Cosodulieu

Cosodulieu

Trong thời gian qua, Mỹ chú trọng củng cố, mở rộng phạm vi hoạt động của các hiệp ước với đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Thái Lan và Philippin trên cơ sở duy trì sự chia sẻ về những giá trị cốt lõi. Đáng chú ý trong giai đoạn này là chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản và Ôxtrâylia. Liên minh Mỹ - Nhật là trụ cột chính trong chính sách của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian qua, tiếp tục được nâng cấp, mở rộng phạm vi, lĩnh vực cũng như tăng cường chiều sâu hợp tác an ninh, quốc phòng, chủ yếu xuất phát từ yêu cầu đối phó với mối đe dọa chung là Trung Quốc.

Tiếp theo đó, mục tiêu của Mỹ được đặt vào việc thiết lập và thúc đẩy hợp tác chiến lược với các đối tác mới như Ấn Độ và ASEAN, trong đó đặt trọng tâm vào một số nước trong ASEAN. ASEAN từng bước khẳng định được vị trí “trung tâm” trong chiến lược của Mỹ tại khu vực. Nguyên nhân chính dẫn đến sự quan tâm của Chính quyền Trump đối với Đông Nam Á xuất phát từ vai trò của tiểu khu vực này trong tổng thể IPS (chiến dịch Ấn độ dương- Thái bình dương)[1]. Chính sách của Mỹ đối với ASEAN về cơ bản có xu hướng ủng hộ sự gắn kết trong ASEAN nhằm tạo nên một sức mạnh để ngăn chặn Trung Quốc. Điều này ngược lại với chính sách của Trung Quốc, có xu hướng chia rẽ ASEAN, tận dụng ưu thế hơn. hẳn của mình để áp đặt trong các mối quan hệ song phương với từng nước thành viên ASEAN.

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Prashanth Parameswaran: ASEAN's role in a U.S. Indo - Pacific Strategy, Wilson Center, Asia Program, 2018, p.2

Thứ nhất, tăng cường việc xây dựng chương trình giám sát đối với hoạt động của Chính phủ hằng năm và từng quý, từng tháng. Nội dung chương trình giám sát phải bám sát vào tình hình thực tế đất nước, vào nghị quyết của Quốc hội, vào các văn bản pháp luật và vào từng vấn đề bức xúc. đặt ra trong từng giai đoạn, đối với từng lĩnh vực hoạt động của Chính phủ

Bên cạnh đó, các phương thức, hình thức giám sát của Quốc các bộ, ngành, hội phải được kiện toàn, từng bước hoàn thiện. Xác định các hình thức, phương thức và phương pháp thực hiện quyền giám sát tương xứng với hoạt động giám sát. Nếu hình thức, phương thức và phương pháp giám sát không phù hợp với tính chất, nội dung của quyền giám sát tối cao như luật quy định thì hiệu lực và hiệu quả hoạt động sẽ không cao.

             Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Khả năng tài chính của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc huy động nguồn vốn để có thể sản xuất, kinh doanh, từ đó có thể huy động nguồn hàng, sử dụng và hiệu quả các nguồn quỹ của doanh nghiệp vào việc đầu tư và phát triển. Việc sử dụng hợp lý và phát huy khả năng tài chính của doanh nghiệp sẽ là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp rất nhiều. Khả năng tài chính sẽ là nhân tố quyết định đến những nhân tố khác trong việc xác định khi năng xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp.

Trình độ công nghệ trong việc sản xuất và kinh doanh, của các doanh nghiệp xuất khẩu ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp trong việc sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm để tạo được lợi thế cạnh tranh. Việc tiếp cận với các công nghệ hiện đại để đảm bảo chất lượng sản phẩm hạ giá thành sản phẩm, trình độ công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo những tiêu chuẩn của quốc tế về chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước trong các công việc khác liên quan đến việc thực hiện và thanh toán hợp đồng như: bảo quản, lưu kho sản phẩm, đóng gói, thanh toán.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Cán bộ, công chức nhà nước là những người sử dụng trực tiếp quyền lực nhà nước để tác động lên các quan hệ xã hội thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc của cơ quan nhà nước mà cán bộ, công chức đó trực thuộc. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trên thực tế như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Tạo ra các phương thức để kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức hiệu quả nhất là mục tiêu hướng đến của các nhà nước trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam.

           Quyền lực nhà nước là trung tâm của quyền lực chính trị mà các đảng phái chính trị mong muốn sử dụng, chi phối và kiểm soát. Quyền lực nhà nước không tự thân nó có thể tác trực tiếp đến xã hội mà phải thông qua bộ máy nhà nước và các nhân sự làm việc trong bộ máy đó. Do vậy, quyền lực nhà nước được chuyển hóa thành các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước; các quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Sử dụng quyền lực nhà nước trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ, công chức (dưới hình thức tập thể hoặc cá nhân). Từ việc được trao quyền lực nhà nước như vậy thường dẫn đến hai nguy cơ phổ biến, Nguy cơ thứ nhất có phạm vi bao trùm, đó là xu hướng lạm dụng hoặc sử dụng trái phép quyền lực được giao vào những mục đích khác nhau, xuất phát từ nhiều nguyên do khác nhau (vì cá nhân, vì không có năng lực, vì thiếu kiến thức, kinh nghiệm, vì lợi ích cục bộ địa phương, vì không có tầm nhìn...).

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực nhà nước có nhiều lý do khác nhau, mỗi người có cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Song, thông thường được lý giải bởi những lý do cơ bản sau:

Quyền lực được xem là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình. Quyền lực luôn tồn tại trong những mối quan hệ cụ thể quan hệ quyền lực) ở đó, chủ thể quyền lực nhờ vào khả năng nào đó của mình mà buộc đối tượng quyền lực phải phục tùng, chịu sự sai khiến của mình. Quyền lực nhà nước được xem là khả năng của nhà nước để buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng Nhà nước.

           Quyền lực nhà nước luôn thể hiện trong các mối quan hệ nước không được tổ chức và thực hiện đủ mạnh nó sẽ không có hiệu lực hoặc có hiệu lực thấp, nghĩa là, chủ thể quyền lực không ban hành được mệnh lệnh hoặc mệnh lệnh của họ ban hành không được thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác và triệt để. 

             Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Áp dụng Biện pháp Đông kết tiền gửi trong trường hợp cấp thiết để đối phó với nạn lạm phát phi mã do chính phủ bội chi nhằm trang trải các khoản chi liên quan tới chiến tranh. Do lượng tiền phát hành của BOJ tăng quá nhanh, nên tháng 2 năm 1946 chính phủ đã buộc mọi người phải gửi tất cả số tiền vượt quá một mức nhất định và cấm rút tiền gửi trừ một lượng tối cần thiết cho nhu cầu sống và sản xuất. Các giấy bạc ngân hàng cũ đã bị vô giá trị và các giấy bạc ngân hàng mới sẽ được phát hành vào lúc rút tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, vì nền kinh tế đang dần phục hồi, nên việc hạn chế rút tiền gửi cũng được nới lỏng, và biện pháp này đã chính thức được huỷ bỏ vào tháng 7/1948. Tất cả các khoản tiền gửi, ngoại trừ những khoản lớn của tập thể cuối cùng được dùng để bồi thường thiệt hại do chiến tranh, đã được giải phóng.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Trải qua các thời kỳ, mong muốn của những nhà chính trị học có khuynh hướng dân chủ, tiến bộ là luôn tìm kiếm các công cụ, cơ chế để có thể tiết chế quyền lực, phòng ngừa sự tha hóa của quyền lực khi thực thi quyền lực. Trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”, Ch.Montesquieu đã chứng minh sự cần thiết phải tách lập pháp và tư pháp, hành pháp thành những nhánh quyền lực độc lập nhằm bảo đảm hiệu quả trong quản lý của Nhà nước và bảo vệ tự do của người dân trước khả năng lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước. Ông cho rằng sự phân quyền là cần thiết để bảo đảm các thiết chế quyền lực tự kiểm soát của bản thân, cân nhắc trước mọi quyết định của chính mình, vì mọi quyết định có tính quyền lực đều liên quan đến quyền của con người. Đạt được mục đích đó, cần có một cơ chế phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực.

            Ở Việt Nam, trong những năm qua đã xảy ra nhiều vụ việc lạm dụng quyền lực, cho thấy nhu cầu cấp bách của việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với cơ quan công quyền, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Thấy rõ nguy cơ với chế độ và xã hội do tình trạng lạm quyền gây ra, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ, cần “phát huy vai trò giám sát... của Nhân dân, của báo chí, của công luận” và đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, lợi ích nhóm. Rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực sẽ tạo tiền đề cho mỗi chủ thể tự xác định được quyền, trách nhiệm của mình và cùng với các chủ thể khác thực thi quyền lực đúng với mục đích, tôn chỉ theo quan điểm của Đảng. Chủ thể kiểm soát thực thi quyền lực là toàn bộ hệ thống chính trị, với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là chính bản thân của những người có chức, có quyền cùng tiến hành. 

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Tình hình tội phạm về môi trường trong những năm gần đây trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, khôn lường. Trên thế giới thì rõ nét là những hiện tượng dịch chuyển ô nhiễm “xuyên biên giới từ các nước phát triển sang các nước đang và kém phát triển, thông qua các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, xuất, nhập khẩu... (như: sự cố môi trường nghiêm trọng tràn dầu trên vịnh Mêhicô, vỡ bể chứa bùn đỏ tại Hungari...).

Theo định nghĩa của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, “an ninh môi trường được hiểu là “sự khan hiếm các tài nguyên thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm họa có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh"[1], Báo cáo Thiên niên kỷ của Hội đồng châu Mỹ của Liên hợp quốc xác định: “An ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia"[2]. Do đó, xâm phạm an ninh môi trường cần được coi là một kiểu diễn biến hòa bình[3], còn an ninh môi trường được hiểu là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng bảo đảm đầy đủ các điều kiện sống an toàn, lành mạnh cho con người trong hệ thống đó. Nguy cơ an ninh môi trường có thể dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng như: Mất ổn định do biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước bị đe dọa, vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới, khan hiếm lương thực và sự gia tăng nghèo đói, sự phát triển không bền vững, cân xứng, hệ sinh vật ngoại lai nguy hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn ngày càng gia tăng, v.v..

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 


[1] Xem Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Sinh: Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010, tr.34, 36.

[2] Xem: http://tnmtuyenquang.gov.vn/Moi-truong/Can-danh-gia-dung muc - ve - van - de - an - ninh - moi - truong - tai - Viet - Nam - 20226, truy cập ngày 22/10/2017.

[3] Xem Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Sinh: Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010, tr.34, 36.

Thứ năm, 18 Tháng 6 2020 11:31

PHÂN LOẠI CƯỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH

Cưỡng chế hành chính là tổng thể các biện pháp do Luật hành chính qui định, được cơ quan, người được trao quyền áp dụng theo thủ tục hành chính, có nội dung hạn chế quyền tự do và quyền tài sản của cá nhân, tổ chức, buộc các chủ thể đó phải thực hiện.
Cưỡng chế hành chính là bắt buộc phải thi hành một mệnh lệnh, quyết định hành chính và là biện pháp do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện đối với cá nhân hay tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Được thực hiện bởi những người có thẩm quyền được pháp luật quy định.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước và khu vực trên thế giới, đặc biệt đối với Liên minh châu Âu, ngày càng được cải thiện kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - WTO, biểu hiện rõ nhất là khả năng xuất khẩu sản phẩm và đặc biệt khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực của Việt Nam sang thị trường quốc tế ngày càng được gia tăng, tuy nhiên những kết quả đó chưa thực sự tương xứng với tiềm năng cũng như chưa mang tính ổn định và bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, khi quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi đã tích cực và chủ động hội nhập
ngày càng sâu rộng hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu bằng việc đàm phán và ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu hay Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, sẽ tác động rất lớn đến khả năng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường quốc tế nói chung và thị trường Liên minh châu Âu nói riêng. Để tận dụng được những cơ hội cũng như hạn chế những thách thức từ các Hiệp định thương mại tự do, Chính phủ và các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần phải nỗ lực rất nhiều trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu, đặc biệt là khả năng xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, để có được những giải pháp căn cứ và hiệu quả thì việc hiểu đúng bản chất của việc nâng cao khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực từ các lý thuyết, khái niệm, nội dung, tiêu chí cho đến những kinh nghiệm quốc tế là hết sức cần thiết.

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành