Cosodulieu

Cosodulieu

Thực tế áp dụng các biện pháp cưỡng chế bảo đảm về tài sản nhiều doanh nghiệp không thực hiện thanh toán qua ngân hàng nên không thể áp dụng biện pháp trích tiền từ tài khoản. Cho dù đối tượng bị cưỡng chế có tài khoản ở ngân hàng đi chăng nữa, thì tài khoản đó hầu như không có số dư hoặc số dư quá nhỏ không thể áp dụng biện pháp trích tiền từ tài khoản. Mặt khác, các doanh nghiệp thường có nhiều tài khoản để giao dịch, điều này làm cho việc thu thập thông tin về tài khản của đối tượng bị cưỡng chế mất nhiều thời gian và nhân lực. Và nếu bị phong tỏa tài khoản này, họ vẫn còn có những tài khoản khác để tiếp tục hoạt động. Khi biết bị cưỡng chế, doanh nghiệp vẫn có đủ thời gian để rút hết tiên trong tài sản có tính chuyên môn, nghiệp vụ cao, thủ tục tiến hành đòi hỏi phải tuân thủ rất chặt chẽ, nghiêm ngặt, nên khoản ngân hàng của mình, nên việc cưỡng chế không thường phải do một cơ quan chuyên nghiệp đảm nhiệm. chưa kịp hiệu quả. Bên cạnh đó, việc phối hợp cưỡng chế giữa cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế với ngân hàng chưa thực sự “ăn ý"; một số cơ quan chức năng chưa hỗ trợ tích cực để giúp cơ quan cưỡng chế, điển hình như: việc cung cấp thông tin về tài sản, bất động sản, thông tin về số dư tài khoản tiền gửi của đối tượng bị cưỡng chế tức thời, từ đó làm ảnh hưởng đến việc cưỡng chế.

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định các biện pháp phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động giáo dục và giá dịch vụ đào tạo đối với các cơ sở giáo dục đào tạo công lập thuộc phạm vi quản lý của địa phương; đồng thời có trách nhiệm giám sát hoạt động giáo dục tại địa phương.

Xin tải về tệp đính kèm để xem toàn văn tập san.

Phát triển kinh tế - xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội đồng nhân nhân. Hội đồng nhân dân ban hành và giám sát  thực hiện chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Với mục đích hỗ trợ đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, Ban Công tác đại biểu chỉ đạo Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử xây dựng tập san: “Hội đồng nhân dân với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương”, cung cấp kiến thức và kỹ năng chuyên sâu phục vụ việc quyết định, giám sát trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Tập san trình bày tổng quan về khái niệm, vai trò, thẩm quyền của HĐNDtrong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; cách thức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực này

Xin tải về tệp đính kèm để xem toàn văn tập san.

 

 

au khi giành được chính quyền cách mạng năm 1945, Việt Nam tiếp tục phải tiến hành hai cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại, Do đó, lĩnh vực an ninh được pháp luật hình sự tập trung bảo vệ trong thời kỳ này chính là an ninh theo quan niệm truyền thống - an ninh chính trị, an ninh quân sự. Hơn nữa, các vấn đề an ninh phi truyền thống theo cách tiếp cận hiện đại cũng chưa bùng phát và có tính uy hiếp nghiêm trọng đối với an ninh, trật tự của quốc gia ở giai đoạn này nên việc ứng phó với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống chưa được chú trọng trong pháp luật hình sự. Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự của Nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ cũng đã có một số quy định tạo ra nền tảng, cơ sở cho những quy định pháp luật hình sự nhằm ứng phó trước thách thức an ninh phi truyền thống sau này, chẳng hạn như những quy định nhằm ngăn chặn các loại tội phá hoại an ninh thông tin (sau này là an ninh mạng), mua bán ma túy, mua bán người, khủng bố, buôn lậu, các tội phạm về môi trường... 

Trước hết, vấn đề bảo vệ an ninh thông tin đã sớm được Nhà nước ta đặt ra ngay tại Sắc lệnh số 06/SL ngày 15/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sắc lệnh này đã khẳng định những hành vi làm phương hại đến hệ thống thông tin liên lạc là những hành vi đe dọa an ninh quốc gia: Xét rằng những việc ăn trộm, ăn cắp, tự ý phá hủy hoặc ca trữ dây điện thoại và dây điện tín là những hành vi có phương hại đến công trình củng cố nền độc lập của nước nhà; xét rằng những hành vi ấy làm ngăn trở sự thông tin của Chính phủ với các cơ quan địa phương, có hại cho công việc cai trị, trị an trong nước và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc quốc phòng... Với nhận thức đó, Điều I Sắc lệnh đã tội phạm hóa một số hành vi phá hoại hệ thống thông tin liên lạc như sau: “Những người can tội ăn trộm, ăn cắp, tự ý phá hủy, cắt dây điện thoại và dây điện tín sẽ bị truy tố trước các Tòa án tỉnh". Đồng thời, cũng áp dụng mức trách nhiệm hình sự đặc biệt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm phạm an ninh thông tin đã bị tội phạm hóa: “Những người phạm tội kế trên sẽ bị phạt từ 1 năm đến 10 năm tù và có thể bị xử tử".

  Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Việc điều chỉnh kịp thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong xã hội đối với con người và nhân loại cũng chính là sự đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các mối đe dọa buộc các nước, trong đó có Việt Nam cần điều chỉnh kịp thời cho pháp luật mang tính thích ứng với chuẩn mực quốc tế hơn, trong đó có việc tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới. Bởi lẽ, sự chuyển hướng về lĩnh. vực an ninh vượt ra khỏi lĩnh vực chính trị, quân sự của các vấn đề an ninh phi truyền thống đã và đang làm phát sinh những loại hành vì có tính nguy hiểm cho xã hội mới có tính chất tội phạm xâm phạm tới an ninh, trật tự, an toàn của con người, xã hội. Một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm nghĩa là hành vị ấy xâm hại một quan hệ xã hội được Nhà nước đặc biệt coi trọng và bảo vệ, hành vi đó bị pháp luật hình sự quy định là tội phạm, bị Nhà nước và xã hội lên án. Hậu quả của việc một hành vi bị coi là tội phạm là sự trừng phạt từ phía Nhà nước đối với người thực hiện hành đó bằng việc áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt trên những cơ sở chung. 

Việc quy định tội phạm mới vào trong Bộ luật Hình sự trong khoa học pháp lý hình sự được gọi là “tội phạm hóa" (Criminalization).

 Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Việc áp dụng cưỡng chế hành chính cho dù là cần thiết để duy trì trật tự xã hội, bảo đảm lợi ích của nhà nước và cộng đồng, nhưng nó sẽ tác động tiêu cực) đến quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Vì vậy, việc áp dụng cưỡng chế hành chính như thế nào để đạt được hiệu quả xã hội cao nhất, tức là vẫn bảo đảm duy trì trật tự quản lý, bảo đảm lợi ích của nhà nước và xã hội, nhưng chỉ hạn chế ở mức tối thiểu cần thiết các biện pháp cưỡng chế hành chính, trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, là vấn đề cần được làm rõ. Khi bàn về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội công dân, để nhà nước không bao trùm hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như lấn lướt tự do của con người, C. Mác cho rằng phải giới hạn quyền lực nhà nước: “Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao vào xã hội, thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là tùy ở chỗ trong những hình thức ấy, “sự tự do của nhà nước" bị hạn chế nhiều hay ít". Việc đặt ra giới hạn của áp dụng cưỡng chế hành chính nhằm khắc phục, triệt tiêu những yếu tố tiêu cực khi áp dụng cưỡng chế hành chính. Vì vậy, việc xác định giới hạn của cưỡng chế hành chính chỉ thật sự được chính xác, đầy đủ trên cơ sở làm rõ vì sao phải đặt ra giới hạn đó. 

 Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm.

Kinh tế Nhật Bản thời kỳ giải ngũ (1945-1960) đã có nhiều thay đổi vượt bậc trong chính sách công nghiệp. Sau khi thiết lập tỷ suất hối đoái duy nhất năm 1949, khuôn khố cơ bản cho những giao dịch mậu dịch và vốn đã được định hình. Tháng 12 năm 1949, Luật Kiểm soát Ngoại hối và Ngoại thương (Gaikoku Kawase Oyobi Gaikoku Boeki Kanri-ho) đã được ban hành, và dựa vào Luật này những quy định kiểm soát mậu dịch xuất nhập khẩu đã được đề ra. Trong khi khu vực tư nhân được phép nhập khẩu hàng hoá tương đối tự do, thì những hoạt động ngoại hối vẫn phải chịu sự kiểm soát của chính phủ, và việc phân bổ ngoại tệ còn rất khắt khe. Do vậy, Luật Ngoại hối về mặt nguyên tắc là sự cấm đoán, chỉ trừ một vài ngoại lệ, và được dựa trên các quan hệ và thực tiễn thể chế vốn có từ trước chiến tranh..

Năm 1949 Nhật Bản vẫn còn bị thiếu ngoại tệ kinh niên và cho tới đầu những năm 1950 nền kinh tế Nhật Bản vẫn chưa đạt được mức việc làm đầy đủ. Một khi việc kinh doanh có cơ hội xuất nhập khẩu tự do thì cán cân thanh toán quốc tế sẽ bị thiếu hụt. Do vậy, để duy trì cán cân đối ngoại, chính phủ đã phải đề ra những biện pháp để kiểm soát nhập khẩu. Tuy nhiên về mặt này những công cụ chính sách như thuế quan và những kiểm soát nhập khẩu có khác nhau chút ít ngoại trừ những kiểm soát nhập khẩu sẽ mang lại lợi lộc những người nam giữ li-xăng nhập khẩu và làm tăng thêm tình trạng phân bố sai các nguồn lực nếu sức mạnh độc quyền chi phối thị trường trong nước. Bộ tài chính (Okura-sho: MOF) có quyền quyết định phân bố tiền tệ dựa trên những đánh giá cung cầu do các bộ khác cung cấp MOF muốn kiểm soát việc thanh toán ngoại thương thông qua phân bổ ngoại tệ và tiến hành kiểm soát nhập khẩu hơn là chỉ thuần tuý thông qua việc áp dụng thuế quan.

 Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Vốn FDI từ nước ngoài, cả tiền do các công ty mẹ kiếm được ở nước ngoài là nguồn vốn dự kiến của 55,6% số hãng trả lời. Tuy vậy, có sự khác biệt rất lớn giữa các câu trả lời của các hãng lớn (239) (có tổng số vốn từ 1 tỷ yên trở lên) với các hãng vừa và nhỏ (38). Các hãng lớn báo cáo rằng, nguồn vốn FDI lớn nhất của họ là nguồn vốn từ bên ngoài cấp cho các công ty con ở nước ngoài (34,1%), và hơn nữa, phần của các công ty con trong tổng tiền FDI là 47,7%. 

Về việc gây vốn cho FDI, các công ty con ở nước ngoài của các hãng lớn là độc lập so với công ty mẹ của chúng. Ngược lại, các công ty con nước ngoài của các hãng vừa và nhỏ nước ngoài về cơ bản lại phụ thuộc vào các công ty mẹ của chung về vốn. Tuyệt đại đa số các hãng (79,1%) như thế trả lời rằng, vốn FDI là do các công ty mẹ kiếm được ở thị trường nội địa Nhật Bản. Vì nguồn vốn nội bộ các công ty mẹ chỉ chiếm khoảng 7,8%, nên họ phải dựa vào vị thế tín dụng của các công ty mẹ với các tổ chức tài chính Nhật Bản và vào những điều kiện của các thị trường tài chính Nhật Bản .

 Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Cục diện chính trị, kinh tế, ngoại giao của nước Anh và cả Liên minh châu Âu đang có sự thay đổi sâu sắc, nhanh chóng sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-6-2016, với 51,71 % người dân Anh đã bỏ phiếu “rời khỏi Liên minh châu Âu” (Brexit). Brexit tác động sâu rộng và nghịch đối với nước Anh, Liên minh châu Âu và đối với quá trình phát triển của đời sống quốc tế. Các nhà phân tích cho rằng, hậu Brexit, Liên minh châu Âu sẽ “yếu hơn”, thậm chí trước nguy cơ “tan rã” vì thiếu đi một thành viên có vị thế quan trọng và hiệu ứng domino lan tỏa. Cuộc thăm dò ý kiến gần đây của Cơ quan thăm dò dư luận Eurobarometer đối với toàn bộ 28 nước thành viên cho thấy, 43 % số người được hỏi ý kiến cho rằng Liên minh châu Âu đang đi sai hướng so với 23 % số người nói Liên minh này đang đi đúng đường. Ở các cuộc khảo sát khác, 48 % số người Italia ủng hộ rời khỏi Liên minh châu Âu. Tại Hy Lạp, tỷ lệ không ủng hộ cách thức điều hành kinh tế của Liên minh châu Âu là 92 % trong khi tại Italia, Pháp và Tây Ban Nha, tỷ lệ không ủng hộ cũng là hơn 60 %. Tuy nhiên, xu hướng chia tay Liên minh châu Âu có thể không phát triển thành trào lưu, nếu Liên minh châu Âu giải quyết được những vấn đề nội tại của mình, trước hết là kinh tế.

 Chiến lược phát triển Liên minh châu Âu theo ba trụ cột là: tăng trưởng bền vững, tăng trưởng thông minh và tăng trưởng bao trùm 

 Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Với cách hiểu là một dạng của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra cũng bao gồm: có hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm pháp luật môi trường, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường với thiệt hại xảy ra và có lỗi của chủ thể gây thiệt hại. Tuy nhiên, yếu tố lỗi sẽ không ảnh hưởng tới mức độ và trách nhiệm bồi thường. Người gây thiệt hại dù có lỗi cố ý hay có lỗi vô ý khi gây thiệt hại cho người khác thì người đó cũng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, và không vì người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý trong khi gây thiệt hại mà mức bồi thường tăng hay giảm tương ứng.

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra có những đặc trưng riêng so với các loại bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn lại. 

  Trên đây trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành