Cosodulieu

Cosodulieu

1. Chuẩn bị chất vấn

a) Thu thập, phân tích thông tin, lựa chọn vấn đề chất vấn

Thông tin là bước khởi đầu quan trọng, có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội. Để xác định đúng và trúng vấn đề cần chất vấn, đại biểu Quốc hội cần phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn thông tin từ cử tri (thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, thông qua đơn thư khiếu nại, tố cáo... ); thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin trong các báo cáo công tác, báo cáo kiểm toán, báo cáo ngành: thông tin từ các công trình, tài liệu nghiên cứu khoa học, thông tin từ thực tiễn khảo sát, quan sát thực tế của đại biểu... Sau khi thu thập được thông tin từ các nguồn khác nhau, đại biểu Quốc hội cần phải kiểm chứng các nguồn thông tin này để có nhìn nhận chính xác hơn về vấn đề chất vấn, tránh thu thập những thông tin không chính xác, thiếu khoa học. Tiếp đó, đại biểu Quốc hội cần phải xử lý các thông tin, sắp xếp một cách khoa học theo những tiêu chí rõ ràng để xây dựng nên nội dung nghiên cứu, làm rõ trách nhiệm của những người quản lý và có thể kiến nghị những biện pháp xử lý thích hợp với nội dung chất vấn.

Như vậy, thông qua việc thu thập thông tin, đại biểu Quốc hội sẽ có một tài liệu phong phú liên quan đến nội dung chất vấn đề xây dựng nên một vấn đề chất pháp xử lý thích hợp với nội dung chất vấn chất lượng, đáp ứng được nguyện vọng của cử tri.

b) Lựa chọn nội dung và xác định rõ mục đích câu hỏi chất vấn

Việc lựa chọn và xác định mục đích câu hỏi chất vấn được coi là bước quan trọng nhất để việc chất vấn của đại biểu Quốc hội có chất lượng. Câu hỏi chất vấn phải thể hiện được những nội dung và mục đích chất vấn như sau:

- Phải nêu được những vấn đề bức xúc mà đa số cử tri quan tâm hoặc tính chất nghiêm trọng. Đó phải là những vấn đề ở tầm vĩ mô, bao quát và cũng có thể liên hệ đến địa phương, nhất là liên quan các chính sách và việc triển khai thực hiện các chính sách đó;

- Những vấn đề đã chất vấn nhưng chưa được giải quyết so với đã hứa;

- Đặt vấn đề trách nhiệm với đối tượng chất vấn:

- Xác định đúng chủ thể và đối tượng chất vấn.

c) Soạn câu hỏi chất vấn: sắp xếp mạch lạc ý kiến, mục đích diễn đạt ngắn gọn, đầy đủ nội dung, nhằm vào chất vấn.

Bước này yêu cầu đại biểu Quốc hội phải nâng tầm đặt câu hỏi chất vấn lên thành nghệ thuật, có như vậy mới diễn đạt hết nội dung và mục đích của câu hỏi chất vấn.

d) Tập hợp số liệu, tư liệu cần thiết liên quan đến quan đến

Để câu hỏi chất vấn được chính xác yêu cầu đại biểu Quốc hội phải tìm hiểu rõ về nội dung của vấn đề bản chất vấn. Đại biểu Quốc hội thông qua quyền và nghĩa vụ của mình yêu cầu các cá nhân, cơ quan có liên quan cung cấp số liệu, tư liệu liên nội dụng chất vấn để câu hỏi chất vấn mang tính khách quan, phản ánh đúng những vấn đề bức xúc mà cử tri cả nước quan tâm.

đ) Suy nghĩ về những nguyên nhân của các yếu kém bất cập. Từ suy nghĩ về nguyên nhân, suy nghĩ tiếp về giải pháp[1]

Sau khi tập hợp được số liệu, tài liệu liên quan đến vấn đề chất vấn, đại biểu Quốc hội cần phải suy luận và tìm hiểu về nội dung cần chất vấn. Tìm hiểu về nguyên nhân và những giải pháp cần khắc phục những yếu kém bất cập của nội dung cần chất vấn, qua đó làm rõ được trách nhiệm của đối tượng chất vấn trong khi thực hiện công việc được giao.

e) Dự báo câu trả lời của người được chất vấn. Chuẩn bị nội dung tranh luận tiếp nếu cần thiết.

Đây là một bước mà đại biểu Quốc hội tiếp cận được với đối tượng bị chất vấn. Thông qua dự báo được câu trả lời của người bị chất vấn, đại biểu Quốc hội sẽ có thể đưa ra những ý kiến tiếp tục tranh luận với người bị chất vấn, yêu cầu làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn đến đâu và chỉ ra cách khắc phục tình trạng yếu kém thuộc trách nhiệm quản lý của người bị chất vấn.

g) Tự phản biện về câu hỏi chất vấn của chính mình (Nội dung chuẩn bị đã rõ chưa, có sơ hở chỗ nào không, cách đặt vấn đề có khách quan không? Có đủ mạch lạc, rõ, dễ hiểu và có “cột chặt” người được chất vấn phải trả lời vào vấn đề chưa? Có đủ hành trang để tranh luận tiếp hay không nếu trả lời của người được chất vấn không thỏa đáng?).

Để hoàn thiện nội dung và mục đích của câu hỏi chất vấn, yêu cầu đại biểu Quốc hội phải tự kiểm tra, phản biện câu hỏi chất vấn của chính mình để tăng thêm tính thuyết phục của câu hỏi chất vấn. Ở đây, đại biểu Quốc hội phải thể hiện được tài “hùng biện” của mình để đạt được mục đích khi nêu ra câu hỏi chất vấn.

h) Để có thể đi sâu trong tranh luận, vì thời gian chất vấn có giới hạn, kỹ năng nghe (tiếp nhận) trả lời chất vấn là hết sức quan trọng lĩnh hội những ý chính của người trả lời, xử lý nhanh, đối chiếu với nội dung mình đã chất vấn (nội dung gì đã được và chưa được trả lời, phát hiện mâu thuẫn gì,... ) nhưng phải hết sức khách quan. Kỹ năng này được tích lũy qua quá trình hoạt động quốc hội, đặc biệt trong hoạt động chất vấn[2].

2. Thủ tục chất vấn tại nghị trường Quốc hội

Trình tự, thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định trong Điều 15 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015[3].

Điều 43 Quy chế nội quy kỳ họp của Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 07/2002/QH11 năm 2002 cũng quy định một số vấn đề về hoạt động chất vấn như trách nhiệm của người trả lời chất vấn, của đoàn thư ký kỳ họp, trình tự chất vấn,...

- Điều 25 Quy chế hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội năm 2004 quy định về những nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong việc tổ chức thực hiện quyền chất vấn.

Căn cứ vào các quy định tại Điều 15 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và Điều 42 Nội quy kỳ họp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình góp phần thúc đẩy hoạt động chất vấn đạt hiệu quả tốt.

Theo đó, tại kỳ họp Quốc hội, việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau: “1. Trước phiên chất vấn, đại biểu Quốc hội ghi vấn để chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn.

3. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội được tiến hành theo trình tự sau đây:

a) Đại biểu Quốc hội nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;

b) Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay: xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế bất cập (nếu có);

c) Trường hợp đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời.

d) Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình.

Thời gian nêu chất vấn, thời gian trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định của Nội quy kỳ họp Quốc hội.

4. Quốc hội cho trả lời chất vấn bằng văn bản trong các trường hợp sau đây:

a) Chất vấn không thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại BE kỳ họp;

b) Vấn đề chất vấn cần được điều tra, xác minh;

c) Chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp nhưng chưa được trả lời tại kỳ họp. Người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời bằng văn bản. Văn bản trả lời chất vấn được gửi đến đại biểu Quốc hội đã chất vấn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày chất vấn, trừ tài liệu mật theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận được văn bản trả lời chất vấn, biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra thảo luận tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kỳ họp Quốc hội gần nhất hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn.

5. Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn Nghị quyết về chất vấn có nội dung cơ bản sau đây:

a) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn;

b) Thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập;

c) Trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân,

d ) Trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn.

6. Phiên họp chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp, trừ trường hợp do Quốc hội quyết định.

7. Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp, người đã trả lời chất vấn có trách nhiệm gửi báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại các kỳ họp trước đến đại biểu Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Báo cáo về việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về chất vấn, các vấn đề đã hứa được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.

8. Tại kỳ họp cuối năm của năm giữa nhiệm kỳ và kỳ họp cuối năm của năm cuối nhiệm kỳ, Quốc hội xem xét, thảo luận báo cáo tổng hợp của các thành viên Chính phủ, báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước và những người bị chất vấn khác về việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chất vấn và các vấn đề đã hứa tại các kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội"[4].

 


[1] Có ý kiến cho rằng: Chất vấn không nên chỉ nêu lên các mặt tồn tại mà còn phải chỉ ra các giải pháp. Trong các bước chuẩn bị chất vấn, tôi có nêu lên bước “suy nghĩ về nguyên nhân và từ đó suy nghĩ về giải pháp". Nhưng suy nghĩ cho thấu đáo, liệu đòi hỏi như Vậy có cao quá không, có thực tế không? Trong điều kiện nước ta, hầu hết các đại biểu Quốc hội đều được cơ cấu, phần lớn kiêm nhiệm, không đủ phương tiện vật chất để hoạt động, chất vấn có chất lượng đã là tốt lắm rồi, bởi ngạn ngữ có câu “Nhìn thấy được nguyên nhân là được giải quyết được phân nửa bài toán”.

[2] Xem thêm GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân: "Để làm tốt công tác chất vấn. Trao đổi của một cựu đại biểu Quốc hội". Bài đăng trong Kỷ yếu Hội nghị Kỹ năng chất vấn dành cho đại biểu Quốc hội được tổ chức tại Đồng Tháp từ ngày 15-17-3-2012.

[3] Luật hoạt động giám sát Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016.

[4] Điều 15 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015

Báo chí là những xuất bản phẩm định kỳ, báo cáo, tường thuật về các sự vật, hiện tượng, hay con người mà xã hội quan tâm. Báo chí thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin, đánh giá và giới thiệu những vấn đề đó tới xã hội[1].

Ngày nay, hiểu theo nghĩa rộng, báo chí bao gồm báo in, báo phát hành, báo truyền hình, báo mạng điện tử.

Cùng với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, internet phủ sóng ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới; cách mạng khoa học lần thứ tư đã và đang diễn ra trên toàn thế giới, báo chí cũng phát triển thêm nhiều loại hình mới. Hiện nay ở nước ta có 868 cơ quan báo chí, 184 cơ quan báo chí in, 660 tạp chí in, 24 cơ quan báo điện tử độc lập[2].

Ngoài hình thức báo điện tử chính thống, một số hình thức truyền thông phổ biến khác cũng đã và đang phát triển hơn, như truyền thông internet, truyền thông xã hội, v.v…

1. Truyền thông internet và báo mạng điện tử

a) Khái niệm báo mạng điện tử

Mạng internet toàn cầu đã và đang sản sinh ra những hình thức và phương thức truyền thông mới, bao gồm báo mạng điện tử và các dạng thức truyền thông xã hội khác.

b) Thế mạnh và hạn chế báo mạng điện tử

Báo mạng điện tử, trang thông tin điện tử hay thông tin trên mạng internet nói chung có những ưu thế đặc thù do mạng thông tin toàn cầu đem lại.

- Là xa lộ thông tin siêu tốc cho phép kết nối và truyền tải một dung lượng thông tin khổng lồ, có thể nói là vô hạn định với tốc độ siêu nhanh. Nhờ vậy, con người trên khắp hành tinh dễ dàng liên kết với nhau, chia sẻ, trao đổi, hình thành dư luận xã hội và tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu, những vấn đề khu vực hay từng quốc gia một cách nhanh chóng hiệu quả.

- Tạo ra khả năng giao lưu trực tuyến, tương tác nhiều chiều giữa đông đảo công chúng; tạo điều kiện cho mỗi người trực tiếp tiếp cận với nguồn tin mà không cần qua khâu trung gian nào, như vậy tính cởi mở của thông tin được bảo đảm; tần suất tương tác giữa chủ thể và khách thể tăng lên cho nên hiệu quả truyền thông đạt được rất lớn.

- Internet có thể cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của mỗi người, theo địa chỉ thông ang aming đơn đặt hàng, từ việc mua bán, dạy học, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ đến tư vấn tình cảm,... nhờ khả năng liên kết (Hyperlink). Khả năng này cho phép tạo ra nhiều tầng, nhiều lớp thông tin không giới hạn - một siêu thị thông tin vô tận.

- Khả năng lưu giữ thông tin và rất tiện lợi cho việc tìm kiếm, truy cập.

- Là kênh truyền thông đa phương tiện, sinh động và hấp dẫn có khả năng lôi kéo đông đảo người tham gia, là sân chơi giải trí bổ ích.

- Đối với nhà truyền thông chuyên nghiệp, kênh truyền thông này cho phép nắm bắt từng giờ về số lượng, cơ cấu công chúng - nhóm đối tượng tham gia để có định hướng khai thác; đồng thời, giúp nhà kinh doanh nghiên cứu tiếp cận thị trường…

- Mạng thông tin toàn cầu đã và đang hình thành một lối tư duy, một phong cách làm việc tạo ra những tiên đề, điều kiện phát triển kinh tế tri thức cũng như phát triển nguồn lực con người, vốn con người trong xã hội hiện đại.

Đồng thời, mạng thông tin điện tử và báo mạng điện tử cũng có những hạn chế của nó, từ vấn đề bảo mật thông tin đến tính vô danh và khó truy cập nguồn tin …

2. Truyền thông xã hội

a) Khái niệm truyền thông xã hội

Truyền thông xã hội là sản phẩm của mạng thông tin toàn cầu internet kết hợp với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội. Nó là dạng thức lan truyền thông tin, kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa các cá nhân/nhóm và cộng đồng xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin, chia sẻ, kết nối của con người hiện đại. Truyền thông xã hội có thể hiểu dưới các dạng thức cơ bản tùy theo môi trường truyền thông. Thứ nhất là những dạng thức truyền thông trên mạng internet với nguồn gốc phi chính thức. Thứ hai là những dạng thức truyền thông phi chính thức trong đời sống xã hội, thông qua truyền thông trực tiếp.

Truyền thông xã hội phát triển mạnh và phát huy tác dụng trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, trong xã hội mà công dân có thể làm những gì mà luật pháp không cấm, và ở đó, quyền thông tin và quyền được thông tin được bảo đảm tối đa vì sự phát triển bền vững của cộng đồng, đất nước và xã hội thông tin.

Mỗi đại biểu Quốc hội cần tham gia mạng xã hội, nên có facbook và kết nối rộng rãi với công chúng, cư - tư cách là thực hiện hoàn thiện một tác phẩm báo chí. phỏng vấn là cuộc gặp gỡ, trao đổi, hỏi chuyện giữa nhà dân mạng.

b) Thế mạnh và hạn chế của truyền thông xã hội

Do tính chất và môi trường của truyền thông xã hội, cho nên nó có những thế mạnh và hạn chế đặc thù mà trong điều kiện cụ thể nào đó có thể chưa nhận diện hết.

Nhìn chung, trong thời đại hiện nay, công tác thông tin, truyền thông được chú trọng hơn, thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ[3]. Tuy nhiên, việc quản lý thông tin, báo chí, nhất là thông tin mạng Internet trong nhiều trường hợp chưa chủ động[4]. Kết quả thực hiện một số chủ trương của Đảng về quản lý báo chí, truyền thông, xuất bản, quản lý Internet, mạng xã hội chưa đáp ứng yêu cầu.[5] Vì vậy, cần tăng cường quản lý và phát triển các loại hình báo chí mới, đặc biệt là các loại hình sử dụng nền tảng Internet.

 


[1] What is journalism, https://www.americanpressinstitute.org/journalism-essentials/what-is-journalism/

[2] Dự thảo Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng khóa XII tại Đại hội XIII của Đảng.

[3] Dự thảo Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2011-2020, xây dựng chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030.

[4] Dự thảo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020; phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025.

[5] Báo cáo Tổng kết công tác xây dựng Đảng trình ĐH XIII của Đảng.

Đại biểu Quốc hội là người thay mặt nhân dân trong Việt Nam hiện nguyện cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại biểu có nghĩa vụ phải thể hiện ý chí của đại đa số cử tri của toàn quốc và nguyện vọng của nhân dân địa phương nơi đại biểu bầu ra.

Trong tất cả các giai đoạn của quy trình xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, trừ giai đoạn công bố luật, nghị quyết thì đại biểu đều có thể tham gia với những vai trò nhất định. Ở giai đoạn lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và giai đoạn thảo luận, thông qua dự án, dự thảo nghị quyết tại Quốc hội, tất cả các đại biểu Quốc hội đều có tham gia trực tiếp vào việc thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết.

Trong giai đoạn thẩm tra tại các Ủy ban của Quốc hội và giai đoạn thảo luận, cho ý kiến tại Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng tham gia trực tiếp vào các nội dung hoạt động của các cơ quan tương ứng.

Trong giai đoạn đang soạn thảo các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội cũng có thể tham gia quá trình soạn thảo với tư cách là người đề nghị, kiến nghị về dự án luật, dự thảo nghị quyết hoặc có thể tham gia với tư cách là thành viên được mời của Ban soạn thảo.

Đại biểu có nhiệm vụ tham gia vào việc thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được Hiến pháp quy định như biểu quyết luật; thay đổi Hiến pháp; quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại; những mục tiêu phát triển kinh tế - văn hoá; những quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Khác với các nghị sĩ của nghị viện tư sản, hoạt động của các đại biểu Quốc hội ta phải liên hệ chặt chẽ với cử tri nơi đã bầu ra đại biểu, chịu sự giám sát của cử tri, và phải luôn luôn được nhân dân tín nhiệm. Một khi bị mất tín nhiệm, đại biểu có thể bị cử tri nơi bầu ra mình bỏ phiếu bãi miễn[1]; hoặc bị Quốc hội bỏ phiếu miễn nhiệm tư cách đại biểu.

Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia kỳ họp của Quốc hội. Trong kỳ họp, đại biểu có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể, các phiên họp của Hội đồng, của Uỷ ban nếu đại biểu là thành viên; tham gia các phiên họp tổ, Đoàn đại biểu có quyền thảo luận và biểu quyết các vấn đề ghi trong chương trình kỳ họp. Đại biểu có quyền trình dự án, kiến nghị về luật trước Quốc hội, dự án pháp lệnh trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đại biểu có quyền chất vấn Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu Quốc hội phải thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh ý kiến của cử tri với Quốc hội và với các cơ quan nhà nước hữu quan. Mỗi năm ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình và của Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội phải tiếp dân, nơi mình được bầu ra, có trách nhiệm nhận những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân; phải nghiên cứu trả lời, hoặc chuyển những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo về cơ quan hữu quan giải quyết. Khi xét thấy việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp thủ trưởng cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại.

Trong trường hợp cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan đó giải quyết. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang hoặc của công dân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và những người có trách nhiệm thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó.

Khác với trước đây, pháp luật mới ban hành cho phép một số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách được bố trí nơi làm việc và các điều kiện hoạt động cần thiết khác. Thời gian đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách được tính vào thời gian công tác liên tục.

Trong nhiệm kỳ làm nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội được pháp luật bảo đảm về quyền bất khả xâm phạm thân thể, chỗ ở, chỗ làm việc. Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội, không được khám xét nơi ở, nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Nếu phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giam, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét và quyết định. Đại biểu không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc, nếu không được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đồng ý. Những quyền nói trên được gọi là quyền miễn trừ của đại biểu Quốc hội. Những quyền này có từ thời kỳ cách mạng tư sản, với mục đích bảo đảm cho đại biểu nghị sĩ có đủ dũng khí cho việc thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động của bộ máy nhà nước.

Như vậy, với vị trí là những người đại biện cho lợi ích của nhân dân, các đại biểu Quốc hội tham gia vào quá trình xây dựng chính sách chủ yếu với vị trí là người thẩm định chính sách hơn là người khởi xướng (sáng kiến pháp luật), quyết định chính sách. Thông thường sự tham gia của đại biểu Quốc hội vào hoạt động soạn thảo các dự án, dự thảo trước khi gửi sang Quốc hội là rất hạn chế. Chỉ có đại biểu Quốc hội thực hiện quyền trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết hoặc được mời tham gia các ban soạn thảo mới tham gia vào giai đoạn soạn thảo. Vì vậy, đại biểu Quốc hội tham gia soạn thảo các vấn đề được nêu trong giai đoạn thẩm tra hoàn toàn có thể vận dụng vào giai đoạn này.

Bên cạnh đó, hoạt động đánh giá tác động của văn bản là một quá trình để xem xét, đánh giá những lợi ích, cho phó và tác động cho các lựa chọn hành động hoặc không hành động của Nhà nước[2].

Đánh giá tác động của văn bản không phải lúc nào cũng cho kết quả là một dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết được soạn thảo. Có thể dựa vào các phân tích về lợi ích kinh tế được lựa chọn lại là một giải pháp khác mà không phải là việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật hoặc có thể đơn giản hơn là không đưa ra một hành động nào của Nhà nước. Việc đánh giá tác động văn bản có ý nghĩa như hoạt động phân tích chính sách trong tiến trình soạn thảo, giúp cho các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có hiệu quả hơn.

 


[1] Tìm hiểu học thuyết “Tam quyền phân lập" và bộ máy của nhà nước tư sản. Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991. Nghị sĩ tư sản không phải liên hệ với cử tri, không thể bị cử tri bãi miễn.

[2] Scott Jacobs, “What is RIA? An Overview of RIA, Goals and Results’, Regulatory inpact Analysis Training Course, (College of Europe, Bruges campus, Belgium 19-23 October 2009)

Chính sách là sản phẩm do con người tạo ra để quản lý đời sống kinh tế - xã hội. Nó là một dạng hoạt động của con người, có chu kỳ vận động và cũng cần được quản lý như đối với các hoạt động khác của con người. Trong công tác quản lý chu kỳ chính sách, các hoạt động phân tích, đánh giá chính sách giữ một vị trí đặc biệt.

Phân tích, đánh giá chính sách có vai trò quan trọng đối với quản lý nhà nước cũng như đối với các tổ chức kinh tế - xã hội. Chúng không chỉ giúp nhận thức rõ hơn về tác động của các chính sách, mà còn giúp hiểu được căn cứ, cơ sở để hình thành và điều kiện thực hiện một chính sách, những hạn chế và bất cập của chính sách cũng như những nội dung cần điều chỉnh, sửa đổi trong chính sách được phân tích, đánh giá. Việc phân tích chính sách không chỉcần thiết cho các cơ quan, tổ chức hoạch định và thực hin chính sách, các cơ quan, tổ chức theo dõi, giám sát mà còn cần thiết cả cho các tổ chức, cá nhân là đối tượng điều chỉnh của các chính sách, những chủ thể phải tìm cách thích ứng với chính sách.

Hiện nay, chính sách công là đối tượng được quan tâm, đề cập và phân tích nhiều nên nhiều người hiểu đồng nhất chính sách là chính sách công, là chính sách của Nhà nước nên quan niệm rằng các chính sách chỉ là do các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và ban hành. Sự đồng nhất chính sách công với chính sách nói chung là không chính xác, bởi chính sách công chỉ là một loại chính sách. Các chính sách này đúng là do các cơ quan quản lý công (chủ yếu là các cơ quan nhà nước, cũng có thể là những tổ chức không thuộc Nhà nước nhưng được Nhà nước ủy quyền) xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hoặc chủ trì tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, theo nghĩa thực của khái niệm chính sách, các chủ thể khác, thậm chí cả các tổ chức tư nhân cũng có thể xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện những chính sách của mình, trong phạm vi thuộc thẩm quyền của mình.

Phân tích, đánh giá chính sách là một loại hoạt động đòi hỏi kiến thức đa ngành, sử dụng nhiều phương pháp và công cụ khác nhau, trong đó có những công cụ và phương pháp phải được nghiên cứu, phát triển riêng khi phân tích, đánh giá một chính sách cụ thể. Chính vì thế, phân tích, đánh giá chính sách là một lĩnh vực khoa học mở, liên tục được bổ sung và phát triển.

Công tác phân tích, đánh giá chính sách trong thực tế cũng đòi hỏi phải có một tài liệu cung cấp những kiến thức có hệ thống và toàn diện giúp các cán bộ thực hiện những hoạt động này có thể tự trang bị và bố sung những kiến thức và kỹ năng cần thiết, đồng thời có thể dùng làm tài liệu tra cứu hoặc tham khảo khi triển khai những hoạt động cụ thể đế phân tích, đánh giá một chính sách.

Trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách và thực hiện các hoạt động này trong thực tế, cần được bổ sung bằng các tài liệu đọc thêm khác, bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, các quy chế, nội quy của các tổ chức kinh tế - xã hội, các báo cáo phân tích, đánh giá một số chính sách cụ thể. Ngoài ra, cần nghiên cứu thêm những tình huống, ví dụ cụ thể nhằm mục đích truyền đạt, hình thành, phát triển và củng cố các kiến thức, kỹ năng trong phân tích, đánh giá các chính sách.

Tuy nhiên, khi xây dựng chính sách công cũng cần nghiên cứu vấn đề không nhất quán, chứa đứng những mâu thuẫn nội tại của chính sách thông qua nghiên cứu hệ thống chính sách qua mỗi giai đoạn phát triển để có thể khái quát được toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của chính sách.

Hiện nay, chính sách công là đối tượng được quan tâm, đề cập và phân tích nhiều nên nhiều người hiểu đồng nhất chính sách là chính sách công, là chính sách của Nhà nước nên quan niệm rằng các chính sách chỉ là do các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và ban hành. Sự đồng nhất chính sách công với chính sách nói chung là không chính xác, bởi chính sách công chỉ là một loại chính sách. Các chính sách này đúng là do các cơ quan quản lý công (chủ yếu là các cơ quan nhà nước, cũng có thể là những tổ chức không thuộc Nhà nước nhưng được Nhà nước ủy quyền) xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hoặc chủ trì tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, theo nghĩa thực của khái niệm chính sách, các chủ thể khác, thậm chí cả các tổ chức tư nhân cũng có thể xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện những chính sách của mình, trong phạm vi thuộc thẩm quyền của mình.

Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách. Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Việc ban hành hàng loạt văn bản pháp luật trong không ít trường hợp dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lặp, thậm chí mâu thuẫn nhau giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau, khiến cho những hoạt động này không đạt được mục tiêu mong muốn. Nói cách khác, hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc chính sách đó có hiệu lực thực tế như thếnào và đáp ứng mục tiêu đặt ra đến đâu thì dường như không được quan tâm. Đôi khi chính sách được ban hành chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng phụ làm phức tạp thêm vấn đề. Chẳng hạn, chính sách hạn chế ùn tắc giao thông trong các thành phố lớn đã được triển khai với nhiều giải pháp khác nhau, song thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề ùn tắc, trong khi đó một số giải pháp đưa ra, như chặn các ngã tư, thu phí chống ùn tắc lại gây ra các hiệu ứng phụ làm rắc rối thêm hiện trạng. Hơn thế, việc hoạch định chính sách (thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít người, song nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã bỏ ra. Do đó, đã đến lúc cần coi đánh giá chính sách như một khâu không thể thiếu trong quy trình chính sách.

Tóm lại, những yêu cầu cần có trong xây dựng chính sách công gồm có:

- Mức độ thỏa đáng: Chỉ tiêu đánh giá phải đo lường được sự việc cần đo lường;

- Độ tin cậy: Chỉ tiêu đánh giá có khả năng tạo ra sự chính xác trong đo lường;

- Có thể hiểu được: Chỉ tiêu đánh giá cần rõ ràng, không phát sinh hiểu lầm;

- Kịp thời: Thời điểm xác định giá trị tính toán của chỉ tiêu đánh giá hợp lý;

- Phù hợp với mục đích: Chỉ tiêu đánh giá phải phản ánh mục đích hoặc thành quả của việc thực hiện chính sách một cách phù hợp;

- Mức độ ảnh hưởng của chính sách: Độ lớn của mức độ ảnh hưởng của chính sách đối với sự việc mà chỉ tiêu đánh giá đo lường;

- Khả năng đo lường: Sự bảo đảm về kỹ thuật đo lường các dữ liệu của chỉ tiêu đánh giá;

- Khả năng thao tác: Khả năng mà người đánh giá có thể thao tác giá trị đo lường của tiêu chí đánh giá;

- Độ bao quát: Không đ sót mặt trọng yếu nào của biện pháp chính sách và được bao quát bởi các tiêu chí đánh giá;

- Không trùng lặp, thừa chỉ tiêu đánh giá, các chỉ tiêu đo lường các mặt khác nhau;

- Chi phí dùng để thu thập dữ liệu: Độ lớn của tổng chi phí dùng để thu thập dữ liệu của nhóm chỉ tiêu đánh giá;

Sức chống chọi với những hành động phản kháng: Khó dẫn đến những hành động phản đối ý đồ của đánh giá.

Thứ tư, 24 Tháng 2 2021 10:25

VAI TRÒ CỦA CHU KỲ CHÍNH SÁCH

Toàn bộ quá trình từ khi một chính sách được hình thành cho tới khi được thay thế bằng một chính sách khác có thể được chia thành những giai đoạn khác nhau về số lượng và nội dung (các hoạt động được triển khai trong từng giai đoạn). Những giai đoạn kế tiếp, liên quan chặt chẽ với nhau trong toàn bộ quátrình đó hình thành một quá trình tổng thể gọi là “chu trình chính sách". Tuy nhiên, ngay cả khi một chính sách được thay thế bằng một chính sách mới thì vẫn có những yếu tố, nội dung của chính sách cũ được kế thừa và phát triển. Nói cách khác, vẫn có yếu tố “lặp" trong các chính sách. Một quá trình khép kín bao gồm một số giai đoạn có tính lặp đi lặp lại như thế được gọi là một chu kỳ chính sách. Nó bao quát các giai đoạn từ khi phát hiện vấn đề, hình thành chính sách cho tới khi chính sách đó được thay thế bằng một chính sách mới. Như vậy, chu kỳ với chính sách là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan nhau, từ khi lựa chọn được vấn đề cần được giải quyết bằng chính sách đến khi kết quả chính sách đó được đánh giá và chính sách được thay thế.

Việc chia tách quá trình chính sách thành các giai đoạn và tiểu giai đoạn là một trong những phương thức rất cơ bản để quản lý chính sách một cách có hiệu quả. Nó giúp cho các cơ quan quản lý chính sách có thể theo dõi và quản lý được các hoạt động liên quan tới chính sách, xây dựng được chương trình hành động thích hợp đối với một chính sách cụ thể.

Nếu như quan niệm chung về chu kỳ chính sách đã tương đối thống nhất thì sự phân chia một chu kỳ chính sách thành số lượng các giai đoạn và tên gọi cũng như nội dung các giai đoạn cụ thể lại còn có sự khác biệt khá nhiều.

Các nhà nghiên cứu cho rằng: mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách[1]. Khi phân tích mô hình chính sách công, một số tác giả cũng phân chia chu kỳ chính sách thành các giai đoạn hoạch định chính sách; tổ chức thực hiện chính sách và cuối cùng là đánh giá chính sách[2].

Trong chu trình chính sách, hoạt động phân tích chính sách thường xuyên diễn ra và các phương pháp phân tích chính sách được sử dụng theo nhiều cách khác nhau đế cho ra kết quả phân tích đáng tin cậy nhất. Ngoài những phương pháp phân tích kể trên, thực tế một số phương pháp hay công cụ phân tích khác cũng thường được sử dụng, như phân tích SWOT[3], phân tích đánh giá chi phí thực hiện, chi phí tuân thủ, dự báo tác động (RIA). Ví dụ, các phương pháp được đ xuất theo chu trình chính sách ngành tài nguyên và môi trường theo 5 bước:

(A) Xác định vấn để chính sách gồm nghiên cứu tài liệu, điều tra thực địa, tham vấn ý kiến chuyên gia, đánh giá tác động và phân tích đa tiêu chí.

(B) Hình thành chính sách gồm dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật; phân tích chi phí – hiệu quả; đánh giá chi phí thực hiện; phân tích rủi ro, phân tích SWOT; nghiên cứu tài liệu, điều tra thực địa, tham vấn ý kiến chuyên gia, đánh giá tác động và phân tích đa tiêu chí.

(C) Xây dựng chính sách gồm dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật; phân tích chi phí – hiệu quả; đánh giá chi phí thực hiện; phân tích rủi ro, phân tích SWOT; điều tra thực địa, tham vấn ý kiến chuyên gia, đánh giá tác động và phân tích đa tiêu chí.

(D) Thực hiện chính sách gồm: phân tích chi phí – hiệu quả, đánh giá chi phí thực hiện; phân tích rủi ro.

(E) Đánh giá thực hiện chính sách gồm phân tích chi phí – hiệu quả, đánh giá chi phí thực hiện, phân tích rủi ro.

Các phương pháp này có thể được thực hiện đơn lẻ hoặc kết hợp, theo mục đích phân tích của mỗi giai đoạn chu trình chính sách.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, chu kỳ chính sách không chỉ bao gồm 3 giai đoạn như nêu ở trên, mà còn bao gồm cả giai đoạnđiều chỉnh/sửa đổi chính sách. Một số tác giả khác lại cho rằng,đánh giá chính sách cũng cần được coi là một giai đoạn. Công tác giám sát là một loại hoạt động không thể thiếu trong chu kỳ chính sách và được một số tác giả khác cho rằng, cần coi đó như một giai đoạn trong chu kỳ chính sách.

Sự khác biệt giữa những cách phân chia như trên bắt nguồn từ quan niệm về tính độc lập và sự lặp lại của các giai đoạn trong chu kỳ chính sách. Rõ ràng, các hoạt động giám sát, đánh giá và điều chỉnh chính sách là cần thiết và không thể bỏ qua trong toàn bộ chu kỳ chính sách. Tuy nhiên, cũng dễ nhận thấy rằng các hoạt động này, đặc biệt là giám sát và điều chỉnh chính sách diễn ra ở mọi giai đoạn trong toàn bộ chu kỳ cĐứng trên lợi ích và hiệu quả của công tác quản lý chính sách, việc phân chia chu kỳ chính sách theo chức năng của các hoạt động sẽ hợp lý hơn, bởi nó cho phép dễ dàng xác định các hoạt động cần triển khai trong chu kỳ chính sách hơn. Nó cũng giúp cho việc kiểm tra toàn bộ chu kỳ chính sách một cách thuận lợi và giúp nắm được các công việc cần triển khai với chính sách dễ dàng hơn. Theo cách tiếp cận này, chu kỳ chính sách sẽ bao gồm các giai đoạn nhận dạng nhu cầu về chính sách (phát hiện vấn đề, lựa chọn vấn đề cần điều chỉnh bằng chính sách), xây dựng chính sách, triển khai/thực hiện chính sách, giám sát và đánh giá chính sách, thay đổi chính sách (kể cả việc điều chỉnh chính sách trong suốt quá trình thực hiện chính sách).

[1] Xem Nguyễn Đăng Thành: “Đánh giá chính sách công ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp", Học viện Hành chính Quốc gia, 2015.

[2] Xem Thái Xuân Sang: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách công ở Việt Nam", Học viện Hành chính Quốc gia, 2015

[3] SWOT là viết tắt của 4 từ Tiếng Anh: Strengths (thế mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)

1. Mục đích, nội dung giám sát chính sách bảo vệ môi trường

Giám sát là một trong những chức năng của Quốc hội/Nghị viện. Mối quan hệ gắn bó giữa chức năng lập pháp và chức năng giám sát thể hiện ở chỗ: Quốc hội/nghị viện dùng giám sát để tìm hiểu các nội dung về chính sách bảo vệ môi trường xem các cơ quan nhà nước đã thực thi pháp luật như thế nào và luật pháp phải được hoàn thiện ra sao. Ngoài ra, Quốc hội/nghị viện còn có chức năng đại diện. Giám sát các chính sách về bảo vệ môi trường cũng gắn bó chặt chẽ với chức năng này nhờ tương tác với cử tri mà Quốc hội/nghị viện có thể xác định được chính xác, kịp thời những vấn đề cần được giám sát.

Vì vậy, để thưc hiện chức năng giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cần tập trung giám sát vào giải quyết các mảng vấn đề chính sau:

- Giám sát các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất; cải thiện chất lượng không khí, tiếng ồn, giảm thiểu hoặc loại bỏ các hóa chất độc hại[1]. Cụ thể hơn là việc quản lý chất lượng môi trường, giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái;

- Giám sát các quy định về quản lý chất thải, kể từ khi chất thải phát sinh, thu gom, xử lý...

- Giám sát các quy định về quản lý hệ sinh thái, đây là hệ thống hỗ trợ cho sự sinh tồn của con người, nơi con người sinh ra và lớn lên, vì vậy chúng ta cần quan tâm đến nó.

- Giám sát các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học.

- Giám sát các quy định về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, động vật hoang dã: Bằng việc chia sẻ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng. bảo vệ đa dạng sinh học... kết hợp với việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường là các cách mà các quốc gia trên thế giới trong đó có châu Âu và Việt Nam thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường. Natura 2000 là mạng lưới bao gồm 26.000 khu vực tự nhiên, chiếm khoảng 20% diện tích đất đai của Liên minh châu Âu, đang được bảo vệ, bởi đây là khu vực có hoạt động của con người xem lẫn 1 tự nhiên và rất dễ bị tổn thương[2].

- Giám sát các quy định về bảo vệ sức khỏe, phúc lợi cho người dân sống ở khu vực châu Âu. Ô nhiễm nước, không khí, hóa chất là mối quan tâm hàng đầu của con người nên các chính sách bảo vệ môi trường của châu Âu cần đạt được mục tiêu là đảm bảo an toàn nước uống và nước sinh hoạt cho người dân, cải thiện chất lượng không khí, tiếng ồn, giảm thiều hoặc loại bỏ các hóa chất độc hại[3].

- Giám sát các quy định về khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, công đồng dân cư tham gia hoạt động bảo vệ môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng về bảo vệ môi trường.

- Giám sát các quy định về xây dựng và phát triển nền kinh tế của châu Âu theo hướng tăng trưởng xanh[4] bền vững. Bảo vệ môi trường được coi là một tiêu chí mạnh trong việc cạnh tranh với các quốc gia khu vực khác trên thế giới, duy trì vị trí dẫn đầu của châu Âu. Chính sách bảo vệ môi trường là chìa khóa tạo ra việc làm, kích thích đầu tư vào châu Âu, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tạo môi trường sống công bằng

- Giám sát các quy định về đầu tư, hỗ trợ hợp lý, kịp thời cho bảo vệ môi trường; ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường.

- Giám sát các quy định về tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Giám sát các quy định về mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, sử dụng bền vững đất đai, hệ sinh thái, ứng phó với thay đổi khí hậu.

- Giám sát các quy định về phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng bảo vệ môi trường

Việc tổ chức hoạt động quản lý bảo vệ môi trường khác nhau ở cấp độ khu vực và quốc gia ở châu Âu. Ở cấp độ khu vực, Ủy ban châu Âu chịu trách nhiệm điều hành chung về các vấn đề môi trường. Ở cấp độ quốc gia, cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường của các nước thành viên được phân chia thành 2 nhóm chính, bao gồm nhóm các cơ quan quản lý môi trường là một bộ riêng biệt (14 quốc gia) hoặc bỏ kiêm nhiệm (14 quốc gia). Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, phần nào chỉ ra được thái độ tích cực với các vấn để môi trường. Việt Nam có cơ quan môi trường là một Bộ riêng biệt và có sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Môi trường quốc gia. Như vậy, chính sách bảo vệ môi trường có nguyên tắc, nội dung thực hiện mang tính quốc tế nhưng việc tổ chức thực hiện lại mang tính quốc gia tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội ở từng nước.

Như vậy, mục tiêu của các chính sách bảo vệ môi trường là phát triển bền vững, đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế - xã hội tạo ra các tiềm lực kinh tế để bảo vệ môi trường, còn bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng khu vực. quốc gia mà mục tiêu quản lý môi trường thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng.

2. Kiến nghị các giải pháp thực thi chính sách bảo vệ môi trường sau giám sát

Từ những nội dung giám sát chính sách về bảo vệ môi trường, Quốc hội/nghị viện đưa ra các khuyến nghị về các giải pháp thực thi sau giám sát. Các giải pháp thực thi chính sách bảo vệ môi trường ở châu Âu cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới, bao gồm giải pháp điều tiết (luật pháp, tiêu chuẩn, quy chuẩn); giải pháp kinh tế; giải pháp thủ tục, công nghệ, kỹ thuật; giải pháp hợp tác (các hiệp định hợp tác), giải pháp truyền thông, thuyết phục...[5]. Đây chính là các công cụ để thực thi chính sách bảo vệ môi trường ở các quốc gia châu Âu cũng như Việt Nam.

Các giải pháp được khuyến nghị thực hiện chính sách bảo vệ môi trường[6] sau giám sát gồm:

- Giải pháp điều tiết dựa trên cơ sở Luật pháp, tiêu chuẩn, quy chuẩn nhằm điều khiển, kiểm soát, bảo vệ môi trường

- Giải pháp kinh tế dựa trên các quy định về Thuế[7], hàng rào thuế, phí, trợ cấp...

- Áp dụng công nghệ, kỹ thuật quản lý thông qua công nghệ sạch, công nghệ bảo vệ môi trường, kiểm toán, thẩm định đánh giá tác động môi trường.

- Giải pháp hợp tác thông qua các cam kết, thỏa thuận, hành động bản tròn, kế hoạch hành động, nghiên cứu.

- Giải pháp thuyền thông, thuyết phục, lôi cuốn thông qua thông tin, giáo dục, chiến dịch công cộng.

Như vậy, có thể thấy kinh nghiệm giám sát của Quốc hội/nghị viện nhằm xây dựng mức độ "can thiệp vào cộng đồng giảm dần, nhóm công cụ đầu tiên mang tính truyền thông, thường là mệnh lệnh, quy định bắt buộc người dân phải thực hiện. Nhóm công cụ kinh tế thường tác động vào "túi tiền" của các đổi tượng điều chỉnh, làm thay đổi cách thức sử dụng tài nguyên và cách thức tác động vào môi trường.

 


[1] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/environment en, truy cập ngày 04/12/2017.

[2] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/environment_en, truy cập ngày 04/12/2017.

[3] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/environment en, truy cập ngày 04/12/2017.

[4] European Union, nn. (nd.), Environment, URL: https://europa.eu/european union/topics/ environment en, truy cập ngày 04/12/2017

[5] Böcher, Michael and Töller, Annette E., 2007, Instrumentenwahl und Instrumentenwandel in der Umweltpolitik. Ein theoretischer Erklärungsrahmen', in Klaus Jacob, Frank Biermann, Per-OlofBusch and Peter Feindt (eds.), PVS-Sonderheft Politik und Umwelt, Wiesbaden, pp. 299-322.

[6] Sophie Schmitt and Kai Schulze (2011), Choosing environmental policy instruments: An assessment of the environmental dimension' of EU energy policy, European Integration online Papers (EloP), Special Mini Issue 1, Vol. 15, Article 9, http://eiop.or.at/eiop/texte/2011-009a.htm.

[7] Thuế ở đây bao gồm thuế tài nguyên (thuế đánh vào tài nguyên kháng sản, tài nguyên rừng, thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước...).

Châu Âu được biết đến là khu vực phát triển bậc nhất trên thế giới, với nền công nghiệp được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 18. Trong quá trình phát triển, các quốc gia châu Âu cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, suy giảm tài nguyên thiên nhiên, bệnh dịch... thậm chí cho tới hiện tại, đây vẫn là những vấn đề được người châu Âu đặc biệt quan tâm.

Kể từ sau năm 1992 đến nay, quá trình phát triển của các quốc gia châu Âu gắn chặt với mục tiêu phát triển bền vững. Trong đó, bảo vệ môi trường là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu. Nhiều chính sách bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững được đưa ra được các quốc gia thực hiện bài bản và đạt được những thành tựu đáng khâm phục. Châu Âu được ví như khu vực văn minh, hiện đại bài hầu với tự nhiên và là điểm đến điểm sinh sống mong ước của người dân từ khắp các quốc gia trên thế giới.

Để đạt được những thành tựu đó, Châu Âu đã áp dụng các giải pháp điều tiết về mặt pháp lý như là một trong những biện pháp quan trọng nhất để thực thi chính sách bảo vệ môi trường. Nó đảm bảo cho các hành vi, các mối quan hệ trong xã hội phải tuân thủ pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường và đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ của con người khi có quan hệ pháp luật môi trường. Giải pháp này gồm luật pháp, tiêu chuẩn, quy chuẩn, giấy phép...

Đối với Luật môi trường: trên phương diện quốc tế luật môi trường thể hiện khá đa dạng bao gồm hiệp ước, quy ước, quy chế, quy định điều chỉnh sự tương tác của con người và môi trường tự nhiên. Trong đó tập trung vào hai đối tượng chính: 1) Kiểm soát ô nhiễm và khắc phục hậu quả; 2) Bảo tồn và quản lý tài nguyên. Trong quan hệ giữa các nước việc hình thành các nguyên tắc, quy phạm pháp lý quốc tế nhằm ngăn chặn, loại trừ mọi thiệt hại do các nguồn khác nhau gây ra nằm ngoài tài phán quốc gia là vô cùng cần thiết bởi các vấn đề môi trường thường không chỉ bỏ hẹp trong một khu vực, một đất nước mà nó đòi hỏi phải có sự chung tay của tất cả các nước. Thế giới đã có nhiều công ước, hiệp ước được các nước ký kết trong thời gian gần đây như Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (1982), Công ước Bảo vệ tầng ôzôn (1985), Công ước Khung về biến đổi khí hậu (1992), Nghị định thư Kyoto (1997), v.v... các quốc gia EU và Việt Nam đã tham gia rất tích cực vào các công ước này và được thế giới đánh giá cao. Chẳng hạn, các nước EU tham gia ký Công ước về ở nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa năm 1979, tham gia vào Công tắc về chống buôn bán các loài có nguy cơ tiệt chủng vào năm 1983, v.v....

Trên phương diện khu vực, EU cũng xây dựng những quy định chung về Nha về môi trường, dưới dạng các quy chế (regulation), sắc lệnh còn gọi là chỉ thị (directive) và phán quyết huy quyết định (decision). Quy chế về môi trường của EU được tự động bổ sung vua luật pháp hiện hành của các quốc gia thành viên mà không cần một biện pháp can thiệp nào vào và có giá trị pháp lý cao hơn nội luật của nước sở tại. Chỉ thị đòi hỏi các quốc gia thành viên phải thực hiện một số yêu cầu của EU đưa ra và họ có quyền tự quyết cách tổ chức thực hiện, triển khai chỉ thị. Đến thời điểm có hiệu lục nếu những chỉ thị này chưa được thực thì thì nó vẫn có hiệu lực trực tiếp ở quốc gia đó. Phán quyết hay quyết định là quy định được áp dụng trực tiếp cho một tổ chức, cá nhân, một quốc gia thành viên trong trường hợp vi phạm cụ thể. Về cơ bản những quy định về luật pháp này không phân thứ tự, thứ bậc. Chẳng hạn, những quy chế về trách nhiệm môi trường, tiêu chuẩn môi truong, v.v...

Quả trình phát triển kinh tế làm này sinh nhiều vấn đề môi trường mới đòi hỏi luật phải liên tục được sửa đổi, bổ sung để phát huy được vai trò quản lý nhà nước của mình. Vì vậy, sau khi ban hành luật, các quốc gia châu Âu cũng như Việt Nam đều phải tiến hành sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Do thời gian ban hành khác nhau, quan điểm khác nhau nên luật môi trường của các quốc gia châu Âu còn có nhiều điểm không tương ứng với nhau, điều này chỉ dần được giải quyết khi các quốc gia EU xây dựng luật chung về bảo vệ môi trường. Ở khía cạnh liên quốc gia, sự phối hợp và đàm phán giữa các nước để tìm đến sự tương đồng, chia sẻ và học hỏi các kinh nghiệm là điều hết sức cần thiết. Có thể nói đây cũng là một trong những cơ sở quan trọng nhất đặt nên tảng cho sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Đối với góc độ tiêu chuẩn môi trường và sức khỏe thì tiêu chuẩn môi trường là các giá trị được ghi nhận của nhà dương cục trong quy định chính thức, xác định nồng độ tối đa cho phép của các chất trong thức ăn, nước uống, không khí hay giới hạn chịu đựng của con người và sinh vật đối với các yếu tố môi trường[1].

Ở châu Âu, người ta vẫn sử dụng thuật ngữ tiêu chuẩn chất lượng môi trường kể từ lúc được xây dựng cho tới nay mà chưa có sửa đổi, bổ sung. Tiêu chuẩn này được quy định cụ thể cho từng thành phần môi trường bao gồm, tiêu chuẩn đối với nước, không khí, đất, tiếng ồn. Chẳng hạn, đối với môi trường không khí, tiêu chuẩn chất lượng môi trường của EU quy định với 13 loại chất, hợp chất, có thời gian áp dụng khác nhau ở từng khu vực[2]. Đối với mỗi trường nước mặt, tiêu chuẩn chất lượng nước mặt được quy định với 33 chất, hợp chất[3], v.v... Các tiêu chuẩn này tự động cập nhật vào tiêu chuẩn môi trường quốc gia nước sở tại, do đó các nước EU không phải xây dựng tiêu chuẩn môi trường riêng, trừ một số khu vực đặc thù.

Nhìn chung, tiêu chuẩn hay quy chuẩn đều được phân loại một cách tương đối. Theo cách phân loại của Jorgensen S.E. 1989, có 4 loại: tiêu chuẩn chất lượng các thành phần môi trường; tiêu chuẩn khống chế kỹ thuật đối với máy móc thiết bị; tiêu chuẩn cảnh báo ở nhiễm và suy thoái môi trường[4]. Cách phân loại này được chấp nhận ở cả Việt Nam và các nước EU cũng như nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội của từng quốc gia mà tiêu chuẩn môi trường cũng khác nhau. Không thể áp dụng hoàn toàn tiêu chuẩn môi trường của một nước công nghiệp phát triển cho một nước đang phát triển cũng như không thể áp dụng hoàn toàn tiêu chuẩn nồng độ một chất khí bất kỳ ở các nước ôn đới cho các nước vùng nhiệt đới. Bởi vậy, việc học hỏi phương pháp xây dựng tiêu chuẩn luôn phải đặt lên hàng đầu đối với các quốc gia.

 


[1] Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2000), Quản lý môi trường cho sự phải triển bền vững, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

European Commission (2014), Air Quality Standard, URL: http://ec. europa.eu/environmentair/quality/ standards.htm, truy cập ngày 10/10/2014

[2] European Commission, (2014), Air Quality Standard, URL: http://ec. europa.eu/environmentair/quality/ standards.htm, truy cập ngày 10/10/2014.

[3] EUR-Lex (2014), Directive 2008/105/ec of the european parliament and of the council, URL: http://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/ALL/?uri= CELEX:32008L0105, truy cập ngày 13/11/2014.

[4] Jorgensen S.E., and W.J. Mitsch (1989), Classification and examples of ecological engineering, pp.13-19 in Ecological enginerring: An introduction to ecological engineering, New York: John Wiley & Sons.

Thể chế chính trị có thể hiểu là loại hình chế độ, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước mà mỗi quốc gia hay rộng hơn là khu vực lựa chọn để quyết định xây dựng những quy định, luật lệ cho một chế độ xã hội mà chính phủ nước đó sử dụng để quản lý xã hội nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng. Thế chế chính trị ảnh hưởng đến sự ổn định, chính trị, xã hội; việc ban hành các văn bản luật pháp, quy hoạch liên quan đến vấn đề môi trường. Thể chế chính trị tốt thì việc xây dựng và thực thi các giải pháp chính sách được tiến hành dễ dàng, ngược lại thể chế xấu thì việc ban hành, thực thi các chính sách về môi trường có thể dẫn tới những tác động tiêu cực[1].

Hiện nay trên thế giới có nhiều dạng thể chế chính trị khác nhau, có thể nhận biết thể chế này qua hiến pháp, đảng phái chính trị, bộ máy nhà nước (nguyên thủ quốc gia, cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp ở cấp Trung ương, phân chia lãnh thổ và chính quyền địa phương) của quốc gia đó.

Liên minh châu Âu (EU) cho đến nay vẫn được coi là một tổ chức thể chế quốc tế, tập trung quyền lực nhất về mặt pháp lý, chính trị và kinh tế trên thế giới. Sự tập trung bắt nguồn từ Hiệp ước Rome năm 1957, thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên từ châu Âu (EURATOM). Đến năm 1992, Liên minh châu Âu được thành lập sau khi Hiệp ước Maastricht (Hiệp ước Liên minh châu Âu - Treaty of European Union) được ký kết, trên nền tảng các thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Mục đích mà Maastricht đặt ra là thống nhất liên minh kinh tế và tiền tệ với đồng tiền chung và ngân hàng độc lập, thống nhất một liên minh chính trị với một chính sách đối ngoại và an ninh chung. Năm 1997, các nước này ký Hiệp ước Amsterdam còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, thời gian bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 5 năm 1999, Hiệp ước này sửa đổi, bổ sung một số nội dung như: Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử Tư pháp và đổi nội; Chính sách xã hội và việc làm; Chính sách đổi ngoại và an ninh chung. Năm 2001, Hiệp ước Nice được ký kết và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 2 năm 2003, với mục đích bổ sung cho Hiệp ước Maastricht và Hiệp ước Rome. Hiệp ước Nice điều chỉnh các điều kiện để các thành viên mới gia nhập. Năm 2009, Hiệp ước Lisbon - Hiệp ước tái cấu trúc Liên minh châu Âu chính thức có hiệu lực, theo đó Liên minh châu Âu đã cải tổ đổi cấu trúc pháp lý của Liên minh sáp nhập cấu trúc 3 trụ cột thành một chính thể pháp lý duy nhất. Đây là nền tảng giúp EU có kiểu quyền lực siêu quốc gia. Điều đó có nghĩa là nước thành viên trao cho các cơ quan EU quyền lập pháp trong những lĩnh vực cụ thể và áp dụng pháp luật này theo trật tự pháp lý của mỗi nước thành viên.

Kể từ sáu quốc gia ban đầu, thành viên đã tăng lên 28 quốc gia thành viên - đại diện cho hơn 500 triệu người dân và cùng hợp tác và đưa ra quyết định bởi một hệ thống các cơ quan quản lý của EU. Việc gia tăng các quốc gia thành viên dẫn đến sự gia tăng đáng kể cả số lượng và phạm vi của các vấn đề chính sách thuộc thẩm quyền của EU. Các vấn đề môi trường nằm trong số các lĩnh vực chính sách mở rộng đáng chú ý nhất, liên quan đến việc chuyển giao đáng kể quyền quyết định từ các cơ quan trong nước đến cấp khu vực. Hiện nay, hầu hết các chính sách môi trường là được xây dụng bởi các cơ quan của EU, chứ không phải bởi các cơ quan lập pháp địa phương cũng như các cơ quan quản lý cấp quốc gia.

Thể chế chính trị của EU được quyết định bởi 7 cơ quan là Nghị viện châu Âu, Hội đồng bộ trưởng thực hiện quyền lập pháp. Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu thực hiện quyền hành pháp Tòa sẵn Công lý Liên minh châu Âu và Tòa án Kiểm toán châu Âu thực hiện quyền tư pháp. Ngân hàng Trung ương châu Âu chịu trách nhiệm về các vấn đề tiền tệ, đồng tiền chung

Về mặt luật pháp, Luật châu Âu có nguồn gốc từ pháp luật cơ bản và văn bản dưới luật. Án lệ cũng là một nguồn quan trọng để diễn giải luật cơ bản và văn bản dưới luật của EU.

Pháp luật cơ bản cụ thể gồm các hiệp ước và những hiệp định khác có vị thể như nhau. Luật pháp cơ bản được thống nhất thông qua đàm phán trực tiếp giữa chính phủ các nước thành viên. Những hiệp ước hiện nay về Liên minh châu Âu và chức năng của Liên mình đã trải qua một số lần sửa đổi và thông qua các "Nghị định thư" của các hiệp ước này đó là Hiệp ước Rome (1957), Đạo luật chung châu Âu (1987), Hiệp ước về Liên minh châu Âu Hiệp ước Maastricht(1992), Hiệp ước Amsterdam (1997), Hiệp ước Nice (2001), và Hiệp ước Lisbon (2009).

Văn bản dưới luật là quy định của Liên minh châu Âu được thực hiện thông qua các cơ quan của Liên minh, trên cơ sở thẩm quyền trao cho các cơ quan này.

Văn bản dưới luật gồm:

* Quy định - có tỉnh ràng buộc ở mọi nước thành viên;

* Chỉ thị - có tính ràng buộc về kết quả đạt được nhưng các nước thành viên có thể lựa chọn phương thức thực thi

* Quyết định - có tính ràng buộc đối với những nước mà quyết định để cập:

* Khuyến nghị - không có tính ràng buộc.

Án lệ là phán quyết của các tòa án EU trong các vụ việc cụ thể, nêu ra các diễn giải đối với những hiệp ước và văn bản dưới luật. Mặc dù mỗi phán quyết chỉ có tính ràng buộc đối với các bên liên quan, nhưng các diễn giải này thường được đưa ra sau khi cân nhắc nghiêm túc và đóng góp vào sự hiểu biết chung về luật EU.

Luật EU áp dụng với mọi nước thành viên và đối tượng thuộc quyền kiểm soát của luật. Trong trường hợp có xung đột giữa luật quốc gia với luật EU, sẽ áp dụng luật EU. Đây là quyền tối cao của luật EU. Ngoài ra, luật EU thâm nhập trực tiếp vào trật tự pháp lý của các nước thành viên EU. Luật được cơ quan quản lý hành chính (như hải quan) và tòa án quốc gia của các nước thành viên EU áp dụng trực tiếp. Đây là nguyên tắc áp dụng trực tiếp. Chẳng hạn, Điều 11, 191 đến 193 trong Hiệp ước về các chức năng của liên minh châu Âu (Functioning of the European Union-TFEU) đã chỉ rõ, EU có thẩm quyền hành động để giải quyết các vấn đề môi trường, chẳng hạn kiểm soát ô nhiễm không khí và nước, ứng phó với biến đổi khí hậu và quản lý chất thải... Phạm vi hoạt động của EU được giới hạn bởi các nguyên tắc bổ trợ cũng như yêu cầu về sự nhất trí của các thành viên trong Liên minh khi đề cập tới các vấn để tài chính, quy hoạch sử dụng đất nước, quản lý tài nguyên, lựa chọn nguồn cung cấp năng lượng[2].

Nhìn chung, nội dung lập pháp của châu Âu về cơ bản xuất phát từ các điều khoản trong các hiệp ước chung được thương lượng phê duyệt và sửa đổi bởi các quốc gia thành viên. Ví dụ như Hiệp tức Rome (1957), trong đó đặt ra các chức năng cơ bản của ECC mà không bao gồm vấn đề môi trường. Tuy nhiên, Hiệp ước Rome chứa đựng ngôn ngữ có thể phục vụ như một cơ sở pháp lý đối với các sáng kiến về môi trường. Hai nội dung quy định dựa trên Hiệp ước, đã được những người ủng hộ chính sách môi trường vận dụng như sau: thứ nhất, chức năng chung của cộng đồng là hỗ trợ hồi nhập và nguyện vọng có liên quan để cải thiện cuộc sống của người dân và điều kiện làm việc; và thứ hai là yêu cầu bắt buộc giảm các rào cản trong trao đổi thương mại và kinh tế hướng tới mục tiêu cuối cùng của việc tạo ra một thị trường chung. Nhận thấy qua những mục tiêu này, những người ủng hộ có thể đưa ra các lập luận, đòi hỏi sự hài hòa của môi trường và tiêu chuẩn sức khỏe con người tại các quốc gia thành viên.


[1] Trong cuộc nói chuyện với GS. David Camroux từ Viện Sciences-Po, Học viện Chính trị Paris (CERI) ông cũng đồng tình với nhận xét này

[2] European Parliament, nd., Environment policy: general principles and basic framework, URL: http://www.europarl.europa.eu/atyourservice/en/display Ftu.html?ftuld=FTU_5.4.1.html, truy cập ngày 2/10/2017.

Từ những năm 2000 trở lại đây, các quốc gia ở châu Âu là một khu vực có nền kinh tế phát triển nhưng hàng năm các nước châu Âu vẫn phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước, không khi; vấn nạn chất thải; suy giảm đa dạng sinh học; biến đổi khí hậu từ hoạt động giao thông, sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp... Mặc dù mức độ ô nhiễm không phải ở mức đáng báo động như các quốc gia đang phát triển song nó cũng gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe cho người dân ở châu Âu. Tuy nhiên, quá trình hoạch định, thực thi chính sách môi trường ở các nước châu Âu để lại kết quả ấn tượng, các chính sách được xây dụng và hoàn thiện theo thời gian, kết hợp được mục tiêu kinh tế với phát triển bền vững. Các nước châu Âu đạt được tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Việc mở rộng luật môi trường ở các nước châu Âu đã có những thành công đáng kể về số lượng và phạm vi điều chỉnh, thẩm quyền quốc gia. EU hiện đóng vai trò trung tâm trong quản lý môi trường châu Âu, đưa ra quyết định từ lập pháp, đến hành pháp.

Hiện nay, chính sách bảo vệ môi trường của các nước châu Âu cũng bị tác động đáng kể từ sự thay đổi của các vấn đề môi trường. Bên cạnh những vấn đề môi trường chung, ở từng quốc gia châu Âu cũng có các vấn đề môi trường khác nhau nên họ có các chính sách và các giải pháp thực thi riêng cho từng giai đoạn khác nhau.

Như đã biết, các vấn đề môi trường cũng có nhiều biến đổi kể từ khi chúng mới xuất hiện. Chẳng hạn, ban đầu một số khu vực của châu Âu gặp phải vấn nạn ô nhiễm môi trường (những năm 1960); đến những năm 1980 họ phải giải quyết vấn nạn chất thải rắn nguy hại do việc buôn bán, vận chuyển xuyên biên giới; từ những năm 1990 trở lại đây các nước châu Âu phải đối mặt với hàng hoạt các vấn đề môi trường lớn như: biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, suy giảm đa dạng sinh học, sự cố môi trường, axit hóa, suy thoái tài nguyên nước, rừng, tài nguyên biển và kiểm soát chất thải rắn,... Các vấn đề môi trường đang là vấn đề toàn cầu thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới, là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội và môi trường.

Sự biến đổi của các vấn đề xã hội trong từng quốc gia cũng như khu vực nổi lên trong những năm gần đây như xu hướng già hóa dân số, vấn đề người di cư... sẽ có tác động lớn đến xã hội các nước châu Âu, từ đó có thể có tác động trực tiếp, gián tiếp lên chính sách bảo vệ môi trường. Chẳng hạn, già hóa dân số là vấn đề đang nổi lên trên phạm vi toàn cầu trong đó có các quốc gia châu Âu. Tuổi thọ trung bình của dân cư các nước EU theo dự bảo có thể tăng thêm 47,6 tuổi, nghĩa là EU sẽ phải có những thay đổi nhất định trong chính sách an sinh xã hội, đồng thời các nước này có thể phải đối mặt với khoản thâm hụt ngân sách và ng công từ đó ảnh hưởng đến các chính sách đối với môi trường. Một dự đoán gần đây đã ước tính, giai đoạn 2017-2050, tại Đức dân số sẽ giảm từ 81 triệu xuống 79 triệu và Italy 60 triệu xuống 55 triệu người[1].

Vấn đề người di cư cũng đang rất cấp bách đối với các quốc gia châu Âu, đặc biệt khi đây là "miền đất hứa" của nhiều người di cụ từ các nước đang bị khủng hoảng kinh tế, nghèo đói, chiến tranh nội chiến triền miên, nhất là ở châu Phi và khu vực Trung Đông như Afghanistan, Iraq, Syria và Libya... Người di cư có thể tạo nên sức ép nhất định lên môi trường trong quá trình sinh sống như làm gia tăng khối lượng chất thải rắn, tác động tới các nguồn tài nguyên khiến chúng suy giảm nhanh chóng, bệnh dịch... từ đó buộc chính quyền các nước sở tại phải có các chính sách mới, từ đó gián tiếp tác động đến các chính sách bảo vệ môi trường.

Năm 2014, các quốc gia thành viên EU đã nhận được đơn xin tị nạn từ 132.405 người nhập cư và được chấp nhận 23.295 đơn trong khi đó 109.110 đơn bị từ chối và những người này được yêu cầu rời khỏi lãnh thổ của EU. Đức, Ý, Pháp, Thụy Điển là những quốc gia chấp nhận đơn của nhiều người nhập cư nhất, chiếm khoảng 2/3 tổng số đơn được chấp nhận[2].

Từ đó đến nay, cuộc khủng hoảng người di cư phần nào hạ nhiệt khi số người di cư đến "lục địa già" giảm đáng kể. Theo Tổ chức Di cư quốc tế (IMO), số người di cư đến châu Âu bằng đường biển trong năm 2017 giảm hơn một nửa so với con số gần 400.000 người của năm 2016. Nguyên nhân được cho là EU đã đạt được thỏa thuận với Thổ Nhĩ Kỳ cho phép kiểm soát tuyến đường biển chính nổi Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, từ đó ngăn chặn được dòng người di cư bằng đường biển vào châu Âu. Thêm vào đó, tuyến đường biển nổi Bắc Phi với Italy được lực lượng bảo vệ bờ biển của Italy và Libya phối hợp kiểm soát chặt chẽ khiến cho tàu chở người di cư ít đến khu vực này. Đồng thời EU cũng rất nỗ lực kiểm soát từ xa dòng người di cư tại chỗ.

Xét từ góc độ quản lý nhà nước thì chính sách bảo vệ môi trường thể hiện thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với vấn đề môi trường, do đó chính sách cũng có chức năng định hướng và xác định xu thế tác động của nhà nước lên các thành phần, chủ thể trong xã hội để đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Đây cũng là mục tiêu phát triển phủ hợp với sự phát triển của xã hội. Mặc dù có vai trò định hướng, song các thành phần, chủ thể xã hội cần nhận thức rõ vai trò, vị trí của mình để hành động theo các mục tiêu kể trên, có như vậy thì bản thân các chủ thể này cũng dễ dàng nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội.

Tuy nhiên, đây vẫn là thách thức lớn, khi các nhà lãnh đạo khu vực còn lúng túng trong việc tìm ra giải pháp chung, toàn diện nhằm giải quyết dứt điểm cuộc khủng hoảng. Do thiếu nhất quán, cho nên những nỗ lực giải quyết người tị nạn của EU không mang lại hiệu quả như mong muốn. Kế hoạch tái phân bổ 160.000 người di cư ở Italy và Hy Lạp đến các nước thành viên khác trong EU được đưa ra năm 2015, nhưng đến nay, chỉ khoảng 30.000 người trong tổng số 160.000 người được tái phân bổ[3]. Các nước như Đức, Pháp đã rất nỗ lực để thuyết phục, triển khai kế hoạch nhưng gặp sự phản đối từ một số nước Đông Âu như Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan do lo ngại về nguy cơ khủng bố và ảnh hưởng đến xã hội, môi trường, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia...

Có thể khẳng định rằng, khủng hoảng di cư ảnh hưởng không nhỏ tới các quốc gia châu Âu, người châu Âu không thể tự bảo vệ mình và bảo vệ mức sống của dân chúng, cũng như cơ sở hạ tầng xã hội, môi trường của mình nếu phải cảng đáng hàng triệu người di cư từ châu Phi, Trung Đông.

 


[1] Minh Trà (2018), Châu Âu vẫn đau đầu với vấn nạn di cư, URL: https:// bnews.vn/chau-au-van-dau-dau-voi-van-nan-di-cu/81214.html, truy cập ngày 17/08/2018.

[2] Chris Harris (2015), Data raises questions over EU's attitude towards asylum seekers, URL: http://www.euronews.com/2015/05/14/data-raises questions-over-eu-s-attitude-towards-asylum-seekers, truy cập ngày

[3] Quang Hiếu (2018), Giải quyết thách thức cuộc khủng hoảng người đi cur, URL: http://www.nhandan.com.vn/thegioi/tin-tuc/item/35569102-giai quyet-thach-thuc-cuoc-khung-hoang-nguoi-di-cu.html, truy cập ngày 17/08/2018.

Hiện nay, vấn đề quản lý ô nhiễm chất thải rắn đang là vấn đề cấp thiết đặc biệt khi nước ta tập trung vào phát triển công nghiệp sản xuất, chế tạo. Theo quan điểm mới: Chất thải rắn được định nghĩa là: vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt đi trong khu vực đô thị dân cư, công nghiệp, nông nghiệp mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vút bỏ đó. Chất thải rắn đô thị được xã hội nhìn nhận như một thứ mà chính quyền đô thị phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy. Mặt khác phải coi chất thải như một nguồn tài nguyên.

Việc quản lý ô nhiễm chất thải rắn đặc biệt là đưa ra các chính sách nhằm giảm tải tiến dần tới hạn chế ô nhiễm chất thải rắn đô thị công nghiệp nói riêng và ô nhiễm môi trường nói chung nhằm đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường đang được Việt Nam đặc biệt quan tâm. Xuất phát từ hiện trạng đó, việc giám sát quản lý thực hiện cũng như giám sát việc thực hiện các chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường nói chung, quản lý ô nhiễm chất thải rắn công nghiệp nói riêng đang là vấn đề cấp thiết. Giám sát việc quản lý ô nhiễm này góp phần tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực đó và xem xét tính hợp lý cũng như hiệu quả của việc quản lý nhà nước trong việc giảm tải ô nhiễm chất thải rắn. Để việc giám sát thực hiện chính sách này có hiệu quả trước tiên cần xem xét hiện trạng ô nhiễm chất thải rắn đô thị hiện nay.

1. Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị

Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao Ghi chú: (Kể cả nhà ở và trung tâm dịch vụ thương mại; Không kế nước và nước thải.

Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu chuẩn, thành phần chất thải rắn đô thị bao gồm: Điều kiện sinh hoạt; điều kiện thời tiết, khí hậu; các yếu tố xã hội; tập quán.

Khối lượng, thành phần, tính chất chất thải rắn sinh hoạt đô thị

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tính đến tháng 12/2016 và Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016, chuyên để môi trường đô thị thì cả nước có trên 800 đô thị với tỷ lệ dân số khoảng 34,1% tổng số dân, tức khoảng 32,9 triệu người. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị trên cả nước ước khoảng 38.000 tấn/ngày, với mức gia tăng trung bình 12%/năm, tỷ lệ thu gom trung bình khoảng 84%. Một số đô thị lớn có tỷ lệ thu gom khá cao, trên 90% như Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Trì, Nam Định, Vũng Tàu... Tình hình phát sinh và xử lý chất thải rắn ở khu vực đô thị vẫn là một trong những vấn đề môi trường nổi cộm trong nhiều năm qua.

Dân số nông thôn năm 2016-2019 khoảng trên 60 triệu người, chiếm gần 66% dân số cả nước. Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các khu dân cư nông thôn ước khoảng hơn 31.500 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn các vùng nông thôn còn thấp, đạt tỷ lệ trung bình khoảng 40 - 55% tùy theo vùng, địa phương. Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.

Bên cạnh đó, theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) về tình hình quản lý đối với chất thải rắn y tế, có khoảng hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện phân loại chất thải rắn từ nguồn.

Đối với việc xử lý, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn đô thị cho tới nay ở Việt Nam đang áp dụng: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh và không hợp vệ sinh; sản xuất phân hữu cơ ví sinh theo công nghệ hiếu khí hoặc kỵ khí; công nghệ Seraphin; công nghệ Tâm Sinh Nghĩa; công nghệ khu xử lý Đa Phước (công nghệ Hoa Kỳ); công nghệ Plasma thử nghiệm tại Đông Anh, Hà Nội; công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh học từ chất thải hữu cơ; công nghệ đốt chất thải sản xuất điện; công nghệ sản xuất viên nhiên liệu từ chất thải hữu cơ (Công ty Máy thủy lực); công nghệ BETID - Đồng Xoài. Công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ và đốt. Tại khu vực đô thị, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được chôn lấp trực tiếp khoảng 34%, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được tái chế tại các cơ sở xử lý đạt khoảng 42% và lượng chất thải rắn còn lại là bã thải của quá trình xử lý được chôn lấp chiếm khoảng 24%[1].

Ở Việt Nam đã thử nghiệm áp dụng và phát triển công nghệ xử lý chất thải như công nghệ Seraphin, công nghệ Tâm Sinh Nghĩa nhưng không thành công. Một số địa phương, một số đô thị đã có dự án đầu tư xây dựng và áp dụng công nghệ xử lý chất thải hữu cơ làm thành phân vì sình (compost) phục vụ cây trồng. Năm 2015, Hà Nội xây dựng mô hình thí điểm ô chôn lấp rác thải theo công nghệ chôn lấp bản hiếu khí Fukuoka tại xã Xuân Sơn (Tây Sơn, Hà Nội). Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ban hành Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07/8/2002 về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại.

2. Đặc điểm thành phần chất thải rắn công nghiệp và công nghệ xử lý

2.1 Khái quát về chất thải rắn công nghiệp

Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn công nghiệp: Hoạt động phát triển kinh tế, bao gồm nhiều ngành công nghiệp, thương mại,... Chất thải công nghiệp thuộc rất nhiều lĩnh vực nên rất đa dạng về chủng loại, khối lượng và thành phần, tính chất.

Lợi ích, giá trị còn lại của chất thải: nhiều vật được coi là chất thải nhưng vẫn còn có giá trị và có thể sử dụng hữu ích cho các mục đích khá ; Điều quan trọng đối với quản lý là thực hiện sự chuyến giao từ người chủ này sang người chủ khác một cách hiệu quả, an toàn; Chất thải và phát triển bền vững.

2.2 Quản lý chất thải rắn công nghiệp:

Để đánh giá và thực thi một chiến lược quản lý chất thải cần dựa trên cơ sở bảo và sức khỏe con người, môi trường, năng lượng và hiệu quả kinh tế. Đó chính là sự phát triển bền vững.

2.3 Xử lý chất thải rắn công nghiệp

Chất thải công nghiệp không nguy hại là những chất hay hợp chất không gây nguy hại cho sức khỏe con người, sinh vật và môi trường. Chất thải công nghiệp không nguy hại được nêu trong Phụ lục A của Tiêu chuẩn TCVN 6705:2000 hoặc trong Danh mục B, Phụ lục I của Quy chế quản lý chất thải nguy hại. Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc có tương tác với các hợp chất khác gây nguy hại tới sức khỏe và môi trường như nêu trong Danh mục A, Phụ lục I của Quy chế chất thải nguy hại của Việt Nam (Quyết định số 155/1999/QÐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại).

Chất thải nguy hại đã được phân loại và đưa vào Tiêu chuẩn TCVN 6706:2000 và Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại. Dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa chất thải nguy hại được đưa vào tiêu chuẩn này.

- Xử lý chất thải nguy hại

- Để lựa chọn phương pháp xử lý chất thải nguy hại, người ta phải căn cứ vào khối lượng, thành phần, tính chất của nó.

Các phương pháp xử lý chất thải nguy hại bao gồm: phương pháp hóa lý và hóa học; phương pháp sinh học; phương pháp đóng rắn, ổn định; chôn lấp chất thải nguy hại; phương pháp thiệu đốt.

3. Quản lý tổng hợp chất thải rắn

Quản lý tổng hợp chất thải rắn là một hệ thống tối ưu trong thực tiến quản lý chất thải, dựa trên sự đánh giá có cơ sở những cần nhắc về môi trường, năng lượng, kinh tế, kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, bao gồm một tổ hợp hai hay nhiều hơn các thành phần thứ bậc chất thải. Như vậy “tổng hợp" là kết nối, phối hợp, liên kết và bao gồm tất cả các khía cạnh, mà đặc biệt là 4 khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường và công nghệ; “tổng hợp" còn bao gồm mối quan tâm của tất cả các bên có liên quan: chính quyền, công chúng, công nghiệp, các tổ chức quần chúng và từng cá thể - mỗi con người.

3.1 Quản lý chất thải theo phương châm trình tự ưu tiên

Ngăn ngừa; giảm thải; tái sử dụng; tái chế: làm thành phân trộn chẳng hạn.

Thu hồi: đốt cháy để thu hồi nhiệt chẳng hạn. Loại bỏ: đưa ra bãi thải.

3.2 Các nguyên lý ngăn ngừa - giảm thải, tái sử dụng, tái chế chất thải (3R)

Ngăn ngừa - Giảm thiểu chất thải:

Giảm từ nguồn bằng cách thay đổi sản phẩm hay giảm hoặc loại bỏ sự sản sinh chất thải trong một quá trình nào đó; Giảm dung tích, kích thước chất thải rắn để tạo điều kiện cho vận chuyển và xử lý tiếp theo; Tái chế: là tạo ra vật liệu có giá trị từ chất thải mà sau này có thể sử dụng được; Xử lý là hoạt động làm giảm lượng chất thải và lượng còn lại không hoặc ít có giá trị để có thể tái chế được.

Tái sử dụng chất thải:

Tái sử dụng có những ưu việt: hạn chế, ngăn ngừa sự phát sinh chất thải; giảm lượng chất thải cần phải xử lý; giảm lượng chất thải nguy hại nhập vào dòng chất thái chung; trợ giún nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề quản lý chất thải: những ưu điểm khác bao gồm kéo dài tuổi thọ các công trình thiết bị xử lý và loại bỏ chất thải; tiềm năng hiệu quả sản xuất công nghiệp được cải thiện và nâng cao.

Tuy nhiên, tái sử dụng cũng có những mặt hạn chế như: yêu cầu phải làm sạch và sửa chữa. Như vậy có thể tiêu tốn nhiều nguồn lực, chi phí hơn là tiết kiệm; đòi hỏi khoảng cách vận chuyển lớn cho việc tái sử dụng; các hạn chế và khó khăn về quy hoạch, thiết kế cho việc tái sử dụng; những vấn đề sức khỏe công cộng, tác động đối với sức khỏe của người thu gom, vận chuyển; chỉ có hiệu quả là hạn chế về lượng chất thải.

Tái chế chất thải:

Tái chế chất thải là việc sử dụng một phần hay toàn bộ sản phẩm cũ làm nguyên liệu để chế tạo ra một sản phẩm mới.

Trong quá trình tái chế, các nguyên liệu phải được gia công lại và các công đoạn mới được bổ sung nên sẽ xuất hiện các tác động đến môi trường.

Lợi ích của tái chế chất thải về mặt kinh tế - xã hội và môi trường: giảm tiêu dùng tài nguyên; giảm nhu cầu năng lượng; giảm sử dụng nước; giảm sự phát thải ra không khí, đất, nước; giảm chất thải cho xử lý và tiêu hủy; tạo công ăn, việc làm cho người lao động, v.v..

Với điểm của tái chế: kết quả đạt được có thể không thực tế không được như mong muốn;

Mặt khác, hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp tại Việt Nam được phản cấp theo cấp quốc gia và cấp địa phương.

4. Những thách thức và định hướng giải quyết

Thông qua việc giám sát thực trạng về ô nhiễm chất thải rắn đô thị, khu công nghiệp có một số vấn đề cần chú trọng như:

Về chính sách, chiến lược quản lý tổng hợp chất th ải rắn à các địa phương còn nhiều bất cập, khó đạt được mục tiêu đề ra theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Tỷ lệ các bãi chôn lấp hợp vệ sinh còn thấp, mới chỉ đạt khoảng 31% tổng số bãi chôn lấp (diện tích từ 1 ha trở lên).

Còn lại là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh.

Đối với việc thực hiện chính sách quy hoạch tổng thể, tới nay, mới chỉ có một vài đô thị lớn có quy hoạch tổng thể, còn nhiều đô thị chưa lập Quy hoạch tổng thể quản lý chất thải, giai đoạn đến 2020, tầm nhìn 2050 trong đó phải giải quyết được các vấn đề trọng tâm là xử lý, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rấn đô thị, công nghiệp.

Đối với vấn đề phát triển thương mại xanh, nhãn sinh thái trong quản lý chất thải công nghiệp trên thực tế chưa thực hiện được, chủ yếu có chính sách quy định vấn đề này nhưng trên thực tế còn nhiều vấn đề liên quan tới yếu tố quản lý và chi phí cho hoạt động này khá cao do đó các doanh nghiệp sản xuất thường né tránh vấn đề này.

Các đánh giá vòng đời sản phẩm - Life Cycle Assessment (LCA) trong quản lý chất thải công nghiệp chưa thực hiện được.

Đối với các hoạt động kiểm toán và quy hoạch quản lý tổng hợp chất thải công nghiệp cần thiết phải đẩy mạnh các biện pháp về chính sách, luật lệ trong quản lý chất thải và mở rộng trách nhiệm của người sản xuất, v.v.. Hiện nay, các quy định này mang tính chung chung không có chế tài phạt nặng do đó các doanh nghiệp sản xuất thường tìm cách né tránh, do chưa có chế tài hình sự đối với vấn đề trên chủ yếu vẫn là xử lý hành chính và dân sự. Do đó, trong thời gian tới cần hoạch định các chính sách ở tầm vĩ mô quy định rõ chế tài cũng như trách nhiệm của nhà sản xuất, của doanh nghiệp vi phạm từ đó đẩy mạnh quản lý nhà nước trong việc bảo vệ môi trường, chống xả thải công nghiệp.

 


[1] Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát, đánh giá công nghệ xử lý chất thải rắn và nước thải tại các khu đô thị và khu công nghiệp Việt Nam", mã số MT 04.10 (2011). Tác giả: Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Trần Hiếu Nhuệ.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành