Cosodulieu

Cosodulieu

Hiện nay, giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra được thực hiện thông qua phương thức tự thỏa thuận của các bên, trọng tài hoặc khởi kiện tại Tòa án. Trong đó, khởi kiện tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp được hình thành từ lâu đời trong thực tiễn tố tụng dân sự. Ở Việt Nam cũng vậy, cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các tranh chấp dân sự phát sinh với số lượng ngày càng lớn thì Tòa án là sự lựa chọn phổ biến trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên. Với quy trình tố tụng chặt chẽ cùng một bộ máy cưỡng chế thi hành và trên hết, Tòa án là một cơ quan công quyền đại diện cho Nhà nước, nên phương thức khởi kiện luôn được các bên tranh chấp ưu tiên hàng đầu khi việc thương lượng, thỏa thuận không đạt kết quả như mong muốn. Tuy nhiên, khác với các tranh chấp dân sự thông thường khác, trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại về môi trường, việc khởi kiện tại Tòa án được các bên tranh chấp hết sức e ngại, nhất là đối với đồng đảo người dân bị thiệt hại do môi trường bị ô nhiễm, suy thoái.

           Khởi kiện là quyền của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục tố tụng hiện nay đã gây ra không ít khó khăn cho người dân trong việc thực hiện quyền năng này, trong đó, nghĩa vụ chứng minh của chủ thể bị hại khi yêu cầu bồi thường thiệt hại là một ví dụ điển hình. Trong các vụ tranh chấp về bồi thường thiệt hại môi trường, khi không thỏa thuận được với đối tượng gây thiệt hại mà phải khởi kiện ra Tòa án thì khó khăn đầu tiên và lớn nhất mà người dân phải đối mặt theo luật định là phải có chứng cứ chứng minh mình bị thiệt hại, thiệt hại đó là do đối tượng vi phạm gây ra, thiệt hại đó là gì, ở mức độ nào, các chi phí hạn chế, khắc phục thiệt hại nếu có, yêu cầu đòi bồi thường ra sao... 

           Trên đây là trích dãn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Các chính sách hợp lý hóa công nghiệp thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1950 đến năm 1955 của Nhật Bản mang tính then chốt thông qua hệ thống sản xuất ưu tiên (Keisha Seisan Hoshiki) - trước khi thực hiện đường lối Dodge và chính sách điều chỉnh sự vận động của giá cả, năng suất lao động và khả năng lợi nhuận của các ngành công nghiệp này sau khi hoàn thành đường lối Dodge.

Thông qua các công ty thuộc ngành công nghiệp đã duy trì sự độc lập của mình với Chính phủ bằng việc giảm sự phụ thuộc vào chính phủ trong việc tài trợ cho đầu tư. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản cũng có chính sách hợp lý hóa các hoạt động cần thiết để làm tăng khả năng lợi nhuận của các công ty và hợp lý hóa các phản ứng của các công ty đóng góp và việc cải thiện cung của nền kinh tế quốc dân.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thực tiễn áp dụng biện pháp này còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp, hầu như chỉ có ý nghĩa như một tiêu chí hoặc bước đệm để áp dụng biện pháp cưỡng chế giáo dục tập trung[1]. Điều này thể hiện trên những phương diện sau:

- Nhiều thủ tục thi hành biện pháp giáo dục tại xã, cách hình thức cho đủ thủ tục hồ sơ để làm điều kiện cho việc áp dụng biện pháp giáo dục tập trung, do đó nhiều đối tượng “không biết gì về việc mình được giáo dục tại xã, phường, thị trấn", “không biết ai là người giúp đỡ giáo dục".

- Phần lớn các địa phương mới chỉ thực hiện động tác mở sổ theo dõi, phân công người giám sát theo đúng thủ tục, còn việc giám sát trên thực tế ra sao, hiệu quả đến đâu thì hầu hết các cơ sở đều không nắm được; Chưa có cơ chế xác định rõ việc phối hợp giữa gia đình, người giám sát, cộng đồng và chính quyền sở tại khi thực hiện biện pháp này;

- Phần lớn các địa phương mới chỉ quản lý đối tượng thông qua các nghiệp vụ hành chính (định kỳ báo cáo, giám sát, phòng ngừa tái phạm...), còn các biện pháp giáo dục, giúp đỡ thực sự đối tượng (tạo công ăn việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ tài chính, phát triển kinh tế..) thì hầu như chưa được quan tâm đúng mức;

 

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Hoàng Thị Kim Quế: “Về các biện pháp xử lý hành chính khác: Thực trạng và định hướng hoàn thiện", Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật, số 24/2008, tr. 152-159.

Công khai thu nhập, tài sản và các lợi ích của công chức trước công chúng được đa số các nước thành viên OECD coi đây là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa xung đột lợi ích ở các quốc gia. Theo kết quả khảo sát của tổ chức này năm 2014 thì những lợi ích cá nhân phải kê khai thường xoay quanh năm nội dung chính: (1) Tài sản (bao gồm động sản và bất động sản); (ii) Các khoản nợ; (i) Thu nhập ngoài (bất cứ thu nhập nào ngoài thu nhập hiện có từ lương công chức); (iv) Công việc bên ngoài (bao gồm cả những vị trí được trả lương hay không trả lương ngoài vị trí hiện tại của công chức trong bộ máy nhà nước); và (v) Lịch sử công việc (tên của những đơn vị, tổ chức mà công chức đã từng có thời gian công tác trước khi làm việc ở vị trí hiện tại)[1].

Ở Niu Dilân, hoạt động của Chính phủ được công khai để người dân giám sát, với mục tiêu là các xung đột lợi ích công và tư, của các cán bộ/công chức hoặc bộ trưởng sẽ có nhiều khả năng được đưa ra ánh sáng. Do vậy, nền công vụ của Niu Dilân được tổ chức và hoạt động thông qua một hệ thống quy định minh bạch, liêm chính. Từ quy trình bổ nhiệm minh bạch (quy định bởi Luật Khu vực Nhà nước) đến quyền tự do tiếp cận thông tin của người dân được quy định (Luật Thông tin chính thức năm 1982) và đảm bảo thực hiện Luật Bảo vệ công khai thông tin năm 2000), đến việc công khai những sai phạm nghiêm trọng.

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Xem Thanh tra Chính phủ: Quản lý xung đột lợi ích trong hoạt động dịch vụ công - Hướng dẫn và khái quát OECD, Sđd.

Theo Vụ Hợp tác Kinh tế (ECB), Bộ Ngoại giao Nhật Bản, luồng Viện trợ phát triển chính thức (ODA) thuần chảy ra, các quỹ chính thức khác (OOF), và các quỹ tư nhân (PF) đã lên tới 8.965 triệu USD, 1.544 triệu USD và 13.502 triệu USD tương ứng vào năm 1989. Lượng ODA và OOF chính thức thuần gần bằng với lượng FDI ở khu vực tư nhân.

Tổng số ODA của các nước thuộc Ủy ban Viện trợ Phát triển (DAC) toàn thế giới năm 1989 đạt 46.498 triệu USD, trong đó ODA của Nhật Bản chiếm 19%, lần đầu tiên xếp thứ nhất trong danh sách các nước viện trợ trên thế giới. 3/4 ODA của Nhật Bản là viện trợ song phương, trong đó hơn 60% là dành cho châu Á.

Quỹ Hợp tác Kinh tế Hải ngoại của Nhật Bản (OECF) đã cho vay chủ yếu nhằm phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển từ năm 1966. OECF phụ trách hầu như tất cả các khoản vay ODA song phương mà năm 1989 lên tới 3.943 triệu USD, trong đó phần của OECF chiếm 44,0% tổng ODA của Nhật Bản và 58,2% tổng ODA song phương của Nhật Bản. Sở dĩ các khoản cho vay của OECF đối với các chính phủ các nước chiếm một phần lớn trong ODA của Nhật Bản là do bản chất của các khoản cho vay. Từ năm 1975 các khoản cho vay đối với các chính phủ nước khác với 25% trở lên là viện trợ không hoàn lại là trọng tâm của OECF. Hiện nay đã có sự phân định rõ ràng giữa các khoản cho vay của OECF và các khoản cho vay của các Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Nhật Bản (EXIM Bank). Mục đích các khoản cho vay của OECF là giúp đỡ quá trình phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển, và các khoản cho vay này được thực hiện theo những điều khoản rất nhân nhượng với một phần viện trợ không hoàn lại như đã nêu ở trên.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Để xây dựng và áp dụng các biện pháp đồng bộ nhằm bảo đảm hiệu lực và hiệu quả thi hành pháp luật về môi trường cần có nhiều biện pháp bảo vệ môi trường. Trong đó, pháp luật được xem như biện pháp bảo đảm hữu hiệu. Nếu không áp dụng tốt pháp luật, biện pháp chính trị chỉ dừng lại các “tuyên ngôn giấy” về môi trường. Khi việc tuyên truyền không làm thay đổi nhận thức của mọi người, cần phải áp dụng chế tài để mang tính răn đe. Nếu không áp dụng tốt pháp luật, thì không khuyến khích được các chủ thể đầu tư công nghệ hiện đại, sản xuất ra những sản phẩm ít gây ra ô nhiễm môi trường. Thực tiễn cho thấy rằng, cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ môi trường đầy đủ và vững chắc đến mấy mà không có các biện pháp đồng bộ để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả thi hành pháp luật môi trường Việt Nam nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, thì cơ sở pháp lý này không phát huy được vai trò của mình. Các biện pháp đồng bộ ở đây được hiểu không chỉ các biện pháp như xử lý dân sự xử lý hành chính, xử lý hình sự mà cả các biện pháp tổ chức cán bộ, các biện pháp kinh tế, tài chính, tín dụng... không chi gồm các biện pháp hoàn thiện pháp luật mà cả các biện pháp tổ chức thi hành pháp luật, bảo vệ pháp luật.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Theo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 - 2020, định hướng đến năm 2030 của Bộ Công thương, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28-12-2011, theo đó, hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn 2011-2020 sẽ hướng tới mục tiêu: Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng. xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các sản phẩm có hàm lưng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ: mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới.

Đây là thời kỳ đầy khó khăn, thách thức đối với Việt Nam vì Liên minh châu Âu đang dần giảm các hình thức ưu đãi thuế quan đối với sản phẩm xuất khẩu của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Hơn nữa, thời kỳ này chúng ta phải chịu sự cạnh tranh của các đối thủ như Trung Quốc và các nước Đông Nam Á trong khối ASEAN. Việc Việt Nam hoàn tất các vòng đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu sẽ buộc Việt Nam phải mở cửa thị trường trong nước theo như phía Liên minh châu Âu yêu cầu. Đây là yếu tố bất lợi cho các cố gắng cạnh tranh của Việt Nam. Do vậy, phương án tối ưu để nâng cao khả năng xuất khẩu và có chỗ đứng vững chắc trong thị trường Liên minh châu Âu là chúng ta cần xác định rõ phương hướng phát triển sản phẩm chủ lực xuất khẩu vào thị trường này.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thực tiễn xử phạt trước đây (theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) và hiện nay (theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017) cho thấy, trong các biện pháp xử phạt, phạt tiền là hình thức được chú trọng và áp dụng chủ yếu trong nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước. Điều này được thể hiện qua báo cáo của các ngành và địa phương về công tác xử phạt vi phạm hành chính, trong đó luôn đề cao và thống kê rất rõ về biện pháp xử phạt này (phạt tiền bao nhiêu vụ, số tiền phạt thu về cho ngân sách nhà nước là bao nhiêu...), và được coi là một nguồn thu cho ngân sách nhà nước[1].

Tuy nhiên, cũng có những lĩnh vực mà hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng phổ biến như lĩnh vực an toàn thực phẩm khám, chữa bệnh (chiếm trung bình trên 60 % vụ việc vi phạm).

        Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

 


[1] Bộ Tư pháp: Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện 8 năm hướng dẫn thi hành, 2010, tr. 9.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển đi lên từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp với rất nhiều yếu kém và hạn chế, do vậy, để có thể đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần có những chính sách và biện pháp thích hợp nhằm tận dụng được lợi thế của “người đi sau”. Ngay từ những năm đầu đổi mới, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã chủ trương phải chủ động “đi tắt, đón đầu” để có những bước tiến nhanh hơn, xa hơn. Một trong những cách để “đi tắt, đón đầu” phát triển trên thế giới và trong khu vực.

Để có thể đưa ra các biện pháp, chính sách đúng đắn để nâng cao khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực sang thị trường quốc tế nói chung và thị trường Liên minh châu Âu nói riêng, việc học tập kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước và có thế mạnh về khả năng xuất khẩu các sản phẩm chủ lực giống Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu là hết sức cần thiết.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Sau thất bại của Nhật Bản trong chiến tranh, quyền quyết định các hoạt động kinh tế quan trọng phải chịu sự kiểm soát trực tiếp nghiêm ngặt của SCAP. Sự hạn chế này đã được quy định ở Điều 11 của Tuyên bố Potsdam và các văn bản có liên quan khác gồm có chính sách hành chính của Mỹ đối với Nhật Bản tuyên bố rằng nếu không được SCAP cho phép trước thì không một loại hàng hoá hoặc sản phẩm nào được phép xuất hoặc nhập khẩu. Do đó, chỉ được phép nhập khẩu những mặt hàng cần thiết để duy trì sức sống tối thiểu và trật tự xã lãnh thổ bị chiếm đóng này. Chính sách cơ bản là xuất khẩu - hoá để tài trợ cho nhập khẩu. Khôi phục kinh tế không phải là một trong những mục đích trước mắt của các lực lượng chiến đóng ở Nhật Bản, đúng hơn, họ nhấn mạnh đến dân chủ hoá và khôi phục.

Do đó mậu dịch Nhật Bản đã thấp xa so với mức trước chiến tranh. Ví dụ xét về giá trị tích luỹ, trong thời kỳ từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946 lương thực và bông chiếm khoảng 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, còn các sản phẩm làm từ bông và tơ chiếm 60,2% tổng kim ngạch xuất khẩu. Do tình hình đó, Nhật Bản tiếp tục phải lệ thuộc hết sức nặng nề vào viện trợ của Mỹ.

        Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành