên quan trong việc thực hiện và áp dụng văn bản luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.

            - Các chính sách đảm bảo thực hiện các quyền của nhà đầu tư nước ngoài khi họ có nhu cầu sử dụng đất tại Việt Nam với hình thức giao đất vẫn chưa có quy định cụ thể. Khi xem xét về quyền và nghĩa vụ cơ bản, thời hạn sử dụng đất… trên thực tế có sự phân biệt giữa các tổ chức kinh tế trong nước thuê đất trả tiền hằng năm và tổ chức kinh tế nước ngoài thuê đất trả tiền một lần, tuy nhiên không hề có hiệu quả gì về mặt quản lý Nhà nước cũng như đi ngược lại hoàn toàn với các thông lệ mà Việt Nam đã cam kết với quốc tế.

            - Sự mất bình đẳng nghiêm trọng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cũng như sự khác biệt không cần thiết được tạo ra giữa các tổ chức kinh tế trong nước và các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một tồn tại rất lớn. Điều này chủ yếu là do sự phân biệt về hình thức sử dụng đất và chủ thể sử dụng đất, đây là rào cản rất lớn trong việc tạo lập sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư.

            Chính sách giải phóng mặt bằng chưa giải quyết hài hoà lợi ích các bên liên quan nên chưa phát huy hết tiềm năng của thị trường bất động sản

            Sự phát triển của thị trường bất động sản thông quan việc đánh giá về chính sách đất đai là một vấn đề rất quan trọng và được quan tâm nhiều nhất. Các chủ thể kinh tế có những đánh giá rất khác nhau về loại thông tin chính sách này gây ra sự không đồng nhất. Về quy trình giải phóng mặt bằng cho đến nay vẫn chưa có cơ chế thoả đáng, còn nhiều khúc mắc.

            Đánh giá về chính sách đất đai

           

Chỉ tiêu

Tổng số trả lời

Biết thông tin đầy đủ

Không biết thông tin đầy đủ

Nhận thức thông tin về thông tin quy hoạch đất đai trụ sở của doanh nghiệp, hộ gia đình.

100

75

25

Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương khi giao đất, thuê đất đối với doanh nghiệp, hộ gia đình.

100

82

18

Tình trạng đất đai của doanh nghiệp, hộ gia đình đang sử dụng

100

25

75

Đánh giá về thủ tục xin giao đất theo Luật Đất đai năm 2003

100

59

41

Đánh giá về các quyền của doanh nghiệp, hộ gia đình khi được Nhà nước giao đất theo Luật Đất đai 2003

100

79

21

Đánh giá về thủ tục nhượng quyền sử dụng đất

100

79

21

Đánh giá về thủ tục nhượng quyền sử dụng đất

100

2

98

Đánh giá về thủ tục được giao quyền sử dụng đất

100

50

50

Đánh giá về thủ tục được giao quyền sử dụng đất

100

10

90

            Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

            Theo khảo sát ý kiến từ phía người dân, đa số ý kiến cho rằng giá đền bù giải phóng mặt bằng vẫn chưa thoả đáng. Những hộ gia đình chưa nhận tiền đền bù phản ánh với mức đền bù như hiện nay thì gia đình không thể tái định cư tại chỗ ở mới, còn số đã nhận tiền đền bù và ổn định tái định cư thì cho rằng nơi ở mới không phù hợp với tập quán sinh sống.

            Về phía các nhà đầu tư, mất rất nhiều thời gian và công sức để tiến hành quá trình đền bù, giải toả một dự án, từ đó làm tăng chi phí và giảm cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp. Khung giá đền bù do Nhà nước công bố luôn có xu hướng tăng năm sau cao hơn năm trước, giá đền bù cụ thể cho các hộ gia đình cũng có xu hướng tăng hộ sau cao hơn hộ trước. Một vấn đề nữa được các nhà đầu tư phản ánh là trong quá trình tiến hành giải toả, đền bù luôn phát sinh nhiều vấn đề khiến tiến độ phải bị ngưng trệ. Điển hình là tình trạng các hộ dân đã nhận tiền đền bù nhưng khi thấy các hộ khác được đền bù cao hơn lại quay về gây khó khăn ép nhà đầu tư phải đền bù thêm. Từ đó để có thể tiếp tục dự án theo đúng tiến độ thì nhà đầu tư đã phải chấp nhận tăng chi phí đền bù bổ sung.

            Vấn đề tồn tại này có một nguyên nhân cơ bản đó là về nhận thức, cần phải có quá trình và thời gian mới có thể giải quyết vấn đề này một cách thấu đáo. Nghị định 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ một phần nào đó giải quyết những tồn tại trên nhưng để đánh giá được hiệu quả thì cũng cần có thời gian dài.

            Chính sách, nhất là thủ tục hành chính trong xây dựng còn nhiều bất cập, dẫn đến kìm hãm sự phát triển tiềm năng của thị trường bất động sản

            Đánh giá mức độ qua trọng của các chính sách về xây dựng thu hút doanh nghiệp, hộ gia đình tham gia đầu tư kinh doanh bất động sản:

TT

Tên chính sách

Tỷ lệ tác động

Xếp loại mức độ quan trọng của chính sách

1

Luật Xây dựng và Nghị định 18 về quy hoạch đô thị

10%

1

2

Luật Kiến trúc và Nghị định hướng dẫn thi hành

9%

2

3

Trình tự, thủ tục lập dự án đầu tư xây dựng công trình

9%

2

4

Các quy định về khảo sát, thiết kế xây dựng

8%

3

5

Các tiêu chuẩn thi công xây dựng công trình

9%

2

6

Giám sát thi công xây dựng công trình

9%

2

7

Lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng

8%

3

8

Thuế và phí trong xây dựng

9%

2

9

Nghị định 02 về quy chế khu đô thị mới

9%

2

10

Luật Nhà ở và Nghị định 90 hướng dẫn thi hành

9%

2

11

Luật Kinh doanh bất động sản và Nghị định 153 hướng dẫn thi hành

10%

1

           

            Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

            Khả năng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn phát triển của các doanh nghiệp bị hạn chế một phần là do thủ tục hành chính về đầu tư xây dựng còn rất rườm rà, phức tạp và tốn kém, đặc biệt là các dự án có yêu cầu sử dụng đất ngoài khu công nghiệp.

III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÁO GỠ NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM:

            Nhà nước và Chính phủ chỉ nên có những tác động vừa phải, phù hợp với cơ chế thị trường, Nhà nước và Chính phủ chỉ nên ban hành các điều kiện, quy định về giao dịch bất động sản bắt buộc để thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Còn cách thức chuyển quyền sử dụng đất, giao dịch với nhau như thế nào là do các bên thoả thuận với nhau.

            Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 07/01/2013 đã tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho thị trường nói chung và thị trường bất động sản nói riêng, trong đó có các giải pháp xử lý nợ xấu, hỗ trợ thị trường, hỗ trợ tái sản xuất kinh doanh.

            Các giải pháp chính sách xác lập bất động sản

            Đầu tiên cần phải nghiên cứu và ban hành Luật Đăng ký bất động sản, tuỳ điều kiện và tình hình thực tế mà ban hành vào đúng thời điểm phù hợp. Chỉ khi được đăng ký thì bất động sản mới có được những giá trị phái sinh, đây là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn quốc tế và Việt Nam. Khung pháp lý về bất động sản để bảo đảm đồng bộ, thống nhất cũng cần được sớm hoàn thiện và đưa ra thi hành. Công khai hoá hoạt động kinh doanh bất động sản trên cơ sở tạo hệ thống đăng ký bất động sản thống nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

            Đối với Luật Đất đai cần phá bỏ định kiến phân biệt hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất áp dụng cho doanh nghiệp trong nước và hình thức thuê đất trả tiền thuê ột lần cho các thời gian thuê áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhà nước nên xem xét không nên có sự phân biệt giữa tổ chức kinh tế trong nước và tổ chức kinh tế nước ngoài, quyền và nghĩa vụ của tất cả các tổ chức nên được bình đẳng hoá với nhau. Sớm hoàn thiện các quy định chung về giao đất, thuê đất thông qua hình thức đấu giá của tất cả các nhà đầu tư. Nền cho phép thành lập các công ty liên doanh góp vốn bằng tiền và liên doanh sẽ thuê đất của Nhà nước hoặc các chủ thế khác được sự cho phép của pháp luật. Quyền lợi và lợi ích của các công ty liên doanh và nhà đầu tư nước ngoài cần được bảo đảm công bằng và bình đẳng.

            Giải pháp chính sách tài chính - tiền tệ

            Kiến nghị điều chỉnh chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn đầu tư kinh doanh bất động sản

TT

Chi phí

Cần điều chỉnh

Tỷ lệ

Sự quan trọng của chính sách cần sửa đổi

1

Tăng cường khả năng nguồn vốn của tổ chức tín dụng

446

68%

3

2

Đơn giản hoá thủ tục vay vốn

453

69%

3

3

Giảm lãi suất tiền vay

541

83%

1

4

Chỉnh sửa cơ chế cho vay

407

62%

4

5

Xin cung cấp thông tin kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất

512

78%

2

            Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ

            Cần sớm nghiên cứu và ban hành một bộ luật về thị trường thế chấp thứ cấp. Việc tạo ra nguồn vốn trung và dài hạn từ nguồn vốn ngắn hạn do thế chấp bất động sản tạo ra cần phải được thực hiện trên cơ sở pháp lý là văn bản luật này. Hệ thống thế chấp thứ cấp, đặc biệt là những khoản thế chấp dưới chuẩn cần được quản lý tốt để tránh những hệ quả nghiêm trong đối với nền kinh tế, đây là kinh nghiệm xương máu từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Vì vậy một hệ thống thế chấp thứ cấp là vô cùng quan trọng để hộ trợ thị trường bất động sản phát triển một cách bền vững và lành mạnh.

            Luật về quỹ tiết kiệm bất động sản cũng cần được sớm nghiên cứu và ban hành. Quỹ tiết kiệm bất động sản là cầu nối trung gian giữa ngân hàng, công ty kinh doanh bất động sản và những đối tượng tham gia vào thị trường bất động sản chỉ để thoả mãn nhu cầu cho riêng mình nhưng lại thiếu vốn.

            Nghiên cứu và ban hành bộ luật về quỹ đầu tư bất động sản. Hệ thống tài chính rất đang dạng cả về hình thức và loại hình, tuy nhiên một số quỹ tài chính quan trọng chó thể tham gia vào thị trường bất động sản để tài trợ cho thị trường bất động sản. Thành phần này không đâu xa lạ mà chính là các công ty bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư bất động sản. Thị trường bất động sản trong dài hạn cần khai thác nguồn vốn từ các tổ chức tài chính hơn là các chủ thể khác thì mới có thể phát triển bền vững.

            Như hiện nay, chính sách tài chính đất đai phải được hoàn thiện, trở thành công cụ khuyến khích việc khai thác, sử dụng đất đai một cách có hiệu quả vào sản xuất kinh doanh, biến nguồn tài chính tiềm năng trở thành nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của mọi thành phần kinh tế, kể cả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

            Trước hết là về thu tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phải nhằm khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các dự án phát triển đô thị, giúp cho các hộ gia đình, cá nhân có điều kiện lựa chọn hình thức nhà ở của mình phù hợp với khả năng chi trả và điều kiện sinh sống của gia đình mình.

            Giải pháp chính sách khai thác giá trị bất động sản

            Cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá cần phải nghiên cứu, ban hành bộ Luật Quy hoạch, đây là một điều căn bản trong quản lý Nhà nước về kinh tế cũng như vận hành nền kinh tế của các chủ thể kinh tế, đặc biệt là đối với thị trường bất động sản. Một bộ phận không thể thiếu trong việc đưa Luật Quy hoạch trong tương lai đi vào thực tế và góp phần minh bạch hoá thị trường bất động sản đó là một văn bản có tính pháp lý cao về vấn đề công bố thông tin quy hoạch.

            Tăng cường các biện pháp thực thi Luật Đấu thầu trong lĩnh vực bất động sản. Cần có một văn bản mang tính pháp lý cao riêng có đối với việc đấu thầu dự án đầu tư kinh doanh bất động sản, đấu thầu quyền sử dụng đất. Các chính sách này hiện nay đã có từng mảng, từng phần riêng biệt tuy nhiên chưa có một văn bản bao trùm toàn bộ các vấn đề liên quan. Cần thiết phải có một văn bản hướng dẫn thực thi dựa trên cơ sở, thu thập, chỉnh sửa, kết nối các mảng liên quan lại với nhau.

            Giải pháp chính sách để minh bạch hoá thị trường bất động sản

            Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính sách phát triển thị trường bất động sản Việt Nam là tăng cường tính minh bạch của thị trường. Đầu tiên tính thực thi và hiệu lực của Luật Đấu thầu cần phải được quán triệt hơn nữa, trong thời gian tới cần ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để Luật đấu thấu được thực thi một cách triệt để. Sau đó, việc giao dịch sản phẩm bất động sản của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải được thực hiện qua sàn giao dịch bất động sản một cách triệt để. Ban hành thêm một số chế tài quy định về việc giao dịch sản phẩm của các công ty kinh doanh bất động sản để tăng cường tính hiệu quả trong việc kiểm soát lượng giao dịch.

            Giải pháp chính sách để đo lường thị trường bất động sản

            Hệ thống các tiêu chí đo lường thị trường bất động sản là rất đa dạng. Vì vậy các văn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao về thông tin bất động sản cần được nghiên cứu, ban hành. Trước mắt là văn bản quy phạm pháp luật để tiến hành xây dựng ba chỉ số thị trường bất động sản cơ bản là: Chỉ số giá nhà (HPI), chỉ số giá bất động sản (RPI) và chỉ số thị trường bất động sản (REMI)

            Giải pháp tăng cường tính đồng bộ trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển thị trường bất động sản

            Hoàn thiện cơ chế tài chính sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, dành quyền chủ động cho chính quyền địa phương để huy động các nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng công trình hạ tầng để phát triển đô thị được thanh toán lại bằng quỹ đất thương phẩm trong dự án đầu tư, hình thành thị trường bất động sản lành mạnh cũng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, chính sách thuế sẽ góp phần điều tiết vào quá trình đô thị hoá chủ yếu tập trung đối với thuế đất đai như thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất. Chính sách thuế đất đai nhằm điều tiết, phân phối lại các khoản thu nhập từ đất đai và đảm bảo sự quản lý của Nhà nước về đất đai trong thị trường bất động sản.

            Công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật trong đầu tư, giao dịch trên thị trường bất động sản cần phải được tổ chức nghiêm túc hơn nữa. Việc hoàn thiện thể chế phải được tiến hành đồng thời với giao trách nhiệm cụ thể cho cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền các cấp. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực bộ máy cán bộ nhằm đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực bất động sản. Hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp bằng các mệnh lệnh hành chính của Nhà nước đối với thị trường bất động sản. Tiếp tục triển khai công tác cải cách hành chính triệt để, tránh phức tạp trong các thủ tục hành chính và gây phiền hà cho nhân dân.

            Tổ chức thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo Luật Đất đai năm 2003. Về phạm vi thu hồi đất, Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất, bồi thường và tái định cư đối với đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy hoạch đã được phê duyệt; Đất sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ. Đối với các dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì nhà đầu tư thực hiện nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thu hồi đất.

Chủ nhật, 23 Tháng 2 2014 00:00

Chính sách tín dụng cho người nghèo

Về đối tượng

Với cách huy động và phân bổ nguồn lực như trên, việc mở rộng đối tượng chính sách là hoàn toàn có thể thực hiện được. Không chỉ dừng lại ở các hộ nghèo theo chuẩn quốc gia mà bao gồm cả các hộ cận nghèo. Mở rộng đối tượng không những tăng diện bao phủ chính sách mà còn là nền tảng vững chắc để huy động nguồn lực từ người vay. Tuy nhiên, khi mở rộng đối tượng sẽ gây áp lực lớn cho nguồn lực thực hiện. Vìvậy, để giải quyết mẫu thuẫn này cần có qui định khác nhau cho các đối tượng khác nhau. Cụ thể ở đây sẽ chia ra làm hai nhóm trong đối tượng của chính sách Nhóm thứ nhất là người nghèo nhất và có nguy cơ tổnthương cao sẽ được tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi (có thể với lãi suất hỗ trợ bằng không).

Nhóm thứ hai là nhóm người nghèo còn lại theo chuẩnnghèo của quốc gia và các hộ cận nghèo tiếp cận với nguồn vốn vay không cần tài sản thể chấp nhưng lãi suất thấp hơn một ít và thậm chí bằng lãi suất của thị trường. Kinh phí thực hiện từ huy động từ các nguồn khác. Cả hai nhóm đối tượng này sẽ cùng được hưởng hỗ trợchung từ nhà nước đó là các hoạt động hướng dẫn kỹ thuật và kinhnghiệm sản xuất kinh doanh. Hiện nay, chính phủ có kinh phí cho hoạt động hỗ trợ kỹ thuật qua các hộ hay phòng khuyến nông ở địa phương. Tuy nhiên các hoạt động này còn mang tính hình thức, đại trà, ít tác dụng. Vì thế nên kết hợp hoạt động khuyến nông, công với các dự án xin vay vốn. Để đảm bảo sự phù hợp và bền vững của chính sách, vấn đề là cần có tiêu chí rõ ràng phân biệt hai nhóm đối tượng trên và các hoạt động hỗ trợ để sử dụng hiệu quả vốn vay cần được cung cấp với chấtlượng cao.

Về lãi suất

Lãi suất cho vay, tương ứng với hai nhóm đối tượng đề xuất trên, lãi suất cho vay sẽ được áp dụng cho hai nhóm. Tuy nhiên với nhóm áp dụng lãi suất theo lãi suất thị trường có thể sẽ có nhiều mức lãi suất khác nhau tương ứng với các khoản vay khác nhau.

Lãi suất tiền gửi, để đảm bảo huy động được từ các nguồn lực khác nhau, lãi suất tiền gửi cần được tính đến như là một yếu tố quyết định sự bền vững của chính sách. Lãi suất tiền gửi được xácđịnh theo nguyên tắc thị trường.

Nếu khống chế mức lãi suất tiền gửi và cho vay sẽ hạn chế mở rộng đối tượng cho vay cũng như huy động tiền gửi từ các nguồn khác nhau. Do đó mức lãi suất cần phải linh động để phản ứng với mứclãi suất bên ngoài. Như vậy, tự do đặt mức lãi suất đối với từng khoản cho vay và từng khoản tiền gửi sẽ giúp cho cơ quan thực hiện chính sách cạnh tranhrất hiệu quả với các ngân hàng khác trong huy động nguồn lực thực hiện cũng như cho vay đến các đối tượng của chính sách. Về lâu dài, lãi suất cho vay không nhất thiết phải ưu đãi vì kinh nghiệm quốc tế cho thấy, vấn đề lớn hiện nay khi thực hiện chính sách là hình thức quản lý vốn. Nếu quản lý khôn ngoan thì không cần cho vay ưu đãi vẫn hoạt động được và thu hút được nguồn lực ngoài ngân sách đặc biệt nguồn vốn tư nhân một cách bền vững.

Về thời hạn và mức cho vay

Tăng cường tín dụng ưu đãi trung hạn và dài hạn. Điều này chỉ có thể giải quyết được khi nguồn vốn cho vay ưu đãi lớn. Bởi vậy nếu như làm tốt công tác đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng không chỉ giải quyết được việc cung cấp tín dụng trung và dài hạn mà còn tăng được mức cho vay hiện nay. Đối với nhóm đối tượng thứ nhấttrước mắt vẫn cần áp dụng hạn mức cho vay vì với những đối tượng nghèo thực sự, chủ yếu đầu tư vào sản xuất nhỏ như chăn nuôi thì mức cho vay hiện nay là phù hợp vì bản thân người nghèo cũng không muốn vay khoản vay lớn vì sợ khôngcó khả năng thanh toán và không đủ năng lực quản lý vốn.

Đối với nhóm đối tượng thứ haithì không áp dụng hạn mức mà cho vay theo nhu cầu. Từ kinh nghiệm quốc tế, nơi nào hạn chế mức cho vay hoặc cho vay với mức tiền thấp hơn nhiều so với mức tối đa cho phép thì tính bền vững của chính sách là rất thấp. Nơi nào không giới hạn các khoản vay thì ngày càng phục vụ được nhiều người nghèo vay vốn hơn và quan trọng hơn là huy động ngày càng nhiều thành viên khá giả tham gia. Như vậy, nếu áp dụng lãi suất linh hoạt cùng với không khống chế mức vay sẽ cho phép huy động được nhiều tiền gửi hơn vàkhi đó sẽ có nhiều nguồn lực để cho vay đến nhiều người nghèo hơn. Quan trọng là khi huy động được nhiều tiền gửi thì những khách hàng gửi tiền (chính là người nghèo) luôn chịu sức ép phải duy trì giá trị tài sản để đảm bảo các khoản tiền gửi của mình. Và chính điều này cũng hỗ trợ bảo vệ những người vay. Bên cạnh đó, cơ quan thực hiện chính sách luôn phải tổ chức hoạtđộng có hiệu quả vì họ luôn chịu sự giám sát của các cá nhân, tổ chức gửi tiền (Nếu hoạt động không tốt họ sẽ rút tiền hàng loạt). Do vây người gửi giữmột vai trò to lớn trong đảm bảo tính bền vững của chính sách. Nếu thời giantới Việt Nam giải quyết tốt vấn đề này thì việc tập trung các khoản tín dụng của các tổ chức khác về một đầu mối sẽ thực hiện được và khi đó bài toán vềlồng ghép nguồn lực sẽ được giải quyết.

Huy động nguồn lưc

Để đảm bảo có đủ và chủ động nguồn lực thực hiện chính sách cần đa dạng hóa các nguồn lực và lồng ghép các nguồn lực có chung cùng mục tiêu tại một địa phương.

Thứ nhất là đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách Để thực hiện được chính sách cần phải có nguồn vốn tuy nhiên thời gian qua về cơ bản nguồn vốn này do nhà nước cấp nên việc thực hiện chính sách bị động. Bởi vậy việc cần làm đầu tiên trong quá trình hoàn thiện chính sách là cần đảm bảo huy động đủ nguồn lực khi đó mới có thể tính đến giải quyết các vấn đề khác. Vậy có thể huy động từ nguồnnào?

Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, trong đó ngân hàng Grameen đã được đề cập đến trong chương 1, để đảm bảo tính bền vững của chính sách cần chủ động trong nguồn lực thực hiện. Nếu chỉ duy nhất trông chờ vào nguồn hỗ trợ từ chính phủ thì việc triển khai sẽ bị động dẫn đến chính sách thiếu bền vững. Bởi vậy ngoài nguồn vốn cấp từnhà nước, về lâu dài cần tìm một nguồn ổn định và bền vững hơn. Nguồn đó chính là huy động từ chính những người đi vay. Trên thực tế, có một số tổ chức tài chính vi mô cung cấp các khoản vốn vay cho người nghèo đã hoạt động bền vững ngay cả khi không có trợ cấp của chính phủ. Điều đó có nghĩa là vấn đề nghèo đói không phải là trở ngại lớn khi thực hiện chính sáchngay cả khi không có hỗ trợ từ chính phủ, nếu như còn có một vài người có tiền để gửi tiết kiệm. Như vậy có thể huy động nguồn lực từ chính người đang vay vốn và từ những người không không phải là đối tượng của chính sách.Vậy làm thế nào để có thể huy động được?

Huy động từ người đang là đối tượng hưởng lợi của chính sách. Việc huy động được thực hiện dưới các hình thức như huy động tiền gửi tiết kiệm, chương trình bảo hiểm và hưu trí. Huy động tiền tiết kiệmđược thực hiện dưới hai hình thức tiết kiệm tự nguyện và tiết kiệm bắt buộc. Đối với huy động tiếtkiệm theo hình thức tự nguyện, người vay đóng tiết kiệm hàng tháng hoặc quí với số tiền nhất định (số tiền này đảm bảo phù hợp với khả năng tích lũy của người nghèo- mức đóng này cần được tính toán một cách cẩn thận để đảm bảo tính khả thi của chính sách). Điều chắc chắn là số tiền huy động từ một người nghèo theo thời gian nhất định sẽ không nhiều, nhưng nó có tác dụngkhuyến khích người vay với dư nợ tiền vay lớn có thể tiết kiệm nhiều hơn. Ngoài ra, người vay được khuyến khích gửi tiết kiệm với nhiều hình thức hợp đồng tiền gửi phù hợp với họ để khuyến khích người vay tiết kiệm cho các mục đích cụ thể như học tập, mua sắm tài sản…Ngoài ra, người vay phải bắt buộc đóng tiết kiệm vào một tài khoản có lãi suất đầu tư và họ có thể được rút ra để sử dụngsau một thời gian nhất định. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ít nhất là sau ba năm thì số tiền tiết kiệm này mới có ý nghĩa vì giúp cho người vay có một khoản tiền đáng kể và có thể sử dụng được vào việc khác. Việt Nam cũng đã bắt đầu thưc hiện hình thức này từ năm 2008. Tuy nhiên, sau một năm thực hiện kết quả rất thấp vì việc triển khai chưa đồng bộ ở các địa phương và quan trọng hơn với cách huy động như hiện nay thì chưa tạo ra một sự gắn kết chặt giữa người nghèo và cơ quan thực hiện chính sách. Muốn vậy đi kèm với việc huy động dưới hình thức tiết kiệm và bắt buộc cần triển khai các hoạt động mà nhờ đó vừa đảm bảo quyền lợi cho người nghèo, đồng thời tăng tính trách nhiệm của họ. Một trong các hoạt động đó là thực hiện các chương trình bảo hiểm và quĩ lương hưu và các hoạt động này không chỉ có ý nghĩa bảo đảm quyền lợi cho người nghèo mà đây còn là một nguồn tiền thu hút tiết kiệm ngắn hạn. Chương trình bảo hiểm và quĩ lương hưu, với chương trình bảo hiểm, người đi vay tiền đóng vào một tài khoản tiết kiệm–nhân thọ (số tiền này ngân hàng sẽ dung để xóa nợ nếu người vay chết, hoặc người thân chết). Thực hiện chương trình bảo hiểm này không những giúp người nghèo và gia đình hạn chế được rủi ro- đem lại lợi ích cho người nghèo, mà còn giúp cho ngân hàng huy động được một khoản tiền tiết kiệm dài hạn. Với quĩ lương hưu, người vay đóng một số tiền nhất định hàng tháng để xây dựng quĩ hưu trí cho mình. Việc làm này sẽ giúp cho người vay có trợ cấphưu trí sau này và quan trọng hơn họ có cảm giác như có cổ phần trong ngân hang nên trách nhiệm trong sử dụng vốn cũng sẽ được cải thiện hơn nhiều.Huy động tiền tiết kiệm từ người không phải là đối tượng hưởng lợi của chính sách (chưa được vay). Hoạt động này sẽ giúp cho ngân hàng tự thu hút đủ vốn để cho vay. Tuy nhiên, để thực hiện điều này trên thực tế hoàn toàn không dễ, ở đây cần có một chính sách lãi suấtcạnh tranh thì mới tính đến huy động được từ nguồn này.

Thứ hai là lồng ghép các nguồn lực khác nhau có cùng mục tiêu hỗ trợ cho người nghèo vay vốn tại một địa phương. Một hiện tượng khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay đó là tại một địa phương có nhiều nguồn tín dụng khác nhau. Ngoài nguồn tín dụng ưu đãi còn có nguồn tín dụng của các tổ chức phi chính phủ hoặc từ các chương trình kinh tế- xã hội khác. Do đó tình trạng lãi suất chovay không đồng bộ, một số người được vay quá nhiều trong khi có người không tiếp cận được với nguồn vay nào, dẫn đến có sự bất bình đẳng trong tiếp cậnnguồn vay. Để khắc phục tình trạng này nhà nước nên có giải pháp tập trung nguồn tín dụng có cùng một mục đích XĐGN về một cơ quan để quản lý và phânbổ đến các đối tượng như vậy sẽ hiệu quả hơn. Có thể tập trung cácnguồn tín dụng nhỏ của các tổ chức phi chính phủ về NHCSXH vì nó là cơ quan duy nhất hiện nay đang thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi và khi đó các tổ chức chính phủ đóng vai trò giám sát các hoạt động. Để có thể thuyết phục các tổ chức phi chính phủ uỷ thác cho NHCSXH quản lý và phân bổ nguồn vốn này, trước tiên phải cải thiện và nâng cao hoạt động của NHCSXH vì một trong lý do, thời gian qua, các tổ chức này trực tiếp cung cấp tín dụng nhỏ ở nông thôn vì họ đánh giá rất thấp hiệu quả hoạt động của NHCSXH.

Phân bổ và sử dụng nguồn lực

Thứ nhất là nguồn tại trợ của chính phủ dùng để triển khai các hoạt động hỗ trợ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và một nhóm người nghèo nhất có nguy cơ bị rủi ro, tổn thương cao. Các khoản hỗ trợ từ chính phủ là quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách. Tuy nhiên chính sự hỗ trợ này dẫn một loạt các vấn đề.

Thứ nhấtvì là hỗ trợ của chính phủ nên chắc chắn rằng đây phải là khoản cho vay ưu đãi có nghĩa là cần dành cho một đối tượng cụ thể ví dụ như là người nghèo theo qui định nào đó. Sự khan hiếm nguồn lực cộng với theo qui định chỉ có một số đối tượng được vay dẫn đến cho vay sai đối tượng. Bên cạnh đó, vì nguồn lực không đủ nhiềunên thường không chủ động được việc triển khai chính sách. Khi nào có vốn thì giải ngân và đó có thể không phải thời điểm người nghèo cần vốn.Ngoài ra,có thể điều chỉnh mức cho vay nên rất cao nhưng thực tế mức chovay luôn thấp hơn vì không đủ nguồn lực được thực hiện và khi đó cáctổ chức thường đưa ra các qui định chặt chẽ khiến cho người nghèo khó có thể đáp ứng được các yêu cầu đó.

Thứ hai khi hoạt động bằng nguồn vốn của chính phủ hoặc nguồn vốn quyên góp hỗ trợ rất có thể sẽ gặp khó khăn trong vấn đề thu hồi nợ và sẽ ảnh hưởng đến tính bền vững. Kinh nghiệm thế giới cho thấy nếu cho vay người nghèo bằng nguồn vốn tài trợ của chính phủ đã dẫn đến tình trạng nợ đọng rất cao vì việc chính phủ trợ cấp đã làm mất đi quyền khuyến khích tiết kiệm của các tỏ chức cung cấp tíndụng cho người nghèo mà chính việc này sẽ tạo động cơ cho khách hàng gửi tiền giám sát hoạt động của các tổ chức này.

Như vậy có thể thấy, trợ cấp của chính phủ là cần thiết nhưng không thể coi đây là nguồn kinh phí duy nhất để thực hiệnchính sách. Chính phủ vẫn tiếp tục hỗ trợ nhưng để thực hiện các hoạt động mà thị trường bản thân không làm tốt hoặc không là được. Và ở đây chính làhỗ trợ về kỹ thuật hay kinh nghiệm sản xuất kinh doanh.

Hoạt động hỗ trợ khuyến nông này có thể trực tiếp nhà nước cung cấp hoặc để cho một tổ chức, cá nhân nào đó thực hiện. Vấn đề ai cung cấp các dịch vụ không quan trọng mà vấn đề là ở chỗ ai làm điều đó có hiệu quả thì lựa chọn. Nhưng nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động sẽ được trang trải bằng nguồn tiền của chính phủ.

Nếu làm tốt được việc trên thì người nghèo không chỉ được tiếp cận với vốn vay mà còn được trang bị những kỹ thuật cần thiết sử dụng hiệu quả vốn vay đó. Khi đó tình trạng người nghèo không biết cách làm ăn từ chối vay vốn sẽ được khắc phục và quan trọng hơn là khả năng trả nợsẽ được cải thiện rất nhiều. Như cậy có thể nói với cách thực hiện như trên vẫn đảm bảo vai trò tạo cơ hội cho người nghèo nhưng đã có sự thay đổi về chất so với giai đoạn trước. Nếu như trước đây chính phù chỉ có thể đưa cơ hội cho người nghèo bằng các khoản cho vay từ nguồn kinh phí của mình mà thiếu đi việc hỗ trợ sử dụng vốn hiệu quả thì với cách làm này đã đảm bảo “ đưa cho người nghèo cần câu chứ không phải đưa cho họ xâu cá”.

Thứ hai là nguồn tại trợ của chính phủ dùng để cho vay tới một nhóm người nghèo nhất có nguy cơ bị rủi ro, tổn thương cao. Để khắc phục tình trạng dàn trải trong thực hiện chính sách, nguồn vốn tài trợ từ nhà nước chỉ dành để cung cấp các khoản vốn vay với mức lãi suất ưu đãi, thậm chí là bằng không với nhóm người nghèonhất và và bị tổn thương cao do thường xuyên phải đối mặt với các nguy cơ rủi ro. Như vậy, thay vì là cho vay đến một lượng lớn các hộ nghèo thì lúc này chỉ tập trung vào một nhóm người ít hơn và dễ tổ chức thực hiện cho hiệu quả cao hơn. Nếu làm được như vậy thì sẽ giúp chính phủ thực hiện tốt vai trò của mình trong công cuộc giảm nghèo đó là chỉ tập trung giảiquyết những gì mà bản than xã hôi không thể làm được- hỗ trợ người nghèo chống đỡ với rủi ro để hạn chế tình trạng bị tổn thương.

  1. Những kết quả đạt được.

Cùng với việc tập trung nguồn lực phát triến kinh tế hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, trong những năm qua Chương trình giảm nghèo đã được cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo kịp thời và sát sao.

Những chính sách giảm nghèo do Chính phủ ban hành đã được các cấp ủy, chính quyền, các ngành chức năng triển khai đồng bộ cùng với nguồn kinh phí huy động từ ngân sách Nhà nước, các tố chức xã hội và cộng đồng đã làm giảm đáng kế tỷ lệ hộ nghèo. Bộ mặt nông thôn đã thay đổi, hạ tầng cơ sở, các cơ sở dịch vụ sản xuất, đời sống người dân được nâng cao, đời sống các hộ nghèo được cải thiện rõ rệt. Các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn đã đưa chương trình giảm nghèo vào trong Nghị quyết của Đảng bộ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình; việc phân công trách nhiệm tố chức thực hiện giữa các cấp, các ngành rõ ràng; một số chính sách, dự án đã được kế hoạch hoá từ cấp xã đến cấp tỉnh trên cơ sở xã hội hoá các hoạt động, xã hội hoá các nguồn lực: tỉnh, huyện, xã và nhân dân cùng tham gia.

-  Về thực hiện các chính sách: trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ về những giải pháp điều hành phát triến kinh tế - xã hội trong tình hình mới, trong đó thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư công nhưng vẫn chỉ đạo ưu tiên cho lĩnh vực an sinh xã hội và giảm nghèo; đồng thời, tiếp tục bố trí kinh phí đế triến khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo; ban hành một số các chính sách hướng tới người nghèo, cận nghèo như các chính sách về tín dụng, y tế, giáo dục, hỗ trợ nhà ở, đào tạo nghề, tạo việc làm... nhằm giúp giảm nghèo bền vững đã được người dân đồng tình và đánh giá cao. Theo đó, các tỉnh cũng quan tâm, tạo điều kiện, bố trí nguồn vốn thực hiện đáp ứng được yêu cầu đề ra, đảm bảo tính kịp thời trong thực hiện chi trả, hỗ trợ đối tượng theo quy định. Nhìn chung, người nghèo, người cận nghèo đã tiêp cận thuận tiện hơn các chính sách trợ giúp của nhà nước, cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường trên cơ sở triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo của các huyện, thị xã, thành phố giảm nhanh, đời sống của người nghèo được từng bước cải thiện, an sinh xã hội, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

-  Kết quả thực hiện các hoạt động thuộc chương trình giảm nghèo đã góp phần ổn định xã hội, thúc đấy tăng trưởng kỉnh tế và phát triền bền vững, an sinh xã hội được đảm bảo.

-  Đời sống của người nghèo được cải thiện một bước về điều kiện sống, nhận thức của người nghèo được nâng lên, người nghèo đã được tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng cho phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập; một số nhu cầu thiết yếu của người nghèo cơ bản được đáp ứng (nhà ở, nước sinh hoạt, khám chữa bệnh, học tập...), về lâu dài, tác động của chương trình giúp người nghèo có được cơ hội tự vươn lên, tạo thu nhập để phát triển, vượt qua tình trạng nghèo đói, tự giải quyết những nhu cầu thiết yếu của gia đình và bản thân.

-  Chương trình giảm nghèo đã trở thành nhiệm vụ, chỉ tiêu ưu tiên trong quá trình chỉ đạo, điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền; người nghèo đã nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình và chủ động trong việc tiếp nhận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng để vươn lên thoát nghèo.

  1. Những tồn tại, hạn chế:

-  So với tổng mức đầu tư, dự toán được duyệt của các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc chương trình giảm nghèo việc bố trí vốn kế hoạch hàng năm còn thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra.

-  Việc huy động sự tham gia đóng góp của người dân cũng như các tổ chức chính quyền vùng hưởng lợi tại khu vực nông thôn hầu như không có do đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn. Công tác xã hội hóa một số lĩnh vực như y tế, giáo dục tại các địa bàn này tuy có được triển khai nhưng chưa hiệu quả do không thu hút được đầu tư.

-  Một số văn bản hướng dẫn của các Bộ ngành liên quan còn chưa kịp thời, chồng chéo, rất nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện thay thế, bổ sung còn thiếu đồng bộ đã khiến công tác điều hành và tố chức thực hiện còn nhiều vướng mắc.

Mẫu biểu điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo khi tính thu nhập hộ gia đình chỉ tính các chi phí cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ... không tính đến các khoản chi phí khác của hộ gia đình như ốm đau bệnh tật nặng, hiếm nghèo, hay chi phí học tập của con cái, trong khi những khoản chi này mới chiếm phần lớn chi phí của người nghèo. Đây là một khó khăn khi đánh giá nghèo ở cơ sở hiện nay.

-  Các chương trình lớn thuộc chương trình giảm nghèo chủ yếu thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia. Hàng năm nguồn vốn chương trình này thường giao muộn. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến người dân thuộc đối tượng của chính sách (như Hợp phần hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc Chương trĩnh 135 chưa có sự quan tâm đúng mức đến tính thời vụ, đến giữa năm người dân có tiền hỗ trợ của Nhà nước mới thực hiện trồng cấy, chăn nuôi, bỏ lỡ một số nông vụ khác...).

-  Nhận thức về công tác giảm nghèo tại một số cơ sở vẫn còn hạn chế, thể hiện qua việc xây dựng các Kế hoạch giảm nghèo hàng năm chưa đầy đủ; kê khai thu nhập, tài sản thiêu chính xác. Mục tiêu giảm nghèo được đề ra. nhưng trong công tác tổ chức thực hiện chưa quyết liệt và hiệu quả, chưa kết họp được việc phát triển kinh tế của địa phương gắn với việc giảm tỷ lệ hộ nghèo. Tại một số cơ sở địa bàn trong tỉnh vẫn còn có tư tưởng trục lợi, trông chờ, ỷ lại, muốn được trợ cấp lâu dài và hưởng nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước về bảo hiếm y tế, tín dụng, hỗ trợ giáo dục, bảo trợ xã hội nên chưa tích cực chủ động trong thực hiện các chính sách giảm nghèo nhằm đạt hiệu quả cao.

-  Kỹ năng làm việc của cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã cũng còn hạn chế.

  1. Nguyên nhân:
  2. Bài học kinh nghiệm:

- Nguyên nhân khách quan:

+ Một số cơ chế chính sách chưa đồng bộ, chưa phù hợp. Các chính sách còn nặng tính trợ cấp từ nhà nước làm phát sinh tư tưởng ỷ lại của các câp và của bản thân người nghèo, xu hướng nhiều địa phương huyện, xã và người dân muốn vào danh sách đối tượng nghèo. Còn có một số chính sách mang tính ngắn hạn, chưa tập trung tạo sinh kế nhằm giúp người nghèo có việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống, khai thác được tiềm năng, thế mạnh; thiếu cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo, hộ mới thoát nghèo, nhất là hộ cận nghèo nhằm giúp họ thoát nghèo bền vững.

+ Việc huy động sự tham gia đóng góp của người dân cũng như các tổ chức chính quyền vùng hưởng lợi tại khu vực nông thôn hầu như không có do đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn. Công tác xã hội hóa một số lĩnh vực như y tế, giáo dục tại các địa bàn này tuy có được triển khai nhưng chưa hiệu quả do không thu hút được đẩu tư.

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Một số cơ sở chưa thực sự tập trung chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình; nguồn lực hỗ trợ cho chương trình còn hạn chế, nguồn lực huy động tại chỗ ít. Một số xã còn ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của cấp trên.

+ Tình trạng sai sót trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo còn xảy ra. Một số không đúng hộ nghèo, ghép khâu nghèo, hoặc đưa người tàn tật, người đơn thân nuôi con nhỏ không thuộc diện nghèo vào danh sách hộ nghèo để được hưởng các chính sách xã hội đối với người nghèo; một số xã, phường, thị trấn có hiện tượng tách các hộ có người già, người tàn tật đế nhằm hưởng trợ cấp xã hội, những ưu tiên dành cho người nghèo, hộ nghèo (y tế, giáo dục, vay vốn...) dẫn đến việc giảm nghèo chưa cao.

+ Hàng năm công tác sơ kết, đánh giá báo cáo chủ yếu dựa vào báo cáo của các huyện, thị xã, thành phố, các ngành liên quan gửi về; các báo cáo thường mang tính liệt kê số liệu, chưa có sự phân tích đánh giá đầy đủ dẫn đến chất lượng đánh giá chương trinh của tỉnh qua các năm còn hạn chế.

-  Phải thực hiện lồng ghép tốt các chương trình, dự án, trên địa bàn đế thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bằng một cơ chế chỉ đạo tập trung thống nhất từ tỉnh đến cơ sở. Trong quá trình thực hiện phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội, gắn kết chương trình, dự án khác với chương trình mục tiêu giảm nghèo.

-  Có được các cơ chế khuyến khích hộ nghèo tự lực vươn lên thoát nghèo, tiến tới khá giả; địa phương chủ động, sáng tạo trong thực hiện giảm nghèo bên vững, khuyến khích phát huy mạnh mẽ nội lực trong nhân dân, huy động sự đóng góp tích cực của toàn xã hội vào công cuộc giảm nghèo.

-  Đẩy mạnh công tác đào tạo tập huấn, hướng dẫn dạy nghề, phố biến cách làm ăn, tập trang các ngành nghề gắn vói thực tiễn sản xuất, nhu cầu học nghề của từng đối tượng và nhu cầu việc làm, tố chức sơ tống kết kịp thời nhân rộng mô hình, điến hình làm ăn hiệu quả.

5. Giải pháp, kiến nghị:

1.1. Nhóm giải pháp về the chế chính sách

-          Chính sách dành cho người nghèo luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, rõ nhât là thông qua đầu tư nguồn lực đế thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Để nâng cao hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo, các Bộ, ngành, địa phương cần từng bước đối mới cơ chế triển khai thực hiện. Trong đó, có sự thay đối về quan điếm, tư duy, chuyến từ cơ chế tập trung sang phân cấp cho địa phương với sự tham gia tích cực của người dân; chuyển từ hình thức cấp không sang hỗ trợ, cho vay; từ hồ trợ trực tiếp hộ nghèo chuyển sang hỗ trợ hộ nghèo, nhóm hộ nghèo và cộng đồng bằng các mô hình sản xuất... Nội dung các chương trình, chính sách chuyến dần theo hướng đa chiều, cùng với hỗ trợ trực tiếp người nghèo; đồng thời, có sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cho người dân.

Có sự phân định và tách biệt rõ ràng nhóm đối tượng cần sự trợ giúp về trợ cấp xã hội như người khuyết tật, người cao tuổi với người nghèo để tránh việc người dân có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

-          Việc tính thu nhập của hộ gia đình, trong đó yếu tố mức chi ra cũng nên nghiên cứu, tính toán thêm cả những yếu tố về giáo dục, y tế, mức sống ... để đánh giá nghèo phù họp với cuộc sông hiện tại hơn vì ngày nay cái nghèo không chỉ đơn thuần tính về lương thực. Một số đối tượng thu nhập vượt qua mức cận nghèo nhưng lại chưa giải quyết được việc con cái đi học, ốm đau khám chữa bệnh, tiếp cận thông tin, nước sạch sinh hoạt.... Vì vậy cần quan tâm cả đối tượng cận nghèo trong hoạch định chính sách nhằm giúp giảm nghèo bền vững.

  1. 2.Nhóm giải pháp về nguồn lực

-          Để đảm bảo đủ nguồn lực cho chương trình giảm nghèo cần phải áp dụng cơ chê huy động đa nguồn, bao gồm: Ngân sách Trang ương; ngân sách địa phương; huy động các doanh nghiệp trong địa bàn, huy động sự đóng góp của nhân dân; nguồn lực của chính người nghèo; huy động sự họp tác hỗ trợ của các Tổ chức Quốc tế. Các nguồn lực đầu tư nên tập trung, tránh dàn trải, nhỏ lẻ dẫn đến hiệu quả không cao.

-          Thực hiện lồng ghép tốt các chương trình, dự án, trên địa bàn đế thực hiện mục tiêu giảm nghèo bằng một cơ chế chỉ đạo tập trung thống nhất từ tỉnh đến cơ sở.

  1. Kiến nghị:

-  Các câp Bộ, ngành Trung ương cần nghiên cứu điều chỉnh chuẩn nghèo cho phù hợp vói tình hình phát triển kinh tế xã hội từng giai đoạn, thời kỳ.

-  Các chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo nên đồng nhất, tránh chồng chéo trong việc thực hiện. Có các chính sách mans tính hỗ trợ, khuyến khích đối với những hộ thoát nghèo, tránh tình trạng các hộ nghèo có tâm lý mong muốn được là hộ nghèo để được nhận những hỗ trợ mang tính cho không của Nhà nước. Các chính sách hỗ trợ găn với quản lý Nhà nước của các Bộ, ngành có thế thiết kế lồng ghép trong các hoạt động hàng năm như chính sách về BHYT, chính sách giáo dục. Các chương trình, dự án liên quan tới cơ sở hạ tầng có thế thống nhất trong Chương trình 135... Từ đó, giúp Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo gọn nhẹ hơn, tránh sự chồng chéo và nâng cao hiệu quả giảm nghèo.

-  Ban hành riêng các chính sách trợ giúp các đối tượng cần bảo trợ xã hội, tách hắn “điều kiện” phải thuộc diện hộ nghèo mới được hưởng trợ cấp nhằm tránh việc cấp cơ sở và người dân đưa những trường họp này vào “hộ nghèo” đế nhận sự trợ giúp của Nhà nước.

-  Tiếp tục thực hiện Chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo giai đoạn 2 theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở.

-  Hàng năm, Trung ương cần tăng cường bố trí kinh phí từ Ngân sách Trung ương nhằm giúp địa phương thực hiện đạt mục tiêu giảm nghèo theo kế hoạch đề ra. Đặc biệt, quan tâm bố trí thêm nguồn lực cho những tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỷ lệ hộ nghèo cao.

1. Cơ sở pháp lý

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về giảm nghèo, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo góp phn thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, B Văn hóa Thể thao và Du lịch đã triển khai xây dựng cơ chế, chính sách đưa văn hóa, thể thao và du lịch về cơ sở, ưu tiên hỗ trợ đng bào dân tộc thiểu số ở các địa bàn đặc biệt khó khăn có điều kiện tiếp cận với văn hóa, thể thao thông qua các đề án, chương trình mục tiêu quốc gia. Với nguồn vốn hỗ trợ đầu tư xây dựng và trang bị thiết bị cho các Trung tâm văn hóa thể thao, Nhà văn hóa thể thao cấp xã, phường, thôn, ấp; Xây dựng các điểm vui chơi cho trẻ em ở các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, min núi; Tập trung đầu tư xây dựng và bảo tồn các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống gắn với đời sống văn hóa cộng đồng thông qua những cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, chính phủ. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định, chỉ thị... Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để xây dựng kế hoạch, tiêu chí đầu tư, các định mức hỗ trợ, bố trí kinh phí cho từng mục tiêu, dự án một cách công khai, minh bạch; hướng dẫn và tăng cường phân cấp quản lý và lập dự toán kinh phí đối với các mục tiêu, dự án do địa phương tổ chức thực hiện cơ bản đáp ứng được mục tiêu đ ra.

Để thực hiện chính sách giảm nghèo theo chương trình mục tiêu quốc gia một cách toàn diện, Bộ Văn hóa thể thao và du lịch cũng đã kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn trong từng lĩnh vực, cụ thể:

-  Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21 tháng 1 năm 2011 Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và le hội;’

-  Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 8 tháng 3 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thế thao và Du lịch quy định về tổ chức, hoạt động của Nhà Văn hóa - Khu The thao thôn, làng, ấp bản, phun sóc, buôn, plây;

-  Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL ngàỵ 02/12/2011 của Bộ Văn hóa, Thê thao và Du lịch về việc Quy định chi tiết về tiêu chuấn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”.

Các văn bản của Bộ VHTTDL đã góp phần trực tiếp hướng dẫn cấp ủy, chính quyền địa phương và đông đảo tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của nhà nước về văn hóa- xã hội; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, chương trình xây dựng nông thôn mới, nhất là đối với các quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tô chức hoạt động của Trung tâm văn hóa, thê thao xã; nhà văn hóa khu dân cư; các kết quả trong cuộc vận động lớn phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã có tác động rất tích cực đến việc giúp nhau làm kinh tế, vươn lên làm giàu chính đáng, giảm cơ bản những hủ tục lạc hậu đế người dân có cuộc sống vật chất và tinh thần tốt hơn.

2. Thực trạng

2.1. Kết quả đạt được

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh đã tập trung chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được phân công nhằm thúc đấy các hoạt động văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch trên cả hai mặt quản lý nhà nước và phát triến sự nghiệp, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, lành mạnh đời sống văn hóa tinh thần trong xã hội và thúc đấy phát triển kinh tế đất nước.

Thực hiện tốt vai trò Thường trực Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Sở Văn hóa, Thế thao và Du lịch đã tham mưu giúp Ban Chỉ đạo từng bước hoàn thiện và ban hành các quy chế, chính sách triển khai thực hiện Chương trình. Đề xuất đưa các nội dung, tiêu chí của phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sổng văn hóa vào các nhiệm vụ chính trị, lồng ghép thực hiện các nhiệm vụ chính trị của các thành viên Ban Chỉ đạo thông qua phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa để huy động toàn xã hội tham gia thực hiện phong trào, hướng mục tiêu của phong trào vào phong trào thi đua yêu nước chung "tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" góp phần đấy lùi các tệ nạn xã hội, thực hiện tôt công tác xóa đói giảm nghèo.

Qua việc triển khai thực hiện các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở các cấp, là nơi thực hiện phúc lợi xã hội của nhân dân, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân. Thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã bảo tồn được các di sản văn hóa đặc trưng của dân tộc đã góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị tinh hoa văn hóa của cộng đồng dân cư, hình thành nên những sản phẩm văn hóa, du lịch đặc thù hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, góp phần quan trọng thúc đẩy phát trien du lịch và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, tạo việc làm ổn định, cuộc sống của người dân được cải thiện, góp phần thực hiện chính sách về xóa đói giảm nghèo.

Trong những năm qua, Sở Văn hóa, Thế thao và Du lịch đã và đang triến khai thực hiện đấy mạnh công tác tuyên truyền, phố biến chính sách pháp luật về giảm nghèo, cụ thế:

Tổ chức thực hiện các hoạt động tuyên truyền cổ động với nhiều hình thức phong phú: tuyên truyền cổ động trực quan, tuyên truyền trên báo, đài địa phưong và Trung ương; trên các tạp chí của ngành, tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa nghệ thuật, biêu diền nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là qua hoạt động ở nhà văn hóa khu dân cư...mở rộng các đợt vận động lớn tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước của tỉnh, góp phần đáng kế vào việc cổ vũ, động viên nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước một cách sâu rộng ở cơ sở; khơi dậy sức sáng tạo chủ động của nhân dân qua các hình thức sinh hoạt cộng đồng, giữ gìn truyền thống văn hóa trong gia đình, làng, thôn, bản, ấp tạo điều kiện cho quần chúng tiếp nhận thông tin về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đó nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tạo được môi trường văn hóa lành mạnh, giúp sự chênh lệch mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở các vùng, miền, vùng dân tộc thiếu số góp phần ngăn chặn và đây lùi các hủ tục lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no.

Từng bước xây dựng, đầu tư trang thiết bị hoạt động phục vụ thông tin tuyên truyền cho hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, cung cấp các ấn phẩm văn hóa thông tin, tăng cường hoạt động văn hóa nhằm nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, đặc biệt nâng cao đời sống tinh thân, tạo động lực phát triển sản xuất phát triến kinh tế gia đình góp phân xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiếu số, vùng sâu, vùng xa.

Tiếp tục triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; vận động nhân dân tham gia xây dựng nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Kết quả nối bật của các phong trào nói trên đã phát huy tinh thần tương thân tương ái, giúp nhau xóa đói giảm nghèo; nâng cao ý thức tự quản cộng đồng: huy động nguồn lực to lớn trong nhân dân xây dựng cơ sở vật chât hạ tầng tạo sự chuyển biến tiến bộ thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội; duy trì và phát triên phong trào văn hóa, văn nghệ; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, gìn giữ thuần phong mỹ tục, ngăn chặn và đấy lùi các tệ nạn xã hội. Lễ đón Bằng công nhận Làng văn hóa, khu phố văn hóa đã trở thành ngày hội văn hóa, là niềm tự hào và khơi dậy ý thức trách nhiệm xây dựng cộng đồng của nhân dân.

Trong chương trình giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2012 công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá được tăng cường, chất lượng các hoạt động văn hoá thông tin từ tỉnh đến cơ sở được nâng lên rõ rệt; cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, khu dân cư văn hoá, xã phường, thị trấn văn hoá đã có bước chuyển biến mới về chất, thu hút sự quan tâm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và sự đồng thuận trong nhân dân; các di tích lịch sử văn hoá, cách mạng được tu bổ tôn tạo; lễ hội truyền thống và các loại hình văn hóa dân gian được quan tâm bảo tồn và phát huy; phong trào văn nghệ quần chúng, phong trào đọc sách báo được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ; đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân được nâng lên một bước.

Bên cạnh đó, các tỉnh cũng đã chú trọng tới các chiến lược, quy hoạch phát triển văn hóa, thể thao, du lịch tại địa phương trong đó lồng ghép xây dựng chính sách hồ trợ phát triến kinh tế địa phương. Ưu tiên lập quy hoạch các khu du lịch quốc gia, điếm du lịch; các khu tuyến, điểm du lịch thuộc các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa nhung có tiềm phát triên du lịch găn với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc; Thực hiện chính sách phát triển bền vững, có chính sách ưu đãi đối với phát triển du lịch sinh thái, du lịch “xanh”, du lịch cộng đồng góp phần tạo chuyến dịch cơ cấu kinh tế xóa đói giảm nghèo, gìn giữ cảnh quan và bảo vệ môi trường.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triến văn hóa nông thôn trên cơ sở kế thừa những kết quả, thành tựu đã đạt được sau 10 năm (2000-2010) thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, lồng ghép Chương trình xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, giúp nhau làm giàu chính đáng ở nông thôn. Các thành viên Ban Chỉ đạo tỉnh, các địa phương phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” các cấp kiếm tra, đôn đốc tại các xã điểm xây dựng nông thôn mới (XDNTM), hàng năm Ban Chỉ đạo có đánh giá tiến độ và kết quả triến khai, phát hiện để chỉ đạo, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các xã chỉ đạo điểm XDNTM, xây dựng Trung tâm văn hóa-thể thao xã, xây dựng Nhà văn hóa-khu thế thao thôn đạt chuẩn theo quy định cua Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thực hiện Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL ngày 02 tháng 11 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt chuấn văn hóa nông thôn mới” trong đó thực hiện đầy đủ 5 tiêu chí: giúp nhau phát triến kinh tế; nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa, thôn, làng, bản văn hóa và tương đương; xây dựng thiết chế và phong trào vãn hóa, thê thao cơ sở; xây dụng nêp sông văn minh, môi trường vãn hóa nông thôn; chảp hành chủ trương, đường lôi của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương đã góp phần rất lớn trong việc xây dụng các thiết chế văn hóa, thông tin, thể thao; nâng cao mức hưởng thụ cả vật chất lẫn tinh thần của nhân dân; giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từng bước xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay.

Phong trào xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn hóa góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần cho người dân ở nông thôn. Đại đa sổ các làng văn hóa, khu dân cư văn hóa đêu thực hiện đầy đủ 5 tiêu chuẩn với 21 tiêu chí công nhận danh hiệu “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”. Có nhiều giải pháp duy trì và giừ vững danh hiệu làng văn hóa trong nhiều năm liền, thực hiện tốt quy ước làng (thôn, bản), phổ biến nhân rộng mô hình làng văn hóa chuyến đối cơ câu kinh tê, phát triên ngành nghề phụ, huy động được nội lực của người dân nông thôn vào việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tể - xã hội nông thôn mới; xây dựng cộng đồng nông thôn ôn định về chính trị, dân chủ, hòa thuận, nhân ái giàu bản sắc dân tộc, tạo dụng môi trường sống xanh - sạch - đẹp - an toàn”.

Bên cạnh đó, các địa phương có thế mạnh về địa lý cũng đã xác định Du lịch luôn tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương nhằm góp phần xóa đói, giảm nghèo hiệu quả. Các tỉnh đã cố gắng phát triến du lịch với phát triển kinh tế xã hội, giữ gìn, bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá tại địa phương; môi trường sinh thái tự nhiên, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đã tạo bước phát triển bền vững có tốc độ tăng trưởng khá và đạt trình độ khá so với các tỉnh khác trong nước góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sông vật chât cho cộng đồng dân cư và công tác xoá đói giảm nghèo. Chiến lược phát triển du lịch của một số địa phương có thế mạnh cũng góp phần thu hút lực lượng lao động trực tiếp sẽ kéo theo lượng lớn lao động gián tiếp ngoài xã hội nhờ sự xuất hiện những ngành nghề phục vụ du lịch như đưa đón khách, sản xuất hàng thủ công, dịch vụ ăn uống.v.v... làm tăng thu nhập cho người dân, có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo.

2.2. Tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân

Phần lớn những khu vực dân cư có điều kiện kinh tế thấp thuộc nhũng khu vực đồng bào dân tộc thiếu số, miền núi, khu vực có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình hiếm trở, dân sng phân tán, cơ sở hạ tầng lạc hậu, kinh tế chậm phát triển; đời sống vật chất và tinh thần còn thấp kém, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng sự yếu kém, khó khăn trong đòi sống của đồng bào các dân tộc đê nhăm xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, chống phá cách mạng, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc, làm mất ổn định về chính trị, an ninh, quốc phòng.

Công tác tuyên truyền, duy trì hoạt động văn hóa thông tin cơ sở ở miền núi, vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn do thiếu cán bộ chuyên trách, thiếu kinh phí đầu tư trang thiết bị và duy trì hoạt động thường xuyên của các Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa. Việc huy động nguồn lực từ các nguồn ngoài ngân sách còn hạn chế.

Xây dựng, phát triển các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch; đặc biệt ở cơ sở mặc dù đã được quan tâm, nhưng so với nhu cầu của nhân dân còn hạn chế. Công tác bảo tồn, giữ gìn các nét đẹp truyền thống văn hóa nông thôn, việc xử lý rác thải, nước thải còn chưa được quan tâm đúng mức.

3. Giải pháp, kiến nghị

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên ngành du lịch cần phải áp dụng một số giải pháp và kiến nghị cụ thể như sau:

-  Ưu tiên mở rộng các ngành sản xuất kinh doanh thương mại và dịch vụ, khuyến khích thương nhân phát triên kinh doanh tại chợ trung tâm huyện, hình thành mạng lưới chợ nông thôn, các điểm thu mua, trao đổi hàng hóa ở các khu vực vùng sâu, vùng xa. Phát triển du lịch cộng đồng gắn với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế giúp xóa đói giảm nghèo. Hoàn thành xây dựng công trình, tìm nguồn kinh phí dự án trưng bày, vận hành và duy trì hoạt động nhà văn hóa truyền thống, Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa... nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, đồng thời góp phần giảm nghèo về đời sống tinh thần của bà con cộng đồng các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người.

-  Tăng cường đầu tư kinh phí xây dựng và duy trì hoạt động, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt chú ý các xã, thôn, bản có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đào tạo đội ngũ cán bộ, có trình độ tiếp nhận, khai thác có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở.

-  Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ xã thôn, bản. Có chính sách và chế độ đãi ngộ đế thu hút lực lượng cán bộ trẻ, sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đấng về công tác ở vùng đặc biệt khó khăn.

-  Khai thác sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa, thiết chế văn hóa có hiệu quả phục vụ xã hội trên mọi lĩnh vực: khoa học, giáo dục, văn hóa, kinh tế, chính trị và du lịch, gắn với việc xóa đói giảm nghèo, pháltriên bền vũng.

-  Tiếp tục đẩy mạnh Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sổng văn hóa” tập trung củng cố chất lượng và hiệu quả gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu phố văn hóa, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị văn hóa.

Theo con số thống kê sau giám sát chuyên đề của UBTVQH, Quỹ BHYT lũy kế đến năm 2012 kết dư 12.892 tỷ đồng.Đối với phần kết dư quỹ BHYT, do Luật và văn bản hướng dẫn chưa quy định cụ thể nên quá trình thực hiện còn vướng mắc. Đến nay, số kết dư quỹ BHYT gần 13.000 tỷ đồng chưa được phân bổ cho các tỉnh có quỹ kết dư, gây thắc mắc với các địa phương có kết dư quỹ KCB BHYT. Vấn đề chính sách này thu hút mối quan tâm lớn của công luận, các ĐBQH. Cần quy định thống nhất về quản lý quỹ kết dư sao cho phù hợp, công bằng, hiệu quả.

Từ những con số thống kê thu thập được qua quá trình giám sát việc thực hiện BHYT từ năm 2009 – 2012, có thể nhận thấy phần lớn kết dư chủ yếu là ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Do dân cư phân tán, đi lại khó khăn, điều kiện kinh tế không đảm bảo nên người dân không thể tiếp cận được các dịch vụ y tế, không thu hút bác sĩ về trạm y tế cơ sở, dẫn đến kỹ thuật y tế hiện đại ít được triển khai. Như vậy, kết dư quỹ bảo hiểm y tế thường ở các tỉnh nghèo đem bù cho những tỉnh giàu tạo sự không công bằng trong thụ hưởng chính sách bảo hiểm y tế của người dân ở các địa phương. Do đó, nhiều ĐBQH đề nghị sử dụng quỹ kết dư để đầu tư phát triển cơ sở y tế trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh. Các tỉnh có quỹ kết dư bảo hiểm y tế được sử dụng một phần để phát triển bảo hiểm y tế và phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh tại địa phương. Điều này nhắm gắn trách nhiệm cho địa phương trong việc tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế, khuyến khích địa phương quản lý và sử dụng quỹ minh bạch và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, có những ý kiến cho rằng, quỹ bảo hiểm y tế cần được nhìn nhận tổng quan trên bình diện toàn quốc mà không chỉ giới hạn ở các địa phương. Trường hợp quỹ có kết dư lớn thì nên lựa chọn giải pháp là mở rộng quyền lợi hoặc giảm mức đóng góp cho người tham gia bảo hiểm y tế, tích lũy đầu tư tăng trưởng, dự phòng chi tiêu cho các năm sau và điều tiết trong phạm vi toàn quốc không nên chuyển chi vào mục đích khác.

Để dung hòa giải pháp, cần cân nhắc cả hai mặt: một mặt, tính chất cơ bản của bảo hiểm y tế là chia sẻ rủi ro cộng đồng nên quỹ cần được quản lý tập trung, thống nhất và có sự phân cấp trong hệ thống bảo hiểm y tế. Vì vậy, nhiều ĐBQH đề nghị quy định thẳng trong luật về tỷ lệ trích nộp về quỹ dự phòng ở trung ương để điều tiết chung cả nước chứ không giới hạn ở một địa phương. Mặt khác, đối với các địa phương có điều kiện khó khăn mà quỹ kết dư lại nhiều, nên quy định rõ tỷ lệ phần trăm trong tổng số kết dư của các địa phương đó được đầu tư cho các nội dung nâng cấp cơ sở vật chất, nâng cấp trang thiết bị cho các cơ sở khám, chữa bệnh như tuyến huyện, tuyến xã để các, cơ sở này ở các vùng khó khăn có điều kiện nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và thu hút được người dân tham gia ở các vùng khó khăn đến với khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Trong số đó, cần quy định cụ thể tỷ lệ chi cho phát triển bảo hiểm y tế là bao nhiêu %, chi cho đầu tư phát triển về con người, đầu tư trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất là bao nhiêu.

Ý kiến khác đề nghị, cần tổ chức hội đồng quản lý quỹ tại tỉnh để tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý quỹ bảo hiểm y tế bảo đảm quyền lợi của người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế cũng như quyền lợi của cơ sở y tế. Các cơ sở y tế cần sử dụng quỹ bảo hiểm y tế hiệu quả an toàn, tránh tình trạng khi quỹ ở trung ương bội chi thì quỹ ở tỉnh dù có kết dư cũng không được sử dụng.

Việc thực hiện phân cấp quản lý quỹ sẽ tạo ra cơ chế để tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc điều hành quản lý quỹ tại địa phương, góp phần hạn chế tình trạng thất thu và lạm dụng quỹ, khắc phục được vấn đề tâm lý ỷ lại, đồng thời khắc phục được tình trạng bất hợp lý trong đóng hưởng giữa các địa phương khi cho phép để lại một phần kết dư quỹ hàng năm, tăng cường năng lực khám, chữa bệnh ở các địa phương.

Một trong những nội dung mới trong Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế hiện nay là bảo hiểm y tế bắt buộc. Bên cạnh những ý kiến đồng ý với quy định này, vẫn còn không ít ý kiến đặt vấn đề về sự cần thiết, tính khả thi của nó. Là những người bấm nút về dự luật này, các ĐBQH cần phải tìm kiếm thêm thông tin, phân tích thiệt hơn các phương án được đưa ra để làm rõ hơn về khái niệm mới này.

Trước hết, ĐBQH cần giải đáp câu hỏi, trong tình hình hiện nay, thực sự có cần thiết quy định bảo hiểm y tế là hình thức bắt buộc hay không. Lập luận được đưa ra để ủng hộ BHYT bắt buộc vì đây là trách nhiệm xã hội để thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, nâng cao được giá trị xã hội, huy động được sức mạnh của cộng đồng, đoàn kết, tương trợ chia sẻ rủi ro giữa các thành viên trong xã hội. Đồng thời tạo lập ý thức trách nhiệm chăm lo bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Mặt khác, có ĐBQH cho rằng, BHYT bắt buộc chưa khả thi trong tình hình hiện nay. Đại biểu dựa trên thông tin trong Báo cáo giám sát của UBTVQH để đưa ra nhận định này, theo đó, đến hết năm 2012 cả nước mới có 66,8% dân số tham gia bảo hiểm y tế, trong đó chủ yếu là đối tượng người có công, hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi do ngân sách hỗ trợ. Có 18 tỉnh đạt dưới 60%, 4 tỉnh đạt dưới 50%, lao động trong doanh nghiệp đạt 54,7%, hộ nghèo đạt 25%, nhóm tự nguyện mới chỉ đạt 28%.

Tuy nhiên, một ĐBQH khác cũng sử dụng con số 66,8% dân số tham gia bảo hiểm y tế, nhưng để ủng hộ quy định BHYT bắt buộc. Theo đại biểu này, vẫn còn khoảng 33% dân số chưa tham gia bảo hiểm y tế, tính tuân thủ pháp luật về bảo hiểm y tế chưa cao. Vì vậy, đại biểu tán thành với việc sửa đổi các đối tượng “có trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế” thành “bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc”. Như vậy, cùng một con số, nhưng các ĐBQH có thể sử dụng, phân tích thông tin để lập luận cho những quan điểm khác nhau.

Một số vấn đề về chính sách cũng sẽ phát sinh nếu quy định BHYT là bắt buộc, cần thu thập, phân tích thêm thông tin như: những người dân có mức thu nhập trung bình có bỏ ra một khoản tiền để mua bảo hiểm y tế, trong khi họ đang có một sức khỏe rất tốt và họ chưa thật sự cần đến việc sử dụng các dịch vụ y tế? Liệu BHYT bắt buộc sẽ bị ảnh hưởng như thế nào, nếu như hiện nay nhiều nhiều người mua bảo hiểm y tế phải thường xuyên khám vượt tuyến gây nên tình trạng quá tải ở các tuyến trên như hiện nay? Hơn nữa, điều kiện kinh tế và thu nhập của người dân, nhất là người dân ở vùng nông thôn còn thấp, nếu quy định bắt buộc sẽ có một số bộ phận dân cư không có điều kiện tham gia, vậy xử lý nhóm này như thế nào, nếu không xử lý thì luật không nghiêm, xử lý thì sẽ xử lý như thế nào? Để trả lời các câu hỏi trên, ĐBQH cần có cả những thông tin định lượng, ví dụ các con số thống kê, các khảo sát xã hội học; cả những thông tin định tính, ví dụ ý kiến của các nhà quản lý, chuyên gia, tổ chức xã hội, nhất là từ người dân thu thập được qua các hội nghị, hội thảo, tiếp xúc cử tri, các cuộc tham vấn…

Hoặc ĐBQH có thể sử dụng thông tin về kinh nghiệm nước ngoài, ví dụ một ĐBQH cho biết, các nước đã thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân thì đều quy định bảo hiểm y tế là bắt buộc đối với mọi công dân và ngân sách nhà nước đóng bảo hiểm y tế cho trên 50% dân số, như Cộng hòa Séc, Thái Lan. Từ đó, đại biểu này đề nghị, đối với các nhóm đối tượng khó khăn, ngân sách nhà nước cần hỗ trợ đóng BHYT mới đảm bảo được tính khả thi của bảo hiểm y tế bắt buộc.

Việc làm rõ quy định về BHYT bắt buộc còn liên quan trực tiếp tới các nội dung khác trong chương trình nghị sự của Quốc hội, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Chẳng hạn một ĐBQH đặt câu hỏi: Quốc hội đặt ra chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế đến năm 2015 là 75% và đến năm 2020 là 80%. Vậy, nếu sửa đổi quy định từ “trách nhiệm” thành “bắt buộc” tham gia bảo hiểm y tế thì chỉ tiêu nêu trên có thay đổi hay không? Đồng thời cũng cần làm rõ việc quy định BHYT bắt buộc có kéo theo thay đổi về lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân hay không? Có hủy bỏ quy định về bảo hiểm y tế tự nguyện hay không?

Qua các thông tin có được, từ quá trình phân tích, có thể nhận thấy, nếu chỉ đơn thuần quy định cụm từ "bắt buộc" trong luật và trong tổ chức thực hiện thì vẫn lấy vận động, thuyết phục là chính thì việc thay thế quy định trách nhiệm tham gia bảo hiểm y tế thành quy định bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế là chưa cần thiết. Để tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân trong tương lai, bảo hiểm y tế bắt buộc là phù hợp. Nhưng hiện tại để người dân tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế chứ không ép buộc người dân mua bảo hiểm y tế. Vấn đề là làm sao để không còn phân biệt khám, chữa bệnh giữa có bảo hiểm y tế và không có bảo hiểm y tế. Từng bước để cải thiện người có bảo hiểm y tế được ưu tiên khám trước, được sử dụng các dịch vụ kỹ thuật y tế hiện đại, được sử dụng thuốc phù hợp để rút ngắn thời gian điều trị, nếu như hoán đổi lại khám bảo hiểm y tế như khám dịch vụ hiện nay thì toàn dân sẽ tham gia bảo hiểm y tế. Trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giảm các thủ tục hành chính khi đó người dân sẽ tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế.

 

Với tư cách là những người đại diện cho lợi ích của nhân dân, ĐBQH có vai trò và trách nhiệm rất lớn trong việc ban hành các chính sách và giám sát việc thực hiện chính sách đáp ứng quyền lợi của người dân. Bảo hiểm y tế là một trong những lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hầu như tất cả người dân. Chính vì vậy, trong lĩnh vực BHYT, vấn đề quyền lợi của người dân càng cần được chú trọng trong hoạt động của ĐBQH, đòi hỏi đại biểu phát sát với những khó khăn của người dân đang gặp phải.

Chẳng hạn, việc cấp lại hoặc đổi lại thẻ bảo hiểm y tế, như một ĐBQH nêu vấn đề, trong trường hợp mà lỗi do cơ quan bảo hiểm thì người được cấp lại thẻ hay đổi lại thẻ không phải nộp phí. Hoặc có đại biểu phát hiện sẽ có thời gian gián đoạn về quyền lợi bảo hiểm y tế của trẻ em khi thẻ bảo hiểm y tế đã đủ thời hạn 72 tháng nhưng chưa đến tháng 9 để đi học lớp 1. Vì vậy, nhằm bảo đảm liên tục quyền lợi của trẻ em khi khám và chữa bệnh, đại biểu đã đề nghị bổ sung thêm nội dung khi hết thời gian sử dụng thẻ 72 tháng trẻ em tiếp tục được khám, chữa bệnh đến tháng 9 của năm trẻ bắt đầu đi học lớp 1 khi có bảo hiểm y tế học đường.

Trong việc cấp phát thẻ BHYT, hiện nay bảo hiểm y tế phân ra quá nhiều nhóm đối tượng, có đến hơn 25 đối tượng dẫn đến khó khăn trong việc triển khai thực hiện, vì nhiều đầu mối nên quản lý chồng chéo, nhiều đối tượng nằm trong diện nhà nước hỗ trợ bảo hiểm y tế, nhưng không biết đầu mối quản lý ở đâu, không ai lập danh sách nên họ bị bỏ sót, ngược lại có trường hợp một người nhưng lại nằm trong nhiều đối tượng khác nhau, mỗi đối tượng lại có một đầu mối quản lý lập danh sách, nên khi cấp phát thẻ thì có người có đến 3, 4, 5 thẻ bảo hiểm. Đối tượng này thường được nhà nước hỗ trợ bảo hiểm nên gây thất thoát nguồn công quỹ khá lớn, thẻ bảo hiểm hiện nay làm bằng giấy chưa tốt, dễ bị nhàu, nát, trên thẻ có chỗ dán hình, nhưng người mua bảo hiểm không được dán hình, nên khi khám, chữa bệnh phải có vừa thẻ bảo hiểm, vừa phải có chứng minh nhân dân.

Bàn về việc phân tuyến, chuyển tuyến, qua tiếp xúc cử tri, các ĐBQH nhận thấy bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính nan y như suy thận, tiểu đường, ung thư, tim mạch v.v... đã được cơ sở khám, chữa bệnh tuyến dưới chuyển lên tuyến trên, tại đây sau khi điều trị các bệnh tạm ổn cho xuất viện nhưng đòi hỏi phải tái khám định kỳ và nhận thuốc đặc hiệu mà tuyến dưới không có. Nhưng mỗi lần đi khám, người bệnh buộc phải có giấy chuyển viện gây khó khăn cho người bệnh, nhất là người bệnh ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn cho người bệnh đi lại rất vất vả, thậm chí phải đi mất vài ngày mới hoàn tất được thủ tục chuyển viện. Từ thông tin thu nhận được qua tiếp xúc cử tri, ĐBQH đề nghị đối với các bệnh nan y mãn tính như nêu trên phải điều trị nhiều đợt tại các cơ sở y tế tuyến trên thì người bệnh chỉ cần làm thủ tục chuyển bảo hiểm y tế đúng tuyến. Những lần tái khám sau đó không phải làm thủ tục chuyển tuyến để tránh gây phiền hà cũng như kinh phí cho người bệnh.

Việc đóng BHYT theo hình thức hộ gia đình để quản lý có thể tránh trùng lặp đối tượng, tăng sự chia sẻ giữa các thành viên trong gia đình đối với những đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mới đóng bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, quy định này không phù hợp đối với một số hộ gia đình còn khó khăn nhưng chưa được hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế từ phía nhà nước, nhất là đối với những người dân ở nông thôn không có việc làm. Hơn nữa, thực tế hiện nay người nông dân di cư sang các địa phương khác làm ăn khá phổ biến. Vì vậy, nếu đóng bảo hiểm y tế theo chế độ gia đình thì khi đối tượng thực hiện khám, chữa bệnh theo phân tuyến sẽ rất khó khăn cho người dân.

Những bệnh nặng, những bệnh mãn tính, nhiều bệnh khi điều trị phải tốn đến vài trăm triệu đồng thì việc đồng chi trả 5% và 20% là số tiền lớn đối với người dân, gây khó khăn cho các hộ gia đình, cũng là nguyên nhân làm giảm đi tính hấp dẫn của bảo hiểm y tế đối với người dân trong thời gian vừa qua. Vì vậy, việc quy định mức đồng chi trả 5% cho một số nhóm đối tượng và 20% chi phí khám, chữa bệnh cho các đối tượng còn nặng nề, gây khó khăn cho các đối tượng khi đi khám và điều trị bệnh. Xuất phát từ ý kiến của nhiều cử tri, ĐBQH đề nghị bãi bỏ việc đồng chi trả 5% cho thêm 3 đối tượng đó là người hưởng lương hưu, người trợ cấp mất sức hàng tháng, những người là thân nhân của người có công với cách mạng, người thuộc diện hộ cận nghèo, vì hiện nay các đối tượng này rất khó khăn về kinh tế, khi bệnh nặng phải đồng chi trả một khoản tiền lớn đã khó khăn lại rơi vào tình trạng khó khăn hơn. Riêng các đối tượng khác, cần hạ mức đồng chi trả xuống 10% để giảm bớt gánh nặng cho các hộ gia đình mà không ảnh hưởng gì đến độ an toàn và tính bền vững của bảo hiểm y tế vì kết dư bảo hiểm y tế hiện đã khá lớn và bền vững.

Từ vị trí đại diện cho các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, các ĐBQH cũng chú ý không bỏ sót những nhóm cần đưởng hưởng các quyền lợi của BHYT. Ví dụ, có ĐBQH phát biểu, qua báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, qua các cuộc tiếp xúc cử tri tại địa phương, có thể thấy cử tri liên tục kiến nghị Quốc hội phải xem xét, bổ sung đối tượng là đồng bào dân tộc Kinh sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế như đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở cùng trên một địa bàn. Hoặc “xét nghiệm chẩn đoán thai nhi không nhằm mục đích điều trị” cũng được bảo hiểm y tế chi trả vì rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe, tính mạng bà mẹ trẻ em và chất lượng dân số. Hoặc số tiền chi cho bảo hiểm y tế dành cho trẻ em dưới 6 tuổi gấp nhiều lần số thực thanh thực chi như trước đây, nhưng trẻ em dưới 6 tuổi không được hưởng đầy đủ quyền lợi như khi thực thanh thực chi vì quy định mức trần, trẻ em mổ tim bẩm sinh vẫn không được sự hỗ trợ như khi thực thanh thực chi. Vì vậy, cần bỏ quy định mức trần đối với trẻ em dưới 6 tuổi và quy định cho trẻ em dưới 6 tuổi được khám, chữa bệnh một cách đầy đủ nhất.

Qua các ví dụ trên đây, có thể thấy sự gắn kết trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác nhau của ĐBQH. Cụ thể trong trường hợp này là sử dụng thông tin thu nhận được từ cử tri, từ báo cáo giám sát về BBHYT để có đề xuất kiến nghị trong xem xét, thảo luận về dự án luật BHYT sửa đổi. Qua đó, các ĐBQH đã chú trọng bảo vệ quyền lợi của các nhóm dân cư trong việc thực hiện BHYT, nhất là các nhóm dễ bị tổn thương như người nghèo, đồng bào người dân tộc thiểu số, trẻ em, phụ nữ mang thai…

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành