Cosodulieu

Cosodulieu

Nhà nước pháp quyền xét về bản chất, mục tiêu, sứ mệnh và giá trị to lớn chính là một nhà nước và nền pháp luật vì con người, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do, lợi ích của con người. Nhà nước pháp quyền, hay nói rộng ra là xã hội pháp quyền, dân chủ, nơi con người là mục đích chứ không phải là phương tiện của nhà nước. Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp lý, hợp đạo đức, dân chủ, công bằng, lẽ phải, hài hòa, cân bằng các loại lợi ích, hòa bình và hiệu quả. Nhà nước pháp quyền là nhà nước bị giới hạn quyền lực bởi pháp luật và các quyền, tự do, lợi ích của cá nhân. Trong nhà nước pháp quyền phải xác lập quyền lực của pháp luật, khác biệt với quyền lực thuộc về những cá nhân có quyền ra mệnh lệnh áp đặt xã hội phải phục tùng. Nhà nước pháp quyền khác biệt với các nhà nước không phải là nhà nước pháp quyền ở việc phải chịu sự kiểm soát thường xuyên bằng các thiết chế, hình thức thích hợp của các cơ quan, tổ chức xã hội và sự kiểm soát bên trong nhà nước đó. Cơ chế kiểm soát, phản biện pháp lý và xã hội làm cho nhà nước pháp quyền có khả năng mạnh nhất trong việc phòng ngừa, hạn chế và chống lại các hiện tượng, xu hướng làm quyền, tùy tiện. Nhà nước pháp quyền là một nhà nước phải được đặt trong tình trạng bị kiểm soát, bị hạn chế quyền lực để bảo vệ con người, tránh mọi sự lạm dụng quyền lực nhà nước phương hại quyền con người.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng, có trách nhiệm với con người, bảo vệ, bảo đảm công bằng, công lý và an toàn cho cuộc sống của con người, luôn nỗ lực trong việc tìm kiếm, đem lại cho con người những gì có lợi nhất. Nhà nước với vai trò mới là người phục vụ xã hội, trách nhiệm thường trực “đem lại cuộc sống thật sự làm người cho tất cả mọi người là vai trò của Nhà nước hiện đại”. Trong xã hội pháp quyền, nhu cầu về bảo đảm an toàn pháp lý, về công lý; về an ninh, về dịch vụ công và về nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Platon đã khẳng định: “Chúng ta thừa nhận những nơi mà luật được định ra vì lợi ích của một số người, thì ở đó không có chế độ Nhà nước, chỉ có thể gọi là Nhà nước khi có sự công bằng”

 Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toan văn xin tải về tệp đính kèm.

Nước thải đang là một vấn đề nan giải đối với một nước đang phát triển như Việt Nam. Việc xử lý và thu phí nước thải hợp lý, trang trải được các chi phí đầu tư, vận hành và bảo dưỡng là vấn đề bức xúc đang được bàn bạc. Chính phủ đã ban hành các quy định pháp luật cần thiết về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và đây là một bước tiến quan trọng trong quản lý môi trường. Tuy nhiên, việc thu phí nước thải vẫn còn gặp nhiều ách tắc, thiếu quy định chặt chẽ, công tác quản lý chưa tốt, khiến việc thu phí vẫn cứ lúng túng, khó khăn. Trong thực tế một số vấn đề bất cập lớn trong các quy định pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải cũng như những khó khăn, vướng mắc cơ bản trong quá trình áp dụng trên thực tế: 

Thứ nhất, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay còn rất thấp và nguồn thu này không thể đáp ứng được các chi phí xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định. Hiện nay, chúng ta không thể quan trắc hết tất cả các cơ sở công nghiệp về lưu lượng, nồng độ nước thải để tính toán mức phí cho từng cơ sở. Việc xác định các đối tượng nộp phí hiện nay là chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các thành phần gây ô nhiễm môi trường. Việc xác định mức phí đối với từng cơ sở theo cách tính truyền thống phụ thuộc rất nhiều vào năng lực thẩm định của các Sở Tài nguyên và Môi trường, vốn có nguồn lực con người và trang thiết bị khá hạn chế. Do đó, việc xác định chủ yếu dựa vào tờ khai của các doanh nghiệp nên số liệu khác xa so với thực tế, hoặc phải dựa trên kết quả đo lưu lượng dòng thải, trong khi phần mềm để tính toán lại không có. Do vậy, nhất thiết phải nâng mức phí nước thải công nghiệp, để mức này gần sát với chi phí xử lý nước thải. Cách thu phí cũng phải linh hoạt với từng đối tượng chứ không đánh đồng. Cụ thể, với những cơ sở có khả năng gây ô nhiễm lớn như thuộc da, bia... nên đo và quan trắc trực tiếp đế tính toán mức phí phù hợp với từng cơ sở. Với những cơ sở khác, phải ban hành định mức về các chất gây ô nhiễm trong nước thải để dựa vào đó thu phí mà không cần đo đạc. 

 Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thuế suất của thuế bảo vệ môi trường là mức thuế tuyệt đối, được quy định theo Biểu khung thuế của Điều 8 Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, cụ thể: 

Thuế suất đối với nhóm đối tượng chịu thuế là xăng, dầu, mỡ nhờn: biên độ khung thuế suất đối với xăng, dầu, mỡ nhờn mức thấp nhất là từ 500 đồng/kg và cao nhất chỉ 3,000 đồng/kg. Việc thu thuế sẽ làm tăng chi phí sản xuất, phần nào đó sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của người nông dân. Quy định mức thuế đối với nhóm đối tượng này để nhằm là khá rộng; mức thuế suất cao nhất là 4.000 đồng/lít được áp nâng cao ý thức của người nông dân, hướng nông dân sử dụng 96 dụng đối với xăng, trừ etanol; mức thuế suất thấp nhất là 300 đồng/lít hoặc kilogam. Quy định về biên độ dao động của các mức thuế suất có thể tạo sự chủ động, linh hoạt trong vấn đề nộp thuế và chính sách điều hành nền kinh tế. 

Thuế suất đối với nhóm đối tượng chịu thuế là than đá mức thuế suất cao nhất là than antraxít, với mức thuế suất là 50.000 đồng/tấn, mức thuế nhất thấp nhất là 10.000 đồng/ tấn, được áp dụng đối với than nâu, than mỡ và các loại than đá khác. 

 Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Các điều kiện pháp lý đối với doanh nghiệp phát hành. Một hệ thống pháp luật chặt chẽ về các hoạt động của thị trường chứng khoán bảo đảm cho thị trường vận hành một cách công bằng, an toàn và hiệu quả. Vai trò của hệ thống pháp luật không phải là sự can thiệp nhằm bóp méo thị trường mà để bảo vệ quyền lợi hợp của các thành viên tham gia thị trường, trong đó bao gồm các nhà phát hành và nhà đầu tư. Việc tạo dựng một khung pháp lý đầy đủ phải kể đến từ các hoạt động khác nhau trên thị trường: phát hành, niêm yết, giao dịch, lưu ký và thanh toán bù trừ: cho đến các thành viên tham gia thị trường như các cá nhân, tổ chức, các tổ chức cung ứng dịch vụ. Trong đó, các điều kiện pháp lý minh bạch và hiệu quả sẽ tạo nền tảng cho các doanh nghiệp tìm kiếm đến thị trường chứng khoán như một kênh huy động vốn dài hạn và hợp lý. 

Về cơ bản, hệ thống văn bản pháp luật liên quan trường chứng khoán bao gồm: Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư. Việc hoàn thiện các văn bản pháp lý đồng thời sẽ là cơ sở để tăng tính minh bạch của thị trường đối với các doanh nghiệp phát hành. Do vậy, có những nội dung, yêu cầu cần quy định chặt chẽ hơn trong pháp luật chứng khoán hoặc ngược lại nhưng đã không thể vượt qua được các luật khác liên quan. Ngoài ra, các doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh bởi các in the pháp luật chuyên ngành, thì ngoài việc phải tuân thủ quy định pháp luật về chứng khoán khi thực hiện chào bán, phát hành, còn phải tuân thủ và thực hiện theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật chuyên ngành và tại các cơ quan quản lý nhà nước khác nhau. 

Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Trong những năm vừa qua, sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực trong xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, sự gia tăng dân số, các ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn cũng gây ra không ít những tác hại về môi trường, trong đó có môi trường nước do nước thải của các nhà máy và nhu cầu sinh hoạt của người dân thải ra. Thực trạng này đặt ra một nhu cầu cấp thiết cho công tác quản lý, xử lý, khắc phục các vấn đề, nhằm bảo vệ môi trường sống. 

Hiện nay, nhà nước ta đã ra nhiều văn bản, quy định về bảo vệ môi trường, xử lý nước thải. Các hành vi vi phạm quy định về xử lý nước thải phải chịu phí nộp phạt. Cụ thể, khoản 1 Điều 148 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định: “Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường". Mức phí bảo vệ môi trường được quy định trên cơ sở khối lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đối với môi trường; mức độ độc hại của chất thải, mức độ gây hại đối với môi trường, sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải. Phí bảo vệ môi trường và thuế bảo vệ môi trường đều là những khoản tiền phải trả cho việc sử dụng môi trường với tư cách là nơi chứa đựng chất thải, nhưng chúng có tính chất khác nhau. Nếu như thuế bảo vệ môi trường đánh vào các sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường, tức là hành vi xả thải phát sinh trong tương lai, thì phí bảo vệ môi trường lại đánh vào thời điểm xả thải và sau xả thải, tức hành vi xả thải (hoặc các hoạt động khác làm phát sinh nguồn tác động xấu đối với môi trường) đã và đang xảy ra. Đây là điểm khác biệt cơ bản và quan trọng nhất giữa hai hình thức này. 

Cũng có thể phân biệt phí bảo vệ môi trường với thuế bảo vệ môi trường theo các tiêu chí khác, chẳng hạn như đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường là các sản phẩm, hàng hóa mà khi sử dụng sẽ gây ra tác động xấu đến môi trường; còn đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường là các nguồn chất thải gây ô nhiễm cũng như các nguồn tác động xấu khác đối với môi trường và cả các loại khoáng sản. Phí bảo vệ môi trường cũng khác hoàn toàn với phí dịch vụ môi trường - là một dạng phí phải trả khi sử dụng một số dịch vụ môi trường (như dịch vụ thu gom rác, dịch vụ quản lý chất thải nguy hại...), mức phí tương ứng với chi phí cho các dịch vụ môi trường đó. Phí bảo vệ môi trường có mục đích khuyến khích các nhà sản xuất, kinh doanh đầu tư giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vị ô nhiễm theo hướng tích cực, có lợi cho môi trường. Ngoài ra, phí bảo vệ môi trường còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu tư khắc phục, cải thiện môi trường. 

Các chính sách phí bảo vệ môi trường hiện hành đang được áp dụng đối với các nguồn gây ô nhiễm (đánh vào các chất gây ô nhiễm thải ra môi trường nước, đất, không khí) nhằm mục đích thúc đẩy các đối tượng gây ô nhiễm phải giảm thiểu khối lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và đóng góp một phần tài chính vào việc xử lý ô nhiễm môi trường do các chất thải trường, cụ thể: gây ra. Việt Nam đã triển khai thực hiện ba loại phí bảo vệ môi trường, cụ thể: 

- Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được thực hiện từ năm 2004 với mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải gây nên, sử dụng nguồn nước sạch một cách tiết kiệm và hiệu quả. Đây là loại phí bảo vệ môi trường được triển khai sớm nhất. Tuy nhiên, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải hiện nay còn thấp, chưa đáp ứng được các chi phí xử lý nước thải đạt quy chuẩn, chưa khuyến khích được các chủ thể đầu tư chi phí thay đổi công nghệ. 

- Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn được thực hiện từ năm 2007, phí thu đối với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác. Các văn bản pháp quy về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn về cơ bản đã tạo được cơ sở pháp lý khá ổn định và vững chắc cho thực hiện. Tuy nhiên, sự phân định giữa chất thải rắn nguy hại và chất thải rắn thông thường chưa rõ nét, bởi mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hai nhóm chất thải này khác nhau. Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn không còn áp dụng từ ngày 15/6/2015 với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 38 /2015/NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 40/2014/NĐ - CP, Điều 66 về hiệu lực thi hành có quy định: “Nghị định số 174/2007/NĐ - CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành".

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản được thực hiện từ năm 2006, thu vào các hoạt động khai thác khoáng sản gồm các loại khoáng sản kim loại và phi kim loại. Tuy nhiên, việc quy định mức phí được tính căn cứ vào số lượng khoáng sản khai thác là không phù hợp, không có tác dụng khuyến khích việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong quá trình khai thác nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ mức thu phí bảo vệ môi trường đối với từng hoạt động khai thác khoáng sản phải tương ứng với cấp độ gây tác hại môi trường mà hoạt động khai thác đó gây ra, chứ không nên căn cứ vào giá trị kinh tế của loại khoáng sản được khai thác để tính tương xứng. Chính vì vậy, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, là một trong những loại phí bảo vệ môi trường thực hiện trên thực tế còn nhiều hạn chế cần sửa đổi. 

Tài liệu tham khảo

1. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018

2. Nghị định số 38 /2015/NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu, sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 40/2014/NĐ – CP

Tình hình vi phạm pháp luật môi trường ở nước ta diễn biến phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và ở hầu hết các địa bàn. Những hoạt động vi phạm pháp luật môi trường không chỉ tác động xấu đến môi sinh, môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà hơn hết là nó gây ra những hậu quả trực tiếp và lâu dài đến đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Để thực hiện tốt công tác phòng ngừa và xử lý vi phạm pháp luật môi trường, bên cạnh việc nghiêm khắc xử lý hành chính và hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, không thể không tăng cường giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với các chủ thể gây ô nhiễm môi trường. Bởi, một khi vấn đề bồi thường thiệt hại được giải quyết triệt để thì nó không chỉ góp phần làm tăng tính nghiêm khắc của chế tài xử lý vi phạm pháp luật môi trường nói chung, qua đó có tác dụng răn đe đối với các chủ thể gây ô nhiễm; mà còn nhằm khắc phục phần nào những thiệt hại mà người dân phải gánh chịu từ hành vi gây ô nhiễm môi trường. Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường của các chủ thể đã được pháp luật Việt Nam thừa nhận và quy định, đáp ứng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. 

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra. Phương thức yêu cầu người khác phải bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, với những đặc điểm riêng, có vai trò to lớn và được coi là có hiệu quả thiết thực nhất vì nó khôi phục lại tình trạng ban đầu về mặt vật chất cho chủ thể bị thiệt hại. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tại Điều 624 về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường như một dạng của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục đề cập tại Điều 602 với cách hiểu tương tự. Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định: “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật". Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 phân chia thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm hai loại thiệt hại: suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra

Môi trường được xem là một loại hàng hóa đặc biệt và là tài sản rất có giá trị, nó được xác định bởi các giá trị khoa học, kinh tế và môi sinh. Do đó, bất kỳ một hành vi nào gây hại đến môi trường cũng đồng nghĩa với việc gây hại đến các giá trị nêu trên. Nếu xem xét một cách chặt chẽ, tác hại gây ra đối với môi trường tự nhiên không khác gì tác hại gây ra đối với con người hay với tài sản của con người, chính vì vậy, khi môi trường bị xâm hại, chất lượng môi trường bị suy giảm thì cũng cần phải được bồi thường một cách thỏa đáng và người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất gây ra đối với môi trường. 

Khi môi trường là nguồn cung cấp các giá trị kinh tế to lớn cho con người cũng có nghĩa rằng nó được xem là hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt được sở hữu bởi cả cộng đồng. Và với quy luật của nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi các chủ thể khi khai thác, sử dụng môi trường phải có nghĩa vụ “trả tiền" cho hành vi của mình, cho những lợi ích đã đạt được. Từ đó, việc xác định đúng số tiền phải trả cho hành vi gây thiệt hại về môi trường góp phần thực hiện tốt nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, Pháp luật quy định các mức bồi thường sao cho tương xứng với những thiệt hại mà các chủ thể vi phạm đã gây ra, qua đó có tác dụng rất lớn trong việc ngăn chặn hành vi xâm phạm môi trường khi các chủ thể có sự so sánh giữa những khoản lợi ích mà họ được hưởng và mức bồi thường thiệt hại mà họ phải chi trả khi gây ra thiệt hại. Ý nghĩa của bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra bao gồm:

Một là, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể bị thiệt hại. Khi môi trường bị xâm phạm thì cũng chính là lúc mà những lợi ích vật chất lẫn tinh thần của tổ chức, cá nhân bị tổn hại nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, đe dọa sự sống lẫn khả năng kinh tế của các gia đình. Thực tế đó đòi hỏi phải có cơ chế thích hợp để có thể bù đắp lại những thiệt hại mà người dân đã gánh chịu và chế định bồi thường thiệt hại đã thực hiện được điều đó. Bồi thường thiệt hại yêu cầu các chủ thể gây hại phải thực hiện nghiêm túc trách nhiệm bồi hoàn những thiệt hại mà mình đã gây ra cho môi trường và tính mạng, sức khỏe, tài sản cũng như những lợi ích hợp pháp khác của chủ thể bị thiệt hại. Qua đó, giúp cho chủ thể bị thiệt hại có thể khôi phục, bù đắp được phần nào tổn thất do môi trường bị xâm phạm gây ra, nhằm bảo đảm được một cuộc sống ổn định và mang lại sự ấm no, bình yên cho chính bản thân cũng như gia đình họ. 

Chẳng hạn, các sự cố tràn dầu xảy ra gây ô nhiễm nặng cho các dòng sông lớn dẫn đến tình trạng cá, tôm chết hàng loạt và đã ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn sống chính cũng như đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của cư dân vùng ven biển. Thông qua chế định bồi thường thiệt hại, người dân có thể quy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các chủ tàu nhằm bù đắp lại những thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra. Từ đó, chế định bồi thường thiệt hại về môi trường có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ đời sống, tính mạng, sức khỏe và là cơ sở vững chắc để công dân thực hiện tốt các quyền cơ bản của mình. Do vậy, cần phải tăng cường hoạt động phổ biến pháp luật liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại môi trường sâu rộng trong Nhân dân để người dân có thể nhận thức và chủ động bảo vệ quyền, lợi ích của mình khi bị xâm phạm. Đồng thời, đòi hỏi Nhà nước cần phải có cơ chế thích hợp và hiệu quả để bảo đảm cho người dân có khả năng thực hiện tốt các quyền công dân của mình, nhất là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường. 

Hai là, bồi thường thiệt hại về môi trường là một công cụ hữu hiệu nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật môi trường. Trong điều kiện các chế tài xử phạt vi phạm pháp luật môi trường còn nhiều bất cập với mức xử phạt vi phạm hành chính theo luật định còn quá thấp so với khoản lợi nhuận mà các chủ thể đạt được từ việc xâm phạm môi trường; các quy định xử lý hình sự trong lĩnh vực môi trường thiếu tính khả thi đã làm cho số vụ việc vi phạm pháp luật môi trường bị xử lý hình sự còn hạn chế thì chế định bồi thường thiệt hại về môi trường có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra không căn cứ trên một mức giới hạn bồi thường nào cả, mà theo đó, chủ thể gây ra thiệt hại bao nhiêu thì cũng phải có trách nhiệm bồi thường tương đương với giá trị đó bấy nhiêu. Như vậy, đây có thể được xem là quy định nghiêm khắc đối với chủ thể vi phạm, vì mục đích cuối cùng và cũng là mục đích quan trọng nhất thúc đẩy các chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm môi trường là lợi ích vật chất, trong khi đó, với đặc trưng của chế định bồi thường thiệt hại thì rõ ràng con số lợi nhuận mà các chủ thể gây thiệt hại nhận được trong trường hợp này bằng không và thậm chí còn có giá trị âm khi họ phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại toàn bộ những tổn thất mà mình đã gây ra. Mặt khác, khi đối diện với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cũng là lúc mà các chủ thể (nhất là các chủ thể sản xuất - kinh doanh) phải gánh chịu những thiệt hại về uy tín doanh nghiệp cũng như danh tiếng sản phẩm, và thậm chí sản phẩm của họ còn đứng trước nguy cơ bị người dân “tẩy chay". Hơn nữa, họ còn phải mất không ít thời gian, tiền bạc khi tham gia giải quyết các tranh chấp có liên quan. Và từ những so sánh vật chất ấy, những tác động tài chính mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại mang lại đã tạo ra khả năng rất lớn trong việc răn đe, ngăn chặn các chủ thể vi phạm pháp luật môi trường và định hướng hành vi, thái độ xử của họ mang tính tích cực hơn, thân thiện hơn đối với môi trường xung quanh. 

Ba là, chế định bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường góp phần bảo đảm công bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phân phối thu nhập và phúc lợi về cơ bản được tiến hành theo năng lực thị trường với phương châm “làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Tuy nhiên, bản thân thị trường không có khả năng giải quyết bất công xã hội và những vấn đề về ô nhiễm môi trường. Vì vậy, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội cần can thiệp để điều hòa các lợi ích, giữ vững ổn định xã hội. Và chế định bồi thường thiệt hại về môi trường là một trong những công cụ quản lý nhà nước không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội. Với trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chủ thể gây thiệt hại buộc phải có nghĩa vụ bù đắp, khôi phục lại những thiệt hại đã gây ra. Điều đó có nghĩa rằng, để thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đòi hỏi chủ thể gây thiệt hại phải lấy nguồn tài chính của mình ra để bồi hoàn lại những thiệt hại mà các chủ thể bị thiệt hại phải gánh chịu. Qua đó, hoàn trả lại sự công bằng về lợi ích giữa các bên chủ thể, bảo đảm phân phối thu nhập cũng như phúc lợi một cách tương xứng trong xã hội. Mặt khác, bồi thường thiệt hại cũng bao hàm cả việc yêu cầu các chủ thể gây thiệt hại bù đắp những tổn thất mà môi trường đã bị ảnh hưởng từ hành vi xâm phạm, qua đó hoàn trả lại môi trường sống trong lành cũng như cuộc sống ấm no, ổn định cho người dân. Đây chính là sự bảo đảm công bằng trong khả năng hưởng thụ những lợi ích có được từ môi trường giữa các chủ thể trong xã hội, cụ thể là giữa người dân ở khu vực bị ô nhiễm và người dân ở khu vực có môi trường trong sạch. Ngoài ra, chế định bồi thường thiệt hại cũng tạo ra sự công bằng giữa các chủ thể sản xuất - kinh doanh trên thương trường với nhau, bởi, nó sẽ tạo ra sự cân bằng về lợi ích giữa nhóm chủ thể đã bỏ chi phí ra để thực hiện tốt các cam kết bảo vệ môi trường (như đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải...) và nhóm chủ thể thu lợi ích từ hành vi xâm phạm môi trường (thông qua việc quy định mức bồi thường luôn tương xứng với thiệt hại xảy ra", thì các chủ thể này gần như không thu được lợi ích nào từ hành vi vi phạm pháp luật môi trường). 

Cuối cùng, bồi thường thiệt hại về môi trường có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao nhận thức của công dân đối với các vấn đề môi trường. Một khi công tác giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường được thực hiện có hiệu quả, người dân sẽ có những nhận thức sâu sắc và có những cơ sở pháp lý lẫn cơ sở thực tiễn vững chắc để thực hiện yền yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường của mình hơn. Khi đó, tất yếu họ sẽ quan tâm đến chất lượng môi trường xung quanh nhiều hơn, xem môi trường mà mình đang sinh sống hiện ở trong tình trạng thế nào, có ảnh hưởng đến đời sống của mình hay không, để có những hành động bảo vệ quyền và lợi ích bản thân một cách kịp thời. Hơn thế, khi trách nhiệm bồi thường thiệt hại tác động mạnh mẽ đến khả năng tài chính của các chủ thể sản xuất kinh doanh thì lẽ dĩ nhiên, trong hoạt động của mình họ sẽ phải quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường hơn để không phải gánh chịu những chế tài nghiêm khắc cũng như tránh những thiệt hại đáng tiếc sẽ xảy ra trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình. Do đó, dù đứng ở góc độ chủ thể gây thiệt hại hay chủ thể bị thiệt hại, thì chế định bồi thường thiệt hại đều làm cho họ có sự quan tâm nhất định đến các vấn đề về môi trường trong xã hội. Để đạt được ý nghĩa trên thì một lần nữa yêu cầu công tác giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường phải được phát huy đầy đủ tác dụng và đúng bản chất của nó. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức và khả năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền.

1. Áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính 

Khảo sát thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn cho thấy hầu như các ngành, lĩnh vực, địa phương không có thống kê, báo cáo về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn rất khó khăn. Chỉ trong một số ít ngành, lĩnh vực có thống về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này. Tuy vậy, có thể rút ra một số nhận xét về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính như sau:

Một số nơi đã có tình trạng lạm dụng áp dụng biện pháp ngăn chặn, thể hiện ở việc sử dụng các biện pháp này như là biện pháp để trừng phạt người vi phạm. Điển hình là biện pháp tạm giữ phương tiện vi phạm với thời hạn dài, được áp dụng tương đối phổ biến trong lĩnh vực an toàn giao thông bởi tính hiệu quả của nó trong việc phòng ngừa vi phạm:

Bảng số liệu xử lý vi phạm hành chính của lực lượng công an trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ năm 2009-2013

Năm

Số vụ vi phạm (vụ)

Biện pháp xử lý vi phạm hành chính

Tạm giữ phương tiện vi phạm

Hình thức xử phạt

Ô tô

Mô tô

Phương tiện khác

Tổng số

Phạt tiền (tỷ đồng)

Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe

2009

5.589.635

19.950

750.436

-

785.386

1.342

180.781

2010

6.362.907

26.312

700.491

12.912

739.715

1.601

226.695

2011

6.067.554

22.204

531.132

4.063

557.399

1.689.172

230.717

2012

7.102.156

25.154

679.527

7.089

711.770

2.966.356

443.489

2013

5.656.410

24.635

635.220

11.851

671.706

2.331.012

378.439

Nguồn: Báo cáo công tác xử lý vi phạm giao thông đường bộ từ 2009 đến năm 2013 của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Bộ công an.

- Phân tích bảng số liệu trên cho thấy, tính bình quân cứ 9 vụ vi phạm giao thông có một vụ vi phạm áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện. Thực trạng này một phần xuất phát từ cách quy định mở rộng quyển “tùy nghi hành chính" trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, bỏ việc áp dụng chúng. Chính điều đó đã làm biến dạng trong nhiều trường hợp dẫn đến việc vượt quá giới hạn của phương tiện vi phạm. Điều 46 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 quy định biện pháp này được áp dụng trong trường hợp “cần để xác minh tình tiết làm căn cứ quyết định xử lý hoặc ngăn chặn ngay vi phạm hành chính". Tiếp đến, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 tại Điều 125 quy định ngoài hai trường hợp trên, còn mở rộng trường hợp áp dụng biện pháp này “ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt khi người vi phạm không có giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện (trừ trường hợp quy định tại khoản 10). Cách thức quy định trong Luật như vậy xuất phát từ mục đích tạo thuận lợi cho người quản lý khiến cho người có thẩm quyền cưỡng chế có thể thực hiện việc tạm giữ rất dễ dàng nhanh chóng mà bỏ qua việc cân nhắc “có cần thiết phải áp dụng hay không?” gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người vi phạm. Thậm chí, khi không cần thiết phải duy trì biện pháp ngăn chặn nữa, các nhà chức trách cũng không hủy mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này và cưỡng chế hành chính. 

Ở một thái cực khác, cổ những biện pháp chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn, do tâm lý e ngại phiền phức hoặc phát sinh khiếu kiện, mặc dù có đủ điều kiện và căn cứ áp dụng Ví dụ: biện pháp khám người theo thủ tục hành chính (Điều 127 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017).

Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền còn chưa tuân thủ triệt để các quy định về thủ tục, ví dụ như pháp luật quy định thời hạn tạm giữ người không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm (khoản 3 Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017), nhưng để bảo đảm thời gian tạm giữ, người có thẩm quyền đã phải cố tình “bắt người buổi sáng nhưng đến buổi chiều mới lập biên bản vi phạm"; tại nhiều địa phương, chế độ dành cho người bị tạm giữ, cơ sở vật chất (nhà tạm giữ) cho công tác tạm giữ chưa được chú trọng, quyền của người bị tạm giữ bị xâm phạm. Thực trạng này cho đến thời điểm hiện nay áp dụng các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 vẫn chưa được khắc phục. Đó chính là những biểu hiện của việc lạm dụng, vượt quá giới hạn cưỡng chế.

Thực tiễn trên cho thấy, người có thẩm quyền cưỡng chế chưa quan tâm, sử dụng biện pháp ngăn chặn, chưa phát huy được vai trò của các biện pháp cưỡng chế này trong quá trình xử lý vi phạm hành chính. Chính việc không sử dụng đồng bộ, phối hợp các biện pháp cưỡng Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các văn bản chế trong quá trình xử lý vi phạm hành chính phần nào đã làm hạn chế hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.

2. Pháp luật về các biện pháp ngăn chặn hành chính

 Các biện pháp ngăn chặn hành chính được quy định chủ yếu trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính. 

Điều 119 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 quy định các biện pháp ngăn tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng “áp giải người vi phạm" vào hệ thống các biện pháp ngăn chặn chủ yếu trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính. chặn hành chính gồm có: áp giải; tạm giữ người; tạm gia chỉ hành nghề khám người, khám phương tiện vận tải, để vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Biện pháp “buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính" (Điều 55) mặc dù không được quy định trong nhóm này, nhưng về bản chất nó là biện pháp ngăn chặn hành chính. Biện pháp quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất và biện pháp giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính cũng là biện pháp ngăn chặn hành chính, ngoài ra hai biện pháp này còn có mục đích quan trọng hơn là để bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính. 

Đối chiếu với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 cho thấy: không có sự thay đổi lớn trong các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp ngăn chặn hành chính. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017 tiếp tục ghi nhận các biện pháp ngăn chặn hành chính được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008, đồng thời bổ sung thêm biện pháp để đáp ứng yêu cầu thực tế. 

Ngoài việc được quy định trong các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, biện pháp ngăn chặn hành chính còn được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, ví dụ như biện pháp “sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ được quy định trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; biện pháp “cấm tiếp xúc" nạn nhân của bạo lực gia đình quy định tại Điều 19 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; biện pháp “quyết định hoặc kiến nghị đình chỉ, đình chỉ có thời hạn hoạt động" quy định tại khoản 16 Điều 16 Luật Công an nhân dân năm 2018; biện pháp “buộc người có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 21 Luật an ninh quốc gia năm 2004; vv.. 

Do tính chất của nhóm biện pháp cưỡng chế hành chính nên pháp luật quy định rất chặt chẽ, cụ thể về căn cứ áp dụng của từng biện pháp. Thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính này hẹp hơn rất nhiều so với thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt. Về thủ tục áp dụng, pháp luật không quy định một thủ tục chung cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, mà quy định thủ tục của từng biện pháp để phù hợp với đặc điểm của từng biện pháp và bảo đảm tính minh bạch của quy phạm. 

Về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp ngăn chặn hành chính đã bảo đảm chặt chẽ về căn cứ áp dụng, thẩm quyền và trình tự, thủ tục áp dụng. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định pháp luật cho thấy có một số hạn chế, bất cập sau: 

Một là, pháp luật hiện hành chưa có sự phân hóa cụ thể các biện pháp ngăn chặn áp dụng với các loại đối tượng đặc thù khác nhau (ví dụ như biện pháp ngăn chặn đặc thù áp dụng cho người chưa thành niên). Hiện mới chỉ có một số quy định mang tính chất đơn lẻ trong một số giai đoạn nhất định của thủ tục áp dụng như: quy định về việc bắt buộc phải báo cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên khi quyết định tạm giữ họ vào ban đêm hoặc giữ trên sáu giờ – khoản 4 Điều 122 Luật xử lý vi phạm, hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017); chưa phân định rõ biện pháp nào áp dụng đối với phạm hành chính, biện pháp nào áp dụng đối với quá trình xem xét áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính (đặc biệt là những biện pháp hạn chế, tước quyền tự do của đối tượng vi phạm). Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền của người chưa thành niên đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em. 

Hai là, các biện pháp ngăn chặn hành chính của Việt Nam còn chưa đầy đủ. Trong thực tiễn quản lý nhà nước, cần phải áp dụng nhiều biện pháp ngăn chặn cần thiết như: cấm điều khiển phương tiện giao thông; cấm lưu hành; kê biên, niêm phong hàng hóa, đồ vật. Đối với biện pháp buộc đình chỉ hành vi vi phạm được quy định là một thủ tục bắt buộc trong xử phạt vi phạm hành chính, nhưng chưa được ghi nhận với tư cách là một biện pháp ngăn chặn hành chính.

Ba là, việc quy định biện pháp ngăn chặn hành chính còn chưa phù hợp với thực tế, một số biện pháp không mang tính khả thi. 

Ví dụ, biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình quy định tại Điều 19 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2008 nhằm mục đích ngăn chặn và phòng ngừa hành vi bạo lực tiếp tục xảy ra sau khi nạn nhân yêu cầu chính quyền can thiệp. Tuy nhiên, biện pháp này khó thực hiện trên thực tế trong điều kiện cơ sở vật chất Việt Nam (thiếu “nhà tạm lánh", hầu hết các gia đình chỉ có một nhà) và thiếu lực lượng giám sát để thi hành quyết định cấm tiếp xúc tại nơi nạn nhân sinh sống khí người có hành vi bạo lực gia đình không bị hạn chế quyền tự do đi lại

Ngoài ra, khảo sát các quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn hành chính còn cho thấy một số bất cập khác, ví dụ: thủ tục áp dụng biện pháp còn phức tạp (như quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi tiến hành – khoản 2 Điều 129 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2017); thẩm quyền áp dụng biện pháp còn hạn chế; cơ chế bảo đảm cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn chưa được quy định (như việc áp giải đối tượng vi phạm, việc sử dụng công cụ hỗ trợ...)

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tư pháp; Báo cáo kết tình hình thực hiện 8 năm Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành, 2010

2. Phan Thị Lan Hương: “Tính hợp lý và khả thi của một số biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình", Tạp chí Luật học, số tháng 2/2009.

3. Bộ Tư pháp: Báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội, 2011

1. Sự vận động của cấu trúc an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương trước năm 2010

1.1 Giai đoạn Chiến tranh lạnh 

Cấu trúc an ninh khu vực trong hai thập niên đầu của Chiến tranh lạnh được định hình bởi hai tập hợp lực lượng đối lập giữa một bên là Mỹ và các nước đồng minh, còn một bên là Liên Xô, Trung Quốc và các nước đang tiến hành cuộc chiến tranh chống xâm lược của Mỹ và một số nước phương Tây. 

Để thực hiện chính sách chống chủ nghĩa cộng sản, Mỹ đã thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) và ủng hộ, viện trợ tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trong khu vực có xu hướng “chống cộng”. “Viện trợ và nhận viện trợ” là một đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa Mỹ và các đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Philippin trong giai đoạn này. Thông qua viện trợ, Mỹ từng bước tạo ra sự phụ thuộc chặt chẽ để chi phối, lôi kéo các nước này tạo thế” cân bằng quyền lực” cho Mỹ tại khu vực. 

Chuyển sang giai đoạn cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, cấu trúc an ninh khu vực lại có sự thay đổi khi Trung Quốc theo đuổi chính sách vừa chống Mỹ, vừa chống Liên Xô do sự rạn nứt nghiêm trọng trong quan hệ Xô - Trung mà đỉnh điểm là xung đột quân sự tại biên giới giữa hai nước. Bối cảnh đó đã khiến các quốc gia nhỏ và vừa trong khu vực Đông Nam Á xích lại gần nhau, tìm kiếm hợp tác để tránh bị lôi kéo, phụ thuộc vào quan hệ đối đầu và thỏa hiệp của các nước lớn. Sự ra đời của ASEAN với 5 thành viên ban đầu là Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan và Xingapo là một dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của cấu trúc an ninh khu vực giai đoạn này. Với Tuyên bố về Khu vực Hòa binh, Tự do và Trung lập (ZOPFAN, 1971) và Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC, 1976), ASEAN đã chính thức xác lập vị thế trung lập, thân thiện nhưng không liên kết quân sự, vì hòa bình và ổn định khu vực. 

Tuy nhiên, sự thay đổi trong quan hệ “tam giác” Mỹ - Trung Xô ở những năm cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 theo hướng Mỹ - Trung liên kết chống Liên Xô đã tạo ra những chuyển biến lớn trong cấu trúc an ninh khu vực. Các quốc gia ở Đông Nam Á bị chia rẽ thành hai phía giữa một bên là ba quốc gia trên bán đảo Đông Dương và một bên các thành viên ASEAN đang nghiêng dần về Mỹ và phương Tây. Một số cuộc xung đột vũ trang cục bộ đã xảy ra, gây bất ổn cho khu vực. 

Đánh giá về cấu trúc an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn Chiến tranh lạnh, nhiều học giả cho rằng cấu trúc an ninh khu vực chuyển dịch theo sự điều chỉnh của mối quan hệ “tam giác” Mỹ - Trung - Xô, trong đó phần lớn thời gian Trung Quốc đóng vai trò như một “con lắc” dao động giữa hai cực Mỹ và Liên Xô, lợi dụng xung đột giữa hai siêu cường này để đạt mục tiêu phát triển và tạo dựng vị trí của mình trong trật tự thế giới và khu vực. 

1.2 Giai đoạn từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc đến trước năm 2010 

Cấu trúc an ninh khu vực giai đoạn này đặc trưng bởi bốn yếu tố quan trọng là vị trí lãnh đạo và siêu cường số một của Mỹ tại khu vực; sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc; vai trò gia tăng của ASEAN và sự phát triển mạnh mẽ của các thể chế đa phương trong khu vực. 

Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ và Liên Xô tan rã đã đưa Mỹ lên vị trí siêu cường số một thế giới, cho phép nước này trở thành nhân tố lãnh đạo và dẫn dắt các cơ chế hợp tác về an ninh chính trị, quân sự ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó chủ yếu là hợp tác song phương. Bên cạnh củng cố quan hệ chặt chẽ với các đồng minh truyền thống là Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Philippin và Thái Lan, Mỹ quan tâm tìm kiếm và mở rộng quan hệ hợp tác an ninh, quân sự với các đối tác tiềm năng ở khu vực như Xingapo, Inđônêxia, Malaixia, Ấn Độ để mở rộng ảnh hưởng trong khu vực. 

Bên cạnh yếu tố Mỹ, sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc cũng tác động mạnh đến sự thay đổi trong cấu trúc an ninh khu vực ở giai đoạn này. Trung Quốc bắt đầu thiết lập ảnh hưởng của mình trong khu vực thông qua đẩy mạnh hợp tác an ninh với các quốc gia xung quanh; tham gia các diễn đàn chính trị, kinh tế, an ninh khu vực, tham gia “làm dịu” tình hình ở bản đảo Triều Tiên, bình thường hóa và tăng cường quan hệ với các nước láng giêng là đối tác đối thoại với ASEAN, tham gia Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác” ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc bắt đầu nổi lên như một nhân tố có khả năng cạnh tranh trực tiếp với vai trò chủ chốt của Mỹ trong cấu trúc an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Trong cục diện đó, ASEAN đã tiến hành các hoạt động để khẳng định vị trí của mình trong tham gia định hình cấu trúc an ninh khu vực. Năm 1999, ASEAN thực hiện thành công ý tưởng xây dựng một ASEAN gồm đủ 10 quốc gia Đông Nam Á. Bên cạnh tăng cường mối liên kết nội khối ASEAN đã chủ động thúc đẩy các tiến trình đối thoại đa phương ở khu vực về hợp tác an ninh - chính trị với các ý tưởng về những khuôn khổ hợp tác đa dạng cung như thiết lập quan hệ tham vấn với một loạt tổ chức quốc tế và khu vực. 

Với vai trò tích cực của ASEAN, cấu trúc an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn này đã xuất hiện một loạt cơ chế hợp tác đa phương về an ninh, quân sự như Hợp tác ASEAN và từng bên đối thoại (ASEAN + 1), Hợp tác ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN + 3), ARE ADMM... kèm theo đó là các công cụ pháp lý như Tuyên bố ASEAN về Biển Đông (Tuyên bố Manila) (1992), Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) (1995), Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) (2002)... Các diễn đàn hợp tác này đã trở thành “sân chơi” chung thu hút sự tham gia của các nước lớn trong khu vực, có tác dụng điều hòa lợi ích và sự cạnh tranh giữa các bên tham gia. 

2. Đặc điểm cấu trúc an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương

2.1 Cấu trúc an ninh khu vực được hình thành và vận động trên cơ sở cân bằng quyền lực 

Trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, cấu trúc an ninh khu vực chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc cạnh tranh quyền lực Mỹ - Xô với hệ thống đồng minh và tập hợp lực lượng của mỗi bên. Trung Quốc chuyển động giữa hai cực, tận dụng mọi cơ hội để phát triển đồng thời khẳng định vai trò của mình trong trật tự khu vực. Tuy nhiên, với mạng lưới đồng minh thân thiết, chặt chẽ và ổn định theo mô hình “Trục và Nan hoa”, Mỹ chiếm ưu thế về tương quan lực lượng và ảnh hưởng so với Liên Xô tại châu Á - Thái Bình Dương và trở thành nhân tố chi phối sự vận động của cấu trúc an ninh khu vực.

Giai đoạn từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2010, vai trò chủ chốt, chi phối của Mỹ đối với cấu trúc an ninh khu vực được củng cố hơn khi Mỹ là siêu cường duy nhất trên thế giới. Cấu trúc “Trục và Nan hoa” vẫn tiếp tục được duy trì và nâng tầm theo hướng vừa củng cố quan hệ giữa “trục” và “các nan hoa” truyền thống, vừa tăng cường quan hệ giữa các “nan hoa” với nhau hoặc mở rộng quan hệ giữa “nan hoa” và các đối tác phù hợp trong khu vực để tạo nên mạng lưới an ninh rộng lớn xoay xung quanh “trục” Mỹ. 

Xuyên suốt trong giai đoạn này, Mỹ vẫn duy trì vị trí lãnh đạo chi phối, tuy nhiên Trung Quốc đang ngày càng nổi lên như một nhân tố thực sự quan trọng, tạo ra sự thay đổi tích cực trong cấu trúc an ninh khu vực. Trong khi thế và lực của Mỹ bị ảnh hưởng đáng kể do bị sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố tại Irắc và  Apganistan và tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu 2008 - 2009, kinh tế Trung Quốc năm 2010 tăng trưởng 10,3 % đạt mức 39,8 nghìn tỉ NDT, tương đương 6,04 nghìn tỉ USD, vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. 

Sự gia tăng quốc lực của Trung Quốc, đặc biệt sức mạnh kinh tế, đã đem đến cho Trung Quốc vị thế mới trong khu vực. Mặc dù chưa thể thay thế được vị trí lãnh đạo của Mỹ nhưng Trung Quốc đã thể hiện vai trò “nước lớn có trách nhiệm” với các nước Đông Nam Á, nhất là trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1998 - 1999; tham gia thiết kế “luật chơi” và trật tự khu vực, tạo nên một môi trường an ninh mới trong đó vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng lớn hơn. Cấu trúc an ninh khu vực chịu tác động của mối quan hệ giữa một siêu cường tại vị và một cường quốc vươn lên tranh chấp địa vị siêu cường. Hợp tác đi đôi với đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau là đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này, tuy nhiên mặt hợp tác nổi trội hơn do Trung Quốc chưa đủ sức đe dọa vị trí số một của Mỹ. 

2.2 Cơ chế hợp tác đa phương phát triển hơn, ASEAN xác lập vị trí quan trọng hơn trong cấu trúc an ninh khu vực

 Bên cạnh các cơ chế hợp tác song phương, cấu trúc an ninh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn trước năm 2010 còn được định hình bởi hệ thống các cơ chế đa phương ngày càng phát triển và mở rộng dưới sự dẫn dắt của nhiều chủ thể khác nhau như các cơ chế tập trận chung Vành đại Thái Bình Dương (RIMPAC) do Mỹ khởi xướng năm 1971, Malabar (Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ) bắt đầu từ năm 1992, cơ chế đối thoại an ninh bốn nước Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ - Ôxtrâylia ( 2007), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) thành lập năm 2001 theo sáng kiến của Trung Quốc, Diễn đàn đảo Thái Bình Dương (PIF - 1971) hay Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC, 1985) do các nước vừa và nhỏ khởi xướng. Đặc biệt, các Cơ chế do ASEAN thiết lập hoặc dẫn dắt như Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM, 1996), ASEAN + 3 (2000), EAS (2005), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM - 2006) ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn. 

Các cơ chế an ninh đa phương do ASEAN dẫn dắt đã thu hút sự tham gia của nhiều nước lớn trong khu vực, từ đó phát huy vai trò trong việc duy trì ổn định của khu vực, giảm bớt các nguy cơ xảy ra xung đột tại các điểm nóng”. Những cơ chế này hoạt động chủ yếu dựa trên nguyên tắc tự nguyện, không ràng buộc và khu vực chưa có được một cơ chế bao trùm mang tính ràng buộc cao để xử lý các thách thức an ninh nổi lên 


Trong bối cảnh tương quan lực lượng Mỹ - Trung thay đổi, ASEAN có cơ hội để xác lập vai trò lớn hơn trong cấu trúc an ninh khu vực thông qua các khuôn khổ, diễn đàn, cơ chế do ASEAN khởi xướng và chủ trì. Theo nhà nghiên cứu See Seng Tan của Trường Đại học Công nghệ Nam Dương (Xingapo), ASEAN có cơ hội để xác lập vai trò trung tâm tại khu vực thể hiện qua các nội dung: (i) giữ vị trí lãnh đạo ở Đông Á, dẫn dắt việc hình thành và vận động của các cơ chế khu vực; (ii) tạo diễn đàn trao đổi, hợp tác của các nước trong khu vực; (iii) đầu mối kết nối chính trong cấu trúc khu vực giữa tất cả các bên vì lợi ích của cả ASEAN và khu vực

Tuy nhiên, thực tế đến thời điểm 2010, vai trò trung tâm của ASEAN với tư cách là yếu tố trung gian cân bằng giữa các nước lớn, bảo đảm hòa bình, an ninh trong khu vực vẫn còn hạn chế do tác động của nhiều khó khăn, thách thức như sự chia rẽ, thiếu thống nhất nội khối; các mối đe dọa an ninh nổi lên ở khu vực hay sự lôi kéo, gây sức ép của các nước lớn trong khi lại không có nhiều thay đổi tích cực trong cách làm việc và cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề mới nảy sinh.

2.3 Sự phân bố lực lượng trong cấu trúc an ninh khu vực từng bước hình thành tầng nấc 

Mỹ và Trung Quốc là hai siêu cường giữ vị trí đứng đầu trong tương quan lực lượng tại khu vực, là hai chủ thể chi phối cấu trúc an ninh khu vực, trong đó Mỹ chiếm ưu thế. Tiếp theo là các quốc gia lớn khác gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ và Ôxtrâylia, phần lớn là đồng minh của Mỹ nhưng do có mối quan hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với Trung Quốc nên đóng vai trò là nhân tố trung gian, cân bằng trong tương quan Mỹ - Trung. Hầu hết các nước đều theo đuổi chính sách thực dụng do đều có chung lo ngại trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại khu vực. 

ASEAN trở thành nhân tố quan trọng hơn, từng bước phát huy vai trò trung gian điều phối quan hệ giữa các nước lớn, tạo ra các diễn đàn thu hút nước lớn tham gia nhằm duy trì và bảo vệ hòa bình, ổn định tại khu vực. Trong ASEAN, Inđônêxia là quốc gia có ảnh hưởng nhất không chỉ trong khuôn khổ ASEAN mà cả trong quan hệ với các nước lớn. Các thành viên còn lại, do vị thế và điều kiện hạn chế, chú trọng phát triển kinh tế và tăng cường liên kết khu vực để tự bảo vệ. Các liên kết và diễn đàn hợp tác chính trị - an ninh trong khu vực gồm các cơ chế, diễn đàn do ASEAN dẫn dắt và các cơ chế, diễn đàn ASEAN tham gia đều tác động đến các chủ thể tham gia cấu trúc ở những mức độ khác nhau. 

Tài liệu tham khảo

1. See Seng Tan: “Rethinking” ASEAN Centrality in the Regional Governance of East Asia, The Singapore Economic Review 62, No.3, 2016

Hiện nay, nhằm ứng phó một loại tội phạm phi truyền thống - tội phạm xuyên quốc gia (như tội khủng bố, tội mua bán người, tội phạm về ma túy...) giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã có nhiều hoạt động để đối phó hiệu quả vấn đề này. Thực trạng khu vực Đông Nam Á, chưa tính đến sự gắn kết của cộng đồng ASEAN, vốn đã có điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi cho sự bùng phát các loại tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia - tội phạm phi truyền thống. 

Về tự nhiên, Đông Nam Á nằm ở phía Đông Nam châu Á, nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có vị trí cầu nối giữa lục địa Á - Âu với lục địa Ôxtrâylia. Địa hình Đông Nam Á bao gồm một hệ thống các bán đảo, đảo và quần đảo đan xen giữa các biển và vịnh biển rất phức tạp. Chính vị trí “ngã tư đường của thế giới đã khiến Đông Nam Á sớm trở thành cửa ngõ mậu dịch quốc tế, nối liền hai thế giới Đông - Tây. Lợi thế giao thương, nhất là giao thường đường biển của Đông Nam Á đồng thời cũng khiến khu vực này trở thành tâm điểm của nạn buôn lậu và buôn bán người. Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển nhanh khiến cho luồng tài chính, nguồn lao động luân chuyển bên trong và ra, vào khu vực không ngừng gia tăng. Thêm vào đó, năng lực quản lý hạn chế của chính quyền các quốc gia Đông Nam Á là điều kiện thuận lợi cho gian lận thương mại quốc tế, hoạt động rửa tiền, buôn bán người... Do đó, cùng với sự phát triển về khoa học - công nghệ, giao thông vận tải trên toàn thế giới, tính chất xuyên quốc gia, phi truyền thống của các loại tội phạm trong khu vực càng gia tăng. 

Cùng với các điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực như trên, việc thành lập, củng cố mối liên kết cộng đồng ASEAN đã khiến cho tội phạm xuyên quốc gia trở thành một thách thức lớn đối với Đông Nam Á. ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập ngày 08/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng Cốc với mục tiêu tổng quát là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài. Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội, trong đó cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; từ đó nâng cao tính cạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn với đầu tư - kinh doanh từ bên ngoài. Việc tăng cường liên kết cộng đồng ASEAN với các mục tiêu kinh tế, giúp cho việc đi lại, vận chuyển, giao dịch thương mại điện tử, luân chuyển tài chính giữa các quốc gia Đông Nam Á và từ Đông Nam Á ra thế giới ngày càng gia tăng và trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn. Đó cũng là điều kiện tốt để thực hiện các hành vi phạm tội xuyên quốc gia, làm gia tăng phạm vi ảnh hưởng của các loại tội phạm này. Vì vậy, đồng thời với việc hưởng các lợi ích từ liên kết cộng đồng ASEAN thì các quốc gia trong khu vực cũng phải đối mặt với nguy cơ bùng phát tội phạm xuyên quốc gia. Do đó, chỉ ít năm sau khi được thành lập, ASEAN đã xác định đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia là một trong những trọng tâm hợp tác. Năm 1997, ASEAN chính thức thiết lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng về hợp tác trong lĩnh vực này. Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về tội phạm xuyên quốc gia lần thứ nhất (1st AMMTC) họp vào tháng 12/1997 tại Manila (Philippin) đã ra Tuyên bố ASEAN về chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó nhấn mạnh quyết tâm chính trị của ASEAN đấu tranh chống loại tội phạm này. Vì vậy, để hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia - một trong các tội phạm phi truyền thống, ASEAN đã xây dựng và thông qua Kế hoạch hành động ASEAN về đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia năm 1999 cùng Kế hoạch công tác để triển khai cụ thể năm 2002.

Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc hoàn thiện khung pháp lý về chống buôn lậu do tổ chức, cá nhân, pháp nhân thực hiện đã được thể hiện cụ thể trong Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 và tiếp tục hoàn thiện trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các tội buôn lậu.

Trong 6 năm (từ năm 2012 đến năm 2017), quy định về tội buôn lậu ở Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã được áp dụng xử lý hình sự đối với 1.059 bị cáo trong 573 vụ buôn lậu như sau: 

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội buôn lậu (Điều 153 Bộ luật Hình sự)

Năm

2012   

2013

2014

2015

2016

2017

Tổng cộng

Số vụ

79

97  

97 

101

106 

93

573 

Số bị cáo

147 

183 

180 

190 

211 

148 

1.059

Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

 

Tuy nhiên, số vụ việc xử lý về hình sự cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với thực tế diễn biến của hành vi buôn lậu. Đơn cử, theo thống kê năm 2014, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 9.683 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới với 8.599 đối tượng. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2015, số vụ việc bị phát hiện, xử lý đã lên tới 9.670 vụ, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước. Số vụ việc bị xử lý về hình sự chiếm tỷ lệ nhỏ so với thực tế hành vi buôn lậu xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là định lượng trong quy định về tội buôn lậu của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Theo quy định tại Điều 153, hàng buôn lậu phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên hoặc thấp hơn giá trị đó nhưng người vi phạm phải từng bị xử phạt hành chính hoặc có tiền án về một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế thì mới cấu thành tội phạm, song mức độ răn đe vẫn chưa cao. 

Tuy nhiên, đối với quy định về điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại cần bảo đảm tính hợp lý và lôgíc, cũng như cần bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với một số tội phạm khác. Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra các điều kiện để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;. (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do đây là bốn điều kiện độc lập và phải có tổng đủ các điều kiện này mới truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Song, trong các điều kiện trên, điều kiện thứ nhất (hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại) và điều kiện thứ ba (hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại) dường như chưa độc lập với nhau vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại thì không thể lại có trường hợp không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân thương mại và ngược lại, nếu đã có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận của pháp nhân thương mại thì chính là đã nhận danh pháp nhân rồi. Do đó, nên ghép hai điều kiện này vào thành một điều kiện chung. Ngoài ra, cũng có quan điểm lập luận cho rằng, điều kiện thứ ba này chỉ là điều kiện bổ sung và chỉ đặt ra trong trường hợp người thực hiện tội phạm (nhân danh pháp nhân thương mại và vì lợi ích của pháp nhân thương mại) còn có cấp trên có quyền chỉ đạo, điều hành họ thực hiện hoặc chấp thuận cho họ thực hiện. Ví dụ: Hội đồng quản trị của các công ty cổ phần hay hội đồng thành viên của các công ty trách nhiệm hữu hạn là cơ quan cấp trên của tổng giám đốc; .v.v...

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định rõ ràng phạm vi 33 tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 76). Tuy nhiên, để chủ động ứng phó, đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cũng như bảo vệ an ninh môi trường tránh thảm họa cho con người, cũng như bảo đảm an toàn cá nhân, tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng - bất kỳ ai trong xã hội, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và xử lý pháp nhân thương mại cùng với cá nhân). 

Tại Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sửa đổi, bổ sung về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhấn thương mại như sau”

“1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây: 

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại hay được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại 

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; 

c) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự…”.

Trong những năm qua, cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện, kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ngày càng khẳng định được vị thế trên trường quốc tế. Kinh tế luôn đạt mức tăng trưởng cao, tạo nhiều thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đất nước, xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội cũng làm nảy sinh nhiều hệ lụy phức tạp đối với môi trường, đặc biệt là sự ảnh hưởng của nguồn nước sông Mê Kông đến các vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù, có nhiều nỗ lực trong việc thiết lập các cơ chế và giải pháp bảo vệ môi trường trong thời gian qua, nhưng thực trạng môi trường Việt Nam vẫn còn thách thức, đó là sự gia tăng của ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật, năng lực ứng phó sự cố còn hạn chế, biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường xuyên biên giới ngày càng lớn, phức tạp, khó lường, đặt ra các yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo vệ môi trường... Đối với nguồn nước chiến lược lâu dài là có thể cung cấp những nguồn nước sinh hoạt an toàn đã qua xử lý và cải thiện hệ thống vệ sinh. Chiến lược ngắn hạn là sử dụng những phương pháp xử lý nước đơn giản tại hộ gia đình như lọc nước, đun sôi nước bằng nhiệt lượng. Bên cạnh đó, chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức, cộng đồng có ý thức bảo vệ nguồn nước, đặc biệt là cần phải áp dụng những quy định nghiêm ngặt hơn đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm, buộc tất cả mọi doanh nghiệp - từ quy mô nhỏ đến lớn - phải đáp ứng được những tiêu chuẩn tối thiểu về nguồn nước thải trong sản suất kinh doanh, tránh ô nhiễm môi trường. Những vấn đề nêu trên tạo ra các áp lực lên môi trường nước ta. Nếu không có giải pháp cấp thiết, thỏa đáng sẽ tạo ra lực cản lớn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của đất nước. Để phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thực sự phát huy được hết vai trò của nó là một công cụ kinh tế quan trọng trong quản lý và bảo vệ môi trường, vì thế, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây: 

Thứ nhất, cần có một chính sách nhất quán, bám sát mục tiêu đặt ra nhằm cải thiện chất lượng môi trường. Sự nhất quán đó phải được thể hiện không những ở hệ thống thể chế, các quy định liên quan mà còn phải thể hiện ở các biện pháp đối xử trong quản lý. Cần kiện toàn bộ máy thu phí ở các cấp từ trung ương đến địa phương. Bộ máy quản lý nhà nước về mới trường tuy đã được tăng cường một bước, nhưng còn chưa bảo đảm yêu cầu. Nguồn nhân lực và kinh phí dành cho việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải còn thiếu. Do đó, kiện. toàn bộ máy thu phí là giải pháp không thể thiếu được trong tình hình hiện nay. 

Thứ hai, Bộ Tài nguyên và Môi trường nên phân cấp, ủy quyền thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đến cấp huyện đối với các cơ sở sản xuất nhỏ, quy mô hộ gia đình. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh cần sớm thông qua các đề án và ban hành quy chế về việc thu phí trên địa bàn. Cụ thể là đối với nước thải sinh hoạt, Hội đồng nhân dân cần ban hành nghị quyết về mức phí áp dụng trên địa bàn. Đối với nước thải công nghiệp, các Sở Tài nguyên và Môi trường cần chủ động triển khai thu phí thông qua các hoạt động kiểm tra, đôn đốc, vận động các cơ sở công nghiệp kê khai và nộp phí. Thực tế cho thấy, một số địa phương với quyết tâm và phương pháp thực hiện triệt để, sáng tạo đã đạt kết quả tốt. Các Sở Tài nguyên và Môi trường có thể vận dụng linh hoạt các cơ chế quản lý tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương mình để yêu cầu các doanh nghiệp phải nộp phí. Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nếu được thực hiện đồng bộ ở các tỉnh, thành trong cả nước sẽ bảo đảm cho hoạt động thu phí triển khai tốt. 

Bộ Tài nguyên và Môi trường nên xây dựng phần mềm quản lý việc thu nộp phí để phục vụ tốt hơn công tác thu phí. Ngoài ra, nó còn giúp cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ hơn. Phần mềm quản lý giúp cho Bộ Tài nguyên và Môi trường có thể nắm bắt thông tin về tình hình thu phí trên cả nước trong một thời gian ngắn, biết được những tỉnh nào thực hiện tốt, những tỉnh nào còn triển khai kém hiệu quả... Từ đó tìm hiểu nguyên nhân và trao đổi kinh nghiệm cho nhau để thực hiện tốt công tác thu phí. Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nên chủ trì xây dựng và cung cấp cho các Sở Tài nguyên và Môi trường ở địa phương một phần mềm quản lý các doanh nghiệp có phân chia theo mã ngành quy định chung trên toàn quốc, có kết nối với phần mềm tính toán phí sau đó in ra thông báo số phí cho từng cơ sở. 

Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cần công bố danh sách các tổ chức, phòng thí nghiệm có thẩm quyền phân tích nước thải. Hiện tại, việc chưa có danh sách các tổ chức này là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thu phí. Vì vậy, việc công bố một danh sách cụ thể những tổ chức nào được quyền phân tích nước thải khiến cho các doanh nghiệp thuận tiện hơn trong quá trình tự kê khai. Việc tổ chức cấp phép cho các trung tâm, tổ chức tư vấn có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật, thiết bị máy móc được tiến hành quan trắc chất lượng nước thải phục vụ việc thẩm định phí là rất cần thiết. Việc ban hành tạm thời định mức phát thải cho từng loại sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp với các quy mô sản xuất khác nhau để các Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương thuận tiện trong quá trình thẩm định phí cũng cần được tiến hành. Định mức này cần được xem xét, bổ sung hằng năm để ngày càng sát với thực tiễn. Cũng cần thiết phải ban hành một mức phí chung, tối thiểu cho các cơ sở công nghiệp có 1 mô nhỏ. Ngoài ra, có thể áp dụng bổ sung giải pháp cấp giấy phép xả nước thải để có thêm công cụ, phương tiện quản lý hỗ trợ cho các hoạt động thu phí.

 Thứ ba, cần xây dựng mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải phù hợp hơn. Giải pháp thu phí bảo vệ môi trường do chưa ý thức hết được tầm quan trọng của môi trường sống, chu 90 tiếr trợ cho các hoạt động thu phí. thi bie nu hg múc ne li đối với nước thải hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập về) phí, cách thu và quyền lợi của doanh nghiệp (người trả phí). Đến nay, tại phần lớn các tỉnh, thành phố chưa ban hành các hướng dẫn cụ thể thực hiện giải pháp này. Các doanh nghiệp đã đóng phí thì cho rằng họ không phải xử lý nước thải, trách nhiệm này thuộc về cơ quan thu phí. Trong khi cơ quan môi trường lại cho rằng, phí đó quá thấp, chỉ là phí quản lý, không đủ để đầu tư xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy định. Sự thiếu nhất quán trong cách hiểu và thực hiện tại nhiều địa phương đang làm giảm đáng kể hiệu quả triển khai giải pháp này. Do đó, cần phân định rõ trách nhiệm của bên đóng phí và bên thu phí, cách tính phí và thu phí theo lượng, thành phần chất thải. Không nên đánh đồng việc phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp như nhau giữa các doanh nghiệp dù tác hại, chi phí xử lý khác xa nhau. 

Thứ tư, cần phải nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và của các đối tượng nộp phí nói riêng trong việc kê khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Các doanh nghiệp trốn tránh việc kê khai, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí, không đầu tư các trang thiết bị hiện đại bảo vệ môi trường là do chưa ý thức hết được tầm quan trọng của môi trường sống, chưa thấy được tác hại khủng khiếp do môi trường bị ô nhiễm gây ra. Vì vậy, vấn đề giáo dục, nâng cao nhận thức có thể được tiến hành thông qua các biện pháp cơ bản như tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến rộng rãi các tài liệu hướng dẫn bảo vệ môi trường, xử lý nước thải, đưa nội dung về giáo dục môi trường vào các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc gia, củng cố, tăng cường năng lực cho các trường, các cơ sở đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực quản lý môi trường.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Báo cáo môi trường quốc gia giai đoạn 2011-2015, 2015

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành