Cosodulieu

Cosodulieu

Nằm ở bờ đông của sông Hoàng Phố, Thượng Hải, Phố Đông là một vùng đất rộng bao gồm nhiều nhà lụp xụp, các công xưởng nhếch nhác và ruộng đồng bỏ hoang hàng thế kỷ, đến khi Chính phủ Trung Quốc tuyên bố khởi công xây dựng và mở cửa ra thế giới bên ngoài ngày 18/4/1990 (Kim, 2006). Mục tiêu của chiến lược này là chấn hưng Thượng Hải thành một trung tâm thương mại và tài chính quốc tế, và biến thành phố này thành một đầu tàu phát triển của thung lũng sông Dương Tử. Kể từ đó, vùng diện tích 522 km này đã thay đổi ngoài sức tưởng tượng. Hàng tỷ USD được rót vào xây dựng cơ sở hạ tầng, biến khu này thành khu ra tay của các công ty đa quốc gia gồm GM, Siemens, Intel và sharp. Cùng với những điều vừa nói trên, gần 6000 công ty từ 67 nước và khu vực trên toàn thế giới, bao gồm 98 trong số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu đã đầu tư cho đến nay là 29,4 tỷ USD ở Khu kinh tế tự do Phố Đông. Đâu là yếu tố chính tạo nên thành công này của Khu kinh tế tự do Phố Đông?

Thứ nhất, nghiên cứu của Kim nói rằng, quy hoạch tổng thể là yếu tố chủ yếu góp phần tạo nên thành công của Phố Đông. Như trên đã nói đến trong chiến lược cơ bản, 4 giai đoạn của các kế hoạch phát triển được thực hiện bằng sự hợp tác giữa Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương. Việc xây dựng Khu Tài chính và Thương mại Lujiazui chẳng hạn được các nhà thiết kế Anh, Pháp, Nhật Bản và Italy tư vấn, vì vậy đã tránh được rủi ro trong xây dựng. Thứ hai, khung khổ pháp lý đã đảm bảo cho việc xây dựng Khu kinh tế tự do Phố Đông được trôi chảy. Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, Trung Quốc đã đưa ra hơn 100 luật và quy định bằng nhiều thứ tiếng khác nhau về giảm thuế, các vùng được bảo trợ và các vùng khác (KOTRA, 2003). Thứ ba, những ưu đãi đầu tư mạnh mẽ như không tính thuế và miễn thuế đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Mức thuế công ty thấp đối với các công ty nước ngoài (15%) như đã nêu ở trên với việc không tính thuế trong suốt 2 năm và h thuế trong ba năm cho các ngành chế tạo, hậu cần, du lịch và ngân hàng là một sự hấp dẫn lớn (Kim, 2006). Thứ tư, Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích Phố Đông bước những bước táo bạo trong cải cách, biến Phố Đông thành nơi thử nghiệm để mở cửa tiếp theo. Chẳng hạn, năm 1997, Phố Đông đã trở thành nơi đầu tiên ở Trung Quốc có các ngân hàng nước ngoài sử dụng NDT, là đồng nội tệ của Trung Quốc (KOTRA, 2003). Cuối cùng, điều không thể bị bỏ qua là địa điểm địa lý, việc dễ tiếp cận với vốn, nhân tài dồi dào, giá lao động rẻ và thị trường lớn sẽ là đóng góp cho sự thịnh vượng của Phố Đông (Kim, 2006).

Phân tích phỏng vấn qua email và điện thoại

1. Tổng quan

Khoảng 3 năm trôi qua từ khi Khu kinh tế tự do Incheon làm cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành trọng tâm kinh doanh của Đông Bắc Á. Tôi muốn biết đâu là rào cản cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thông tin hay dịch vụ nào cần thiết cho các nhà đầu tư nước ngoài trong tương lai.

Ở đây, tôi đã khảo sát nhờ sự giúp đỡ của nhà chức trách Khu kinh tế tự do Incheon. Có 159 công ty nước ngoài ở Incheon và nhà chức trách Khu kinh tế tự do Incheon đã giới thiệu cho tôi 28 công ty nước ngoài quan tâm đến đầu tư vào Khu kinh tế tự do Incheon. Tôi đã email cho họ và phỏng vấn qua điện thoại trong khoảng 15 phút mỗi công ty. 15 công ty nước ngoài đã trả lời bảng hỏi của tôi - tỷ lệ trả lời là gần 53%. Có 9 hãng chế tạo, 3 hãng hậu cần/vận tải, 2 công ty phát triển địa ốc và 1 công ty phân phối với số lượng nhân công lớn, từ 9 đến 450. Việc khảo sát được tiến hành từ 9/4 đến ngày 12/9/2007, Bảng hỏi được chia thành 3 phần. Phần 1 là so sánh môi trường đầu tư giữa Khu kinh tế tự do Phố Đông và Khu kinh tế tự do Incheon, phần 2 liên quan đến các trở ngại đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon, phần 3 là các phương pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Khu kinh tế tự do Incheon. Mỗi phần được xem xét qua 3 nhóm tiêu chuẩn sau: Cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh và môi trường sống.

2. Phân tích

Môi trường đầu tư giữa Khu kinh tế tự do Incheon và Khu kinh tế tự do Phố Đông

Trước khi so sánh môi trường đầu tư, tôi phát hiện rằng, 53% số công ty được hỏi trả lời giống với Phố Đông, Trung Quốc (4 công ty rất giống, 4 công ty tương đối giống) và 30% số công ty được hỏi trả lời bình thường”. Chỉ có 13: số công ty được hỏi trả lời không giống với Phố Đông Trung Quốc. Đó có thể là vì hầu hết các công ty nước ngoài đánh giá Phố Đông là một khu vực đầu tư thay thế. Phỏng đoán của tôi cũng là nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đến Khu kinh tế tự do Phố Đông vì câu chuyện thành công của Khu kinh tế tự do Phố Đông đã phủ kín nhiều trang báo ở Hàn Quốc.

Hình 2: đối chiếu môi trường đầu tư giữa Khu kinh tế tự do Phố Đông và Khu kinh tế tự do Incheon

pd 2

Về so sánh môi trường đầu tư, các công ty được hỏi cho thấy thái độ tích cực đối với Khu kinh tế tự do Phố Đông hơn là Khu kinh tế tự do Incheon ở tất cả mọi mặt trừ môi trường sống. Đặc biệt, các công ty được hỏi đã không thoả mãn với mức hỗ trợ của chính phủ đối với Khu kinh tế tư do Incheon. Điều này có thể liên quan đến những ưu đãi đầu tư sẽ bàn đến ở phần tiếp theo.

3. Những trở ngại đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon

(1) Bối cảnh chung

Cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh và môi trường sống được so sánh trong phần này. Các công ty được hỏi đã không bằng lòng với môi trường kinh doanh (50%), môi trường sống (26%) hay cơ sở hạ tầng (24%). Những kết quả này là do giá nhân công cao và giá thuê đất cao ở Incheon.

Hình 3: Các rào cản đầu tư vào Khu kinh tế tự do Incheon (lần lượt)

pd 3

(2) Môi trường kinh doanh

Các ưu đãi đầu tư và chi phí thuê đất không phải là những yếu tố tồi tệ nhất theo đánh giá của các công ty được hỏi. Khoảng 40% trả lời rằng các ưu đãi đầu tư không tốt và giá thuê nhà xưởng quá cao. Hơn thế nữa, giá nhân công và vốn con người được coi là những rào cản chính cho đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon. Như đã đề cập ở phần trước (so sánh các đặc điểm chính giữa Khu kinh tế tự do Phú Đông và Khu kinh tế tự do Incheon), giá nhân công trung bình ở Incheon cao gấp gần 7 lần ở Thượng Hải. Hơn nữa, giá nhà xưởng ở Incheon cao hơn 3,55 lần. Khảo sát dưới đây về môi trường kinh doanh sẽ chỉ ra những vấn đề giá cả đắt đỏ ở trên. Vì vậy ban quản lý Khu kinh tế tự do Incheon và Chính quyền Trung ương Hàn Quốc cần xem xét lại những ưu đãi đầu tư cân bằng với những ưu đãi của Khu kinh tế tự do Phố Đông. Như trên đã nêu, Khu kinh tế tự do Phố Đông áp dụng 15% thuế công ty đối với các công ty nước ngoài nhưng Khu kinh tế tự do Incheon lại áp dụng mức 25%. Thêm vào đó, Khu kinh tế tự do Phố Đông cho phép ngành ngân hàng được hưởng thời gian không phải trả thuế, trong khi Khu kinh tế tự do Incheon không có loại hình ưu đãi đó cho ngành ngân hàng.

Hình 4: Môi trường kinh doanh ở Khu kinh tế tự do Incheon

pd 4

(3) Môi trường sống

Về khía cạnh môi trường sống, các công ty được hỏi lên tiếng về sự khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Anh. Như đã nói ở phần trước (phần 2), Hàn Quốc không tỏ ra có kỹ năng giao tiếp tiếng Anh tốt, xếp hạng thứ 111 về kết quả kiểm tra TOEFL trong số 147 nước trên thế giới. Tôi nghĩ rằng các trường đại học Hàn Quốc cần phải có trách nhiệm dạy giao tiếp tiếng Anh vì khoảng 80% học sinh tốt nghiệp phổ thông vào đại học ở Hàn Quốc. Các trường học và bệnh viện dành cho người nước ngoài cũng phải được xây dựng càng sớm càng tốt. Đến nay, chưa có một trường học hay bệnh viện cho người nước ngoài nào ở Khu kinh tế tự do Incheon.

Hình 5: Những rào cản đầu tư ở Khu kinh tế tự do Incheon

pd 5

  Chắc chắn rằng các công ty được hỏi đang rất quan tâm đến nhưng ưu đãi đầu tư. Theo quan điểm của tôi đó là vì hầu hết mọi người đều đành giá khu kinh tế tự do là một đặc khu có các điều kiện hạn chế về thuế và kinh tế không quá chặt. Hơn nữa, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang quan tâm đến thông tin về các quỹ đầu tư liên doanh. Đấy là vì các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại rủi ro khi đầu tư và thích được chia sẻ những rủi ro trong kinh doanh đó ở khu kinh tế tự do Incheon. Vì vậy, ban quản lý khu kinh tế tự do Incheon và chính quyền Trung ương cần ban hành một chính sách khuyến khích để tạo ra hệ thống quỹ liên doanh ở Khu kinh tế tự do Incheon.

Tóm tắt

Khu kinh tế tự do Phố Đông được đánh giá là một mô hình thành công khi thu hút 23,7 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2004. Thành công của Khu kinh tế tự do Phố Đông có được là nhờ sự quy hoạch có tổ chức, sự hợp tác giữa Chính quyền Trung ương và Chính quyền địa phương trong việc tạo ra một hệ thống mới bao gồm các ưu đãi mạnh mẽ, bãi bỏ các quy định và nguồn lao động rẻ dồi dào và thị trường rộng lớn. Khi tiến hành so sánh những đặc điểm chủ yếu của Khu kinh tế tự do Phố Đông và Khu kinh tế tự do Incheon: Khu kinh tế tự do Phố Đông có những lợi thế mạnh về cảng biển và cơ sở hạ tầng. Về khía cạnh môi trường kinh doanh, Khu kinh tế tự do Phố Đông cũng có nhiều ngành công nghệ cao với giá nhân công thấp hơn và các ưu đãi thuế mạnh hơn so với Khu kinh tế tự do Incheon. Tuy nhiên, Khu kinh tế tự do Incheon lại có công nghệ thông tin và chất lượng thể chế tốt hơn Khu kinh tế tự do Phố Đông về môi trường kinh doanh. Nếu so sánh về môi trường sống, Khu kinh tế tự do Incheon còn cách xa về giá sinh hoạt, kỹ năng giao tiếp tiếng Anh và trường học/bệnh viện dành cho người nước ngoài so với Khu kinh tế tự do Phố Đông. Cuối cùng, thông qua phỏng vấn bằng email và điện thoại với 15 nhà đầu tư nước ngoài, tôi khám phá ra là Khu kinh tế tự do Incheon phải cố gắng hơn nữa để cải thiện môi trường kinh doanh với những điều kiện như ưu đãi đầu tư và hệ thống đầu tư mạo hiểm liên doanh.

Trong hoạt động của mình, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia quản lý, giám sát và phản biện xã hội. Có thể thấy rằng, vai trò tham gia quản lý xã hội của báo chí trước hết bảo đảm việc xuyên suốt thông tin hai chiều giữa chủ thể và khách thể quản lý, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi trong thực tế. Theo chiều từ chủ thể quản lý đến khách thể, báo chí truyền bá các chủ trương, chính sách và quyết định quản lý - lãnh đạo, làm cho các quyết tâm chính trị của lãnh đạo và nhà quản lý thành quyết tâm của toàn dân...; ngược lại, phản hồi từ khách thể tới chủ thể quản lý, là thông tin đúng đắn, khách quan nhất có thể về những gì đang diễn ra trước và sau chủ trương lãnh đạo, quyết định quản lý ban hành. Muốn có quyết sách, chủ trương đúng, người lãnh đạo phải nắm được tình hình, bản chất các vấn đề đang diễn ra, chứ không phải tình hình đã được “mông má”, nhào nặn chủ quan. Một trong những kênh thông tin quan trọng và khách quan nhất, kịp thời và phong phú nhất là báo chí. Báo chí không chỉ là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước mà còn là tiếng nói, diễn đàn, là tai mắt của nhân dân. Báo chí thông tin một chiều, phụ họa và xa rời (hoặc không dám thông tin) những vấn đề then chốt, chủ yếu và bức xúc của nhân dân thì không thể tham gia vào hoạt động quản lý xã hội một cách hiệu quả.

Giám sát có thể được hiểu là theo dõi, kiểm tra lại xem có thực hiện đúng các quy định của Đảng, pháp luật không. Trong hoạt động quản lý xã hội, giám sát có vai trò rất quan trọng nhằm kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, chính sách…. Giám sát phải được tiến hành bởi lực lượng độc lập, khác với chủ thể đang tiến hành hoạt động được giám sát, giám sát có chuyên môn, hiểu biết... mới bảo đảm tính khách quan và hiệu quả.

Phản biện là việc đánh giá, phân tích thông tin theo một chiều hướng khác nhằm khẳng định hoặc xác định lại tính đúng đắn của vấn đề. Theo đó, phản biện có nhiệm vụ khẳng định những kết quả đạt được, những thành công nổi trội của công trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn thiện, và cuối cùng, khẳng định rằng công trình đó có đạt được những tiêu chí khoa học cần thiết không. Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản bác là dùng lý lẽ và lập luận để bác bỏ ý kiến hay công trình của người khác.

Phản biện xã hội có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi, công khai, minh bạch của xã hội - các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việc góp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội. Người thực hiện phản biện xã hội thông thường là những người có kiến thức am hiểu rộng và chuyên sâu về các lĩnh vực của đời sống, có bản lĩnh bảo vệ chính kiến và tâm huyết vì sự phát triển bền vững cộng đồng.

Theo đó, phản biện xã hội trong quá trình chuẩn bị ban hành quyết sách lớn là quá trình khai thác và sử dụng trí tuệ và cảm xúc của nhân dân thẩm định xã hội về tính hợp lý, hợp hiến và khả năng thực thi cũng như tính hiệu quả của nó.

Phản biện xã hội trong quá trình thực hiện quyết sách là khẳng định những mặt tích cực, chỉ ra những mặt hạn chế, khiếm khuyết đã và đang bộc lộ trong ý đồ và trong thực tiễn để có thể tìm kiếm giải pháp điều chỉnh bổ sung nhằm tăng cường hiệu quả thực tế của quyết sách ấy.

Thực hiện chức năng phản biện xã hội là báo chí góp phần khơi thức, tập hợp nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của toàn dân, đặc biệt là các chuyên gia về các lĩnh vực khác nhau, góp ý cho các quyết sách lớn của Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực hiện nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trí thức thực thụ là những người có chuyên môn sâu, hiểu biết rộng và nhất là có quan điểm, chính kiến độc lập và có bản lĩnh bảo vệ các quan điểm chính kiến ấy, trí thức không phải là người phụ họa, nịnh hót để mưu lợi cá nhân. Đó là quá trình quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam “dân là gốc”, là tư tưởng về nhà nước dân chủ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, giám sát và phản biện xã hội bằng và thông qua báo chí là thể hiện sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội, tăng cường lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân với thái độ cầu thị.

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ”.

Trong xã hội tư bản, giám sát và phản biện xã hội của báo chí trong đã hội tụ được sức mạnh của cộng đồng và bởi thế, người ta coi báo chí là quyền lực thứ tư. Quyền lực thứ tư, thực chất là quyền lực của công luận, quyền lực của nhân dân. Khái niệm quyền lực thứ tự ra đời ở Anh từ cuối thế kỷ XVIII. Thời kỳ đó, ở Anh có hai loại báo chí. Loại báo dành cho tầng lớp quý tộc được in trên trên giấy tốt, chuyên phản ánh đời sống quý tộc, bán giá đắt. Báo chí bình dân in trên giấy xấu, chủ yếu phản ánh đời sống đông đảo cư dân lao động thợ thuyền, bán giá rẻ và với số lượng ít ỏi. Bởi vì lúc ấy, ở tầng lớp thấp không nhiều người biết chữ. Nhưng xã hội càng phát triển, càng quan tâm đến giáo dục con người, nâng cao trình độ dân trí, số người biết chữ ngày càng đông. Và “công chúng báo rẻ tiền” ngày càng lớn mạnh, đông đảo. Chính nguồn lực lượng người lao động đông đảo này đã ngày càng quan tâm đến đời sống chính trị, tiếp nhận thông tin báo chí và hình thành DLXH, rồi DLXH của người lao động trở thành áp lực đối trọng với Nhà nước... Quá trình kết nối với DLXH, báo chí trở thành sức mạnh thực tế và khái niệm quyền lực thứ tự xuất hiện. Do đó, ở các nước dân chủ phương Tây, chức năng này mặc dù chưa có văn bản pháp lý ghi nhận trực tiếp, nhưng nó được đề cao với đầy đủ mọi ý nghĩa từ công luận, cho nên trong thực tế, báo chí được coi là quyền lực thứ tư, giám sát cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chính thể chế phân chia quyền lực của nhà nước tư sản, tam quyền phân lập cùng với sự giám sát của báo chí và công luận đã hạn chế việc lạm dụng quyền lực.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của mình, trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khoá VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng về vai trò xã hội của báo chí và truyền thông đại chúng.Đó là quá trình giám sát mọi nơi, mọi lúc. Chức năng giám sát xã hội của báo chí trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật là để kịp thời phát hiện những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương khích lệ và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời cũng để sớm phát hiện những khó khăn, những sai sót, những nơi làm dở, làm sai, những nơi vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp để đấu tranh. Vai trò và sức mạnh giám sát xã hội của báo chí trước hết là xã hội hoá những việc làm tốt và những sai phạm của các tổ chức hoặc cá nhân nào đó để khơi nguồn và định hướng dư luận xã hội theo hướng ủng hộ hoặc chỉ trích, tạo áp lực dư luận và buộc các cơ quan công quyền giải quyết, giải thích và giải đáp trước nhân dân, trước công luận. Trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng trong những năm gần đây, phần lớn những vụ việc lớn đều do báo chí phát hiện, phanh phui và cơ quan chức trách vào cuộc (ví dụ vụ điện kế điện tử tại

Xã hội càng phát triển thì quyền lực của nhân dân càng được tăng cường, đặc biệt là quyền giám sát các cơ quan công quyền của nhân dân nhằm hạn chế lạm dụng quyền lực. Do đó, để thực hiện tốt chức năng giám sát xã hội của mình, hoạt động báo chí cần đảm bảo các điều kiện như:

Thứ nhất, không ngừng mở rộng tính công khai và dân chủ hoá đời sống xã hội, trước hết là dân chủ về kinh tế, tài chính và công tác tổ chức cán bộ, thực hiện một tiến trình dân chủ thật sự. Tính công khai và dân chủ hoá xã hội được mở rộng đến đâu thì vai trò và năng lực giám sát xã hội của báo chí tăng lên đến đấy. Quy chế dân chủ cơ sở với quyết tâm mở rộng và nâng cao chất lượng dân chủ cơ sở, nhưng trong thực tế kết quả chưa đạt được như mong muốn. Mở rộng tính công khai và dân chủ hoá là một quá trình, một cuộc đấu tranh phức tạp, quyết liệt đòi hỏi bản lĩnh chính trị của lãnh đạo, sự kiên trì và kiên định mục tiêu và phải biết dựa vào dân lấy dân làm gốc.

Thứ hai, nâng cao trình độ dân trí, trước hết và quan trọng nhất là trình độ hiểu biết của người dân về các văn bản quy phạm pháp luật và thiết chế phân chia quyền lực của Nhà nước. Dân trí là trình độ tổng hợp của người dân, nhưng trước hết, liên quan đến vấn đề giám sát xã hội, quan trọng là trình độ am hiểu pháp luật. Dân trí cao, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ là những yếu tố bảo đảm cho nền dân chủ xã hội đạt chất lượng cao. Hiện nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta đã được xây dựng mới và nhanh chóng được bổ sung, nhưng sự hiểu biết của nhân dân kể cả cán bộ trong bộ máy công quyền, về luật pháp còn rất nhiều hạn chế, ý thức chấp hành luật lại càng bất cập. Do đó, muốn nâng cao năng lực giám sát của mình, báo chí - truyền thông cần tích cực tuyên truyền, giải thích để nhân dân nhận thức đầy đủ và đúng đắn các chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, động viên khích lệ nhân dân không chỉ tích cực thực hiện mà còn tham gia giám sát quá trình thực hiện ấy.

Thứ ba, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy công quyền các cấp, như DLXH đặt ra. Thái độ trách nhiệm của cán bộ công chức đối với các vấn đề báo chí và DLXH nêu ra không chỉ thể hiện trách nhiệm pháp lý trước nhân dân, trước Đảng mà còn thể hiện văn hoá chính trị, đạo đức, lối sống và lương tâm của con người. Nâng cao văn hóa chính trị đòi hỏi đổi mới tư duy chính trị. Đó là tư duy và văn hóa chính trị vì dân, lấy dân là gốc. Giám sát và phản biện xã hội của báo chí thực chất là giám sát và phản biện của nhân dân, từ nhân dân, bằng trí tuệ và cảm xúc của nhân dân. Do đó, quá trình giám sát này góp phần chống lạm dụng quyền lực, chống tha hóa quyền lực và bảo đảm quá trình phát triển bền vững. Thực tế chứng minh rằng thời kỳ nào và nơi nào tính chiến đấu, tính đảng của tổ chức đảng mạnh thì thời kỳ đó, nơi đó vai trò và sức mạnh của nhân dân được đề cao thật sự và tính chiến đấu, giám sát phản biện của báo chí được phát huy. Phản biện xã hội theo đó cũng có thể hiểu là những ý kiến góp ý chân thành, thẳng thắn và có cơ sở khoa học - thực tiễn của nhân dân.

Thứ tư, không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý, xây dựng nhà nước pháp quyền - xã hội công dân, hướng tới làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội bằng thiết chế phân chia quyền lực một cách khoa học, chặt chẽ, có cơ chế kiểm soát và giám sát độc lập để chống lạm dụng quyền lực - cách thức quan trọng nhất có thể hạn chế tha hóa quyền lực và tha hóa chế độ xã hội.

Thứ năm, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, năng lực tác nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh nghề nghiệp cũng như cải thiện điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ báo chí - truyền thông. Cùng với đòi hỏi về trình độ, năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và bản lĩnh hành nghề, cần trang bị cho các nhà báo, nhà truyền thông những phương tiện kỹ thuật - nghiệp vụ hiện đại, cơ chế cung cấp thông tin công khai, minh bạch... để họ có thể tác nghiệp thuận lợi trong quá trình thực hiện chức năng giám sát xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Song song với điều đó, cần có hành lang pháp lý, cần có chế tài tạo điều kiện và bảo vệ nhà báo tác nghiệp trong điều kiện xã hội ngày càng phức tạp. Mặt khác, bản lĩnh nghề nghiệp, năng lực điều tra, phân tích sự kiện và vấn đề pháp lý cũng như khả năng kết nối các nguồn lực xã hội của nhà báo ngày càng trở nên quan trọng trong việc nâng cao chất lượng phản biện xã hội.

Thứ sáu, cần thống nhất nhận thức sử dụng báo chí như công cụ hữu ích hàng đầu trong việc mở rộng tính công khai và dân chủ hoá đời sống xã hội, đặc biệt trong thời đại truyền thông số hoá và sự tác động của công nghệ tin học cùng với trình độ dân trí được nâng cao và thời kỳ hội nhập, mở cửa trong bối cảnh toàn cầu hoá. Coi báo chí không chỉ là diễn đàn rộng rãi nhất để mọi người dân bày tỏ chính kiến, bàn luận những vấn đề quốc kế dân sinh, phản ánh với Đảng và Nhà nước những mong đợi... mà còn là công cụ thể hiện và nâng cao năng lực, trình độ dân trí, chất lượng dân chủ và bảo đảm tính công khai, minh bạch, góp phần quan trọng trong việc chống lạm dụng quyền lực, bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống.

Thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội, tức là báo chí thể hiện tính độc lậptương đối của mình. Tính độc lập không có nghĩa là báo chí độc lập với chính trị. Ở phương diện nào đó, báo chí là công cụ thể hiện quyền lực chính trị, “là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Tính độc lập ở đây có nghĩa là, khi thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của báo chí.

Bản chất của chức năng giám sát, phản biện xã hội của báo chí là dùng báo chí như phương tiện và phương thức quan trọng và cơ bản để chống lạm dụng quyền lực; bởi lạm dụng quyền lực sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực và tha hóa chế độ xã hội. Vấn đề này có ý nghĩa sống còn đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

1. Giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ hai

Nhật Bản cũng như nhiều nước khác tồn tại từ lâu các hình thức sơ khai của phúc lợi xã hội. Sự trợ giúp trước hết trong gia đình, dòng họ và về sau của cộng đồng là những biểu hiện rất sinh động về vấn đề này. Nét độc đáo của phương Đông thể hiện ở tính cộng đồng, tương thân tương ái giữa con người với con người đã trở thành một truyền thống tốt đẹp từ xa xưa. Tuy vậy, các hoạt động trợ giúp chỉ mới thực hiện trong phạm vi hẹp với qui mô nhỏ. Ở đây, nhà chùa và gia đình đóng vai trò chủ yếu trong các hoạt động này. Gia đình không chỉ là nơi sinh ra, trưởng thành của mọi người mà còn là nơi chịu trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau: bố mẹ có trách nhiệm với con cái, người khoẻ giúp đỡ người yếu, người có điều kiện hỗ trợ người gặp khó khăn... Các hoạt động này chỉ tiến hành trong khuôn khổ gia đình và về sau tuy có được mở rộng ra cộng đồng, song qui mô và mức độ rất hạn chế. Nói chung cuộc sống của người dân còn rất nghèo, bản thân người Nhật Bản được giáo dục từ nhỏ rằng không được trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội bất kể nguyên nhân nào. Dù có khó khăn, nghèo khổ cũng phải có ý chí và nghị lực tự vươn lên. Do vậy, các hoạt động trợ giúp thường mang tính tự phát và không thường xuyên.

Bản thân nhà nước ở thời kỳ này vẫn chưa có một chế độ đầy đủ với tư cách là một hoạt động phúc lợi chung. Có chăng nhà nước chỉ ban hành một số qui tắc chính sách hướng dẫn chung về sự trợ giúp xã hội. Có thể nêu ra một số qui định: chẳng hạn, biện pháp giúp đỡ người có thu nhập thấp trong bộ luật Taishi của Shotoku Taishi năm 701, hoặc luật “cứu bần” năm 1921, luật “cứu hộ” năm 1932. Những năm tiếp theo nhà nước đã có một số văn bản liên quan đến trợ giúp xã hội như giúp đỡ bà mẹ trẻ em (năm 1936), phụ cấp cho quân nhân (năm 1936), luật bảo hiểm y tế (năm 1941). Có thể nhận xét rằng ở giai đoạn trước chiến tranh phúc lợi xã hội với tư cách là một chế độ xã hội ở Nhật Bản thì chưa có gì phải bàn luận. Nhìn chung các hoạt động phúc lợi mang tính chất tự phát, qui mô và phạm vi nhỏ bé. Mặc dù nhà nước có ban hành một số qui định có nhiều bộ luật khá tiến bộ, song tính hiệu lực của nó trong thực tế còn kém. Thậm chí một số qui định của nhà nước chỉ được áp dụng ở một số khu vực hạn hẹp. Sự tham gia của nhà nước với tư cách là chủ thể chính của phúc lợi xã hội thường giới hạn ở mức tối thiểu.

Tuy vậy, các hình thức phúc lợi ở giai đoạn này đã tạo những tiền đề cần thiết cho các hoạt động phúc lợi xã hội sau này. Đặc biệt, sự giúp đỡ lẫn nhau đã dần dần trở thành ý thức và tình cảm của người dân và là nét đẹp truyền thống góp phần tạo nên sự ổn định và hài hoà trong xã hội. Xét ở góc độ đó sự đóng góp của những loại hình phúc lợi ban đầu này là hết sức quí giá và vô cùng cần thiết đối với sự phát triển và tiến bộ của xã hội.

2. Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay với một quãng thời gian chưa dài, bằng sự nỗ lực của chính mình Nhật Bản đã có những bước tiến nhảy vọt làm cho cả thế giới kinh ngạc. Cùng với thành tựu về tăng trưởng kinh tế, Nhật Bản cũng là nước gặt hái được nhiều kết quả về bảo đảm xã hội, trong đó có phúc lợi xã hội.

Để nghiên cứu sự phát triển của chế độ phúc lợi xã hội ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay có thể chia làm 3 thời kỳ chủ yếu: giai đoạn 1945- 1960, 1960-1973, và từ 1973 đến nay. Việc phân chia thành các giai đoạn để xem xét nội dung phúc lợi hoàn toàn mang tính chất tương đối. Trên thực tế có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau mà người ta có cách phân định khác nhau. Ở đây, khi xem xét sự phát triển của chế độ phúc lợi của Nhật Bản chúng tôi căn cứ vào sự phân kỳ của các giai đoạn phát triển kinh tế của nước này.

a) Giai đoạn 1945-1960

Có thể nói đây là một trong những giai đoạn khó khăn nhất của nước Nhật và cũng là thời kỳ mà “ý chí Nhật Bản” lại một lần nữa được thể hiện. Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai cũng là thời điểm mà Nhật Bản bị kiệt quệ về mọi mặt. Hầu hết các cơ sở kinh tế chủ yếu của đất nước bị huỷ hoại. Đối với chính phủ và mỗi người dân lúc đó không có mục đích cấp thiết nào khác là cố gắng bảo đảm cho mình và gia đình được cung cấp những thứ thiết yếu như lương thực, quần áo, nhà cửa. Trong khi đó quân Đồng minh chiếm đóng ở đây ít quan tâm đến nhu cầu nhân đạo và cấp bách này mà tập trung vào các nhiệm vụ duy trì trật tự trong nước, nhanh chóng cải tổ và thay đổi thể chế kinh tế chính trị Nhật Bản. Mục tiêu của họ là thực hiện “phi quân sự hoá và dân chủ hoá” nhằm không để Nhật Bản trở thành mối đe dọa đối với các dân tộc và hoà bình thế giới.

Cùng với các cuộc cải cách khác, quân Đồng minh đã tiến hành cải cách chế độ phúc lợi xã hội của Nhật Bản. Mục tiêu của cải cách dù được tuyên bố là dân chủ song vẫn không ngoài ý định kiểm soát và thống trị Nhật Bản một cách gián tiếp. Bộ Tổng tư lệnh Đồng minh đã đưa ra 3 nguyên tắc chủ đạo chi phối toàn bộ chế độ phúc lợi của Nhật Bản.

Nguyên tắc thứ nhất, bình đẳng không phân biệt đối xử. Đây là nguyên tắc nhằm đưa lại công bằng bình đẳng trong việc hưởng thụ chế độ phúc lợi xã hội. Xét ở góc độ công bằng và nhân đạo việc đưa ra nguyên tắc này là hoàn toàn đúng đắn. Song nhiều nhà nghiên cứu phúc lợi Nhật Bản cho rằng mục tiêu của quân Đồng minh nhằm vào việc xoá bỏ các ưu tiên, ưu đãi đối với quân nhân, gia đình họ, một chế độ đã được duy trì trước chiến tranh và trong suốt thời gian chiến tranh.

Nguyên tắc thứ hai, đề cao vai trò và trách nhiệm của nhà nước. Nguyên tắc này khẳng định trách nhiệm quản lý điều hành các hoạt động phúc lợi xã hội của nhà nước không giao phó cho tư nhân.

Nguyên tắc thứ ba, không hạn chế số tiền trợ cấp. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo cho người dân một cuộc sống tối thiểu. Vì thế về mặt tài chính không được hạn chế vì bất kỳ lý do nào. Nếu so với trước chiến tranh thì nguyên tắc này khác rất nhiều và có thể coi đây là một sự thay đổi lớn lao. Bởi lẽ, trước chiến tranh người ta chỉ qui định cung cấp một số tiền cụ thể (1 ngày một người được trợ cấp 25 xu hay một gia đình chỉ được cấp 1 ngày 1 yên trở xuống). Vì thế, dù có biến động thì mức sống tối thiểu phải được duy trì, đây được coi là nguyên tắc chỉ đạo.

Trên cơ sở 3 nguyên tắc cơ bản trên chính phủ đã ban hành một hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở cho các hoạt động phúc lợi và triển khai các hoạt động này trong thực tế. Một số nội dung cụ thể của chế độ phúc lợi đã được thực hiện.

Thứ nhất, tiến hành trợ giúp cho những người gặp khó khăn.

Sau chiến tranh một bộ phận khá lớn dân cư Nhật Bản rơi vào hoàn cảnh khó khăn túng thiếu. Để giúp họ có một cuộc sống tối thiểu mà nhà nước đã tiến hành trợ giúp khẩn cấp và thường xuyên. Điều này được qui định rất rõ trong “cương lĩnh về đảm bảo khẩn cấp cuộc sống với những người khó khăn” mà nội các ban hành vào tháng 4/1946 có hiệu lực tháng 10/1946.

Thứ hai, ưu tiên cho việc chăm sóc trẻ em và những người tàn tật.

Mặc dù, chính quyền mới của Nhật Bản bề bộn với nhiều công việc cần giải quyết để ổn định và phát triển xã hội. Song việc chăm sóc trẻ em được chính phủ hết sức ưu tiên. Xác định trẻ em là nguồn lực cho tương lai và là lớp người quyết định đến sự phát triển sau này của đất nước, vì thế việc giành ưu đãi cho trẻ em là một việc làm hết sức thông minh. Điều đáng chú ý là nhiệm vụ chăm sóc trẻ em không chỉ chú trọng trẻ em nói chung mà cả với những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt. Điều này được cụ thể hoá bằng luật “phúc lợi trẻ em” ban hành năm 1947, tiếp đó “Hiến chương về trẻ em” năm 1951, “luật ưu tiên liên quan đến vay vốn trong chế độ phúc lợi bà mẹ trẻ em năm 1952”. Ngoài trẻ em, những người tàn tật cũng là đối tượng được ưu tiên của thời kỳ này. Thực tế, sau chiến tranh ở Nhật Bản số lượng người bị tàn tật rất lớn. Đây không chỉ là nỗi bất hạnh của những người này mà còn là nỗi lo và trách nhiệm của xã hội. Vì vậy, nhiều văn bản pháp luật trợ giúp đối tượng này được ban hành: luật phúc lợi đối với người tàn tật (năm 1949), luật phúc lợi đối với người bị tâm thần (năm 1960)...

Thứ ba, tăng cường các hoạt động phúc lợi xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của phúc lợi thời kỳ này. Nhờ các qui định đó mà hoạt động y tế được đẩy mạnh và chất lượng chăm sóc sức khoẻ được nâng cao.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn này Nhật Bản đã đạt được mục tiêu đề ra là ổn định và thể chế hoá. Trong lĩnh vực phúc lợi xã hội bước đầu đã xây dựng được một hệ thống luật pháp tương đối hoàn chỉnh làm cơ sở cho các hoạt động sau này. Hầu hết người dân đều được hưởng các chế độ phúc lợi xã hội nhất là các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt dù qui mô, mức độ có khác nhau. Vì thế hoạt động phúc lợi xã hội đã góp phần ổn định xã hội, tạo những cơ sở cần thiết cho sự phát triển xã hội Nhật Bản.

Tuy vậy, quan niệm về phúc lợi xã hội ở giai đoạn này vẫn chưa thật sự thống nhất. Nhất là từ sau khi Nhật Bản ký hiệp ước San Francisco kết thúc thời kỳ chiếm đóng của Mỹ, chuyển sang thời kỳ tự do. Bàn về hướng phát triển của phúc lợi xã hội có rất nhiều ý kiến khác nhau. Hai quan niệm trái ngược có thể nhận thấy là, một số người muốn Nhật Bản quay về với xã hội truyền thống trước kia, trong đó đề cao vai trò gia đình. Loại ý kiến khác muốn Nhật Bản thay đổi Hiến pháp hiện hành theo hướng tự do hơn. So với trước đây chế độ phúc lợi xã hội đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, về qui mô và phạm vi, nhưng nhiều đánh giá vẫn cho rằng các qui định luật pháp trên chịu sự chi phối và hướng dẫn của quân Đồng minh. Thực tế, những năm cuối của thời kỳ này nhiều qui định đã tỏ ra lạc hậu (chẳng hạn, khi mà các cơ sở phúc lợi tư nhân đã phát triển mạnh trong khi vẫn còn qui định không cho phép tư nhân tham gia) và chậm trễ so với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế. Do vậy, cần phải có sự điều chỉnh thay đổi nhanh chóng các hoạt động phúc lợi xã hội để đáp ứng và phù hợp với sự biến đổi chung của đất nước.

b) Thời kỳ 1960-1973.

Đây là thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh của Nhật Bản. Nhờ đó đã tạo điều kiện và thực tế đã làm thay đổi một cách cơ bản bộ mặt xã hội Nhật Bản. Tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt xa con số trước chiến tranh: bình quân 11,8% (năm 1965-1970) so với 4,5% (1913-1938). Nhìn chung, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. So với năm 1968 năm 1973 thu nhập bình quân đầu người tăng 590 đôla[1]. Điều gây nên sự ngạc nhiên cho thế giới là từ sự đổ nát hoang tàn sau chiến tranh, chỉ có 3 thập kỷ Nhật Bản đã có được bước tiến thần kỳ. Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cũng kéo theo nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Quá trình đô thị hoá nhanh, tăng nhu cầu lao động ở các khu công nghiệp tập trung... đòi hỏi phải có những thay đổi về chế độ phúc lợi xã hội để phù hợp với tình hình thực tế. Việc thu hút lực lượng lao động đông đảo vào các đô thị đã phá vỡ cấu trúc xã hội gia đình truyền thống. Kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã làm nảy sinh các hiện tượng mà buộc xã hội phải quan tâm. Đó là tầng lớp không có cơ may, không đủ khả năng để lao vào cơn xoáy của thị trường. Số lượng người già, những người tàn tật, phụ nữ... khá đông đảo bị gạt ra khỏi cơn lốc đó. Trong khi chi phí cho cuộc sống ngày càng đắt đỏ, thu nhập của họ không đủ để trang trải thì yêu cầu về hỗ trợ của xã hội ngày càng đòi hỏi cao hơn. Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, khoảng cách chênh lệch về thu nhập và chất lượng cuộc sống giữa các tầng lớp dân cư ngày càng tăng. Đối với những người không có cơ may thì biên độ này ngày càng lớn hơn. Bản thân các chế độ phúc lợi xã hội dù đã đảm bảo để người dân có được cuộc sống tối thiểu, nhưng với sự biến đổi mạnh mẽ của thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh, các chế độ phúc lợi không đủ để coi là cái lưới an toàn cho xã hội. Vì vậy, khi nhu cầu trợ giúp của mọi người dần tăng lên thì cần thiết phải có sự sửa đổi và điều chỉnh các chế độ phúc lợi.

Để bổ sung và hoàn thiện các qui định pháp lý và triển khai thực hiện các chế độ phúc lợi xã hội chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản: luật phúc lợi cho người tâm thần (1960), luật phúc lợi cho người già (1963), phúc lợi cho trẻ em (1964). Ba luật này cùng với ba luật trước đây tạo thành một bộ 6 luật khá hoàn chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội. Ngoài ra, cũng ở giai đoạn này một số chế độ mới được qui định đối với bà mẹ trẻ em và người già. Chẳng hạn, luật về chế độ phụ cấp trẻ em năm 1971, hoặc cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho người già năm 1973.

Xem xét các hoạt động phúc lợi và hình thức của nó phải nói rằng thời kỳ này được bổ sung khá đầy đủ ở một số khía cạnh sau:

Trước hết, đối tượng phúc lợi xã hội ở thời kỳ này được mở rộng. Nếu trước đây số người được hưởng chế độ trợ cấp chỉ giới hạn ở một số lượng không lớn thì nay được mở rộng. Chẳng hạn, năm 1973 tỷ lệ người được hưởng bảo hiểm y tế tăng từ 50% lên 60% số người được hưởng, tăng 2,5 lần mức trợ cấp quốc dân và bổ sung chính sách chống nghèo đói thông qua chế độ qui định mức trượt giá[2].

Nét nổi bật thứ hai của chế độ phúc lợi thời kỳ này là các hình thức phúc lợi được mở rộng và đa dạng hoá. Trong cả nước đã bắt đầu xuất hiện nhiều dịch vụ mới mà trước đây chưa có: chăm sóc tình nguyện, phục vụ tại nhà, nuôi dưỡng người già. Nhà nước đầu tư xây dựng thêm các cơ sở phúc lợi xã hội nhất là các trung tâm dưỡng lão: nếu năm 1963 chỉ có 1 cơ sở thì đến năm 1970 đã có tới 152 cơ sở. Người già đã trở thành một vấn đề trong chương trình nghị sự của chính phủ. Ngoài các cơ sở phúc lợi của nhà nước, các hoạt động của tư nhân về lĩnh vực này cũng được mở rộng, xuất hiện các tổ hợp phúc lợi xã hội do tư nhân thành lập và quản lý.

Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh ở giai đoạn này đã có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu tổ chức và trách nhiệm trong việc giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội. Nhà nước Trung ương bắt đầu giao dần việc quản lý phúc lợi cho các địa phương. Trên thực tế các địa phương tỏ ra linh hoạt và có ưu thế trong việc giải quyết tốt các vấn đề mới phát sinh. Các hoạt động phúc lợi ở địa phương rất đa dạng và họ đã tìm được cách giải quyết phù hợp với điều kiện của mình. Bản thân người dân cảm thấy thuận tiện, thoả mãn khi các nhu cầu của mình được đáp ứng ở nơi mình sinh sống.

Thực tế, các chế độ phụ cấp cho trẻ em, dịch vụ y tế miễn phí cho người già được áp dụng ở các địa phương và đưa lại kết quả tốt và về sau trở thành chế độ phúc lợi chung cho cả nước. Việc cải cách quản lý phúc lợi xã hội bằng cách giao cho chính quyền địa phương thực hiện đã huy động được các nguồn lực, bảo đảm ổn định hài hoà và kết quả là người dân có thể hưởng được các chế độ đó một cách tốt nhất. Có thể coi giai đoạn này là thời kỳ thử nghiệm và mở rộng các chế độ phúc lợi xã hội và tạo lập các điều kiện cần thiết để đưa hoạt động này ngày càng tăng cường cả về số lượng và chất lượng.

c) Thời kỳ từ năm 1973 đến nay

Hơn ba thập kỷ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao liên tục, cho đến đầu những năm 70 Nhật Bản đã dần dần thu hẹp khoảng cách với các nước hàng đầu của thế giới tư bản chủ nghĩa. Một khi kinh tế phát triển thì kéo theo nó là sự biến đổi các mặt của đời sống xã hội. Thu nhập tăng, cuộc sống của người dân được cải thiện, và luôn có nhu cầu được hưởng thụ và phục vụ tốt hơn. Đồng thời xã hội cũng có điều kiện để giúp đỡ những người không có cơ may. Trên thực tế, vào thời điểm này dù Nhật Bản đạt được tốc độ tăng trưởng cao song vẫn là “chú lùn” trong lĩnh vực phúc lợi xã hội. Đây luôn là lĩnh vực nóng bỏng của đấu tranh xã hội. Các thành quả phúc lợi xã hội được hình thành thông qua các sáng kiến và đấu tranh giữa các nhóm lợi ích xã hội khác nhau. Để khắc phục sự yếu kém về phúc lợi xã hội, chính phủ Nhật Bản đã coi năm 1973 là năm đầu tiên của “thời đại phúc lợi” và là điểm xuất phát để đuổi kịp các nước tiên tiến. Dự định này bước đầu không được thực hiện suôn sẻ bởi “cú sốc” dầu mỏ đánh mạnh vào nền kinh tế Nhật Bản. Tình thế mới buộc chính phủ phải tập trung các nỗ lực đối phó để nhanh chóng khắc phục khó khăn. Để phù hợp với tình hình nhà nước đã phải tiến hành điều chỉnh và cải cách một số nội dung của chế độ phúc lợi xã hội phù hợp với nhu cầu về phúc lợi xã hội tăng nhanh.

Những điều chỉnh có thể nhận thấy ở việc thay đổi một số qui định về mức trợ cấp. Chẳng hạn, giảm tỷ lệ do nhà nước cung cấp đối với chế độ bảo đảm cuộc sống từ 8/10 xuống 7/10, với các dịch vụ phúc lợi xã hội từ 8/10 xuống 5/10 (năm 1986) hoặc năm 1989 tỷ lệ kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước và địa phương là 7,5/2,5 với đảm bảo xã hội và 5/5 với dịch vụ phúc lợi. Rõ ràng, phần gánh nặng đã được giao cho các địa phương. Điều này tạo nên sự chênh lệch về việc cung cấp các dịch vụ nhất là với địa phương nghèo.

Một số qui định về y tế bảo hiểm với người già cũng thay đổi. Chẳng hạn, tỷ lệ chi tiêu của người dân trong bảo hiểm y tế là 10% (xoá bỏ chế độ miễn phí cho người già), tăng phụ cấp đối với các bà mẹ sinh con thứ hai, hoặc từ năm 1986 giảm phụ cấp tuổi thọ.

Tuy vậy, cũng cần phải thấy rằng mặc dù phải điều chỉnh, nhất là chi tiêu song nhìn chung tỷ lệ chi cho đảm bảo xã hội vẫn có xu hướng tăng. Chẳng hạn, chi tiêu cho đảm bảo xã hội của Nhật Bản năm 1973 là 6,1 tỷ yên chiếm 6,38% GNP, năm 1975 là 11,7 tỷ yên (9,41% GNP) năm 1985 là 35,6 tỷ yên (14,01% GNP) và năm 1989 là 44,6 tỷ yên (14,02% GNP)[3].

Một nội dung cải cách và điều chỉnh ở giai đoạn này là nhà nước đã tiến hành đa dạng hoá các hoạt động phúc lợi. Nhà nước khuyến khích sự tham gia của tư nhân và cộng đồng vào lĩnh vực này. Thực tế hoạt động của tư nhân khá tốt, vì vậy người dân rất hài lòng khi mở rộng các dạng dịch vụ này. Đồng thời cũng xuất hiện loại hình phúc lợi xã hội kết hợp giữa tư nhân và nhà nước, trong đó chi phí đầu tư do nhà nước và điều hành do tư nhân. Để thúc đẩy các hoạt động phúc lợi, nhà nước đã ban hành một số qui định và chủ trương như: “Chương trình 10 năm bảo đảm phúc lợi cho người già” thành lập quĩ hoạt động chăm sóc sức khoẻ (1/8/1989), thành lập hiệp hội phúc lợi xã hội (1/4/1990).

Những điều chỉnh và cải cách về chế độ phúc lợi mà Nhật Bản đã tiến hành đã đưa lại nhiều kết quả tốt. Song sự biến đổi kinh tế xã hội luôn đặt ra trước những nhà lãnh đạo phải quan tâm giải quyết để có được một chế độ phúc lợi xã hội phù hợp. Đây là nhiệm vụ thường xuyên và hết sức cấp bách ngay cả hiện nay khi Nhật Bản sau một thời gian suy thoái đã phục hồi và đang hy vọng nâng cao vị thế của mình không chỉ riêng kinh tế mà ở nhiều lĩnh vực trong đó có phúc lợi xã hội. Để hiểu biết thêm về hoạt động cụ thể của phúc lợi xã hội Nhật Bản chúng ta sẽ lần lượt xem xét các hình thức biện pháp mà nước này đã và đang thực hiện.
[1] Lê Văn Sang – Lưu Ngọc Trịnh: Đường đi tới một siêu cường kinh tế, NXB KHXH, 1991, tr.114

[2] Nguồn: Động hướng phúc lợi quốc dân năm 1994, số 12, t.41. Hiệp hội thống kê y tế và phúc lợi Nhật Bản.

[3] Nguồn: The Journal of Economic Vol, XXII No 3-5, 1992.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành