Cosodulieu

Cosodulieu

Cán bộ, công chức nhà nước là những người sử dụng trực tiếp quyền lực nhà nước để tác động lên các quan hệ xã hội thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc của cơ quan nhà nước mà cán bộ, công chức đó trực thuộc. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trên thực tế như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Tạo ra các phương thức để kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức hiệu quả nhất là mục tiêu hướng đến của các nhà nước trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam.

           Quyền lực nhà nước là trung tâm của quyền lực chính trị mà các đảng phái chính trị mong muốn sử dụng, chi phối và kiểm soát. Quyền lực nhà nước không tự thân nó có thể tác trực tiếp đến xã hội mà phải thông qua bộ máy nhà nước và các nhân sự làm việc trong bộ máy đó. Do vậy, quyền lực nhà nước được chuyển hóa thành các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước; các quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Sử dụng quyền lực nhà nước trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ, công chức (dưới hình thức tập thể hoặc cá nhân). Từ việc được trao quyền lực nhà nước như vậy thường dẫn đến hai nguy cơ phổ biến, Nguy cơ thứ nhất có phạm vi bao trùm, đó là xu hướng lạm dụng hoặc sử dụng trái phép quyền lực được giao vào những mục đích khác nhau, xuất phát từ nhiều nguyên do khác nhau (vì cá nhân, vì không có năng lực, vì thiếu kiến thức, kinh nghiệm, vì lợi ích cục bộ địa phương, vì không có tầm nhìn...).

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực nhà nước có nhiều lý do khác nhau, mỗi người có cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Song, thông thường được lý giải bởi những lý do cơ bản sau:

Quyền lực được xem là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình. Quyền lực luôn tồn tại trong những mối quan hệ cụ thể quan hệ quyền lực) ở đó, chủ thể quyền lực nhờ vào khả năng nào đó của mình mà buộc đối tượng quyền lực phải phục tùng, chịu sự sai khiến của mình. Quyền lực nhà nước được xem là khả năng của nhà nước để buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng Nhà nước.

           Quyền lực nhà nước luôn thể hiện trong các mối quan hệ nước không được tổ chức và thực hiện đủ mạnh nó sẽ không có hiệu lực hoặc có hiệu lực thấp, nghĩa là, chủ thể quyền lực không ban hành được mệnh lệnh hoặc mệnh lệnh của họ ban hành không được thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác và triệt để. 

             Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Áp dụng Biện pháp Đông kết tiền gửi trong trường hợp cấp thiết để đối phó với nạn lạm phát phi mã do chính phủ bội chi nhằm trang trải các khoản chi liên quan tới chiến tranh. Do lượng tiền phát hành của BOJ tăng quá nhanh, nên tháng 2 năm 1946 chính phủ đã buộc mọi người phải gửi tất cả số tiền vượt quá một mức nhất định và cấm rút tiền gửi trừ một lượng tối cần thiết cho nhu cầu sống và sản xuất. Các giấy bạc ngân hàng cũ đã bị vô giá trị và các giấy bạc ngân hàng mới sẽ được phát hành vào lúc rút tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, vì nền kinh tế đang dần phục hồi, nên việc hạn chế rút tiền gửi cũng được nới lỏng, và biện pháp này đã chính thức được huỷ bỏ vào tháng 7/1948. Tất cả các khoản tiền gửi, ngoại trừ những khoản lớn của tập thể cuối cùng được dùng để bồi thường thiệt hại do chiến tranh, đã được giải phóng.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Trải qua các thời kỳ, mong muốn của những nhà chính trị học có khuynh hướng dân chủ, tiến bộ là luôn tìm kiếm các công cụ, cơ chế để có thể tiết chế quyền lực, phòng ngừa sự tha hóa của quyền lực khi thực thi quyền lực. Trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”, Ch.Montesquieu đã chứng minh sự cần thiết phải tách lập pháp và tư pháp, hành pháp thành những nhánh quyền lực độc lập nhằm bảo đảm hiệu quả trong quản lý của Nhà nước và bảo vệ tự do của người dân trước khả năng lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước. Ông cho rằng sự phân quyền là cần thiết để bảo đảm các thiết chế quyền lực tự kiểm soát của bản thân, cân nhắc trước mọi quyết định của chính mình, vì mọi quyết định có tính quyền lực đều liên quan đến quyền của con người. Đạt được mục đích đó, cần có một cơ chế phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực.

            Ở Việt Nam, trong những năm qua đã xảy ra nhiều vụ việc lạm dụng quyền lực, cho thấy nhu cầu cấp bách của việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với cơ quan công quyền, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Thấy rõ nguy cơ với chế độ và xã hội do tình trạng lạm quyền gây ra, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ, cần “phát huy vai trò giám sát... của Nhân dân, của báo chí, của công luận” và đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, lợi ích nhóm. Rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực sẽ tạo tiền đề cho mỗi chủ thể tự xác định được quyền, trách nhiệm của mình và cùng với các chủ thể khác thực thi quyền lực đúng với mục đích, tôn chỉ theo quan điểm của Đảng. Chủ thể kiểm soát thực thi quyền lực là toàn bộ hệ thống chính trị, với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là chính bản thân của những người có chức, có quyền cùng tiến hành. 

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Tình hình tội phạm về môi trường trong những năm gần đây trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, khôn lường. Trên thế giới thì rõ nét là những hiện tượng dịch chuyển ô nhiễm “xuyên biên giới từ các nước phát triển sang các nước đang và kém phát triển, thông qua các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, xuất, nhập khẩu... (như: sự cố môi trường nghiêm trọng tràn dầu trên vịnh Mêhicô, vỡ bể chứa bùn đỏ tại Hungari...).

Theo định nghĩa của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, “an ninh môi trường được hiểu là “sự khan hiếm các tài nguyên thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm họa có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh"[1], Báo cáo Thiên niên kỷ của Hội đồng châu Mỹ của Liên hợp quốc xác định: “An ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia"[2]. Do đó, xâm phạm an ninh môi trường cần được coi là một kiểu diễn biến hòa bình[3], còn an ninh môi trường được hiểu là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng bảo đảm đầy đủ các điều kiện sống an toàn, lành mạnh cho con người trong hệ thống đó. Nguy cơ an ninh môi trường có thể dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng như: Mất ổn định do biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước bị đe dọa, vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới, khan hiếm lương thực và sự gia tăng nghèo đói, sự phát triển không bền vững, cân xứng, hệ sinh vật ngoại lai nguy hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn ngày càng gia tăng, v.v..

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 


[1] Xem Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Sinh: Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010, tr.34, 36.

[2] Xem: http://tnmtuyenquang.gov.vn/Moi-truong/Can-danh-gia-dung muc - ve - van - de - an - ninh - moi - truong - tai - Viet - Nam - 20226, truy cập ngày 22/10/2017.

[3] Xem Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Sinh: Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010, tr.34, 36.

Thứ năm, 18 Tháng 6 2020 11:31

PHÂN LOẠI CƯỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH

Cưỡng chế hành chính là tổng thể các biện pháp do Luật hành chính qui định, được cơ quan, người được trao quyền áp dụng theo thủ tục hành chính, có nội dung hạn chế quyền tự do và quyền tài sản của cá nhân, tổ chức, buộc các chủ thể đó phải thực hiện.
Cưỡng chế hành chính là bắt buộc phải thi hành một mệnh lệnh, quyết định hành chính và là biện pháp do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện đối với cá nhân hay tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Được thực hiện bởi những người có thẩm quyền được pháp luật quy định.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước và khu vực trên thế giới, đặc biệt đối với Liên minh châu Âu, ngày càng được cải thiện kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - WTO, biểu hiện rõ nhất là khả năng xuất khẩu sản phẩm và đặc biệt khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực của Việt Nam sang thị trường quốc tế ngày càng được gia tăng, tuy nhiên những kết quả đó chưa thực sự tương xứng với tiềm năng cũng như chưa mang tính ổn định và bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, khi quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi đã tích cực và chủ động hội nhập
ngày càng sâu rộng hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu bằng việc đàm phán và ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu hay Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, sẽ tác động rất lớn đến khả năng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường quốc tế nói chung và thị trường Liên minh châu Âu nói riêng. Để tận dụng được những cơ hội cũng như hạn chế những thách thức từ các Hiệp định thương mại tự do, Chính phủ và các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần phải nỗ lực rất nhiều trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu, đặc biệt là khả năng xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, để có được những giải pháp căn cứ và hiệu quả thì việc hiểu đúng bản chất của việc nâng cao khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực từ các lý thuyết, khái niệm, nội dung, tiêu chí cho đến những kinh nghiệm quốc tế là hết sức cần thiết.

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Một số quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chưa thực sự phù hợp với thực tiễn nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung một cách kịp thời. Đáng quan tâm nhất hiện nay đó là việc chưa có các quy định về chế tài hậu giám sát. Thực tế hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội hiện nay cho thấy, các kết luận giám sát mới chỉ dừng lại ở việc “nhắc nhở", đưa ra
những khuyến nghị mà thực tế không có quyền gì rõ ràng. Điều này làm cho đối tượng chịu sự giám sát không chịu sự ràng buộc cụ thể nào với các cơ quan tiến hành giám sát, tức là hệ quả của hoạt động giám sát không được xác định rõ ràng.

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Do đối tượng xâm phạm chuyển từ an ninh biên giới, lãnh thổ, an ninh chính trị trong truyền thống sang các lĩnh vực an ninh mới như: an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh môi trường...nên vấn đề an ninh phi truyền thống dễ làm phát sinh những loại hành vi nguy hiểm cho xã hội mới. Ví dụ: Hành vi hủy hoại môi trường sống gây ra thảm họa môi trường sinh thái, hành vi thành lập, tham gia tổ chức tội phạm, tham gia thành lập tổ chức cực đoan, hành vi đầu độc gây nguy hiểm chung cho cộng đồng, hành vi chế tạo, tàng trữ, sản xuất, tiêu thụ các loại vũ khí hóa học, sinh học, chất độc, cũng như
vũ khí gây sát thương hàng loạt đã bị Công ước quốc tế cấm... Hoặc vẫn là hành vi phạm tội cũ những phương thức, thủ đoạn mới có liên quan đến đặc tính “xuyên quốc gia". Ví dụ như: tội khủng bố, tội rửa tiền, các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm an ninh hàng hải, hàng không...

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

“An ninh phi truyền thống” (Non - Traditional security) là một khái niệm mới và thường được sử dụng để phân biệt với cách tiếp cận truyền thống về an ninh - cách tiếp cận phổ biến trong quan hệ quốc tế cho tới giai đoạn cuối của Chiến tranh lạnh, đối đầu Đông - Tây - vốn chủ yếu tập trung vào vấn đề an ninh quốc gia, kiểm soát xung đột lãnh thổ giữa các nước. Do đó, dưới góc độ chung và một cách khái quát nhất, vấn đề an ninh phi truyền thống chính là thách thức đối với sự sống còn và phúc lợi của các dân tộc và các quốc gia.

Những thách thức này phát sinh chủ yếu từ các nguyên nhân “phi quân sự mang nguy cơ cao” như: biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn nước, các bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, thiếu lương thực, buôn lậu người, buôn bán ma túy và tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia. Những nguy cơ, mối đe dọa này thường có phạm vi “xuyên quốc gia", “xuyên biên giới" - không thể khắc chế bằng các biện pháp đơn phương, mà cần phải có chính sách toàn diện về kinh tế, xã hội, cũng như sử dụng lực lượng vũ trang cho các mục đích nhân đạo". Vì vậy, làm rõ nội hàm và nhận thức, xác định những vấn đề an ninh phi truyền
thống đòi hỏi trước hết phải làm rõ các thuật ngữ “an ninh"; “an ninh con người"; “an ninh con người bền vững" và “an ninh truyền thống".

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành