Cosodulieu

Cosodulieu

Thứ năm, 18 Tháng 6 2020 11:31

PHÂN LOẠI CƯỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH

Cưỡng chế hành chính là tổng thể các biện pháp do Luật hành chính qui định, được cơ quan, người được trao quyền áp dụng theo thủ tục hành chính, có nội dung hạn chế quyền tự do và quyền tài sản của cá nhân, tổ chức, buộc các chủ thể đó phải thực hiện.
Cưỡng chế hành chính là bắt buộc phải thi hành một mệnh lệnh, quyết định hành chính và là biện pháp do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện đối với cá nhân hay tổ chức đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Được thực hiện bởi những người có thẩm quyền được pháp luật quy định.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước và khu vực trên thế giới, đặc biệt đối với Liên minh châu Âu, ngày càng được cải thiện kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - WTO, biểu hiện rõ nhất là khả năng xuất khẩu sản phẩm và đặc biệt khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực của Việt Nam sang thị trường quốc tế ngày càng được gia tăng, tuy nhiên những kết quả đó chưa thực sự tương xứng với tiềm năng cũng như chưa mang tính ổn định và bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, khi quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi đã tích cực và chủ động hội nhập
ngày càng sâu rộng hơn vào sân chơi thương mại toàn cầu bằng việc đàm phán và ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh châu Âu hay Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, sẽ tác động rất lớn đến khả năng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường quốc tế nói chung và thị trường Liên minh châu Âu nói riêng. Để tận dụng được những cơ hội cũng như hạn chế những thách thức từ các Hiệp định thương mại tự do, Chính phủ và các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần phải nỗ lực rất nhiều trong việc nâng cao khả năng xuất khẩu, đặc biệt là khả năng xuất khẩu các sản phẩm chủ lực, để có được những giải pháp căn cứ và hiệu quả thì việc hiểu đúng bản chất của việc nâng cao khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực từ các lý thuyết, khái niệm, nội dung, tiêu chí cho đến những kinh nghiệm quốc tế là hết sức cần thiết.

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Một số quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chưa thực sự phù hợp với thực tiễn nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung một cách kịp thời. Đáng quan tâm nhất hiện nay đó là việc chưa có các quy định về chế tài hậu giám sát. Thực tế hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội hiện nay cho thấy, các kết luận giám sát mới chỉ dừng lại ở việc “nhắc nhở", đưa ra
những khuyến nghị mà thực tế không có quyền gì rõ ràng. Điều này làm cho đối tượng chịu sự giám sát không chịu sự ràng buộc cụ thể nào với các cơ quan tiến hành giám sát, tức là hệ quả của hoạt động giám sát không được xác định rõ ràng.

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Do đối tượng xâm phạm chuyển từ an ninh biên giới, lãnh thổ, an ninh chính trị trong truyền thống sang các lĩnh vực an ninh mới như: an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh môi trường...nên vấn đề an ninh phi truyền thống dễ làm phát sinh những loại hành vi nguy hiểm cho xã hội mới. Ví dụ: Hành vi hủy hoại môi trường sống gây ra thảm họa môi trường sinh thái, hành vi thành lập, tham gia tổ chức tội phạm, tham gia thành lập tổ chức cực đoan, hành vi đầu độc gây nguy hiểm chung cho cộng đồng, hành vi chế tạo, tàng trữ, sản xuất, tiêu thụ các loại vũ khí hóa học, sinh học, chất độc, cũng như
vũ khí gây sát thương hàng loạt đã bị Công ước quốc tế cấm... Hoặc vẫn là hành vi phạm tội cũ những phương thức, thủ đoạn mới có liên quan đến đặc tính “xuyên quốc gia". Ví dụ như: tội khủng bố, tội rửa tiền, các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm an ninh hàng hải, hàng không...

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

“An ninh phi truyền thống” (Non - Traditional security) là một khái niệm mới và thường được sử dụng để phân biệt với cách tiếp cận truyền thống về an ninh - cách tiếp cận phổ biến trong quan hệ quốc tế cho tới giai đoạn cuối của Chiến tranh lạnh, đối đầu Đông - Tây - vốn chủ yếu tập trung vào vấn đề an ninh quốc gia, kiểm soát xung đột lãnh thổ giữa các nước. Do đó, dưới góc độ chung và một cách khái quát nhất, vấn đề an ninh phi truyền thống chính là thách thức đối với sự sống còn và phúc lợi của các dân tộc và các quốc gia.

Những thách thức này phát sinh chủ yếu từ các nguyên nhân “phi quân sự mang nguy cơ cao” như: biến đổi khí hậu, khan hiếm nguồn nước, các bệnh truyền nhiễm, thiên tai, di cư bất hợp pháp, thiếu lương thực, buôn lậu người, buôn bán ma túy và tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia. Những nguy cơ, mối đe dọa này thường có phạm vi “xuyên quốc gia", “xuyên biên giới" - không thể khắc chế bằng các biện pháp đơn phương, mà cần phải có chính sách toàn diện về kinh tế, xã hội, cũng như sử dụng lực lượng vũ trang cho các mục đích nhân đạo". Vì vậy, làm rõ nội hàm và nhận thức, xác định những vấn đề an ninh phi truyền
thống đòi hỏi trước hết phải làm rõ các thuật ngữ “an ninh"; “an ninh con người"; “an ninh con người bền vững" và “an ninh truyền thống".

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Xung đột lợi ích là khái niệm được nhắc đến nhiều trên thế giới và kiểm soát xung đột lợi ích được coi là một công cụ hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng được các quốc gia coi trọng.
Xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ là tình huống phát sinh khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo quy định pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức bị tác động tiêu cực hoặc sẽ bị tác động tiêu cực bởi lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức đó. Việc kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ là tổng thể các cách thức, biện pháp nhà nước sử dụng để nhận diện các tình huống xung đột lợi ích qua đó phát hiện, phòng tránh, ngăn chặn, giải quyết các tình huống xung đột lợi ích; áp dụng các biện pháp hình sự, hành chính, kỷ luật, dân sự để xử lý cá nhân vi phạm các quy định về kiểm soát xung đột lợi ích.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được thế hiện ngay trong tên gọi của nó, đó là các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường phải chịu chi phí cho việc khắc phục, cải thiện môi trường bị ô nhiễm. Những người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, những người có hành vi xả thải vào môi trường cũng như những người có hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường đều phải trả tiền. "Người" ở đây có thể hiểu là một con người, cá nhân cụ thể, cũng có thể là một doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường.
Các công ty phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi thiệt hại gây ra cho môi trường từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, phải đóng góp vào công tác phục hồi địa điểm bị ô nhiễm và Nhà nước phải bảo đảm việc các công ty phải chịu trách nhiệm về những tổn hại gây ra cho con người, cho sự đa dạng sinh học, cho môi trường, kể cả bầu khí quyển và các đại dương; chế độ trách nhiệm này bao gồm nghĩa vụ thanh toán tài chính cho các hoạt động tẩy độc và phục hồi.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Thứ nhất, trung tâm thịnh vượng toàn cầu chuyển dịch từ Tây sang Đông dẫn tới chuyển dịch quyền lực toàn cầu. Kể từ năm 2010 đến năm 2020 khi Trung Quốc vượt Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, châu Á- Thái Bình Dương tập trung 3/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới với Mỹ đứng đầu, Trung Quốc và Nhật Bản thay đổi vị trí thứ hai, trong khi kinh tế Ấn Độ đang phát triển rất nhanh và hứa hẹn trở thành nền kinh tế lớn thứ năm thế giới trong vài năm nữa.
Sự năng động và khả năng chống chịu của kinh tế châu Á - Thái Bình Dương cũng cao hơn các khu vực khác, sớm ra khỏi khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 trong khi các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ sau nhiều năm vẫn chưa khắc phục xong. Châu Á - Thái Bình Dương dẫn đầu thế giới về liên kết kinh tế. Theo WB, tính đến đầu năm 2018, trong tổng số 279 Hiệp định Thương mại khu vực/ Hiệp định Thương mại tự do (RTA/FTA) khu vực và song phương có hiệu lực trên toàn cầu, châu Á - Thái Bình Dương đứng đầu với trên 120 RTA/ FTA, chiếm 44,8 %. Nhiều cơ chế hợp tác mới được hình thành, ví như Cộng đồng ASEAN (31/12/2015) với Tầm nhìn đến 2025, Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (tháng 6/2015)... đánh dấu sự ra đời của tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế đầu tiên do một nước đang phát triển dẫn dắt. 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Bảo vệ môi trường, có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, bao gồm biện pháp chính trị, biện pháp tuyên truyền giáo dục, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học công nghệ và biện pháp pháp lý. Trong điều kiện của Việt Nam, tuyên truyền giáo dục là biện pháp áp dụng tương đối có hiệu quả khi mà nhận thức của đa phần người dân về vấn đề môi trường, ô nhiễm môi trường còn rất hạn chế. Muốn có những hành vi tác động có lợi cho môi trường, trước hết cần phải có ý thức bảo vệ môi trường như ý thức được tầm quan trọng của môi trường, quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ môi trường. Các chủ thể kinh doanh khi có ý thức bảo vệ môi trường sẽ áp dụng những biện pháp phù hợp trong quá trình thực hiện hành vi kinh doanh. Bên cạnh đó, người tiêu dùng có ý thức bảo vệ môi trường và từ đó lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường hoặc phản ứng, tẩy chay đối với hàng hóa, sản phẩm của chủ thể kinh doanh có những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Để có thể bán được hàng hóa, sản phẩm, các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng những yêu cầu của người tiêu dùng. Thông qua đó, người tiêu dùng sẽ định hướng hành vi của các chủ thể kinh doanh[1]. Do đó, tuyên truyền giáo dục được coi là biện pháp quan trọng vì qua đó sẽ hình thành và nâng cao ý thức về môi trường của các tổ chức, cá nhân.

Biện pháp tuyên truyền giáo dục được thực hiện rất đa dạng, phong phú như giáo dục theo cá nhân, theo nhóm, theo cộng đồng; tuyên truyền giáo dục qua các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến chính sách, pháp luật về môi trường, thực hiện các dự án môi trường; tiến hành các hoạt động thông qua các tổ chức đoàn thể, giáo dục trong nhà trường, qua các cuộc vận động của Nhà nước, của các tổ chức xã hội.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 


[1]Trường Đại học Luật Hà Nội: Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh, Sđd, tr. 18

Bộ luật Hình sự Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội. Do đó, bất kỳ cá nhân nào thực hiện tội phạm truyền thống hay tội phạm phí truyền thống xâm phạm đến các lợi ích (đã nêu) được Bộ luật Hình sự quy định đều phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung.

           Trên đây là trích dân của tài liệu, đẻ xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành