Trần Tố Oanh

Trần Tố Oanh

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương nhằm phát triển toàn diện nguồn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng cao. Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ “Phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”.

Việt Nam có rất nhiều lợi thế về nguồn nhân lực, lực lượng lao động trẻ, dồi dào chiếm tới 58,5% dân số cả nước. Nhưng tỷ lệ được đào tạo bài bản chỉ đạt 15,4% trong tổng số 51,4 triệu lao động, ở nông thôn lực lượng lao động chiếm hơn 70% cả nước nhưng số lao động được đào tạo bài bản cũng chỉ chiếm có 9%. Vì vậy thực trạng nguồn lao động dồi dào ở nước ta chưa hẳn là dấu hiệu tích cực, thậm chí còn có nhiều tác động tiêu cức đến nền kinh tế.

Theo số liệu của tổng cục thống kê đến năm 2010 cả nước có trên 15 nghìn tiến sĩ, số sinh viên đại học, cao đẳng đạt 2 triệu người nhưng việc đánh giá chất lượng và năng lực thực tế của đội ngũ tri thức nước ta không thể dựa vào số liệu trên. Có tới 63% sinh viên ra trường mơ hồ trong định hướng nghề nghiệp, mặc dù kiến thức chuyên môn trong trường được trang bị khá kỹ nhưng kiến thức và kỹ năng làm việc thực tế lại quá yếu, các trường đào tạo thường chú trọng vào sách vở giáo điều mà không dựa vào nhu cầu thực tế của thị trường. Điều này lý giải vì sao nguồn nhân lực Việt Nam sau khi ra trường được nhận vào các doanh nghiệp đều phải mất một khoảng thời gian dài để tập huấn, đào tạo lại kỹ năng làm việc cũng như thích ứng với công việc.

Thị trường lao động phổ thông ở Việt Nam cũng chú trọng nhiều đến số lượng mà chưa có sự quan tâm đúng mức về chất lượng lao động. Người lao động đa số chỉ làm được những công việc đơn giản, tất cả những kiến thức về máy móc kỹ thuật hiện đại đều chưa được phổ cập đến nơi đến chốn. Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài chỉ thuê lao động Việt Nam làm những công việc chân tay bình thường, còn những công việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao đều phải đưa nguồn lao động lành nghề từ nước ngoài về làm. Điều này là một thiệt thòi lớn cho thị trường lao động Việt Nam nhưng khó có thể cải thiện ngay khi tình trạng thừa lao động giản đơn, thiếu lao động kỹ thuật vẫn còn tồn tại.

Ngoài ra còn một số vấn đề nhức nhối tạo ra những tiêu cực và bức xúc cho thị trường nhân lực Việt Nam:

+ Tại các cơ quan công quyền, cơ quan hành chính mức lương trung bình cho một cán bộ rơi vào khoảng 4-5 triệu/1 tháng, điều này dẫn đến cuộc sống của gia đình người lao động không được đảm bảo từ đó gây ra hiện tượng tâm lý làm việc quan liêu, thiếu tâm huyết, tham nhũng, sách nhiễu dân để tìm kiếm những nguồn thu khác ngoài lương.

+ Thực trạng chạy ghế công chức thông qua đút lót, hối lộ diễn ra khá phổ biến tại các cơ quan nhà nước. Như vậy những vị trí quan trọng trong bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, những vị phải có đủ tư cách đạo đức kèm theo năng lực chuyên môn vững vàng mới có thể đảm nhận được thì nay chỉ cần có tiền là được trao công vụ. Hệ luỵ gây ra là những người có năng lực tốt, đạo đức tốt nhưng không đủ điều kiện chạy chọt chỉ tham gia tuyển dụng theo những cách thông thường thì cũng khó mà được trúng tuyển, gây ra lãng phí nhân tài cho quốc gia.

+ Hệ thống giáo dục Việt Nam còn đầu tư dàn trải, chưa đi vào chiều sâu. Việc đầu tư giáo dục như mở trường đại học, trung tâm giáo dục nghề… chủ yếu tập trung vào số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng. Nên học tập kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển, chỉ nên đầu tư phát triển một số trung tâm giáo dục lớn từ đó thu hút được đội ngũ giảng viên giỏi, nâng cao chất lượng đào tạo.

+ Tư duy về kinh tế còn bảo thủ, lạc hậu, thiếu tinh thần đổi mới. Trên thế giới chưa có một nền kinh tế phát triển nào lại công nhận vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước thế mà ở nước ta tuy duy này vẫn còn tồn tại, lại thêm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một khái niệm còn khá mông lung chưa có cơ sở thực tiễn

Quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Việt Nam cần bám sát nhu cầu thị trường, loại bỏ các mô hình đào tạo dàn trải mà không đem lại kết quả thực tế, chỉ tập trung vào những kiến thức cần thiết, thiết thực để đáp ứng yêu cầu công việc. Đối với các chức danh quan trọng trong hệ thống lãnh đạo cần tạo ra tính cạnh tranh để tìm được người thật sự tài giỏi, có năng lực, ngoài ra tạo điều kiện để nhân dân tham gia tự lựa chọn những chức danh quan trọng này.

Xây dựng hệ thống chính sách thu hút nhân tài, kể cả nhân tài của Việt Nam ở nước ngoài lẫn nhân tài người nước ngoài về Việt Nam làm việc và cống hiến. Người lãnh đạo quốc gia cần có tầm nhìn chiến lược để có thể ban hành những chính sách hợp lý giúp nền kinh tế nước nhà đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới. Phổ cập ngoại ngữ từ hệ thống lãnh đạo cho đến người lao động tạo công cụ hỗ trợ hội nhập.

Chính sách phân bố nhân tài cũng rất quan trọng. Trong cả một quốc gia, nhân tài chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp từ 2-3% nhưng lại tập trung hết tại một khu vực, chủ yếu là những đô thị lớn vì điều kiện và môi trường làm việc thuận lợi. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý thị trường lao động ở các vùng nông thôn, nơi có số lao động chiếm tới 70% cả nước. Vì vậy cần hoàn thiện sớm các chính sách thu hút nhân tài về các địa phương làm việc giúp thúc đẩy kinh tế nông thôn. Ngoài ra trong thời buổi hội nhập, cả vấn đề trọng dụng nhân tài cũng được quốc tế hoá vì vậy cần có những chế độ đãi ngộ hợp lý, giao phó nhiệm vụ quan trọng tương xứng với tài năng, tạo điều kiện và môi trường làm việc hấp dẫn giúp thu hút nhân tài cống hiến cho nước nhà.

Tại các cơ quan công quyền, các trụ sở hành chính cần thay đổi chính sách lương bổng, giải quyết tình trạng bất hợp lý là lương không đủ sống nhưng vẫn đủ điều kiện xây nhà đẹp, mua xe sang. Nếu cần thiết có thể giảm biên chế làm gọn nhẹ bộ máy công quyền, tạo điều kiện cho nhân tài được vào làm tại những cơ quan này giúp mang lại lợi ích cho nhân dân và đất nước.

Cải tiến hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế:

+ Chương trình đào tạo, giáo trình, kiến thức cần phải được cải cách, thay đổi và liên thông với quốc tế. Cái gì cần học thì dạy, cái gì không cần thiết thì giảm tải tránh tình trạng lãng phí thời gian vào những môn học vô bổ mà cái cần học thì không được học.

+ Loại bỏ phương thức giáo dục nhồi nhét kiến thức, thầy đọc trò chép, phát huy tính tự giác trong học tập và kích thích sáng tạo, nghiên cứu khoa học trong trường.

+ Giáo dục kiến thức đi kèm với giáo dục nghề và kỹ năng làm việc cùng với đó là các kỹ năng mềm như kỹ năng đàm phán, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc theo nhóm…

+ Đối với lao động nhập cư từ các vùng nông thôn lên các đô thị lớn cần tạo điều kiện ổn định an sinh xã hội từ đó giảm tình trạng mất trật tự xã hội.

+ Thị trường lao động ở nông thôn là một thị trường tiềm năng, cần có những chính sách hợp lý để phát huy thế mạnh này. Trước tiên cần thu hút người tài về nông thôn làm việc để cải thiện kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại hoá và tiếp đó là quản lý và đào tạo đội ngũ lao động ở nông thôn.

Đảng ta từ lâu đã quan niệm “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và việc phát triển nhân tài là quốc sách hàng đầu. Cũng đã có nhiều chính sách, cơ chế đãi ngộ nhằm thu hút nhân tài cống hiến cho quốc gia. Tuy nhiên nhiều biện pháp chỉ mang lại hiệu quả trong thời gian ngắn, cần nhiều hơn nữa các dự án mang tính chiến lược với tầm nhìn dài hạn theo hướng hiện đại và quốc tế hoá. Trong đó cần đổi mới tư duy, quan điểm về chính sách giáo dục đào tạo của nước nhà từ đó tháo gỡ các bất cập mới mong mở rộng được đội ngũ nhân tài.

 


 

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu kèm theo những diễn biến phức tạp của tình hình tài chính thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam, Đảng bộ, quân và dân Thừa Thiên Huế đã có những nỗ lực không ngừng xây dựng địa phương phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

Tốc độ tăng trưởng bình quân toàn tỉnh giai đoạn 2011-2013 ước tính đạt 10%/1 năm, các ngành công nghiệp dịch vụ được chú trọng phát triển, tổng huy động vốn xã hội đạt hơn 37 nghìn tỷ đồng từ 2011-2013, trung bình mỗi năm tăng 14,2%. Chính sách xoá đói giảm nghèo đạt được những hiệu quả rõ rệt khi tỉ lệ hộ nghèo giảm chỉ còn 6,5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.673 USD trong năm 2013.

Quá trình đô thị hoá góp phần thay đổi diện mạo nông thôn, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư đúng mức, điển hình như các địa phương thị xã Hương Thuỷ, Hương Trà, thành phố Huế… Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá và lịch sử được quan tâm đúng mức.

Về tái cơ cấu kinh tế, tỉnh đã thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện đột phá chiến lược phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các mục tiêu: tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu hệ thống tài chính và ngân hàng, tái cơ cấu doanh nghiệp được thực hiện nghiêm túc và bài bản.

Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tái cơ cấu đầu tư công bước đầu tỏ ra rất hiệu quả khi đã huy động tốt các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước. 30% là vốn đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội, nguồn này được phân bổ và quản lý hợp lý, hiệu quả sử dụng ngân sách được nâng cao.

Hệ thống tài chính và ngân hàng được tái cơ cấu đã có những chuyển biến tích cực, số nợ xấu đã được xử lý chỉ còn 2,81% vào tháng 6/2013 đây là dấu hiệu khá đáng mừng khi trong năm 2012 con số này rơi vào 4,8-5%. Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp cũng được triển khai đồng bộ và hiệu quả.

Việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước cơ bản đã hoàn thành một số bước đầu tiên. Số doanh nghiệp nhà nước được tái cơ cấu và cổ phần hoá là 117/117 doanh nghiệp.

Việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cũng được lãnh đạo tỉnh quan tâm đúng mức, nổi tiếng có truyền thống hiếu học và là trung tâm văn hoá giáo dục tiêu biểu của khu vực và cả nước với các trường đại học danh tiếng như trường Đại học Y Dược Huế, trường Đại học Huế…, đặc biệt là trường Đại học Y Dược Huế đã nghiên cứu ứng dụng nhiều công nghệ mới vào giảng dạy và khám chữa bệnh xứng đáng là nguồn cung cấp nhân tài chủ lực cho y học quốc gia.

Bên cạnh việc hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục nhân tài, lãnh đạo tỉnh còn không quên nhiệm vụ bồi dưỡng và nâng cao tay nghề cho người lao động với hơn 70 cơ sở dạy nghề đạt chuẩn, có trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại đáp ứng tốt công tác đào tạo nghề trong thời đại mới. Ngoài ra, còn có hơn 100 cơ sở đào tạo tư nhân, 14 trung tâm đào tạo về ngoại ngữ và 5 trường trung học chuyên nghiệp. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, Thừa Thiên Huế trở thành điểm đến nổi tiếng thu hút khách du lịch thì công tác phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này cũng được chú tâm kỹ lưỡng với điển hình là trường Cao Đẳng Du Lịch. Tỉ lệ nhân lực được đào tạo tại trường Cao Đẳng Du Lịch trong năm 2013 ước đạt 50% số người lao động, cung cấp một lượng dồi dào nhân lực có ta nghề cao cho tỉnh và khu vực.

Với truyền thống và bề dày lịch sử hơn 55 năm giáo dục và đào tạo nhân tài, Đại học Huế tiếp tục khẳng định mình trong thời đại mới với 7 trường đại học thành viên được thành lập mới. Ngoài ra trường còn không ngừng phát triển thêm các chuyên ngành đào tạo, hệ thống giảng viên cũng được nâng cao trình độ với gần 20% số giảng viên là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ; hơn 67% giảng viên có học vị thạc sĩ trở lên.

Đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội được lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm. Các tuyến giao thông nối liền các đô thị và miền núi liên tục được khởi công và hoàn thành đúng tiến độ. Ở nhiều thôn bản vùng sâu vùng xa đã được hoà chung với lưới điện quốc gia, không còn tình trạng phải đi mua điện với giá đắt đỏ. Việc phát triển hạ tầng thuỷ lợi và ứng phó biến đổi khí hậu được ưu tiên đầu tư, hệ thống kênh mương phục vụ tưới tiêu cho nông dân dần dần được phát triển và kiên cố hoá, đặt biệt hệ thống đê bao, hồ chứa, đập dâng cũng được chú trọng sửa chữa, làm mới nhằm đảm bảo an toàn cho người dân trong mùa lũ. Về kinh tế, tiếp tục phát triển các thế mạnh về du lịch, dịch vụ ngoài ra lãnh đạo tỉnh vẫn không quên đầu tư phát triển các nhóm ngành kinh tế mũi nhọn như nông, lâm, ngư nghiệp.

Nhìn chung trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu sự nỗ lực của lãnh đạo, quân và dân Thừa Thiên Huế đã mang lại nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng hoạt động kinh doanh sản xuất vẫn diễn ra ở mức khá. Ngành du lịch thế mạnh được quan tâm đầu tư đúng mức ngày càng làm thay đổi diện mạo của tỉnh.

2. Phương hướng, mục tiêu trong thời gian tới:

Giai đoạn 2014 - 2015 tỉnh tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới và tái cơ cấu nền kinh tế của Chính phủ. Tiếp tục phát triển đô thị theo hướng tăng trưởng ngành công nghiệp dịch vụ, phấn đấu đưa Thừa Thiên Huế trở thành đô thị loại I và là thành phố trực thuộc Trung ương và là trung tâm văn hoá tiêu biểu của khu vực và cả nước.

Mục tiêu đặt ra là trong giai đoạn sắp tới ngành công nghiệp dịch vụ mỗi năm phải đạt mức tăng trưởng 13 - 14%, qua đó nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, giáo dục. Phối hợp với các địa phương nhằm hỗ trợ các dự án du lịch nhanh chóng đưa vào vận hành, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; không ngừng quảng bá hình ảnh du lịch của tỉnh trên các phương tiện truyền thông đại chúng để bạn bè quốc tế ngày càng biết nhiều hơn về các giá trị văn hoá của tỉnh. Để đáp ứng được các yêu cầu đó, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp dịch vụ là không thể bỏ sót, tiếp tục nâng cao chất lượng và tay nghề của người lao động thông qua xã hội hoá giáo dục đào tạo.

Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên, môi trường. Kích thích các mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu, các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, không ngừng nghiên cứu những sản phẩm mới có tính ứng dụng và thân thiện với môi trường. Việc đẩy mạnh các mặt hàng xuất khẩu kết hợp với phát triển các làng nghề truyền thống là vô cùng quan trọng, điều này có tác dụng thúc đẩy song song cả 2 ngành du lịch và xuất khẩu, ngoài ra còn tạo được việc làm tại chỗ cho người lao động tại các địa phương.

Ngành nông nghiệp vẫn là ngành trọng điểm nên không thể coi nhẹ, vì vậy cần phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập. Nâng cao chất lượng nông sản thông qua việc ứng dụng thành quả khoa học kỹ thuật vào nuôi, trồng cây và con giống.

Hạ tầng cơ sở giao thông cần được chỉnh trang để hoàn thiện hơn, các tuyến đường từ trung tâm tỉnh về các huyện và đô thị vệ tinh phải được thông suốt. Các công trình công cộng và phúc lợi xã hội là bộ mặt của tỉnh, phản ánh tốc độ phát triển của đô thị nên cần được quan tâm chú trọng hơn để phát triển, bao gồm hệ thống cây xanh, đèn chiếu sáng, vườn hoa, công viên… Tạo không gian thoáng đãng và cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp.

Trong thời buổi kinh tế thị trường lại thêm ngành du lịch đang phát triển từng ngày, việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc lại càng phải được chú tâm. Các kỳ Festival Huế diễn ra càng ngày càng phải được nâng cao hiệu quả và chất lượng, hình ảnh của Huế trong mắt bạn bè quốc tế qua mỗi lần Festival cần phải được củng cố và phát huy qua đó xây dựng và phát triển các dự án xúc tiến du lịch ra thế giới.

Trong năm 2014, Thừa Thiên Huế tiếp tục phát huy các thành quả đạt được, kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã nỗ lực xây dựng. Không ngừng nỗ lực, phấn đấu để hoàn thành những mục tiêu quan trọng tạo thế và lực mới góp phần xây dựng tỉnh nói riêng và đất nước nói chung ngày càng giàu đẹp.

 


Chủ nhật, 26 Tháng 1 2014 00:00

Việc làm và thu nhập năm 2013

Nhìn lại năm 2012, cả nước có gần một triệu người thất nghiệp bởi nền kinh tế không tạo đủ việc làm cho cả lao động mới gia nhập thị trường và bộ phận lao động thất nghiệp cũ. Trong năm 2013, lao động việc làm vẫn không có nhiều biến động, đời sống người dân chưa có nhiều cải thiện do những ách tắc còn lại của năm 2012 chưa được khắc phục. Mặc dù các chính sách điều hành kinh tế năm 2013 được ban hành khá sớm với những mục tiêu khá rõ ràng nhưng việc sản xuất vẫn còn chậm chạp, khó khăn của các Doanh nghiệp vẫn không được cái thiện nhiều, tiêu dùng vẫn ở mức thấp, kéo theo tình trạng thất nghiệp có xu hướng gia tăng đáng kể. Theo Tổng cục Thống kê, trong sáu tháng đầu năm 2013, tiếp tục ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị của của thanh niên gấp 4,5 lần tỷ lệ thất nghiệp của người lớn và cao hơn so với khu vực nông thôn.

Trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tính tăng 4,9% so với cùng kỳ 2012 và cao hơn mức tăng 4,38% của 6 tháng đầu năm 2012. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào thể hiện sự gia tăng nguồn cung lao động trong nền kinh tế. Trên thực tế, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong 6 tháng đầu năm 2011 đến 2013 có sự tăng đều đặn hơn một triệu lao động trong nửa đầu năm này so với nửa đầu năm trước. Cụ thể, theo Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2011 lực lượng lao động có khoảng 50,6 triệu người, đến nửa đầu 2012 đã tăng lên hơn 52 triệu người và tính đến 1/7/2013 nguồn cung lao động đã tăng thêm hơn 1 triệu lao động trẻ tuổi.

Thu nhập trung bình của người lao động thuộc các nhóm ngành nghề khác nhau có mức tăng đáng kể. Mức thu nhập danh nghĩa trung bình của nhóm lao động làm công ăn lương trong 6 tháng đầu năm 2013 đạt khoảng 4,1 triệu đồng/tháng, tăng hơn 10% so với nửa đầu năm 2012 và tăng gần 36% so với cùng kỳ năm 2011.

Dựa trên cơ sở số liệu Điều tra Lao động và việc làm về thu nhập của lao động làm công ăn lương theo cơ cấu sở hữu của chủ lao động (6 tháng đầu năm 2011,2012,2013), tốc độ tăng thu nhập của lao động làm công ăn lương trong các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 7,2%. Lao động làm công ăn lương trong các Doanh nghiệp Nhà nước có mức thu nhập cao nhất (6,2 triệu đồng/tháng) với tốc độ tăng thu nhập đạt mức 7,6% trong 6 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012.

Phân tích số liệu dưới góc độ các ngành chính của nền kinh tế, lao động làm công ăn lương trong ngành xây dựng có mức thu nhập trung bình 3,6 triệu đồng/tháng trong năm 2013, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2013. Lao động thuộc nhóm ngành xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam cũng có mức tăng trưởng đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2013. Thu nhập trung bình của lao động ngành điện tử đạt khoảng 4,9 triệu đồng/ tháng, tốc độ tăng thu nhập đạt ở mức cao so với mức chung (10,4%). Lao động làm công ăn lương trong các ngành dệt may, da giày, gỗ và sản phẩm gỗ có mức thu nhập trung bình tăng tương ứng là 6,4% (tương đương 3,6 triệu đồng/ tháng); 4,4% (4,1 triệu/ tháng) và 11,8% (3,7 triệu đồng/ tháng) trong 6 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ 2012. Đặc biệt, thu nhập của lao động làm công trong ngành điện và dây cáp điện, gốm sứ và mây tre đan có tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng (gần gấp hai lần tốc độ tăng trung bình) với tốc độ tăng tương ứng là 17%; 25,8% và 28,6% so với 6 tháng đầu năm 2012. Ngành nghề có lao động làm công đạt mức thu nhập trung bình cao nhất là ngành khai khoáng với mức thu nhập trung bình là 5,9 triệu đồng/1 tháng, tuy nhiên đây lại là nhóm có tốc độ tăng thu nhập thấp nhất chỉ tăng có 1,2% trong 6 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ 2012.         

  Nửa đầu năm 2013, hoạt động của các doanh nghiệp gặp tình trạng khó khăn, tình hình kinh tế xã hội trong nước đối mặt với nhiều thách thức. Mức tiêu thụ hàng giảm đáng kể, nhu cầu tiêu dùng giảm sút dẫn tới tổng cầu trong nước bị thu hẹp. Số doanh nghiệp thu hẹp qui mô hoạt động, giải thể, ngừng hoạt động tăng lên hàng ngày tác động đến việc làm và thu nhập của người lao động.

  Tỷ lệ thất nghiệp chung của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2013 là 2,28% (tăng hơn 0,3% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, thất nghiệp tại khu vực thành thị và nông thôn tương ứng là 3,85% và 1,57%. Cũng theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ở khu vực đô thị của Việt Nam tương đối cao. Trong nửa đầu năm 2012, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp là 8,91%, tuy nhiên, cho đến cùng kỳ năm 2013 tỷ lệ này đã tăng thêm 2,06%. Liên quan đến thất nghiệp của thanh niên (15 tuổi trở lên) cho thấy sự khó khăn của thanh niên trên thị trường lao động. Tuy lực lược lao động trẻ dồi dào nhưng trình độ lao động thấp, chưa được đào tạo, đây là một dấu hiệu cảnh báo sự khó khăn trong thị trường lao động tương lai, kèm theo đó là các vấn đề xã hội có thể phát sinh nếu lực lượng lao động này chưa được giải quyết việc làm ổn định. Một chỉ số khác đáng để quan tâm là tỷ lệ thanh niên không có hoạt động (thất nghiệp và không tham gia học tập cũng như đào tạo) tăng tương đối cao, lên đến 10,53% trong 6 tháng đầu năm 2013 so với tỷ lệ 10,16% của cùng kỳ năm 2012. Sự dịch chuyển tỷ lệ tiêu cực này là dấu hiệu cảnh báo cho những khó khăn trong thị trường lao động tương lai, do không đi học hoặc đi làm khiến cho kiến thức và kỹ năng chuyên môn khó có thể cải thiện được, thậm chí có thể dần bị mai một đi nếu trình trạng đó kéo dài.

Chất lượng công việc không được đảm bảo, người lao động chuyển dần từ các khu vực lao động chính thức (người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội) sang các khu vực lao động phi chính thức (người lao động không tham gia bảo hiểm xã hội) dẫn đến công việc bấp bênh, thu nhập không ổn định và thời gian làm việc không phù hợp. Theo số liệu điều tra Lao động và việc làm, trong 6 tháng đầu năm 2012 số lao động không tham gia bảo hiểm xã hội là 77,8%, tỷ lệ này còn tăng nhanh hơn trong nửa đầu năm 2013, lên đến 81,77%.

Để giải quyết vấn đề lao động - việc làm phải được tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ và hữu hiệu. Đồng thời, phải cơ cấu lại nguồn lực lao động của cả nước, từng bước tái cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình năng suất cao, tăng trưởng nhanh và bền vững.

Tái phân bố lực lượng lao động: Giải quyết việc làm tại chỗ bằng cách phát triển mạnh các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở nông thôn. Phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã trong nông nghiệp. Tránh bớt tình trạng bỏ nông thôn lên thành thị, giảm bớt gánh nặng cho các đô thị lớn. Phát triển đa dạng ngành nghề sản xuất, đẩy mạnh ngành công nghiệp dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản tại các địa phương có tiềm năng.

Mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước: Trong thời điểm nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp mang tính tình thế rất hiệu quả. Đây là thế mạnh của lực lượng lao động của nước ta về số lượng đông và trẻ (lao động trên 15 tuổi). Do đó, nên tao điều kiện cho thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn được đào tạo ngoại ngữ và kiến thức pháp luật cho lao động xuất khẩu, để họ có thể tiếp cận được với thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với những nước có trình độ phát triển cao và đang có nhu cầu thu hút lao động cho các ngành nghề sản xuất.

Không ngừng nâng cao trình độ và tay nghề của người lao động: Để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động trong những năm tới, cần mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề). Các khoá đào tạo ở các cấp trình độ cần phải đào tạo theo xu hướng nhu cầu lao động của thị trường trong nước và thị trường ngoài nước (đào tạo gắn với nhu cầu sản xuất và sử dụng) nhằm cung cấp lao động có trình độ phù hợp và chất lượng cao về tay nghề, có sức khoẻ tốt và có tác phong công nghiệp.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lý phù hợp: Cần thực hiện đúng các luật về lao động, bảo hiểm lao động, tiền lương tối thiểu, xuất khẩu lao động, pháp lệnh đình công. Đồng thời, nên khắc phục tình trạng bất hợp lý với người lao động làm thuê trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và kể cả một số doanh nghiệp trong nước như hiện nay. Người lao động phải được quyền hưởng lương đúng với số lượng và chất lượng họ đã bỏ ra; phải được đảm bảo về chỗ ở, điều kiện môi trường lao động và an sinh khác theo đúng pháp luật.

 


[*]Nguyễn Thị Kỳ - Nguyên Phó vụ trưởng vụ các vấn đề xã hội, nguyên Giám đốc Trung tâm BDĐBDC

Trong nhiều năm qua tốc độ tăng thu nhập bình quân của thành phố luôn ở mức cao, giai đoạn từ 2001 đến 2005 thu nhập bình quân đầu người tăng 11%, từ 2006 đến 2010 tăng 22,2%, con số tăng trưởng này luôn ở mức cao hơn trung bình của cả nước khẳng định vị thế và vai trò của thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực cũng như cả nước. Về chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nguồn vốn đầu tư, thành phố cũng đạt hệ số ICOR hợp lý là 3,42 tính đến năm 2011 trong khi hệ số ICOR trung bình của cả nước là 5,65.

Trong vòng gần 10 năm GDP bình quân đầu người của thành phố đã tăng 2170 USD từ 1116 USD của năm 2002 lên 3286 USD của năm 2011, điều này thể hiện mức sống và chất lượng xã hội của người dân thành phố đã được nâng cao và cải thiện rất nhiều.

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố có nhiều bước tiến quan trọng khi tỷ trọng các nhóm ngành dịch vụ tăng từ 54,6% năm 2007 lên 57,43 năm 2012, tỷ trọng của các nhóm ngành nông nghiệp giảm nhẹ từ 1,3% năm 2007 xuống còn 0,98% năm 2012, còn về tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp cũng đã giảm từ 44,1% năm 2007 xuống còn 41,59% năm 2012. Qua đó có thể thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố đang đi đúng hướng khi tỷ trọng các ngành dịch vụ liên tục tăng đáp ứng nhu cầu phát triển thành phố theo hướng văn minh, hiện đại.

Các chính sách thúc đẩy an sinh xã hội, phát triển nâng cao các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá - du lịch luôn được thực hiện nghiêm túc và có quy trình khoa học tạo ra nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Vấn đề bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp cho bộ mặt thành phố cũng được chú trọng đúng mức bằng việc quy hoạch hợp lý các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao tập trung đưa vào các khu công nghiệp, các khu dân cư ổ chuột xuống cấp cũng được cải tạo và chỉnh trang hợp lý.

Bên cạnh những mặt đạt được thì vẫn còn những tồn tại cần khắc phục nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại thành phố này, cụ thể như sau:

- Về tốc độ tăng trưởng kinh tế: tuy tăng trưởng GDP bình quân đầu người của thành phố có mức tăng ấn tượng nhưng tăng trưởng kinh tế của thành phố lại bị giảm từ 10,3% của năm 2011 xuống còn 9,2% của năm 2012. Tuy giai đoạn vừa qua cả nước nói chung và thành phố nói riêng bị ảnh hưởng khá nhiều từ suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng không thể phủ nhận mô hình tăng trưởng của thành phố luôn chú trọng phát triển theo chiều rộng tức là bị phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư và nguồn lực tự nhiên điều đó dẫn đến khi suy thoái kinh tế xảy ra các nguồn lực bị thắt chặt và rút bớt làm mất cân bằng và ổn định tăng trưởng kinh tế của thành phố.

- Chất lượng tăng trưởng chưa thật sự cao khi các nguồn lực tổng hợp như hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, khả năng ứng dụng công nghệ chưa có đóng góp nhiều vào tăng trưởng GDP mà chủ yếu giựa vào các yếu tố vốn đầu tư và nguồn lao động.

- Các dịch vụ an sinh xã hội của thành phố như y tế, giáo dục, văn hoá - du lịch tuy là có đạt thành tựu tốt so với mặt bằng chung cả nước tuy nhiên so với tiềm năng của thành phố thì vẫn chưa tương xứng. Vẫn còn tồn tại những tình trạng bất cập trong hệ thống chăm sóc y tế khi tình trạng quá tải bệnh viện vẫn diễn ra thường xuyên, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế chưa đảm bảo chất lượng và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Những bất cập về cơ sở vật chất và hạ tầng còn tồn tại trong cả lĩnh vực giáo dục và văn hoá - du lịch khi môi trường giáo dục còn nhiều thiếu thốn và lạc hậu, chất lượng giảng viên và chương trình đào tạo chưa được nâng cao để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Các khu vui chơi giải trí hiện đại chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, công tác giáo dục văn hoá bản sắc dân tộc trong cộng đồng thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế. Phân hoá xã hội diễn ra sâu sắc, các tầng lớp xã hội có sự chênh lệch nhau đáng kể gây nhiều bất công trong xã hội, phân hoá giàu nghèo diễn ra ở khắp nơi.

- Công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong người dân chưa thật sự hiệu quả khi vẫn còn nhiều địa phương trên thành phố đặc biệt là những địa phương có số lượng người dân nhập cư đông vẫn chưa tích cực và có tính tự giác bảo vệ môi trường. Việc Công ty môi trường đô thị thành phố thực hiện đi thum gom rác vẫn chưa được thực hiện tròn trọng trách khi hiện tượng chậm giờ vẫn còn tồn tại gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường sống. Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn thành phố cố ý lách luật để xảy nước thải trực tiếp ra các hệ thống sông ngòi, kênh rạch gây ô nhiễm môi trường nước trầm trọng. Đặc biệt là số lượng phương tiện giao thông đi lại trên thành phố quá lớn, mật độ lưu thông cao tạo ra lượng khí thải độc hại trong trung tâm thành phố.

- Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các địa phương trong công tác bảo vệ môi trường và cấp thoát nước vẫn chưa diễn ra đồng bộ, một số dự án xảy ra tình trạng đắp chiếu hoặc chậm tiến độ gây ngập lụt nghiêm trọng trong những ngày triều cường làm ảnh hưởng trầm trọng đến công việc và cuộc sống của người dân.

Để khắc phục những tồn tại hạn chế nêu trên cần có những giải pháp cụ thể:

- Đầu tiên cần phải tăng hiệu quả đầu tư vốn xã hội để giảm thêm hệ số ICOR xuống mức thấp hơn, điều đó cần thiết sự nỗ lực của lãnh đạo thành phố nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. Đẩy mạnh hơn nữa sự tăng tỷ trọng của các ngành nghề dịch vụ, đây là một tiềm năng rất lớn của thành phố vì lĩnh vực này thường tiêu hao ít chi phí nhưng đem lại hiệu quả khá cao với mức tăng GDP trong thời gian qua là khá đáng kể.

- Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống cũng như sản xuất kinh doanh, thực hiện xã hội hoá công nghệ thông tin từ các lĩnh vực quản lý nhà nước cho đến các hoạt động của người dân. Điều này nhằm tạo ra năng suất lao động cao hơn, từ đó tăng cường sự đóng góp của các yếu tố tổng hợp TFP vào tổng thu nhập bình quân đầu người.

- Cần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tương xứng với tiềm năng của thành phố, đặc biệt là ngành nghề dịch vụ cần đẩy mạnh hơn nữa tốc độ tăng tỷ trọng của nhóm ngành này lên con số 60%.

- Về đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng đúng hướng, phấn đấu đạt mô hình tăng trưởng bền vững từ đó mới có thể giải quyết nhanh các vấn đề về an sinh xã hội và thực hiện tăng trưởng xanh.

- Đối với các lĩnh vực ưu tiên liên qua đến tốc độ chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần sự phối hợp tích cực của Ngân hàng Nhà nước, ngoài ra các Ngân hàng thương mại cần được chỉ đạo hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực ưu tiên và bất động sản có thể tiếp cận được nguồn vốn nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân cho thị trường nhà đất.

- Nhằm tăng cường huy động nguồn lực từ nhân dân đầu tư vào các cơ sở hạ tầng đô thị của thành phố cần xin ý kiến Trung ương cho phép thành phố phát hành trái phiếu đô thị. Ban hành những chính sách thông thoáng nhằm mở đường cho nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng và trọng tâm của thành phố. Bên canh đó để tạo đà gia tăng nguồn lực từ các yếu tố TFP, lãnh đạo thành phố cần thực hiện lựa chọn các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp trọng yếu, ngành nghề công nghệ cao để bảo lãnh tín dụng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp này đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại nâng cao hiệu quả và năng suất hoạt động.

- Về chênh lệch xã hội cần rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư bằng các biện pháp thiết thực, nâng cao mức sống của nhân dân bằng các chính sách an sinh xã hội. Chất lượng các dịch vụ y tế, giáo dục trong thời gian sắp tới cần phải được cải thiện và nâng cao nhằm phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và thu hút khách du lịch đến khám, chữa bệnh.

- Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cần thực hiện một số chính sách nhằm hỗ trợ và kêu gọi các thành phần kinh tế của thành phố thực hiện đầu tư theo chiều sâu, điều này giúp kinh tế tăng trưởng bền vững hơn, ổn định hơn và ít phụ thuộc vào những yếu tố nguồn đầu tư. Ngoài ra khi phát triển theo chiều sâu, bản thân doanh nghiệp cũng sẽ có những thay đổi tích cực từ trình độ chuyên môn và tay nghề của người lao động cho đến trình độ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.

  Tóm lại để tạo ra một mức tăng trưởng kinh tế bền vững cho thành phố cần thay đổi mô hình tăng trưởng cũng như nâng cao chất lượng tăng trưởng, quá trình này không thể thực hiện một sớm một chiều, đây là một quá trình lâu dài và cần sự nỗ lực kiên trì của các cấp lãnh đạo thành phố cũng như toàn quân và dân thành phố.

1. Những kết quả đạt được:

Việc triển khai và thực hiện các đột phá chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu và kết quả đáng ghi nhận. Qua đó có những tác động tích cực giúp Việt nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, hướng tới công nghiệp hoá - hiện đại hoá.

Hệ thống thể chế về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hoàn thiện. Nhiều văn bản pháp lý có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế được trình và thông qua kịp thời, chất lượng của các văn bản cũng được nâng cao đi sâu vào chi tiết. Công tác xây dựng và cải cách chế độ công cức, công vụ được quan tâm sâu sắc, trình độ nghiệp vụ và đạo đức của hàng ngũ cán bộ công chức được cải thiện rõ rệt, đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Bộ máy hành chính từng bước được xây dựng gọn nhẹ, cơ cấu tổ chức hiệu quả. Cải cách hành chính đạt những bước tiến rõ rệt, chế độ một cửa liên thông tiếp tục được triển khai có hiệu quả tạo niềm tin cho nhân dân vào bộ máy hành chính.

Việc đào tạo nhân lực trong thời đại mới cũng được quan tâm đúng mức khi các văn bản pháp lý về công tác xây dựng và quy hoạch nguồn nhân lực dần dần được xây dựng và thông qua. Hệ thống giáo dục phổ thông được cải cách giáo dục theo phương pháp giảng dạy mới, giúp giảm tải những kiến thức không cần thiết cho học sinh, đổi mới công tác giảng dạy và thi cử giúp giảm tình trạng tiêu cực trong thi cử. Tại các trường đại học việc thực hiện đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại được triển khai rộng rãi giúp nâng cao tay nghề cũng như kỹ năng làm việc. Ngoài việc phát triển nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên tại các trường, việc đào tạo nghề cho người lao động tại các trường trung cấp, trường dạy nghề cũng được quan tâm đúng mức qua đó mỗi năm cung cấp cho thị trường lao động một lượng lớn lao động lành nghề.

Về phát triển khoa học công nghệ đã có những bước đột phát đáng ghi nhận, tiềm lực và hạ tầng khoa học kỹ thuật được xây dựng và phát triển trên cơ sở các thiết bị hiện đại, tân tiến. Các văn bản pháp lý, các cơ chế về quản lý lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật cũng được điều chỉnh nới rộng nhằm phù hợp với yêu cầu đổi mới. Hàng năm luôn có một nguồn kinh phí lớn từ quỹ phát triển khoa học công nghệ đầu tư vào các dự án nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu công nghệ.

Hệ thống cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông đô thị từng bước được quy hoạch hợp lý và triển khai tích cực, qua đó cải thiện tình hình giao thông đô thị giảm áp lực cho các đô thị lớn. Công tác đưa điện lưới quốc gia về tận các thôn, bản vùng sâu vùng xa được thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả, hệ thống thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp tại các vùng nông thôn được xây dựng và cải tiến hiện đại giúp tăng năng suất và sản lượng nông nghiệp.

Nhìn chung trong giai đoạn vừa qua, việc chủ động thời cơ, thực hiện các đột phá chiến lược một phần nào đó giúp đất nước thoát ra khỏi tình trạng khó khăn, kém phát triển. Kinh tế vĩ mô từng bước được ổn định, an sinh xã hội được cải thiện, tăng trưởng kinh tế được duy trì và tăng cao.

Tuy trong quá trình thực hiện các đột phá chiến lược nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành quả quan trọng, nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Đầu tiên cần phải lưu ý là so với tiềm năng của thị trường Việt Nam thì những thành quả đạt được vẫn chưa tương xứng và chưa khai thác hết được năng lực của thị trường. Nền kinh tế phát triển chưa mang tính ổn định và chắc chắn, năng lực cạnh tranh và các yếu tố về chất lượng tăng trưởng cũng như năng suất và hiệu quả tăng trưởng chưa cao.

Nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tăng trưởng chiều rộng, việc phát triển các yếu tố theo chiều sâu giúp nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững hơn tuy vẫn được thực hiện nhưng còn rất trì trạc. Cách thức quản lý nhiều điểm còn chưa mang tính khoa học, chất lượng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực chưa được đảm bảo dẫn đến những cản trở cho nền kinh tế. Nền móng phát triển Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá còn mông lung, chưa có cơ sở vững chắc, những yếu tố bất ổn chính trị và chủ quyền quốc gia vẫn tồn tại và có nguy cơ đe doạ nền kinh tế.

Hệ thống pháp lý, quy định trên một số lĩnh vực còn chồng chéo, đội ngũ cán bộ, công chức chậm đổi mới, thiếu tư duy phát triển và chưa thật sự đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường. Một số các bộ luật quan trọng nhưng Luật Quy Hoạch, Luật Đầu tư công, Luật Đô thị, Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước vào đầu tư sản xuất kinh doanh vẫn chậm được Quốc Hội thông qua. Đây là những văn bản pháp lý vô cùng quan trọng có tác động lớn đến quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng nền kinh tế nhưng trong thời gian dài vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu và chờ thông qua. Ở một số địa phương công tác cải cách hành chính vẫn chưa được quyết liệt thực hiện một cách nghiêm túc, công tác thanh tra kiểm tra không nắm bắt được những tình trạng này để kịp thời xử lý.

Công tác đổi mới giáo dục, đào tạo nhằm thay đổi cách nhận thức, tư duy về nền kinh tế thị trường cho nguồn nhân lực vẫn chưa đuổi kịp bước phát triển của xã hội. Trang thiết bị, cơ sở vật chất ở một số cơ sở đào tạo vẫn chưa được cải tiến và cập nhật công nghệ mới, trình độ của đội ngủ giáo viên, giảng viên còn hạn chế chưa kể phương pháp giảng dạy và cách thức truyền đã kiến thức, kỹ năng làm việc vẫn còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn khi ra trường.

Về tình hình khoa học công nghệ. Một lần nữa phải nhắc đến cơ chế, việc xây dựng cơ chế tạo môi trường để phát triển và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vẫn còn bất cập. Nguồn ngân sách xã hội và Nhà nước đầu tư cho khoa học, công nghệ còn dàn trải chưa đi vào chiều sâu dẫn đến tiềm lực phát triển còn hạn chế.

Hệ thống kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém, lạc hậu và kém đồng bộ. Nhất là ở các đô thị lớn, việc quy hoạch giao thông còn nhiều bất cập, hạ tầng đô thị luôn trong tình trạng quá tải và kém chất lượng. Các hệ thống phát triển thuỷ lợi phục vụ cho nông nghiệp ở các vùng nông thôn thì chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất trên diện rộng và quy mô lớn, chủ yếu việc đầu tư thuỷ lợi còn mang nặng tính lạc hậu chưa đầu tư đúng mức cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi.

Hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần được tiếp tục bổ sung và hoàn thiện, tạo điều kiện và môi trường cạnh tranh bình đẳng và tiến bộ. Cần đổi mới phương thức điều hành và tư duy phát triển kinh tế - xã hội, cải tiến bộ máy cán bộ, tổ chức thực hiện nhanh và quyết đoán nhằm tạo ra chuyển biến mạnh trong việc giải quyết các khâu đột phá có hiệu quả.

Chủ trương tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước cần khẩn trương thực hiện đồng bộ, qua đó chống độc quyền ở một số các loại hàng hoá đặc thù. Cần đẩy mạnh hoàn thành đàm phán các hiệp định quốc tế quan trọng nhằm giúp đất nước hội nhập nhanh hơn.

Công tác cải cách hành chính cần đi sâu vào chất lượng chứ không chỉ chú trọng đến đến số lượng, đặc biệt công tác thanh tra kiểm tra cần sâu sát hơn đến từng địa phương có đơn vị hành chính cấp thấp như phường, xã. Đổi mới cách thức quản lý làm sao cho khoa học hơn nhằm thích ứng với sự chuyển biến của thị trường. Triển khai nhanh các đề án cải cách chế độ công vụ, đơn giản hoá bộ máy và thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động.

Phát triển giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chú trọng vào chất lượng đầu ra, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia vào các chương trình liên kết giáo dục, đưa người sang các quốc gia phát triển để học hỏi trau dồi kiến thức, cập nhật công nghệ ngoài ra cần có chế độ đãi ngộ hợp lý để giữ chân đội ngũ này nhằm tránh chảy máu chất xám. Tiếp tục phát triển và xã hội hoá các hệ thống dạy nghề đi kèm với nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Các nghị quyết về phát triển khoa học công nghệ như nghị quyết số 20 - NQ/TW ngày 31/10/2012 của hội nghị Trung ương 6 (khoá XI) cần tiếp tục được triển khai lan rộng nhằm thúc đẩy tốc độ cập nhật và ứng dụng khoa học kỹ thuật. Tiến hành chuyển giao công nghệ, các chương trình quốc gia về khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 cần được xúc tiến mạnh mẽ. Vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng cần được quản lý khắt khe hơn.

Nới lỏng các cơ chế chính sách nhằm thu hút các dự án đầu tư nghiên cứu sản phẩm công nghệ cao, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng các yêu cầu thay đổi của thị trường.

Về kết cấu hạ tầng cơ sở cần đầu tư có trọng tâm, các công trình, dự án dang dở phải khẩn trương hoàn thành đưa vào sử dụng. Các dự án không có tính khả thi hoặc chưa cần thiết thì cần phải loại bỏ hoặc chậm khởi công, tránh tình trạng đầu tư dàn trải mà không đem lại hiệu quả. Các tuyến đường cao tốc nối các đô thị lớn với các thành phố vệ tinh phải cấp tốc được hoàn thành và đưa vào sử dụng nhằm tạo tuyến giao thông huyết mạch thuận tiện cho việc giao thương. Hệ thống ga hàng không, ga đường sắt, cảng biển cần đầu tư đổi mới cơ sở vật chất, cải tiến công nghệ làm nền tảng cho các giao dịch từ quốc tế đến Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra thế giới được thuận tiện.

Nhìn chung cần tạo ra các nền móng vững chắc lâu dài nhằm hỗ trợ nền kinh tế phát triển có chiều sâu, tránh tâm lý “ăn xổi”. Hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới cách thức hoạt động và phương thức sản xuất nhằm đạt năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn để đáp ứng sự chuyển biến của thị trường.

1. Kinh nghiệm của một số nước

Kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy việc cải cách thể chế là hành động cần thiết để phát triển toàn diện quốc gia.

Ở Đài Loan sau khi Quốc Dân Đảng bị đánh bại rút quân và sau chiến tranh với Triều Tiên kết thúc ở Hàn Quốc, cả 2 quốc gia này đều bước vào giai đoạn chuyển giao chế độ từ một chế độ độc tài sang chế độ dân chủ hơn, người dân có quyền bầu cử ra người đứng đầu đất nước là tổng thống, trực tiếp tham gia vào công cuộc đổi mới và hưởng thụ thành quả từ công cuộc cải cách thể chế chính trị. Đối với những đất nước không có thế mạnh về tài nguyên khoảng sản như 2 quốc gia nói trên việc thu nhập bình quân đầu người tăng từ 79 USD/1 người trong năm 1960 đến 22.670 USD/1 người năm 2012 là một bước tiến vô cùng mạnh mẽ.

Trong khu vực ASEAN, Myanmar từ một quốc gia bé nhỏ đã thực hiện những bước tiến đáng kể trong công cuộc cải cách thể chế chính trị tạo ra những đột phá ngoạn mục trong phát triển kinh tế - xã hội. Điều đặc biệt đáng nói ở quốc gia này là việc xây dựng thể chế kinh tế, chính trị mới lại diễn ra trong hoà bình và không để lại hệ luỵ của chiến tranh.

Tóm lại cải cách thể chế về cả kinh tế và chính trị là rất cần thiết đối với Việt Nam trong thời điểm này, những kinh nghiệm trước mắt của bạn bè quốc tế ít nhiều cần được vận dụng vào thực tế Việt Nam.

2. Tình hình cải cách thể chế kinh tế và chính trị ở Việt Nam:

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020, theo đó chiến lược này cũng đã khẳng định: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như vậy có thể nhận thấy khâu đột phá chiến lược đầu tiên mà chiến lược này nhắc đến là cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài ra thực hiện cải cách hành chính và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chiến lược còn nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế” “Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế”.

Có thể nhận thấy những định hướng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 là hoàn toàn đúng đắn và có lợi cho nền kinh tế nước nhà nhưng đáng tiếc trong thời gian dài những định hướng đúng đắn đó chưa được thực hiện một cách nghiêm túc hoặc nếu có thực hiện thì vẫn còn rất trì trạc. Về phân tích đánh giá các điểm mạnh và yếu của thể chế kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có một bản báo cáo về đánh giá thể chế nhưng chỉ đề cập đến những vấn đề bất cập trong cơ cấu hành chính nhà nước chứ chưa đề cập rõ đến Đảng hay các tổ chức chính trị - xã hội.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới thì thể chế chính trị không có những đổi mới xứng tầm với thời đại để giải quyết các khiếm khuyết của nền kinh tế và phát huy các thế mạnh của dân tộc. Phản ứng của bộ máy lãnh đạo không đủ tính nhanh nhạy để đáp ứng các yêu cầu biến đổi của thời đại, điều này có phần là do sự song hành của hệ thống Đảng và Nhà nước. Một số vấn đề cần giải quyết nhanh như việc ban hành hay thông qua các quyết định, văn bản pháp lý… phải chờ bàn bạc, thảo luận qua nhiều cấp mới đi đến quyết định. Vấn xây dựng kỷ luật, kỷ cương trong Đảng còn nhiều hạn chế một phần là do việc giám sát quyền lực trong hệ thống Đảng của Ban Kiểm tra, thanh tra Đảng còn chưa được thực hiện nghiêm túc.

Việc xây dựng một lộ trình thích hợp cho đổi mới thể chế chính trị nhằm đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế không được chỉ đạo thực hiện cụ thể. Lãnh đạo Đảng đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ của tham nhũng đối với nền kinh tế cũng như chính trị quốc gia nhưng vẫn chưa có một giải pháp cụ thể nào để thực hiện xã hội hoá chống tham nhũng, tất cả chỉ dừng lại ở phê bình và tự phê bình, chỉnh đốn tổ chức Đảng một cách chung chung… Tất cả những biện pháp này chỉ mang tính khẩu hiệu, không có định hướng cụ thể để giải quyết và cũng không đáp ứng được các yêu cầu của thời đại.

Nhìn chung, sự yếu kém của một bộ phận lớn bộ máy nhà nước đã gây ra những hệ luỵ không hề nhỏ, một số lĩnh vực đã nhiều lần phát hiện sai phạm lớn nhưng đâu lại vào đấy như các vụ việc tiêu cực trong ngành giáo dục và y tế được phát hiện trong thời gian vừa qua cũng chỉ dừng lại ở những mức phạt nhẹ chưa có tính răn đe cao, kể cả những vụ lương khủng của lãnh đạo doanh nghiệp công ích ở TP. Hồ Chí Minh cũng chưa có biện pháp xử lý thích đáng.

Không thể phủ nhận từ khi được thông qua và có hiệu lực Bộ Luật Cạnh Tranh đã tạo ra tác động lớn và mang lại những hiệu quả nhất định trong việc làm cán cân trên thị trường nhưng xét về tiềm năng thì vẫn còn nhiều hạn chế. Vai trò của Cục Quản lý cạnh tranh chưa thực sự được phát huy hết tác dụng khi còn chịu sự kiểm soát của Bộ Công Thương, qua đó công cuộc chống độc quyền trong nền kinh tế vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối. Một số ngành kinh tế còn tồn tại hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, độc quyền sản phẩm, dịch vụ gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên, bất cập là vậy nhưng nhiều doanh nghiệp cũng chưa biết cách tự bảo vệ quyền lợi của mình và khách hàng khi không nghiên cứu kỹ hoặc không biết về Luật Cạnh Tranh. Một số khác biết rõ luật nhưng ngại khiếu kiện.

Những vấn đề nhức nhối trên đây phản ánh một phần nào đó sự bất cập trong thể chế hiện tại, qua đó muốn hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần có những thay đổi chiến lược mang tính đột phá. Một khi chưa thực hiện được tiến trình đổi mới thể chế kinh tế và chính trị thì đừng mong nghĩ đến một môi trường kinh tế cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và mang lại lợi ích cho người dân.     

3. Giải pháp, kiến nghị:

Đã đến lúc Quốc hội thực hiện quyền và vai trò của mình một cách mạnh mẽ hơn nữa trong cải cách thể chế. Các Nghị quyết về cải cách thể chế cần được ban hành và thông qua sớm, thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc trong hệ thống hàn chính nhà nước như giải trình, công khai, minh bạch, nhiệm vụ chức năng phải được quy định rõ ràng. Các vị trí và chức danh chủ chốt cần phải được giám định, xét duyệt công khai từ Uỷ Ban Quốc Hội cũng như Hội đồng nhân dân cấp Trung Ương.

Đề hiệu quả hơn trong công tác quản lý kinh tế, chống độc quyền, lợi dụng địa vị chức vụ mà thống lĩnh thị trường cần phải thay đổi cơ cấu cũng như nâng cấp Cục Quản lý cạnh tranh, cho phép cơ quan này có đủ thẩm quyền quyết định một số vấn đề và chịu sự quản lý trực tiếp của Chính Phủ hoặc Quốc Hội thay vì chịu sự kiểm soát của Bộ Công Thương như hiện nay.

Chức năng của các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, tiếng nói của báo chí và vai trò của các tổ chức xã hội cần được nâng cao qua đó lấy lợi ích của nhân dân và người tiêu dùng làm phương châm hoạt động.

Hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia trong những năm vừa qua được chú trọng và quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như sự đóng góp xây dựng của toàn dân. Nhờ đó hệ thống cơ sở hạ tầng nước ta dần được cải thiện, quy mô được mở rộng và hình thức ngày càng đa dạng. Theo ước tính trong 10 năm của giai đoạn vừa qua có hơn 24% tổng đầu tư xã hội là dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn vốn này tương đương 9% GDP của cả nước, trong đó chiếm đến 65% là nguồn ngân sách nhà nước. Điều thành công hơn nữa là ngoài nguồn lực của nhà nước, cơ cấu của nguồn đầu tư này còn được đa dạng hoá bởi các nguồn đầu tư, đóng góp tự nguyện của nhân dân.

Về hệ thống giao thông đường bộ từ năm 2000 đến 2010, tổng chiều dài hệ thống đường bộ trên cả nước đã tăng từ 217 ngìn km lên hơn 256 ngìn km, theo tính toán sơ bộ đã tăng hơn 39 ngìn km. Hệ thống đường cao tốc trong vòng 10 năm cũng đã có những bước tiến vượt bậc khi năm 2000 chỉ có 24 km đường cao tốc, đến năm 2010 đã tăng gấp hơn 7 lần khi đạt 150 km. Các tuyến quốc lộ cũng đã được chỉnh trang và mở rộng, bảo đảm giao thông thông suốt trên cả nước, đến năm 2010 tổng chiều dài các tuyến quốc lộ đã đạt 17 nghìn km so với chỉ hơn 15 nghìn km của năm 2000. Các công trình giao thông liên xã, liên huyện cũng được mở rộng và cải tiến, nhiều công trình giao thông huyết mạch được khởi công và hoàn thành giúp thay đổi bộ mặt giao thông của đất nước.

Hệ thống giao thông đường sắt của Việt Nam cũng được cải thiện và mở rộng quy mô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân cũng như giao thương giữa các vùng trên cả nước, ua đó giúp giảm bớt thời gian di chuyển giữa các tỉnh thành phố với nhau.

Hệ thống giao thông đường biển có những thay đổi và bước tiến quan trọng để góp phần đưa đất nước hội nhập nhanh hơn với quốc tế. Đặc biệt các cửa ngõ giao thương then chốt như Hải Phòng, Cái Lân, Cửa Lò, Sài Gòn, Vũng Áng, Tiên Sa, Quy Nhơn… từng bước được nâng cấp hiện đại để có thể đón những chuyến tàu lớn vào Việt Nam một cách thuận lợi nhất. Tính đến năm 2010 cả nước có tổng cộng 166 bến cảng, trong đó có 49 cảng lơn phân bố khắp chiều dài đất nước, hệ thống cầu bến đạt số lượng khoảng 332 với tổng chiều dài gần 40 km. Số lượng hàng hoá thông thương qua các cảng cũng tăng nhanh từ 82,4 triệu tấn của năm 2000 lên đến gần 255 triệu tấn năm 2010, ước tính bình quân mỗi năm tăng 11,2%. Ngoài ra còn có một số cảng biển quốc tế quan trọng đang được đầu tư xây dựng như cảng Cái Mép - Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và cảng Lạch Huyện thuộc thành phố Hải Phòng.

Hệ thống sân bay, cảng hàng không đang hoạt động trên cả nước là 22 cảng, số sân bay quốc tế là 8, nhiều sân bay quân dụng cũng đã được chuyển đổi mục đích sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại cũng như nhu cầu thông thương ra quốc tế. Về hệ thống đường thuỷ nội địa cũng như giao thông nông thông cũng từng bước được chú trọng, đó là nhờ sự quan tâm đầu tư đúng mức của Nhà nước và xã hội vào lĩnh vực này, giúp cho khoảng cách từ các thành phố lớn về các đô thị địa phương được tiết kiệm thời gian và thuận tiện hơn rất nhiều.

Cơ sở hạ tầng năng lượng từng bước được đa dạng hoá nguồn cung cấp, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ vì không còn phải phụ thuộc vào một nguồn cung cấp chủ yếu nào nữa. Nhiều nguồn nguồn cung cấp khác được tận dụng và khai tác để tạo ra năng lượng giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và ổn định sản xuất kinh doanh.

Hệ thống thuỷ lợi, trạm bơm được phát triển theo hướng hiện đại hoá, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu cho nông dân, đáp ứng nhu cầu sản xuất quy mô lớn để xuất khẩu. Ngoài ra các hệ thống công trình phòng chống lũ và thiên tai cũng được đầu tư đúng mức qua đó ứng phó được với một số hiện tượng biến đổi khí hậu một cách kịp thời, giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất.

Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông trong những năm vừa qua được mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng. Người dân tiếp xúc với công nghệ ngày càng nhiều, điện thoại, máy tính kết nối internet có mặt ở mọi nơi. Bước tiến mới là đã thực hiện khác thành công chính sách xã hội hoá công nghệ thông tin, góp phần nâng cao trình độ công nghệ trong tất cả các lĩnh vực đời sống.

Các hạ tầng về y tế, giáo dục, thương mại, văn hoá - du lịch trong thời gian qua đều được đầu tư phát triển đúng mức mang lại nhiều thành quả kinh tế - xã hội, giúp cho mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước của Đảng ta ngày càng được thực hiện. Nhìn chung, nhờ những thành quả trên, bộ mặt của các vùng nông thôn hay các đô thị mới đã được thay đổi, lột xác, chất lượng và quy mô cơ sở hạ tầng được mở rộng và nâng cao, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu góp phần thay đổi diện mạo và vị thế của đất nước trong quá trình hội nhập với quốc tế.

Tuy hệ thống cơ sở hạ tầng nước ta thời gian qua có những thay đổi, cải tiến đột phá nhưng không tránh khỏi những hạn chế còn tồn tại. Cụ thể tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng so với mặt bằng chung là còn quá chậm, so với một số nước trong khu vực thì hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta vẫn còn quá lạc hậu và thiếu đồng bộ.

Hình thức vận tải đa phương thức ở nước ta vẫn chưa được chú trọng khi mà các loại giao thông như đường bộ với đường biển vẫn chưa được kết nối đồng bộ với nhau. Hệ thống đường bộ kém chất lượng về kỹ thuật, tuổi thọ thấp, công tác quản lý và bảo trì vẫn chưa được triển khai đồng bộ. Hệ thống quốc lộ đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế chỉ chiếm 47%, các tuyến cao tốc chỉ đạt 0,1%.

Hệ thống đường sắt còn quá lạc hậu cả về kỹ thuật lẫn quy mô, chủ yếu là đường đơn khổ 1.000 mm, dẫn đến tốc độ chạy của tàu thấp và độ an toàn cũng không đạt tiêu chuẩn. Trong khi ở các nước trong khu vực đã khai tác được 40-45 đôi tàu/1 ngày-đêm thì ở nước ta năng lực khai thác chỉ mới đạt 25 đôi tàu/1 ngày-đêm tức là mới chỉ đạt 60-70% năng lực. Ngoài ra còn một số vùng mà đường tàu chưa đến được như Tây Nguyên hoặc Đồng bằng Sông Cửu Long.

Nói đến quy mô và công nghệ thì chắc chắn phải nhắc đến nhược điểm của hệ thống cảng biển hiện nay, chỉ có 1,4% số cầu cảng có thể tiếp nhận được tàu 50 ngìn DWT. Trong thời buổi hội nhập quốc tế, nhu cầu thông thương ra quốc tế là rất lớn nhưng số bến chuyên dùng cho hàng container còn rất thấp, chưa có một cảng biển nào được đầu tư hiện đại thật sự để đạt tiêu chuẩn trung chuyển quốc tế. Mặc dù cũng có những hải cảng quốc tế như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn có thể đón nhận các chuyến tàu lớn nhưng việc quản lý khai thác, quy hoạch bến bãi, không gian bến còn nhiều bất cập, thiếu chuyên nghiệp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Hệ thống cảng hàng không cũng còn nhiều tồn tại hạn chế, nhiều sân bay chưa đủ khả năng và cơ sở vật chất hiện đại để đón máy bay hạ cánh vào ban đêm hoặc khi thời tiết xấu. So với một số nước trong khu vực thì năng lực khai thác các cảng hàng không của nước ta còn kém, có đếm 40% số cảng chỉ có khả năng khai thác máy bay nhỏ.

Cơ sở hạ tầng mạng lưới điện quốc gia chỉ đạt trình độ trung bình so với khu vực và thế giới, chất lượng hệ thống lưới điện còn thấp gây tốn thất điện năng lớn. Trong khi tỷ lệ tổn thất điện năng bình quân của thế giới là 8,4% thì ở Việt Nam tổn thất lên đến 9,6%, nghĩa là còn chưa đạt được mức trung bình của thế giới.

Hệ thống hạ tầng thuỷ lợi xuống cấp nghiêm trọng nhưng ít được chú trọng tu bổ, bảo trì gây ra nhiều tình trạng bất cập, thiếu đồng bộ và hiệu quả thấp. Tính đến nay số kênh mương phục vụ tưới tiêu và thuỷ lợi được kiên cố hoá chỉ đạt 19%.

Cơ sở vật chất hạ tầng truyền thông và công nghệ thông tin chưa thật sự đáp ứng tốt yêu cầu của người sử dụng, chất lượng và độ phủ sóng chưa đồng đều, hạ tầng phát triển nhanh về quy mô nhưng thiếu tính bền vững. Việc ứng dụng và xã hội hoá công nghệ thông tin vào đời sống cũng như sản xuất, kinh doanh còn nhiều hạn chế, năng lực cạnh tranh và quy mô của ngành công nghệ nước ta còn quá thấp.

Chất lượng của các công trình hạ tầng đô thị còn kém, thiếu đồng bộ, diện tích dành cho giao thông đô thị quá thấp không đáp ứng được nhu cầu đi lại và làm việc của người dân dẫn đến quá tải. Ngoài ra, hệ thống giao thông công cộng chưa thật sự phát huy vai trò để giải quyết các thực trạng trên.

Các cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giáo dục, an sinh xã hội thiếu về số lượng và kém về chất lượng. Hệ thống bệnh viện, trạm y tế phục vụ khám chữa bệnh cho người dân phân bố không đồng đều và cả dịch vụ cũng còn nhiều hạn chế, điều này do cả yếu tố con người lẫn yếu tố trang thiết bị, cơ sở vật chất.

Nhìn chung nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng về mọi mặt ở nước ta là vô cùng bức thiết nhưng nguồn lực đầu tư từ cả Nhà nước lẫn xã hội còn hạn chế gây ra nhiều bất cập. Nếu không khắc phục sớm thì khó mà thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và ổn định an sinh xã hội.

Để khắc phục những vấn đề nêu trên cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ, cụ thể như sau:

- Các công trình trọng điểm, có tính chất quan trọng giải quyết được nhiều thực trạng xã hội cần đầu tư và hoàn thành sớm chứ không nên đầu tư dàn trải gây lãng phí mà không mang lại nhiều hiệu quả. Để thực hiện tốt mục tiêu này cần sớm ban hành Luật đầu tư công nhằm tăng hiệu quả sử dụng nguồn Ngân sách cũng như tránh thất thoát nguồn quỹ quốc gia trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

- Đa dạng hoá các hình thức đầu tư nhằm thu hút đầu tư từ nhiều thành phần kinh tế. Các công trình giao thông lớn cũng như các hạ tầng phúc lợi xã hội có liên kết với nước ngoài cần triển khai sớm và tận dụng triệt để nguồn viện trợ ODA.

- Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới, tiến hành chính sách đi tắt đón đầu nhằm rút ngắn trình độ so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cần học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển bên cạnh việc áp dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và vận hành.

- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành để đảm bảo sự đồng bộ trong việc đầu tư và khai thác cơ sở hạ tầng. Hệ thống giao thông nông thôn cần đẩy mạnh huy động nguồn lực từ trong dân để kiên cố và phát triển.

Bên cạnh đó, việc tăng cường kêu gọi ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản công cộng từ người dân nhằm nâng cao hiệu quả vận hành cũng như tăng tuổi thọ cho các công trình hạ tầng cơ sở.

Trong năm 2013 chính sách thu Ngân sách với mục tiêu trọng tâm là tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được tiến hành khá hiệu quả, với các hoạt động giảm thuế, giãn thời hạn nộp thuế làm giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp thông qua giảm bớt nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Nhờ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mới sản xuất, thúc đẩy kinh doanh tạo ra nguồn cung dồi dào giúp hạ giá thành sản phẩm và tăng sức mua của người dân.

Bên cạnh đó để bù đắp vào khoản thất thoát, công tác chống thất thu Ngân sách Nhà nước cũng được chú trọng như tập trung thu các đối tượng, nhóm ngành nghề có tốc độ tăng trưởng cao, các ngành nghề có khả năng tăng thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ các khoản thuế, lệ phí bù đắp cho Ngân sách Nhà nước. Thành quả thể hiện sự chủ động và nỗ lực của Chính phủ là việc kịp thời ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 thể hiện quyết thâm giải quyết khó khăn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính phủ, việc điều chỉnh chính sách tài khoá theo hướng tích cực để giải quyết những khó khăn, vướng mắc còn tồn đọng trong thời gian dài khủng hoảng kinh tế là rất kịp thời và phù hợp với bối cảnh kinh tế trong nước.

Chính sách chi Ngân sách Nhà nước trong năm 2013 để phù hợp với tình hình chung cũng đã có một số điều chỉnh, các khoản chi không thực sự quan trọng đã được cắt giảm, thực hành tiết kiệm ở một số lĩnh vực được tiến hành khá hiệu quả. Rà soát, sắp xếp lại các khoản chi thường xuyên, tiết kiệm được 10% dự toán chi thường xuyên còn lại của 7 tháng cuối năm 2013, tối thiểu 20% chi phí điện nước, văn phòng phẩm… được tiết kiệm, chi phí cho các dịp lễ hội, tiếp khách, hội nghị, công tác phí… cũng được tiết kiệm 30%. Việc kiểm soát các hoạt động sử dụng đầu tư nguồn vốn Ngân sách nhà nước cũng được thực hiện chặt chẽ, mục tiêu giảm tối đa nợ đọng xây dựng cơ bản. Cụ thể:

+ Rà soát tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản và xác đinh trách nhiệm của từng cấp, cơ quan.

+ Cân đối nguồn xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản.

+ Không yêu cầu doanh nghiệp ứng vốn thực hiện dự án khi chưa được bố trí vốn, dẫn đến hậu quả phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.

+ Không sử dụng vốn vay ngân sách địa phương để bố trí cho ác dự án khởi công mới khi chưa xác định hoặc thẩm định được nguồn vốn để hoàn trả.

Năm 2013 vừa qua, quá trình tái cơ cấu kinh tế được tiến hành mạnh mẽ thông qua việc rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp lý tạo điều kiện phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước. Thành quả của các doanh nghiệp nhà nước, các cấp, ngành cho thấy tái cơ cấu đầu tư công được triển khai về cơ bản là đúng hướng, để khắc phục vấn đề của phương thức giao kế hoạch vốn trước đây là dễ phân bổ nguồn vốn sai đối tượng việc chuyển đổi sang phương thức giao kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 cho từng dự án được triển khai khá kịp thời.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, việc hỗ trợ doanh nghiệp thông qua cắt giảm nguồn thu Ngân sách Nhà nước cũng gây ra một số hệ luỵ nhất định, dẫn đến chính sách chi cũng bị ảnh hưởng. Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cần nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước mặc dù vẫn được đảm bảo nhưng gây áp lực lớn cho Ngân sách. Kết quả thu thấp và chậm so với tiến độ đề ra so với cùng kỳ các năm trước.

Tính đến tháng 8 năm 2013 so với cùng kỳ các năm trước, tổng số thu của Ngân sách Nhà nước vẫn dạt con số cao hơn nhưng tốc độ tăng thu có xu hướng giảm rõ rệt. Các hạng ngạch đều thu chưa đúng năng lực và chưa đạt kế hoạch. Đến hết tháng 8 năm 2013 có đến 40 địa phương trong cả nước chưa đạt yêu cầu về tiến độ thu, chỉ có 23 địa phương là thu đạt tiến độ đề ra ban đầu. Mặc dù so với cùng kỳ 2012 có đến 57 địa phương thu vượt nhưng mức tăng không đáng kể. Nguyên nhân chính là do:

+ Thực hiện các biện pháp giảm, giãn thuế theo Nghị quyết 02/NQ-CP ban hành ngày 07/01/2013 của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

+ Tăng trưởng kinh tế đạt thấp so với kế hoạch đề ra cũng tác động ảnh hưởng tới số thu ngân sách.

+ Tình hình doanh nghiệp mặc dù đã được cải thiện hơn nhưng mức độ cải thiện chưa đáng kể.

+ Diễn biến thị trường bất động sản những tháng đầu năm con trầm lắng đã ảnh hưởng tới số thu từ đất.

Những vấn đề yếu kém trong nội bộ nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết triệt để, tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao gây những gây cản trở nền kinh tế. Chính sách chi Ngân sách Nhà nước chưa được triển khai đúng hướng, đúng đối tượng. Quá trình tái cơ cấu đầu tư công tuy có gặt hái được thành quả nhưng nhìn chung diễn ra còn chậm, các thể chế liên quan đến tái cơ cấu đầu tư công như Luật Quy Hoạch, Luật Đô thị, Luật Quản lý, sửa dụng Ngân sách và sản xuất kinh doanh, Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi, Luật Đầu tư công... còn chậm được ban hành.

Các dự án lớn đặc biệt là các dự án thuộc khu vực địa phương quản lý hiện nay vẫn chưa xử lý xong nguyên nhân chính là do các dự án này trước đây được phê duyệt vượt quá khả năng cân đối vốn, một nhân tố nữa ảnh hưởng đến tái cơ cấu đầu tư công là việc giảm mạnh tỷ lệ đầu tư Nhà nước trong thời gian gần đây.

Để nâng cao, thức đẩy hiệu quả huy động Ngân sách nhà nước cần giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, cần có những giải pháp mang tính dài hơi và cả những giải pháp tình thế. Trước mắt cần điều chỉnh chính sách tài khoá làm mở rộng không gian huy động nhằm tăng hiệu quả huy động và sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước.

Giải pháp tình thế trước mắt cần triển khai khẩn trương chỉ đạo, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc chỉ thị 09/CT-TTg ngày 24/05/2013 về tăng cường chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tài chính và chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/06/2013 về tăng cường quản lý đầu tư, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn Ngân sách và trái phiếu chính phủ. Tiếp tục tiến hành các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp theo các Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng tổng cầu nền kinh tế. Tiến hành nhanh gọn các biện pháp nhằm giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đặt biệt đối với các dự án cấp bách có thể giải quyết nhanh đưa vào sử dụng.

Khu vực nông nghiệp, nông thôn cần được đầu tư đúng mức để tác động thúc đẩy tăng trưởng. Giải quyết nhu cầu nhà ở, nhà tái định cư thông qua ứng trước một phần ngân sách cho các địa phương. Quán triệt triệt để, thực hiện kế hoạch chi tiêu Ngân sách chặt chẽ, hiệu quả, tránh lãng phí cùng với giảm các chính sách làm tăng chi Ngân sách mà không có nguồn đảm bảo. Tăng cường trách nhiệm và tính tự chủ của người trực tiếp chỉ đạo sử dụng nguồn vốn Ngân sách nhưng đồng thời phải tăng cường công tác giám sát.

Đảm bảo hài hoà các mục tiêu và lợi ích, tính toán chu toàn cho các lợi ích đầu tư công, cần tiến hành khẩn trương ban hành bộ Luật đầu tư công cũng như bộ tiêu thức chuẩn hoá nhằm làm căn cứ pháp lý và cơ sở chung thực hiện phối hợp chính sách trong quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Đa dạng hoá phương thức và nguồn huy động vốn đầu tư công nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội, giảm quy mô đầu tư công cho phù hợp với nền kinh tế, từ bỏ mô hình tăng trưởng nóng chuyển sang phát triển theo chiều sâu và có tính dài hơi cao.

Sở hữu chéo là hiện tượng kinh tế mà doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần ở một doanh nghiệp khác. Hiện tượng kinh tế này tồn tại khá phổ biến trong nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Thuỵ Điển… Hình thức kinh tế sở hữu chéo cũng có những ưu điểm và nhược điểm của riêng nó.

Mục đích của doanh nghiệp sở hữu chéo một doanh nghiệp khác không chỉ có lợi nhuận mà còn muốn kiểm soát quyền lực thông qua cổ phần sở hữu nhằm vào các lợi ích giảm chi phí giao dịch cho các hoạt động hợp tác giữa các bên liên quan hoặc thao túng thị trường. Việc giảm chi phí giao dịch nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo mang lại lợi ích phúc lợi xã hội nhưng hành động thao túng thị trường lại gây hại cho phúc lợi xã hội.

Ở các quốc gia như Đức có truyền thống tôn trọng kỷ luật, Nhật Bản có truyền thống coi trong danh dự cá nhân thì sở hữu chéo đem lại hiệu quả cao hơn. Khi thực hiện các giao dịch ứng dụng hình thức sở hữu chéo tại các quốc gia này làm giảm chi phí liên quan đến hành vi cơ hội chủ nghĩa. Lợi dụng lợi ích này các tổ chức kinh tế đã áp dụng để hình thành các tập đoàn có các công ty thành viên sở hữu cổ phần lẫn nhau mà đặc biệt là các công ty trong các ngành liên kết dọc.

Sở hữu chéo giúp các bên tin cậy nhau hơn, sẵn sàng dành thời gian hợp tác để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều này giúp các bên giảm thiểu được các tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài, góp phần ổn định kinh doanh. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp trong nhóm ngành tài chính tín dụng, Sở hữu chéo giúp các doanh nghiệp này đảm bảo nguồn vốn với lãi suất hợp lý, điều này giúp ích rất nhiều cho các thị trường mới nổi khó tiếp cận và huy động nguồn vốn trên thị trường chứng khoán.

Nếu các ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác với nhau có tồn tại hình thức sở hữu chéo có thể tạo ra những lợi ích nhất định trong việc hợp tác tài trợ vốn, giải quyết được những vấn đề của các dự án lớn đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Mối liên hệ giữa các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp với các ngân hàng thông qua hình thức sở hữu chéo cũng giúp cho doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn vốn hơn với lãi suất hợp lý, từ đó các doanh nghiệp sẵn sàng mạnh dạn đầu tư vào các dự án dài hạn như nghiên cứu phát triển sản phẩm và thị trường.

Như đã nói phần trên, hình thức sở hữu chéo tuy có nhiều ưu điểm cho nền kinh tế song không thể phủ định hình thức này vẫn còn tồn tại một số bất cập cần phải loại bỏ.

Hình thức hợp tác sở hữu chéo theo một số nghiên cứu gần đây luôn tồn tại cấu kết ngầm, từ đó dẫn đến khả năng thao túng thị trường cao. Khi một doanh nghiệp nắm giữ cổ phầm của doanh nghiệp khác thì doanh nghiệp nắm giữ cổ phần luôn muốn kiểm soát triệt để các dự án hoặc hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp kia và doanh nghiệp nắm giữ cổ phần luôn làm tốt việc kiểm soát này, thậm chí doanh nghiệp này còn có thể tác động đến cả việc định giá hay sản lượng cung ứng ra thị trường của doanh nghiệp kia. Nếu 2 doanh nghiệp này cùng hoạt động trong một ngành nghề thì doanh nghiệp nắm giữ cổ phần có thể linh động về việc định giá và sản lượng cung ứng ra thị trường của doanh nghiệp mình để tránh ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của doanh nghiệp kia. Từ đó có thể nhận thấy khi các mối quan hệ hợp tác có tồn tại hình thức sở hữu chéo dễ dàng dẫn đến sự cấu kết giữa các doanh nghiệp để hưởng lợi từ việc thao túng thị trường.

Hạn chế sự giám sát của cổ đông cũng là một nhược điểm mà sở hữu chéo mang lại, khi các doanh nghiệp sở hữu cổ phần của nhau thì bên nắm giữ cổ phần lại không nắm quyền quản lý trực tiếp. Từ đó dẫn đến người quản lý trực tiếp lại thiếu động lực hoạt động tích cực mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp cũng như cho cổ đông, ngược lại để duy trì lợi nhuận và lợi ích nhà quản lý các doanh nghiệp sở hữu chéo lại càng cấu kết ngầm thao túng thị trường gây tác hại cho phúc lợi xã hội. Thêm vào đó, các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho nhau nhưng không kèm theo thanh toán bằng tiền gây ra hiện tượng vốn ảo, số lượng cổ phiếu thì tăng nhưng thực chất nguồn vốn lại không có dẫn đến cổ phiếu bị mất dần giá trị, các cổ đông nhỏ lẻ dần dần cũng bị thiệt hại nặng nề.

  Đối với hệ thống ngân hàng, sở hữu chéo dễ mang lại rủi ro đổ vỡ hệ thống tài chính. Cũng giống như các ngành khác, hình thức sở hữu chéo trong ngành ngân hàng và tín dụng cũng tồn tại những mối quan hệ cấu kết ngầm để khống chế lãi suất và tỉ giá trên thị trường. Các ngân hàng có liên hệ sở hữu chéo nếu một đối tác bị thua lỗ, cổ phiếu bị mất giá hoặc phá sản sẽ dễ dẫn đến mất an toàn vốn và giảm năng lực tín dụng cuối cùng là rơi vào tình trạng mất thanh khoản. Điều này là vô cùng tai hại đối với ngành tín dụng nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.

Không phủ nhận hình thức kinh tế sở hữu chéo mang lại những lợi ích nhất định cho thị trường trong một giai đoạn ngắn nhưng sự tồn tại của nó cũng mang lại tác hại không hề nhỏ cho nền kinh tế. Nếu ứng dụng hình thức này trong một thời gian ngắn hạn thì nó sẽ mang lại lợi ích không hề nhỏ nhưng về dài hạn, sở hữu chéo không mang lại một sự bền vững cho nền kinh tế.

Như vậy, về lâu về dài cần phải dần loại bỏ sở hữu chéo ra khỏi nền kinh tế nói chung và khu vực ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên, để giải quyết dứt điểm sở hữu chéo trong ngành ngân hàng cần phải xử lý thận trọng, có lộ trình. Trước tiên phải hoàn thiện các cơ chế, chính sách hạn chế dần sở hữu chéo ở từng tổ chức tín dụng, xử lý đồng bộ nhưng cũng phải linh động theo đặc tính riêng của từng tổ chức tín dụng.

Tăng cường thanh tra, giám sát, thực hiện dần dần theo lộ trình tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiến hành rút vốn dần khỏi các công ty con, các đối tác liên kết hoạt động không hiệu quả. Xác định nguồn vốn và nguồn lực tài chính của tổ chức tín dụng là nguồn huy động từ cá nhân, tổ chức đầu tư vào một cách hợp pháp. Giám sát chặt chẽ quan hệ tín dụng của các bên có sở hữu chéo, ngăn chặn và xử lý kịp thời tình trạng thao túng và chi phối thị trường. Ngân hàng nhà nước phải có biện pháp cụ thể xử lý các vi phạm về quy định sở hữu chéo của các tổ chức tín dụng trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng.

  Áp dụng kinh nghiệm quốc tế vào thực tế thị trường Việt Nam. Ở Nhật Bản tiến hành thay đổi hệ thống pháp lý, Chính phủ cùng Uỷ ban giám sát tài chính Nhật Bản ban hành quy định về an toàn vốn, buộc các ngân hàng bán bớt số lượng cổ phiếu đang sở hữu, đảm bảo tổng giá trị cổ phiếu trong danh mục đầu tư không vượt quá vốn tự có cấp 1 của Ngân hàng. Thành lập các quỹ phúc lợi và hưu trí cho người lao động, khuyến khích các doanh nghiệp có sở hữu chéo chuyển cổ phiếu sở hữu chéo vào các quỹ này. Hỗ trợ cho khung pháp lý mới cùng với hoàn thiện thể chế nhằm hướng tới giảm dần tỉ lệ sở hữu chéo, các thể chế mới sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp giảm bớt các tác động tiêu cực trong quá trình rút vốn từ các công ty con, các đối tác liên kết.

 

Để phục vụ việc giám sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005-2012, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử xin gửi tới các vị đại biểu Quốc hội một số thông tin về tình hình thực hiện chính sách nông nghiệp, phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua. Qua đó các đại biểu có nhiều thông tin hơn, trong việc nghiên cứu báo cáo giám sát về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII một cách khách quan nhất.

  1. Những kết quả đạt được.

Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn góp phần tích cực thực hiện Mục tiêu của chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của tỉnh đề ra: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 31,08% năm 2005 hết năm 2012 (theo chuẩn nghèo 2012) tỉnh Phú Thọ còn 14,12%; Năm 2013 còn 12,52% bình quân mỗi năm giảm 4,2% (11.755 hộ) góp phần đưa Phú Thọ cơ bản ra khỏi tỉnh nghèo. Nâng cao nhận thức, kiến thức cho người nghèo, hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội một cách cơ bản và bình đẳng, giúp họ cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất. Giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các vùng. Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng nghèo, xã có tỷ lệ nghèo cao.

Chương trình giảm nghèo đã tạo thành sức mạnh tổng hợp: nâng cao năng lực sản xuất, kiến thức làm kinh tế cho người nghèo; hướng dẫn người nghèo cách làm ăn; nông dân và các hộ đói nghèo có vốn sản xuất, lao động có việc làm, sản xuất nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển, trình độ dân trí, kinh nghiệm sản xuất được nâng lên, tạo điều kiện cho người nghèo tự vươn lên giảm nghèo, đời sống nhân dân được cải thiện và được thể hiện dưới các con số của từng dự án như sau:

- Công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật: Đã tổ chức tập huấn 125 lớp cho 5.850 lượt nông dân nghèo. Đối tượng tập huấn là các hộ nghèo tại địa phương theo tiêu chí tại Quyết định 170/QĐ-TTg. Nội dung gồm: kỹ thuật trồng, thâm canh lúa lai, ngô lai, chăn nuôi lợn, chăn nuôi gà, đại gia súc, trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế trang trại Kinh phí triển khai thực hiện trong 5 năm là: 350,22 triệu đồng.

- Xây dựng mô hình điếm: Tổ chức xây dựng các mô hình điếm với 3 nội dung trồng trọt, chăn nuôi, khuyến lâm tại các xã miền núi, xã ĐBKK và ATK, nội dung chủ yếu tập trung vào các mô hình trồng, thâm canh 995 ha lúa lai, 97 ha ngô lai; trồng, thâm canh cây tre chuyên măng bát độ, trồng mây nếp nguyên liệu, cây sơn, phát triển sản xuất, phục vụ cho phát triển ngành nghề nông thôn. Trong 5 năm đó triển khai hỗ trợ cho trên 4.639 hộ với tổng kinh phí trên 2.480 triệu đồng thực hiện các mô hình.

- Phát triển ngành nghề nông thôn:

Hỗ trợ truyền nghề đan mây, tre, giang cho 172 hộ, kinh phí triển khai 300 triệu đồng; Hỗ trợ phát triển nghề mộc gia dụng: 550 triệu đồng; nghề thủ công khâu nón lá: 230 triệu đồng (tại cẩm Khê). Khôi phục làng nghề dệt mành cọ, dệt chiếu trúc tại Đoan Hùng, làng nghề nuôi ong lấy mật (tại Hạ Hoà) . Hỗ trợ máy đốn hái chè, quy trình vận hành máy móc, kỹ thuật hái, đốn chè. Kinh phí 550 triệu đồng;

Dự án Hỗ trợ Phát triến sản xuất thuộc chương trình 135 với tổngnguồn vốn: 83.100 triệu đồng, 275.599 hộ thụ hưởng, đã thu được những kết quả sau: Giống cây trồng: số hộ được thụ hưởng là 70.624 hộ, kinh phí là 17.132 triệu đồng, trong đó: Giống lúa 340,4 tấn với kinh phí là 5.195 triệu đồng; giống ngô lai 222,4 tấn, kinh phí là 5.517 triệu đồng; giống khoai tây 48 tấn, kinh phí là 1.080 triệu đồng; giống đậu tương 15 tấn, kinh phí là 684 triệu đồng; giống lạc 18 tấn, kinh phí là 572 triệu đồng; một số loại cây trồng khác (chè, sơn, mây nếp, cây lâm nghiệp) 3.136.200 cây giống, kinh phí là 4.086 triệu đồng.

Giống vật nuôi: số hộ được thụ hưởng là 8898 hộ, kinh phí là 15.291 triệu đồng, trong đó: Giống trâu, bò, dê 1.559 con, kinh phí là 6.348 triệu đồng; Lợn (lợn giống sinh sản và lợn thịt) 6.258 con, kinh phí là 4.776 triệu đồng; giống Gia cầm 110.516 con, kinh phí là 2.916 triệu đồng; thủy sản 1.991.750 con, kinh phí 1.927 triệu đồng; ong mật 400 đàn, kinh phí 200 triệu đồng.

Vật tư sản xuất: số hộ được thụ hưởng là 47.525 hộ, kinh phí là 16.561 triệu đồng, trong đó: Phân đạm Urê 664 tấn, kinh phí là 2.948 triệu đồng; phân tổng hợp NPK 1471 tấn, kinh phí là 4297 triệu đồng; phân Kali 255 tấn, kinh phí 1619 triệu đồng; phân Supe lân 328 tấn, kinh phí là 921 triệu đồng; các loại vật tư khác (Cám công nghiệp, Nilon che phủ, thuốc bảo vệ thực vật) 642 tấn, kinh phí là 4.866 triệu đồng.

Hỗ trợ máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất: số hộ được thụ hưởng là 14.571 hộ, kinh phí là 17.682 triệu đồng, tổng số máy móc, thiết bị được hỗ trợ là 2.938 máy (máy cày, bừa, máy bơm nước, máy hái chè, đốn chè, chế biến gỗ).

Xây dựng mô hình sản xuất: số hộ được thụ hưởng là 7.059 hộ, tổng số 144 mô hình, kinh phí là 8.154 triệu đồng.

Bồi dưỡng, tập huấn: Trong 5 năm đã tố chức được 1106 lớp, với 30.833lượt người tham gia, kinh phí là 4.011 triệu đồng.

Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất được triến khai đồng bộ đã giúp các xã, thôn bản ĐBKK có điều kiện xây dựng và trình diễn các mô hình sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp có năng suất, chất lượng cao, giúp đồng bào miền núi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thay đổi cách nghĩ, cách làm, tập quán sản xuất, canh tác đạt năng xuất và hiệu quả hơn; nhiều ngành nghề mới được phát triển và nhân rộng. Hỗ trợ kinh phí cho các hộ nghèo có điều kiện mua sắm vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, máy móc thiết bị phục vụ cho công tác chế biến bảo quản nông lâm sản... góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện nâng cao đời sống nhân dân.

- Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững 30a với tổng số vốn được hỗ trợphát triển sản xuất: 38.722 triệu đồng.

Kết quả thực hiện năm 2009:Hỗ trợ là 6.002 triệu đồng.

Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập gồm: khoán chăm sóc bảo vệ rừng, giao đất trồng rừng sản xuất tạo việc làm tăng thu nhập;

Hỗ trợ về trồng trọt đảm bảo an ninh lương thực xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện gồm các hạng mục hỗ trợ như phân bón, công tác bảo vệ thực vật, trồng các loại cây trồng có năng suất, chất lượng, sản lượng cao với 105ha lúa, ngô, đậu đỗ các loại, số hộ hưởng lợi 1.389 hộ. Sản lượng lương thực cây có hạt tăng 630 tấn, năng suất lúa tăng bình quân 2,5 tạ/ha.

Hỗ trợ các giống đặc sản địa phương như Lợn rừng lai, gà nhiều cựa theo hướng sản xuất hàng hóa đã góp phần tăng thu nhập xóa đói giảm nghèo cho nhân dân địa phương.

Chương trình đã hỗ trợ vay vốn cho 3.456 hộ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc gia, cầm và xóa nhà tạm đã được nhân dân sử dụng hiệu quả.

Kết quả thực hiện năm 2010/ Hỗ trợ là 8.480 triệu đồng.

Các hạng mục hỗ trợ gồm:

Hỗ trợ xây dựng quy hoạch nông, lâm, thủy sản cho 520 ha lúa giống, ngô lai 286 ha, đậu tương 150 ha cho 8.045 lượt hộ gia đình.

Hỗ trợ phát triển chăn nuôi 146 con bò laisind; 5.500 con gà giống nhiều cựa cho 1.600 hộ.

Hỗ trợ tập huấn kỹ thuật về trồng trọt chăn nuôi kinh tế trang trại cho 1400 hộ tham gia học tập

Kết quả thực hiện năm 2011:Hỗtrợ là 10.660 triệu đồng.

Gồm hỗ trợ giao khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng 1.439,8ha cho 1.192 hộ; hỗ trợ 52,2 tấn gạo cho 480 hộ nghèo thiếu lương thực, hỗ trợ trồng lúa lai với diện tích 270ha, ngô lai 226ha, Đậu tương 33 ha, khoai tây hà lan 50ha, trồng mới 10 ha chè Phúc Vân Tiên, 174 con bò laisind 72 con lợn cái giống, 32ha nuôi trồng thủy sản, 16,7 nghìn liều vắc sin dịch tả lọn, 13,73 nghìn liều vắc sin lở mồm long móng

Hỗ trợ cơ giới hóa gồm 96 máy bơm nước, máy hái chè, máy cày bừa, máy vò lúa.

Hỗ trợ tập hấn kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi.. ..4.250 hộ

Kết quả thực hiện năm 2012:lỉề trợ là 13.580 triệu đồng gồm:

Trồng trọt: Cây chè với diện tích 60ha, 30 ha trồng cây Sơn, 140 ha trồng lúa, 25 ha khoai tây.

Chăn nuôi: 190 con bò, 150 con trâu sinh sản, 530 con lợn và và các lớp tập huấn xúc tiến thương mại.

          2. Tồn tại, hạn chế trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, thay đổi nhận thức, sự tham gia của người nghèo, xây dựng cơ chế điều hành, lồng ghép trong chính sách giảm nghèo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bản tỉnh Phú Thọ cũng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục:

-         Một số chương trình, dự án triển khai chậm, quá trình thực hiện còn lúng túng. Năng lực quản lý và tổ chức thực hiện của một số chủ đầu tư, chủ dự án còn hạn chế, nhất là cấp xã, do đó việc triển khai thực hiện dự án chậm và còn sai sót, nhất là khâu hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư, giải ngân, thanh quyết toán. Việc huy động nguồn lực của địa phương đạt thấp, tư tưởng trông chờ, ỷ nại vào ngân sách cấp trên khá phố biến. Công tác xã hội hoá các hoạt động của chương trình, dự án hạn chế.

-         Chế độ báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện chưa đầy đủ, kịp thời; xác định danh mục, quy mô đầu tư thiếu chính xác, vẫn xảy ra tình trạng đề nghị xin điều chỉnh, bổ sung thay đổi danh mục, quy mô công trình.

-         Công tác kiểm tra, giám sát của một số sở ngành quản lý các dự án chương trình chưa thường xuyên; tổng hợp, đánh giá thiếu cụ thể; giải quyết hoặc đề xuất xử lý những phát sinh vướng mắc chưa kịp thời. Sự phối kết hợp trong Ban chỉ đạo, giữa các sở, ngành và UBND các huyện chưa chặt chẽ.

-         Tính bền vững của việc giảm nghèo chưa cao, đặc biệt đối với các vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những nơi thường xảy ra hạn hán, thiên tai, lũ lụt...tỷ lệ hộ nghèo, tái nghèo còn cao.

-         Công tác rà soát, khảo sát nắm tình hình đói nghèo, xác định hộ nghèo hạn chế, vai trò của cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở chưa được phát huy; kết quả phản ánh có địa phương, cơ sở chưa chính xác; không đạt mục tiêu đề ra.

3 Nguyên nhân của những tồn tại.

- Về khách quan: Sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh, hiệu quả đầu tư sản xuất nông nghiệp thấp, rủi ro cao; tình trạng suy giảm kinh tế thế giới và trong nước đã hạn chế các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Văn bản hướng dẫn của một số Bộ, ngành chủ quản chương trình, dự án chậm; có nội dung chương trình 135, dự án đến tháng 9/2008 mới có hướng dẫn triển khai thực hiện, ảnh hưởng trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chính sách nhiều, phân tán, chồng chéo...

-    Về chủ quan: Phú Thọ là tỉnh miền núi còn nghèo, điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh cho các chương trình mục tiêu quốc gia rất hạn hẹp. Mức sống dân cư chưa cao, khả năng huy động các nguồn lực từ cơ sở thấp.

Đặc biệt, do nhận thức của một số cấp uỷ đảng, chính quyền, của bản thân người nghèo còn hạn chế, bên cạnh đó vùng nghèo được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, người nghèo ngày càng được thụ hưởng nhiều chính sách quan tâm hỗ trợ trực tiếp của Đảng, Nhà nước nên một số địa phương, một bộ phận người nghèo đã xuất hiện tư tưởng trông chờ, ỷ nại...có nơi mất đoàn kết ở cơ sở.

4. Một số kinh nghiệm trong thực hiện chương trình.

Một là, cần có sự chuyển biến nhận thức: Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân đây là một chủ trương, chính sách an sinh xã hội lớn, nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên trong chiến lược phát triến kinh tế - xã hội, lấy phát triển kinh tế xã hội để giảm nghèo, để từ đó hoạch định các chương trình cụ thể từng năm bằng việc Nhà nước trợ giúp một phần và huy động cộng đồng, gia đình, dòng họ hỗ trợ để chính người nghèo tự vươn lên. Thực tế chứng minh, nơi nào nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền cụ thể sâu sắc, bám sát vào chương trình, coi chương trình Giảm nghèo là nhiệm vụ trọng yếu thì mới tạo ra sự phát triển đồng bộ và đạt kết quả tốt.

Hai là, cần điều tra nắm vững số lượng, nguyên nhân hộ đói nghèo để đề ra các giải pháp cụ thể, phù hợp để việc tác động đúng địa chỉ và đề xuất của người dân và người dân chính thức là chủ thể trong ý tưởng cho đến tổ chức thực hiện thì mới tạo nên sự thành công.

Ba là, phát huy mạnh mẽ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; phải công khai, công bằng trong việc thực hiện các chính sách.

Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính; đề cao trách nhiệm người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Các cấp ủy Đảng phải lãnh đạo toàn diện; chính quyền điều hành cụ thể, sáng tạo, phù hợp, phát huy sức mạnh của các tổ chức chính trị xã hội về quyền làm chủ của nhân dân; khơi dậy nội lực, ý chí vươn lên thoát nghèo của chính người nghèo. Tăng cường kiểm tra, giám sát, lồng ghép các nguồn lực thực hiện chương trình.

Năm là, Tập trung hỗ trợ phát trien sản xuất, thực hiện chuyến giao đúng kỹ thuật tuyên truyền nâng cao ý thức của các hộ tham gia thực hiện chương trình, khuyến nghị cho người dân về các quy trình kỹ thuật mới, những cách làm hay, tiến bộ từ đó có tác dụng lan tỏa trong cộng đồng; coi trọng phát huy nội lực, không ngừng tranh thủ mọi nguồn lực qua các chương trình, dự án, doanh nghiệp và xã hội hóa. Đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội vùng nghèo có giá trị giảm nghèo bền vững.

Sáu là, Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tích cực tham gia chương trình; đẩy mạnh hoạt động truyền thông, tổ chức lấy ý kiến của nhân dân xây dựng các mô hình theo đề xuất của người dân đảm bảo đúng hướng, áp dụng tiến bộ khoa học tiến bộ vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; Tận dụng kiến thức khoa học trong liên kết 4 nhà vào hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó có thị trường đầu ra ổn định. Phối họp với Đài phát thanh truyền hình thực hiện phóng sự trên truyền hình tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật.

5. Giải pháp.

-        Nhóm giải pháp về chính sách:

Về nguyên tắc Nhà Nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Hoạt động Hỗ trợ người nghèo cũng phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, được điều chỉnh bằng các văn bản qui phạm pháp luật, hoạt động Hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ưu tiên hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách Nhà Nước. Ưu tiên đầu tư thực hiện các dự án phục vụ nhiều người ở những vùng đời sống quá khó khăn;

Có chính sách trợ giá đầu vào, tiêu thụ nông sản phù hợp cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn tham gia sản xuất trong chương trình xuất khẩu hoặc xây dựng vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến.

Tuyên truyền hỗ trợ thông tin, hỗ trợ khắc phục rủi ro trong sản xuất, có chính sách thu hút nhân tài về các xã để thúc đẩy phát triển sản xuất giảm nghèo bền vững.

-        Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện:

Trong khi yêu cầu của người dân được hỗ trợ cả về lực lượng lao động, vốn, cán bộ lãnh đạo, y tế và giáo dục. Bởi vì các vùng đặc biệt khó khăn, vùng nghèo hầu hết là những vùng điều kiện để tiếp cận cuộc sống còn nhiều khó khăn, các điều kiện phục vụ y tế, giáo dục, văn hoá v.v. còn thiếu thốn rất. Đặc biệt giữa chính quyền phải có sự phối họp chặt chẽ trong công tác khuyến Nông-Lâm-Ngư để giúp người dân có thể vượt qua được những khó khăn ổn định sản xuất và đời sống. Giải pháp về hỗ trợ sản xuất hỗ trợ công tác khuyến nông, lâm, ngư

+ Hỗ trợ nông dân Chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, vật tư phân bón vào sản xuất.

+ Hỗ trợ vốn cho việc ứng dụng kỹ thuật mới, thử nghiệm giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất.

+ Ưu tiên vốn vay cho các hộ có mô hình trang trại nông, lâm, ngư nghiệp sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa. Cho vay ưu đãi, lãi xuất thấp đối với các hộ trồng cây ăn quả theo mô hình trang trại từ 2 ha trở lên, thời hạn vay 10-15 năm. Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với người sản xuất và các cơ sở chế biến tiêu thụ sản phẩm.

+ Quy hoạch bố trí lại hệ thống lưới chợ nông thôn. Nhanh chóng xây dựng các chợ thu mua sản phẩm có tính chất là đầu mối về rau xanh, cá, tôm, hoa... phục vụ bán buôn, nhằm tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm cho người nông dân và thúc đẩy thị trường ở nông thôn phát triển.

-       Giải pháp về nguồn lực:

Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện chương trình; làm tốt công tác huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư cho chương trình, khuyến khích nhân dân cùng tham gia đầu tư xâý dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm

-       Tăng cường nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, bảo đảm đủ theo quy định đế các xã có khả năng thực hiện chương trình theo đề án,dự án; nhà nước có nhiều hình thức hỗ trợ, có thể cả bằng hiện vật. Đầu tư mạnh nguồn lực cho phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập cho nông dân.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành