Cosodulieu

Cosodulieu

Nguyên tắc là những quan điểm tư tưởng chủ đạo, mang tính xuất phát điểm, phản ánh quy luật hình thành, vận động và phát triển của một sự vật và hiện tượng nào đó trong đời sống xã hội. Lập pháp cũng là một hiện tượng của đời sống xã hội, lại là một trong những hiện tượng cực kỳ phức tạp, với những đặc thù riêng có. Vì vậy, lập pháp phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Lập pháp là hoạt động có tính phức tạp, trước hết, đó là hoạt động vừa mang tính ý chí chủ quan của người làm luật, vừa phản ánh nhu cầu khách quan của xã hội, phù hợp với tồn tại xã hội, phản ánh đúng đắn quy luật vận động và phát triển của xã hội trong từng thời kỳ và xu thế của thời đại. Cũng vì thế, hoạt động xây dựng pháp luật có những nét đặc thù riêng.

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Hoạt động lập pháp là hoạt động bao gồm nhiều công đoạn mang tính liên tục, kế tiếp nhau từ việc tìm kiến và phát hiện nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội đến việc ban hành kịp thời các đạo luật, pháp lệnh theo một quy trình nhất định mang tính pháp lý, bảo đảm nguyên tắc trong lập pháp. Đồng thời cần phải xem xét đến tính hoạt động hình thức của Quốc hội Việt Nam không chỉ về mặt kiến thức/nhận thức về Quốc hội, mà quan trọng còn ở chỗ giải quyết mối quan hệ giữa chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội và sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật có tính độc lập tương đối và có sự tấc động mạnh mẽ tới đường lối, chính sách của Đảng. Nếu sử dụng tốt phương tiện pháp luật thì đường lối, chính sách của Đảng sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống. Thông qua pháp luật, đường lối chính sách, quan điểm của Đảng được triển khai một cách nhanh chóng và cụ thể trên quy mô rộng lớn nhất. Khi tham gia vào quy trình lập pháp đại biểu Quốc hội cần tránh khuynh hướng pháp luật thuần túy, tránh dùng đương lối chính sách của Đảng để thay thế cho pháp luật, hạ thấp vai trò của pháp luật.

 

(Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm)

Trong thời gian qua, Mỹ chú trọng củng cố, mở rộng phạm vi hoạt động của các hiệp ước với đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Thái Lan và Philippin trên cơ sở duy trì sự chia sẻ về những giá trị cốt lõi. Đáng chú ý trong giai đoạn này là chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản và Ôxtrâylia. Liên minh Mỹ - Nhật là trụ cột chính trong chính sách của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian qua, tiếp tục được nâng cấp, mở rộng phạm vi, lĩnh vực cũng như tăng cường chiều sâu hợp tác an ninh, quốc phòng, chủ yếu xuất phát từ yêu cầu đối phó với mối đe dọa chung là Trung Quốc.

Tiếp theo đó, mục tiêu của Mỹ được đặt vào việc thiết lập và thúc đẩy hợp tác chiến lược với các đối tác mới như Ấn Độ và ASEAN, trong đó đặt trọng tâm vào một số nước trong ASEAN. ASEAN từng bước khẳng định được vị trí “trung tâm” trong chiến lược của Mỹ tại khu vực. Nguyên nhân chính dẫn đến sự quan tâm của Chính quyền Trump đối với Đông Nam Á xuất phát từ vai trò của tiểu khu vực này trong tổng thể IPS (chiến dịch Ấn độ dương- Thái bình dương)[1]. Chính sách của Mỹ đối với ASEAN về cơ bản có xu hướng ủng hộ sự gắn kết trong ASEAN nhằm tạo nên một sức mạnh để ngăn chặn Trung Quốc. Điều này ngược lại với chính sách của Trung Quốc, có xu hướng chia rẽ ASEAN, tận dụng ưu thế hơn. hẳn của mình để áp đặt trong các mối quan hệ song phương với từng nước thành viên ASEAN.

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Prashanth Parameswaran: ASEAN's role in a U.S. Indo - Pacific Strategy, Wilson Center, Asia Program, 2018, p.2

Thứ nhất, tăng cường việc xây dựng chương trình giám sát đối với hoạt động của Chính phủ hằng năm và từng quý, từng tháng. Nội dung chương trình giám sát phải bám sát vào tình hình thực tế đất nước, vào nghị quyết của Quốc hội, vào các văn bản pháp luật và vào từng vấn đề bức xúc. đặt ra trong từng giai đoạn, đối với từng lĩnh vực hoạt động của Chính phủ

Bên cạnh đó, các phương thức, hình thức giám sát của Quốc các bộ, ngành, hội phải được kiện toàn, từng bước hoàn thiện. Xác định các hình thức, phương thức và phương pháp thực hiện quyền giám sát tương xứng với hoạt động giám sát. Nếu hình thức, phương thức và phương pháp giám sát không phù hợp với tính chất, nội dung của quyền giám sát tối cao như luật quy định thì hiệu lực và hiệu quả hoạt động sẽ không cao.

             Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Khả năng tài chính của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc huy động nguồn vốn để có thể sản xuất, kinh doanh, từ đó có thể huy động nguồn hàng, sử dụng và hiệu quả các nguồn quỹ của doanh nghiệp vào việc đầu tư và phát triển. Việc sử dụng hợp lý và phát huy khả năng tài chính của doanh nghiệp sẽ là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp rất nhiều. Khả năng tài chính sẽ là nhân tố quyết định đến những nhân tố khác trong việc xác định khi năng xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp.

Trình độ công nghệ trong việc sản xuất và kinh doanh, của các doanh nghiệp xuất khẩu ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp trong việc sản xuất, đảm bảo chất lượng sản phẩm để tạo được lợi thế cạnh tranh. Việc tiếp cận với các công nghệ hiện đại để đảm bảo chất lượng sản phẩm hạ giá thành sản phẩm, trình độ công nghệ sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo những tiêu chuẩn của quốc tế về chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng đến việc doanh nghiệp tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước trong các công việc khác liên quan đến việc thực hiện và thanh toán hợp đồng như: bảo quản, lưu kho sản phẩm, đóng gói, thanh toán.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Cán bộ, công chức nhà nước là những người sử dụng trực tiếp quyền lực nhà nước để tác động lên các quan hệ xã hội thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc của cơ quan nhà nước mà cán bộ, công chức đó trực thuộc. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trên thực tế như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Tạo ra các phương thức để kiểm soát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức hiệu quả nhất là mục tiêu hướng đến của các nhà nước trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam.

           Quyền lực nhà nước là trung tâm của quyền lực chính trị mà các đảng phái chính trị mong muốn sử dụng, chi phối và kiểm soát. Quyền lực nhà nước không tự thân nó có thể tác trực tiếp đến xã hội mà phải thông qua bộ máy nhà nước và các nhân sự làm việc trong bộ máy đó. Do vậy, quyền lực nhà nước được chuyển hóa thành các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước; các quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Sử dụng quyền lực nhà nước trực tiếp nhất là đội ngũ cán bộ, công chức (dưới hình thức tập thể hoặc cá nhân). Từ việc được trao quyền lực nhà nước như vậy thường dẫn đến hai nguy cơ phổ biến, Nguy cơ thứ nhất có phạm vi bao trùm, đó là xu hướng lạm dụng hoặc sử dụng trái phép quyền lực được giao vào những mục đích khác nhau, xuất phát từ nhiều nguyên do khác nhau (vì cá nhân, vì không có năng lực, vì thiếu kiến thức, kinh nghiệm, vì lợi ích cục bộ địa phương, vì không có tầm nhìn...).

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực nhà nước có nhiều lý do khác nhau, mỗi người có cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Song, thông thường được lý giải bởi những lý do cơ bản sau:

Quyền lực được xem là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình. Quyền lực luôn tồn tại trong những mối quan hệ cụ thể quan hệ quyền lực) ở đó, chủ thể quyền lực nhờ vào khả năng nào đó của mình mà buộc đối tượng quyền lực phải phục tùng, chịu sự sai khiến của mình. Quyền lực nhà nước được xem là khả năng của nhà nước để buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng Nhà nước.

           Quyền lực nhà nước luôn thể hiện trong các mối quan hệ nước không được tổ chức và thực hiện đủ mạnh nó sẽ không có hiệu lực hoặc có hiệu lực thấp, nghĩa là, chủ thể quyền lực không ban hành được mệnh lệnh hoặc mệnh lệnh của họ ban hành không được thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác và triệt để. 

             Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Áp dụng Biện pháp Đông kết tiền gửi trong trường hợp cấp thiết để đối phó với nạn lạm phát phi mã do chính phủ bội chi nhằm trang trải các khoản chi liên quan tới chiến tranh. Do lượng tiền phát hành của BOJ tăng quá nhanh, nên tháng 2 năm 1946 chính phủ đã buộc mọi người phải gửi tất cả số tiền vượt quá một mức nhất định và cấm rút tiền gửi trừ một lượng tối cần thiết cho nhu cầu sống và sản xuất. Các giấy bạc ngân hàng cũ đã bị vô giá trị và các giấy bạc ngân hàng mới sẽ được phát hành vào lúc rút tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, vì nền kinh tế đang dần phục hồi, nên việc hạn chế rút tiền gửi cũng được nới lỏng, và biện pháp này đã chính thức được huỷ bỏ vào tháng 7/1948. Tất cả các khoản tiền gửi, ngoại trừ những khoản lớn của tập thể cuối cùng được dùng để bồi thường thiệt hại do chiến tranh, đã được giải phóng.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Trải qua các thời kỳ, mong muốn của những nhà chính trị học có khuynh hướng dân chủ, tiến bộ là luôn tìm kiếm các công cụ, cơ chế để có thể tiết chế quyền lực, phòng ngừa sự tha hóa của quyền lực khi thực thi quyền lực. Trong tác phẩm nổi tiếng “Tinh thần pháp luật”, Ch.Montesquieu đã chứng minh sự cần thiết phải tách lập pháp và tư pháp, hành pháp thành những nhánh quyền lực độc lập nhằm bảo đảm hiệu quả trong quản lý của Nhà nước và bảo vệ tự do của người dân trước khả năng lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước. Ông cho rằng sự phân quyền là cần thiết để bảo đảm các thiết chế quyền lực tự kiểm soát của bản thân, cân nhắc trước mọi quyết định của chính mình, vì mọi quyết định có tính quyền lực đều liên quan đến quyền của con người. Đạt được mục đích đó, cần có một cơ chế phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực.

            Ở Việt Nam, trong những năm qua đã xảy ra nhiều vụ việc lạm dụng quyền lực, cho thấy nhu cầu cấp bách của việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với cơ quan công quyền, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Thấy rõ nguy cơ với chế độ và xã hội do tình trạng lạm quyền gây ra, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ, cần “phát huy vai trò giám sát... của Nhân dân, của báo chí, của công luận” và đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, lợi ích nhóm. Rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực sẽ tạo tiền đề cho mỗi chủ thể tự xác định được quyền, trách nhiệm của mình và cùng với các chủ thể khác thực thi quyền lực đúng với mục đích, tôn chỉ theo quan điểm của Đảng. Chủ thể kiểm soát thực thi quyền lực là toàn bộ hệ thống chính trị, với các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là chính bản thân của những người có chức, có quyền cùng tiến hành. 

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Tình hình tội phạm về môi trường trong những năm gần đây trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, khôn lường. Trên thế giới thì rõ nét là những hiện tượng dịch chuyển ô nhiễm “xuyên biên giới từ các nước phát triển sang các nước đang và kém phát triển, thông qua các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, xuất, nhập khẩu... (như: sự cố môi trường nghiêm trọng tràn dầu trên vịnh Mêhicô, vỡ bể chứa bùn đỏ tại Hungari...).

Theo định nghĩa của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, “an ninh môi trường được hiểu là “sự khan hiếm các tài nguyên thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm họa có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh"[1], Báo cáo Thiên niên kỷ của Hội đồng châu Mỹ của Liên hợp quốc xác định: “An ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia"[2]. Do đó, xâm phạm an ninh môi trường cần được coi là một kiểu diễn biến hòa bình[3], còn an ninh môi trường được hiểu là trạng thái mà một hệ thống môi trường có khả năng bảo đảm đầy đủ các điều kiện sống an toàn, lành mạnh cho con người trong hệ thống đó. Nguy cơ an ninh môi trường có thể dẫn đến các hệ quả nghiêm trọng như: Mất ổn định do biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước bị đe dọa, vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới, khan hiếm lương thực và sự gia tăng nghèo đói, sự phát triển không bền vững, cân xứng, hệ sinh vật ngoại lai nguy hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn ngày càng gia tăng, v.v..

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 


[1] Xem Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Sinh: Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010, tr.34, 36.

[2] Xem: http://tnmtuyenquang.gov.vn/Moi-truong/Can-danh-gia-dung muc - ve - van - de - an - ninh - moi - truong - tai - Viet - Nam - 20226, truy cập ngày 22/10/2017.

[3] Xem Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Ngọc Sinh: Đảm bảo an ninh môi trường cho phát triển bền vững, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2010, tr.34, 36.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành