Cosodulieu

Cosodulieu

Theo quy định của Bộ luật dân sự, người ký hợp đồng phải là người đại diện theo pháp luật hoặc người được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyển[1].

Việc ủy quyền có thể được thể hiện bằng các hình thức văn bản khác nhau như quyết định ủy quyền, giấy ủy quyền, biên bản ủy quyền hoặc văn bản ủy quyền khác, kể cả thể hiện thông qua việc ghi trong Điều lệ doanh nghiệp, quy chế, quy định nội bộ hay biên bản, nghị quyết họp, văn bản giao, phân công nhiệm vụ. Nếu doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, thì người ký phải phù hợp với ý chí của người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền theo quy định của Điều lệ công ty. Đồng thời hợp đồng được ký phải được cơ quan có thẩm quyền của doanh nghiệp như Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hay chủ sở hữu thông qua, nếu như phải thông qua các cơ quan này theo quy định của Luật doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty.

Nếu như hợp đồng, giao dịch được ký trước khi có văn bản, bằng chứng pháp lý thể hiện ý chí đồng ý của người đại diện theo pháp luật, tức là ký kết không đúng thẩm quyền, nhưng vẫn được thừa nhận là hợp pháp nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng, người mà theo quy định của pháp luật có thẩm quyền ký kết hợp đồng đó chấp thuận. Ở đây, việc được coi là chấp thuận khi người đó đã biết hợp đồng đã được ký kết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý thuộc một trong các trường hợp sau đây[2]:

Thứ nhất, người được đại diện đã công nhận giao dịch;

Thứ hai, sau khi hợp đồng đã được ký kết, có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người ký kết hợp đồng đã báo cáo với người có thẩm quyền biết hợp đồng đã được ký kết (việc báo cáo đó được thể hiện trong biên bản họp giao ban của Ban Giám đốc, biên bản cuộc họp của Hội đồng thành viên hay Hội đồng quản trị, có nhiều người khai thông nhất về việc báo cáo là có thật,...);

Thứ ba, người có thẩm quyến thông qua các chứng từ, tài liệu về kế toán, thông kê biết được hợp đồng đó đã được ký kết và đang được thực hiện (đã ký trên hóa đơn, phiếu xuất kho, các khoản thu, chi của việc thực hiện hợp đồng hoặc trên sổ sấch kế toán của doanh nghiệp,...);

Thứ tư, người có thẩm quyền có những hành vi chứng minh có tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng (ký các văn bản xin gia hạn thời gian thanh toán, cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, ký các văn bản duyệt thu, chi hay quyết toán đối chiếu công nợ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng,...);

Thứ năm, người có thẩm quyền đã trực tiếp sử dụng các tài sản, lợi nhuận có được do việc ký kết, thực hiện hợp đồng mà có (sử dụng xe ô tô để đi lại, để kinh doanh mà biết do việc ký kết, thực hiện hợp đồng đó mà có; sử dụng trụ sở làm việc do việc ký kết, thực hiện hợp đồng thuê tài sản,...);

Thứ sáu, người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.

Luật doanh nghiệp có một số quy định trực tiếp hoặc gián tiếp cho phép người ký các hợp đồng, giao dịch không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty mà không cần phải có sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty. Chẳng hạn như các quy định dưới đây:

Quy định về việc người quản lý doanh nghiệp bao gồm các chức danh quản trị, điều hành và “cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”[3].

Quy định về việc “người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp”[4].

Quy định về một trong các quyền và nghĩa vụ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của các công ty trách nhiệm hữu hạn là được nhân danh công ty ký kết các hợp đồng, thỏa thuận nhân danh công ty, trừ khi việc kí kết thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty[5].

Quy định về một trong các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị công ty cổ phần là ký hợp đồng lao động đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác của công ty[6]. Quy định này không chính xác ở chỗ, ký hợp đồng thì phải là Chủ tịch Hội đồng quản trị, còn Hội đồng quản trị thì chỉ có quyền thông qua, quyết định,... chứ không có quyền ký hợp đồng.

Như vậy, các quyền ký hợp đồng trong các trường hợp kể trên của người thành lập doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị là do luật định, mà không cần phải là người đại diện theo pháp luật của công ty cũng đương nhiên được quyền ký hợp đồng.

Trên thực tế cũng xảy ra một số trường hợp, một người có hai chức danh là Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc, nhưng chỉ có một chức danh gắn với vai trò là người đại diện theo pháp luật. Người này đã ký hợp đồng, nhưng lại ghi và ký, đóng dấu với chức danh Giám đốc (không phải là người đại diện theo pháp luật). Sau đó viện cớ không do người đại diện theo pháp luật ký hoặc ủy quyền.

Trường hợp trên không thể thoái thác trách nhiệm vì hai lý do. Thứ nhất, một người đồng thời đóng hai vai trò, khi ký hợp đồng thì đương nhiên phải được xác định là người đại diện theo pháp luật, không cần thiết và không thể thực hiện việc mình ủy quyền cho chính mình. Thứ hai, hoàn toàn có thể căn cứ vào nội dung phân tích nêu trên.

Thực tế cũng xảy ra nhiều Trường hợp, người ký hợp đồng không có văn bản ủy quyền riêng của người đại diện theo pháp luật, mà chỉ có biên bản, nghị quyết hoặc văn bản khác ủy quyền hoặc giao nhiệm vụ của các cơ quan của công ty như Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị.

Đối với trường hợp này, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty cũng tham gia ký nghị quyết hoặc biểu quyết đồng ý với việc phân công đó thì thực chất cũng tương đương với việc đồng ý ủy quyền của người đại diện theo pháp luật.

Nếu người đại diện theo pháp luật biết nhưng không đồng ý hoặc không có sự tham gia của người đại diện pháp luật thì coi như chưa có sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, khi đó vẫn có thể căn cứ vào nội dung phân tích tại các mục trên để khẳng định việc ký hợp đồng là hợp pháp hay không.

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng sẽ bị vô hiệu khi và chỉ khi vi phạm vào một hoặc một số trường hợp sau: Thứ nhất, chủ thể tham gia giao dịch không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Thứ hai, mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Thứ ba, người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện. Thứ tư, giao dịch không đáp ứng được về hình thức, trong Trường hợp pháp luật có quy định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch[7].

Hợp đồng có thể bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ. Vô hiệu một phần trong trường hợp khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưỏng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch[8]. Ví dụ giao dịch vô hiệu một phần trong Trường hợp lãi suất cho vay vượt quá mức 13,5% theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 hay quá mức 20% theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 hoặc mức phạt vi phạm hợp đồng vượt quá mức 8% phần giá trị bị vi phạm theo quy định của Luật thương mại năm 2005. Khi đó chỉ phần lãi phạt vượt quá mức pháp luật quy định thì mới bị vô hiệu.

Trường hợp chủ thể ký hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc giao dịch mua bán hàng hóa bị cấm giao dịch thì sẽ bị vô hiệu toàn phần. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch được tuyên là vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường[9].

Tuy nhiên, việc vồ hiệu hợp đồng chỉ xảy ra khi một trong hoặc tất cả các bên đểu có yêu cầu khi xảy ra tranh chấp và theo phán quyết của Toà án hoặc Trọng tài. Nếu không có yêu cầu và phán quyết tuyên vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên vẫn có hiệu lực pháp lý đối với các bên.

Bộ luật dân sự quy định, phụ lục hợp đồng là tài liệu kèm theo hợp đồng, để quy định chi tiết một số đỉều khoản của hợp đồng và có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng. Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi[10].

Theo như quy định trên, cần hiểu rằng, phụ lục hợp đồng là một tài liệu kèm theo ngay tại thời điểm ký hợp đồng, chứ không phải là văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng.

Trên thực tế, đang phổ biến hai Trường hợp. Thứ nhất, phụ lục là một bộ phận kèm theo hợp đồng ngay tại thời điểm ký đúng như quy định của Bộ luật dân sự. Thứ hai, phụ lục là văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng, giống với quy định của Bộ luật lao động. Trường hợp thứ nhất thường được gọi là văn bản hay biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Trong trường hợp thứ hai thì nội dung của phụ lục gần như luôn luôn trái với hợp đồng, vì đó chính là lý do phải sửa đổi, bổ sung.

 


[1] Khoản 3 Điều 86 về “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân” và Điều 91 về “Đại diện của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 85 về “Đại diện của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Tham khảo nội dung quy định tại khoản 1 Mục I Nghị quyết s 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27-5-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế”; Điều 154 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện, Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 145 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 142 về hậu quả của giao dịch dân sự do ngưòi không có quyền đại diện xác lập, thực hiện, Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Khoản 18 Điểu 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4] Khoản 1 Điều 19 về “Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[5] Điểm e khoản 2 Điều 64 về “Giám đốc, Tổng giám đốc”; điểm e khoản 2 Điều 81 về “Giám đổc, Tổng giám đốc”; điểm đ khoản 2 Điều 99 “Giám đốc, Tổng giám đốc”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[6] Điểm i khoản 2 Điều 149 về “Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

409

[7] Điều 117 về “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự”, Điều 122 về “Giao dịch dân sự vô hiệu”, Điều 407 về “Hợp đồng vô hiệu”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[8] Điều 130 về ’’Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[9] Điều 137 vể “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, Bộ luật dân sự năm 2005; Điểu 131 về “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[10] Điều 410 về “Phụ lục hợp đồng”, Bộ luật dân sự năm 2005; Điểu 403 về “Phụ lục hợp đồng”, Bộ luật dân sự năm 2015.

1. Ban kiểm soát trong công ty

Theo quy định tại Điểu 55 và khoản 1 Điều 134 về Luật doanh nghiệp năm 2014 thì công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có từ 11 thành viên trở lên và công ty cổ phần có từ 11 cổ đông trỏ lên hoặc có dưới 11 cổ đông, nhưng các cổ đông là tổ chức sở hữu từ 50% tổng số cổ phần của công ty trở lên thì phải thành lập Ban kiểm soát; Trường hợp công ty TNHH có ít hơn 11 thành viên hoặc çông ty cổ phần có dưới 11 cổ đồng và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưói 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Việc thành lập Ban kiểm soát trong Trường hợp này do công ty tự quyết định phù hợp với yêu cầu quản trị công ty.

Ban kiểm soát giám sát các hoạt động quản lý và điều hành của các cơ quan quản trị điều hành công ty; kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điểu hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính. Ban kiểm soát các loại hình công ty khác nhau cũng có các quyền và nghĩa vụ khác nhau[1].

Luật doanh nghiệp năm 2014 không quy định về Ban kiểm soát đối với ba loại hình doanh nghiệp là: Công ty TNHH một thành viên chủ sở hữu là cá nhân, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Như vậy, với quy định bắt buộc phải có Ban kiểm soát như đã nêu trên, thì đa số các công ty cổ phần hiện nay là không bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Ngay đối với trường hợp công ty cổ phần phải có Ban kiểm soát, nếu như Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định duy nhất một mô hình là Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi nhiệm, thì Luật doanh nghiệp năm 2014 cho phép doanh nghiệp lựa chọn một trong hai mô hình khác nhau, có và không có Ban kiểm soát.

Mô hình thứ nhất, bắt buộc phải có Ban kiểm soát thuộc Đại hội đồng cổ đông giông như quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005.

Mô hình thứ hai, không bắt buộc phải có Ban kiểm soát thuộc Đại hội đồng cổ đông. Cơ chế Ban kiểm soát được thay thế bằng quy định thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Trong trường hợp này, các thành viên độc lập Hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty[2].

Đối với Trường hợp có Ban kiểm soát thì “Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ Trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn” (Khoản 2 Điều 163 Luật doanh nghiệp năm 2014).

Trưởng Ban kiểm soát của doanh nghiệp nhà nước phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc liên quan đến chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh được đào tạo; không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác; không được đồng thời là Kiểm soát viên, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước[3].

Việc quy định đỉều kiện của Trưỏng Ban kiểm soát đối với cồng ty nhà nước hoặc công ty đại chúng thì còn có sự hợp lý nhất định. Nhưng việc quy định hai điều kiện này đối với Trưỏng Ban kiểm soát của tất cả các công ty cổ phần là không hợp lý và không cần thiết. Quy định này không có trong Luật doanh nghiệp năm 1999 và năm 2005.

Về điều kiện chuyên môn “là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp” thì buộc Trưởng Ban kiểm soát phải bảo đảm điều kiện tối thiểu theo đúng câu chữ luật định. Còn đối với yêu cầu “làm việc chuyên trách” thì không có nghĩa là phải làm việc 8 tiếng mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần… Hơn thế nữa, trong Trường hợp này, Trưởng Ban kiểm soát làm việc cho công ty với tư cách như một người lao động, mà Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) cho phép người lao động được làm việc đồng thời cho nhiều doanh nghiệp, miễn là “bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết”[4].

Trong Trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Kế toán trưởng trong công ty

Tất cả các doanh nghiệp (gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), trừ doanh nghiệp siêu nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế; chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, đều phải có kế toán trưởng. Trường hợp chưa bổ nhiệm được ngay kế toán trưỏng thì phải bố trí người phụ trách kế toán hoặc thuê dịch vụ làm kế toán trưởng. Thời gian bố trí người phụ trách kế toán tối đa là 12 tháng, sau thời gian này doanh nghiệp phải bố trí người làm kế toán trưởng[5].

Riêng các doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được bố trí phụ trách kế toán mà không bắt buộc phải bố trí kế toán trưởng[6].

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định kế toán trưỏng có phải là người quản lý công ty hay không là theo quy định của Điều lệ công ty[7]. Riêng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định, kế toán trưởng là người điều hành tổ chức tín dụng[8].

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định, việc miễn nhiệm, cách chức Kế toán trưởng do Điểu lệ công ty quy định[9]. Quy định này có thể hiểu theo hai cách khác nhau. Thứ nhất, các trường hợp và thẩm quyền miễn nhiệm, cách chức Kế toán trưỏng phải được quy định cụ thể trong Điều lệ công ty giống như đốỉ với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Thứ hai, việc miễn nhiệm, cách chức Kế toán trưỏng cũng như các chức danh quản lý khác chỉ cần Điều lệ chỉ ra là thuộc thẩm quyền của cơ quan, chức danh nào trong công ty. Ở đây có thể thấy rằng hiểu theo cách thứ hai là hợp lý hơn.

Việc thay đổi Kế toán trưởng, trưỏng phòng tài chính kế toán của doanh nghiệp nhà nước thì phải công bố trên trang thông tin điện tử và ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính và địa điểm kinh doanh của công ty trong thời hạn 36 giờ[10].

Kế toán trưởng phải ký tên trong các văn bản tài liệu như Sổ kế toán, Báo cáo tài chính của công ty.

Kế toán trưỏng có quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán; có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán trong doanh nghiệp. Kế toán trưởng của doanh nghiệp nhà nước còn có thêm nhiệm vụ giúp người đại diện theo pháp luật của công ty giám sát tài chính tại công ty.

Kế toán trưởng là người đứng đầu bộ máy kế toán của doanh nghiệp và chịu sự lãnh đạo của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; trường hợp có đơn vị kế toán cấp trên thì đồng thời chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của kế toán trưởng cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ[11].

Vì vậy, ở một số công ty, Kế toán trưởng có thể kiêm hoặc không kiêm nhiệm Trưỏng phòng kế toán.

Bên cạnh đó, Luật kế toán năm 2015 quy định một trong các trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là bố trí người làm kế toán trưởng hoặc quyết định thuê dịch vụ làm kế toán trưỏng[12]. Trong khi đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng như năm 2014 lại quy định một trong các trách nhiệm Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên là “quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với kế toán trưởng[13].

Như vậy, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty không biểu quyết thông qua việc bổ nhiệm hoặc thuê người làm kế toán trưởng, thì việc quyết định của Hội đồng thành viên là trái với Luật kế toán năm 2015. Ngược lại, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty thực hiện việc bổ nhiệm Kế toán trưởng mà không thông qua Hội đồng thành viên thì trái với Luật doanh nghiệp năm 2014. Ngoài ra, đối với những công ty có từ hai người đại diện theo pháp luật trở lên, thì người nào hay tất cả cùng có thẩm quyền bổ nhiệm hay tham gia bổ nhiệm kế toán trưởng? Nếu Điều lệ công ty không quy định rõ điểu này, thì lại thêm một vướng mắc khi phải thực hiện theo Luật kế toán. Việc bố trí nhân sự theo quy định của Luật kế toán cũng như Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) chỉ là một khái niệm khái quát, trên thực tế phải được thực hiện bằng các thủ tục pháp lý cụ thể như bổ nhiệm, ký hợp đồng, ủy quyền, giao nhiệm vụ.

Vì vậy, để bảo đảm tuân thủ đúng quy định của cả hai đạo luật về việc “bố trí” và “bổ nhiệm” kế toán trưởng thì cần thực hiện theo một trong hai cách. Thứ nhâ't, quyết định bổ nhiệm kế toán trưỏng của người đại diện theo pháp luật công ty phải căn cứ vào nghị quyết bổ nhiệm của Hội đồng thành viên. Thứ hai, Hội đồng thành viên có thể bổ nhiệm kế toán trưdng, nếu người đại diện theo pháp luật cũng là một thành viên biểu quyết tán thành với việc bổ nhiệm. Đối với công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, nếu Điều lệ không quy định cụ thể người nào có thẩm quyền liên quan đến việc bổ nhiệm Kế toán trưởng, thì nên để cho tất cả đều tham gia và giao cho một người ký quyết định bổ nhiệm.

 


[1] Điều 82 về “Kiểm soát viên”, Điều 102 vể “Ban kiểm soát”, Điều 104 vế “Quyển của Ban kiểm soát và Kiểm soát viền”, Điều 163 về “Ban kiểm soát” và Điều 165 về “Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Khoản 1 Điều 134 về “Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cể phần”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[3] Điều 103 về "Tiêu chuẩn và điều kiện đối với Kiểm soát viên”, Luật doanh nghiệp nảm 2014.

[4] Điều 21 về “Giao kết hợp đồng lao động với nhiều ngưòi sử dụng lao động”, Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tấ tụng dân sự năm 2015).

[5] Điều 49 về “Tổ chức bộ máy kế toán”, Luật kế toán năm 2015; khoản 1 Điều 20 về “Kế toán trưởng, phụ trách kế toán”, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30-12-2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật kế toán”.

[6] Điểm b khoản 2 Điều 20 về “Kế toán trưởng, phụ trách kế toán”, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30-12-2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật kế toán”.

[7] Khoản 3 Điều 56 về “Hội đồng thành viên”; Điều 101 về “Miễn nhiệm, cách chức đối với Giám đốc, Tổng giám đốc và ngưòi quản lý công ty khác”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[8] Khoản 32 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[9] Khoản 3 Điều 101 vể “Miễn nhiệm, cách chức đối với Giám đốc, Tổng giám đốc và ngưòi quản lý công ty khác”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[10] Khoản 1 Điều 109 về “Công bố thông tin bất thưòng”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[11] Khoản 3 Điều 53 về “Kế toán trưỏng”, Luật kế toán năm 2015.

[12] Khoản 2 Điều 50 về “Trách nhiệm của ngưòi đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán”, Luật kế toán năm 2015.

[13] Điểm đ khoản 2 Điều 56 về “Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

  1. Hội đồng thành viên, cùng tên gọi, khác bản chất

Luật doanh nghiệp năm 2014 chia thành hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, với chủ sở hữu là cá nhân và tổ chức. Đúng bản chất, thì phải gọi pháp nhân là chủ sở hữu, vì không có tổ chức nào không phải là pháp nhân được phép thành lập công ty. Chẳng hạn doanh nghiệp tư nhân, là một tổ chức kinh tế, nhưng không thể tham gia thành lập doanh nghiệp. Trong trường hợp này, chỉ chủ doanh nghiệp tư nhân mới có thể thành lập hoặc tham gia thành lập công ty. Thậm chí công ty hợp danh là một pháp nhân, nhưng cũng không được phép thành lập công ty, mà chỉ thành viên công ty mới có quyền tham gia thành lập công ty khác.

Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên công ty, đồng thời cũng chính là các chủ sở hữu của công ty, vai trò là cơ quan chủ sở hữu và quản trị. Còn công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ sỏ hữu, thì Hội đồng thành viên do chủ sở hữu bổ nhiệm, chỉ có vai trò là cơ quan quản trịcông ty.

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên “cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định”[1].

Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện về tỷ lệ dự họp, thì cuộc họp lần thứ hai được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu ít nhất 50% vốn điều lệ, giống vi quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005. Trường hợp cuộc họp lần thứ hai không đủ điều kiện về tỷ lệ dự họp thì cuộc họp lần thứ 3 được tiến hành không phụ thuộc số thành viên dự họp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp[2].

Tỷ lệ để tiến hành cuộc họp Hội đồng thành viên lần đầu đã được giảm thấp hơn so vi tỷ lệ quá cao 75% trước đây tại Luật doanh nghiệp năm 2005 (trở lại bằng với tỷ lệ được quy định tại Luật doanh nghiệp năm 1999), tuy nhiên vẫn là không hợp lý, về bản chất, tỷ lệ dự họp trong trường hợp này cũng không khác nhiều với điều kiện họp Đại hội đồng cổ đông, theo đó cần được quy định tỷ lệ giống nhau là 51%.

Theo quy định trên, Điều lệ công ty chỉ được phép quy định một tỷ lệ cao hơn, chứ không được phép quy định một tỷ lệ thấp hơn so vi tỷ lệ tối thiểu luật định.

Riêng đốì với cuộc họp tổ chức liên tiếp lần thứ 3, nếu các thành viên khác không tham dự họp, thì chỉ cần có một thành viên sở hữu một vài %, thậm chí thấp hơn nữa vẫn có quyền mở cuộc họp. Vấn đề đặt ra là, nếu lần thứ 3 vì một lý do nào đó vẫn không tổ chức được cuộc họp, thì cuộc họp lần thứ 4 sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau, đó là phải đáp ứng điều kiện của cuộc họp lần thứ nhất, lần thứ 2 hay lần thứ 3.

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định, Nghị quyết của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành, trừ trường hợp là quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty thì phải được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành[3].

Nghị quyết của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được s thành viên sở hữu ít nht 65% vốn điều lệ tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định[4].

Tỷ lệ thông qua 65% và 75% tại cuộc họp Hội đồng thành viên nói trên vẫn được giữ nguyên như quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 (tỷ lệ 65% cao hơn tỷ lệ 51% đã được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999). Đó cũng là các tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ tương ứng 51% và 65% thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Quy định này không hợp lý và không thật sự cần thiết. Đặc biệt các tỷ lệ này liên tiếp thay đổi trong 3 đạo luật doanh nghiệp, không dựa trên cơ sở khoa học và thực tế.

  1. Nhiệm kỳ các hội đồng công ty

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên thì Hội đồng thành viên không có nhiệm kỳ, vì Hội đồng này tồn tại liên tục từ khi xuất hiện cho đến khi chấm dứt công ty và bao gồm tất cả các thành viên công ty hợp thành, không qua bất cứ thủ tục bầu hay bổ nhiệm nào[5].

Đối vi công ty TNHH một thành viên, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, thì Hội đồng thành viên có nhiệm kỳ không quá 5 năm[6]. Các Hội đồng thành viên này do chủ sở hữu công ty bổ nhiệm.

Đối với công ty cổ phần, Đại hội đồng cổ đông cũng là một dạng hội đồng, nhưng cũng không có nhiệm kỳ giống như Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Riêng nhiệm kỳ Hội đồng quản trị công ty cổ phần thì có sự thay đổi khác biệt hoàn toàn qua các đạo luật. Nhiệm kỳ Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp năm 1999 là do Điều lệ công ty quy định[7]. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị theo Luật doanh nghiệp năm 2005 là cố định 5 năm, không có ngoại lệ dài hoặc ngắn hơn[8]. Luật doanh nghiệp năm 2014 đã bỏ quy định về nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị, mà chỉ còn quy định về nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị[9]. Đây là một điểm đổi mới của Luật doanh nghiệp năm 2014. Nếu như trước đây, cứ 5 năm là phải bầu lại toàn bộ thành viên Hội đồng quản trị, thì theo quy định mới, các thành viên Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ nối tiếp nhau sẽ bảo đảm tính ổn định, liên tục hơn đối vi Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, quan điểm là bỏ nhiệm kỳ Hội đồng quản trị, nhưng lại xử lý thiếu đồng bộ, nên đã dẫn đến mâu thuẫn, vướng mắc. Cụ thể là một điều luật khác vẫn quy định một trong các trường hợp cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông nếu “Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá 06 tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thể[10]. Và một điều luật khác vẫn quy định “Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ được bầu trong cuộc họp đầu tiên của nhiệm kỳ Hội đồng quản trị trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc bầu cử Hội đồng quản trị nhiệm kỳ đó”[11]. Như vậy, theo quy định của hai điều luật này (được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 2014) thì lại vẫn có nhiệm kỳ Hội đồng quản trị.

Do đó, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 thì không có nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị cũng đúng mà có thì cũng không sai. Vì vậy, nếu không muôn trái luật và gặp rắc rối với các quy định mâu thuẫn, thì vẫn nên quy định nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị. Tất nhiên, nhiệm kỳ này chỉ còn ý nghĩa tượng trưng, nếu như đã có nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng quản trị.

Đối với công ty hợp danh, Hội đồng thành viên cũng không có nhiệm kỳ, tương tự như đối với Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên và Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần.

  1. Nhiệm kỳ của các chức danh

Đối với tất cả các chức danh quản lý và kiểm soát công ty là Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị (kể cả thành viên độc lập), Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên Ban kiểm soát và Kiểm soát viên, Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định nhiệm kỳ đều là không quá 5 năm[12]. Điểu này chỉ có một điểm khác với Luật doanh nghiệp năm 2005, theo đó Luật năm 2005 quy định nhiệm kỳ của kiểm soát viên công ty TNHH một thành viên không quá 3 năm.

Đối vi các chức danh quản lý khác, theo quy định của Điều lệ công ty thì có hay không có nhiệm kỳ và nhiệm kỳ cụ thể là bao nhiêu lâu hoàn toàn do công ty tự quy định.

Đối vi công ty TNHH hai thành viên trở lên, do tất cả các thành viên công ty đều tham gia Hội đồng thành viên, nên không có nhiệm kỳ của các thành viên, mà chỉ có nhiệm kỳ của Chủ tịch Hội đồng thành viên. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể được bầu lại vi số nhiệm kỳ không hạn chế[13].

Đối với công ty TNHH một thành viên có Hội đồng thành viên mà chủ sở hữu là tổ chức thì số năm nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng thành viên không bị hạn chế, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác[14].

Đi với công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp nhà nước có Hội đồng thành viên, thì thành viên Hội đồng thành viên và kiểm soát viên có thể được bổ nhiệm lại nhưng chỉ được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng thành viên hoặc kiểm soát viên của một công ty không quá 2 nhiệm kỳ[15].

Đối với Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp nhà nước không có Hội đồng thành viên mà chỉ có Chủ tịch công ty, thì Chủ tịch công ty có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ[16].

Đối với công ty cổ phần, thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại vi số nhiệm kỳ không hạn chế. Trường hợp tất cả thành viên Hội đồng quản trị cùng kết thúc nhiệm kỳ thì các thành viên đó tiếp tục là thành viên Hội đồng quản trị cho đến khi có thành viên mới được bầu thay thế và tiếp quản công việc, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác[17]. Như vậy, chỉ có doanh nghiệp nhà nước thì các chức danh quản lý và kiểm soát bị hạn chế số lượng không quá hai nhiệm kỳ.

 


[1] Khoản 1 Điều 59 về “Điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Khoản 2 Điều 59 về “Điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[3]Khoản 3 Điều 60 về “Nghị quyết của Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4]Khoản 5 Điểu 60 về “Nghị quyết của Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[5] Khoản 1 Điều 56 về “Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[6] Khoản 1 Điều 79 về “Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[7] Khoản 4 Điều 80 v “Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 1999.

[8] Khoản 1 Điều 109 về “Nhiệm kỳ và s lượng thành viên Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2005.

[9] Điểu 150 về “Nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[10] Khoản 3 Điều 114 về “Quyền của cổ đông phổ thông”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[11]Khoản 1 Điều 153 về “Cuộc họp Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[12]Khoản 2 Điều 57 về “Chủ tịch Hội đồng thành viên”; khoản 1 Điều 79 về “Hội đồng thành viên”; khoản 1 Điều 81 về “Giám đốc, Tổng giám đốc”; khoản 1 Điều 82 về “Kiểm soát viên”; khoản 3 Điều 90 về “Hội đồng thành viên”; khoản 1 Điểu 98 về “Chủ tịch công ty”; khoản 1 Điều 102 về “Ban kiểm soát”; khoản 2 Điều 150 về “Nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị”; khoản 2 Điều 157 về “Giám đốc, Tổng giám đốc công ty” và khoản 1 Điều 163 về “Ban kiểm soát”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[13]Điều 57 về “Chủ tịch Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[14]Điểu 79 về “Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[15]Điều 90 về “Hội đồng thành viên” và Điều 102 về “Ban kiểm soát”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[16]Điều 98 về “Chủ tịch công ty”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[17]Điều 150 về “Nhiệm kỳ và số lượng thành viên Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Về nguyên tắc tất cả các khoản chi từ ngân sách Nhà nước đều phải được kiểm tra, kiểm soát và thực hiện cam kết chi trong quá trình chi trả, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách và được đưa vào từ khi lập dự toán ngân sách. Việc thực hiện chi ngân sách nhà nước phải thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước, hoặc người được ủy quyền quyết định chi.

Mọi khoản chi ngân sách nhà nước được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách nhà nước. Các khoản chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Việc thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, Kho bạc Nhà nước thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi ngân sách nhà nước các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách. Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thu hồi cho ngân sách nhà nước theo đúng trình tự quy định. Các đơn vị thuộc đối tượng mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước; Khi thanh toán (hoặc tạm ứng) thì đơn vị gửi hồ sơ thanh toán cho Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương/Sở giao dịch Kho bạc Nhà nước.

Kiểm soát chi ngân sách Nhà nước cần căn cứ vào các điều kiện chi đã được duyệt dự toán chi ngân sách nhà nước được giao, trừ các trường hợp tạm cấp kinh phí[1]; hoặc chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao[2]; hoặc chi ứng trước dự toán ngân sách nhà nước năm sau theo quyết định của cấp có thẩm quyền[3].

Ngoài ra, căn cứ để tiến hành kiểm soát chi ngân sách Nhà nước được chú trọng nhất là việc thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi.

Việc tiến hành kiểm soát chi ngân sách Nhà nước được thực hiện thông qua việc rà soát, kiểm tra hồ sơ gửi lần đầu của đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước bao gồm, dự toán chi ngân sách nhà nước, quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quyết định giao quyền tự chủ của cấp có thẩm quyền. Tiếp theo là việc kiểm soát hồ sơ gửi khi tạm ứng đối với các khoản chi được tạm ứng tiền từ ngân sách Nhà nước, bao gồm giấy rút dự toán (tạm ứng), bảng kê chứng từ thanh toán (đối với các khoản chi nhỏ lẻ không có hợp đồng) hoặc hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ (đối với trường hợp khoản chi phải có hợp đồng), quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu, Quyết định chỉ định thầu, Quyết định phê duyệt kết quả chào hàng cạnh tranh của cấp có thẩm quyền, hợp đồng mua bán, sửa chữa, xây dựng.

Điểm tiếp theo trong tiến trình kiểm soát chi ngân sách là việc kiểm soát hồ sơ gửi khi thanh toán. Hồ sơ gửi khi thanh toán bao gồm giấy rút dự toán, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng (thanh toán tạm ứng), bảng kê chứng từ thanh toán có chữ ký của thủ trưởng, kế toán trưởng đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước. Tuỳ theo từng nội dung chi, khách hàng giao dịch gửi các hồ sơ, chứng từ liên quan đến khoản chi (ví dụ: chi thanh toán cá nhân, chi mua hàng hóa, dịch vụ, công tác phí, tổ chức các hội nghị, hội thảo...).

Như vậy, có thể thấy, để thực hiện việc kiểm soát chấp hành ngân sách cơ bản ngoài các quy định về trình tự thủ tục về chi ngân sách còn cần phải kiểm soát cả khâu cam kết chi (kiểm soát tài chính), trong đó cần xác định đề xuất chi tiêu phải được phê duyệt bởi người có thẩm quyền; tiền đã được phân bổ cho mục tiêu được nêu trong dự toán; số dư ngân quỹ vẫn còn cho nội dung chi liên quan; và chi tiêu được phân loại theo đúng cách. Khi hàng hóa và dịch vụ được bàn giao (thẩm định), phải hình thành chứng từ làm bằng chứng về việc hàng hóa đã nhận được hoặc dịch vụ đã thực hiện theo yêu cầu.

Trước khi thực hiện thanh toán, cần khẳng định chi tiêu đã được cam kết đầy đủ; người có thẩm quyền đã ký nhận hàng hóa đã nhận được và dịch vụ được thực hiện đúng theo dự kiến; hóa đơn và chứng từ yêu cầu thanh toán đầy đủ, chính xác và phù hợp để thanh toán; và chủ nợ được nhận diện chính xác. Những thủ tục đó cho phép kiểm toán kiểm tra và xem xét các giao dịch, đồng thời đảm bảo hiệu quả của các hệ thống kiểm soát và đây cũng là những bước giúp cho việc giám sát thực hiện Nhà nước dễ dàng hơn.

Kiểm soát cam kết chỉ có lẽ là cơ chế kiểm soát chính vì nó có thể ngăn ngừa những trường hợp sử dụng sai mục đích dự toán, vượt chi và sai phạm hiển nhiên. Nội dung về phân công trách nhiệm giữa Bộ Tài chính và các bộ khác trong thực hiện ngân sách sẽ được bàn ở phần sau, nhưng cho dù phân công trách nhiệm thế nào chăng hữa, kiểm soát cam kết luôn phải được thực hiện. Một hệ thống kiểm soát cam kết bao gồm lập kế hoạch mua sắm và cam kết, cũng như trình các kế hoạch và yêu cầu cam kết đó lên cán bộ kiểm soát tài chính (hoặc cán bộ kiểm soát cam kết chi) để được phê duyệt.

Nguyên tắc về phân chia nhiệm vụ là một phương tiện kiểm soát nội bộ mạnh: nó đòi hỏi nhiệm vụ cần được giao cho các cá nhân theo cách không một cá nhân nào được kiểm soát quy trình từ đầu chí cuối. Phân chia nhiệm vụ làm giảm rủi ro sai sót hành chính và giảm nguy cơ khuyến khích nhân viên gian lận hoặc biển thủ.

Như vậy, hoạt động thực hiện ngân sách phải dựa trên sự tồn tại của ba chức năng khác nhau, cần được thực hiện một cách tách biệt - cán bộ ra quyết định, cán bộ kế toán và cán bộ kiểm soát tài chính, trong đó các chức năng chính trong thực hiện ngân sách Hoạt động thực hiện ngân sách dựa trên sự tồn tại của ba chức năng khác nhau, cần được thực hiện một cách tách biệt thông qua cán bộ quyết định chi quản lý dự toán được giao. Cán bộ này có thẩm quyền đăng nhập cam kết chi và quyết định thanh toán, và phải chịu biện pháp kỷ luật - có thể phải chịu trách nhiệm tài chính, nếu không tuân theo các quy định tài chính liên quan đến chức năng đó.

Cán bộ kế toán thực hiện thanh toán là người duy nhất được trao quyền quản lý tiền và các tài sản khác, đồng thời phải chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn tiền và tài sản đó. Cán bộ kế toán phải chịu biện pháp kỷ luật và có thể phải chịu trách nhiệm tài chính về các khoản thanh toán nếu bị phát hiện có sai phạm về thủ tục.

Cán bộ kiểm soát tài chính là người kiểm tra tính quy củ của nghiệp vụ, bao gồm cả đăng nhập cam kết chi. Cán bộ kiểm soát tài chính kiểm tra xem các thủ tục đã được thực hiện chưa, thẩm quyền chi được giao chưa, và các chứng từ có đầy đủ chữ ký chưa. Để thực hiện nhiệm vụ này, cán bộ kiểm soát tài chính phải được tiếp cận toàn bộ thông tin và tài liệu cần thiết. Cán bộ kiểm soát tài chính phải chịu biện pháp kỷ luật và có thể phải chịu trách nhiệm tài chính nếu chi tiêu được phê duyệt vượt quá dự toán ngân sách được giao.

 


[1] Quy định tại Điều 45 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước.

[2] Quy định tại Điều 54 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP và từ nguồn dự phòng ngân sách theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP.

[3] Quy định tại Điều 61 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP.

Ngân sách là một công cụ quản lý chủ yếu giúp lập kế hoạch, giám sát và kiểm soát các nguồn tài chính. Nội dung của ngân sách là dự tính các khoản thu và chi cho một thời kỳ nhất định của Chính phủ và được các cấp có thẩm quyền quyết định.

Quản lý ngân sách nhà nước là một nội dung trọng yếu của quản lý tài chính, do nhà nước điều hành và là một mặt của quản lý kinh tế - xã hội quan trọng, do đó trong quản lý ngân sách nhà nước cần được nhận thức đầy đủ.

Chủ thể quản lý ngân sách nhà nước là nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước được nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ ngân sách nhà nước. Chủ thể trực tiếp quản lý ngân sách nhà nước là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước.

Đối tượng của quản lý ngân sách nhà nước theo Luật Ngân sách năm 2015 quy định là các hoạt động của ngân sách nhà nước, nói cụ thể hơn đó là các hoạt động thu, chi bằng tiền của ngân sách nhà nước. Tùy theo mục đích sử dụng ngân sách và tính chất quyết định đến hiệu quả trong quá trình điều hành, quản lý ngân sách Nhà nước. Dự toán ngân sách Nhà nước được xây dựng trên cơ sở của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và nội dung tích cực trở lại với kinh tế xã hội.

Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh, chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tự nhiên của từng vùng như: dân số theo vùng lãnh thổ, các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội do cơ quan có thẩm quyền thông báo đối với từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung ương và từng địa phương, đơn vị. Bên cạnh đó, việc lập dự toán ngân sách Nhà nước còn căn cứ vào luật, pháp lệnh điều chỉnh về chế độ thu, định mức phần bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định.

Thời gian qua, Chính Phủ đã có nhiều cải tiến trong quản lý tài chính công nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sửa dụng nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Trong đó nguyên nhân chủ yếu là vẫn áp dụng phương thức quản lý ngân sách ở khu vực công theo các khoản đầu vào dẫn đến tình trạng phân bổ dàn trải, sử dụng lãng phí, chất lượng hàng hóa công cung cấp cho xã hội kém, người quản lý thiếu trách nhiệm của kết quả hoạt động. Chính vì vậy, cần cải cách mạnh mẽ quản lý tài chính hướng tới phân bổ nguồn lực theo kết quả hoạt động, hướng tới quản lý ngân sách theo đầu ra để phù hợp với yêu cầu hội nhập và phát triển trong thời đại công nghệ mới. Tuy nhiên việc áp dụng phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra đòi hỏi những thay đổi trong khuôn khổ luật pháp, thể chế cách thức xây dựng và điều hành kế hoạch ngân sách cũng như văn hóa quản lý theo hướng đảm bảo trách nhiệm giải trình về kết quả hoạt động.

Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động được hiểu là cơ chế cấp phát ngân sách cho khu vực công có sử dụng thông tin chính thức về hiệu quả hoạt động để gắn ngân sách với kết quả (đầu ra hoặc/và kết quả) nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động. Có một số cơ chế lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động khác nhau, và mỗi cơ chế này đều hướng tới gắn kinh phí với kết quả. Việc phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra giúp ngân sách phân bổ các nguồn lực công có hạn cho những loại dịch vụ đem lại nhiều lợi ích nhất cho cộng đồng và do đó, chuyển vốn khỏi những dịch vụ kém hiệu quả hoặc có ưu tiên thấp. Một số cơ chế khác tập trung nhiều hơn vào tăng cường tính hiệu suất hoặc hiệu quả của các dịch vụ hiện có. Cho dù áp dụng cơ chế nào thì lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động đều hướng tới đảm bảo các kết quả sẽ tác động vào việc cấp phát ngân sách theo một cách có hệ thống trong mọi trường hợp.

Lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động sử dụng các thông tin về hiệu quả hoạt động để đưa ra các quyết định cấp kinh phí, đây là điểm khác biệt với các hình thức quản lý theo kết quả hoạt động khác, bởi các hình thức quản lý theo hiệu quả hoạt động khác sử dụng thông tin về hiệu quả hoạt động theo những cách thức không liên quan tới ngân sách để thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động khu vực công. Ví dụ, việc sử dụng báo cáo hiệu quả hoạt động bắt buộc như là một cách khuyến khích các tổ chức hoạt động tốt hơn bằng cách tập trung mối quan tâm tự nhiên của các nhà quản lý tổ chức đối với danh tiếng của chính mình là một dạng quản lý theo hiệu quả hoạt động nhưng không phải là một hình thức lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động. Điều này cũng đúng với việc sử dụng các chỉ số và mục tiêu hiệu quả hoạt động làm cơ sở để xác định lương thưởng trong hợp đồng lao động của các công chức. Tuy nhiên, như sẽ được bàn tới ở các mục sau, lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động sẽ có hiệu quả hơn nếu đi kèm với các cải cách quản lý hiệu quả hoạt động khác.

Cơ chế lập ngân sách theo hiệu quả hoạt động có thể được áp dụng cho các đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nước. Khi lập ngân sách theo kết quả hoạt động cần lưu ý đến một số khái niệm cụ thể sau:

Đầu vào: Nguồn lực được sử dụng để thực hiện các hoạt động sản xuất ra đầu ra (ví dụ như nhân lực, trang thiết bị, công trình). Hoạt động: Các loại hoặc dạng hoạt động được thực hiện trong sản xuất và cung cấp đầu ra.

Đầu ra: Một hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp bởi một cơ quan cho một nhóm bên ngoài. Ví dụ, đầu ra của bệnh viện là việc chữa trị cho bệnh nhân, và đầu ra của hệ thống giao thông công cộng là các chuyến xe buýt và tàu hỏa có hành khách.

Kết quả: Những thay đổi đem lại do sự can thiệp công cộng đối với các cá nhân, cơ cấu xã hội hoặc môi trường vật chất. Kết quả của một bệnh viện là bệnh nhân được cứu sống, còn giảm ô nhiễm không khí và nước là một trong số những kết quả mà cơ quan môi trường mong muốn đạt được.

Hiệu quả: Một đầu ra sẽ hiệu quả hơn nếu đạt được kết quả tốt hơn.

Hiệu suất: Cung cấp đầu ra với chi phí thấp hơn, trong khi không làm mất đi chất lượng hoặc tính hiệu quả.

Đánh giá: Đánh giá phân tích thường được áp dụng để tính hiệu quả chi phí hoặc tính phù hợp của các chính sách, tổ chức hoặc chương trình công. Bao gồm “kiểm toán hiệu quả hoạt động”, một đánh giá cần được thực hiện bởi các thực thể kiểm toán bên ngoài[1].

Việc lập ngân sách theo kết quả hoạt động cần được thực hiện theo quy trình dự toán ngân sách trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn của Chính phủ. Đầu tiên, cần xác định dự báo khả năng nguồn lực dựa trên các dự báo kinh tế và dự báo tài chính gắn với bối cảnh kinh tế từ phân tích các số liệu liên quan đến GDP, CPI nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí, dầu thô,....

Tiếp đến cần xác định các nhu cầu chi tiêu của từng lĩnh vực trong trung hạn (3 năm) trên cơ sở các ưu tiên của chính phủ và nhu cầu đối với từng lĩnh vực. Việc xác định các ưu tiên đòi hỏi các ngành phải thực hiện một quy trình đánh giá cụ thể, chi tiết theo lĩnh vực, qua đó sẽ xác định được nhiệm vụ, mục đích, mục tiêu, sản phẩm đầu ra và các hoạt động của mình. Đồng thời, xác định các hoạt động cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách thống nhất.

Cần xác định cụ thể chi phí và lựa chọn ưu tiên trong 3 năm tại các đơn vị dự toán, từ khâu dự toán chi phí thường xuyên và cơ bản của các hoạt động đến việc lựa chọn các hoạt động được ưu tiên phù hợp với mức trần nguồn lực; xác định những hoạt động cần được tiếp tục, những hoạt động nên thu hẹp lại và những hoạt động cần được chấm dứt.

Bước tiếp theo trong quá trình lập ngân sách theo kết quả hoạt động là việc thảo luận chính sách và xem xét mức trần lĩnh vực. Đây là việc cần thiết trong việc xem xét, thảo luận nhằm bảo vệ mức trần lĩnh vực trung hạn. Trường hợp có khả năng cho rằng các chỉ số không thể đạt được một số mục tiêu sẽ phải tiến hành tái phân bổ để điều chỉnh mức trần giữa các lĩnh vực.

Cần lập dự toán ngân sách hàng năm và dự toán trung hạn theo phương pháp cuốn chiếu, trong đó các dự toán trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn được sử dụng để xây dựng các dự toán 3 năm. Bước cuối cùng, Chính phủ thảo luận ngân sách, đánh giá, hoàn thiện và thông qua các dự toán ngân sách mỗi năm đặt trong tầm nhìn khuôn khổ ngân sách trung hạn (3 năm). Toàn bộ hồ sơ ngân sách trung hạn phải được trình gửi các cơ quan của Quốc hội để thẩm tra, cho ý kiến và đi đến phê chuẩn. Hàng năm, việc lập và phê chuẩn dự toán ngân sách vẫn được thực hiện theo kiểu “cuốn chiếu”, việc phê chuẩn sẽ được ấn định cụ thể cho từng năm một nhưng vẫn gắn với tầm nhìn trung hạn.

Như vậy, việc quản lý và phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra gắn với quy trình quản lý ngân sách trung hạn sẽ hạn chế những vấn đề đã phân tích ở trên và cũng chỉ ra những thiếu sót, kém hiệu quả của hệ thống định mức phân bổ ngân sách theo đầu người. Đồng thời, việc quản lý, phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra sẽ gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay.

 


[1] Kiểm toán hiệu quả hoạt động trên thực tế ít có tầm quan trọng bằng các đánh giá được thực hiện trong nội bộ cơ quan hành pháp đối với lập ngân sách theo chương trình hiệu quả, vì kiểm toán hiệu quả hoạt động nhìn chung là công cụ trách nhiệm giải trình hậu kiểm bên ngoài chứ không phải công cu lập ngân sách và quản lý của Cơ quan hành pháp. Tham khảo Robinson (2011).

Thứ sáu, 19 Tháng 4 2019 03:01

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CHU KỲ KINH TẾ

1. Khái niệm chu kỳ kinh tế

Quá trình phát hiển kinh tế luôn tồn tại những biến động về sản lượng, lạm phát, lãi suất và thất nghiệp... Đây là đặc điểm chung của tất cả nền kinh tế thị trường. Lịch sử kinh tế cho thấy, nền kinh tế không tăng trưởng theo một hình thái ổn định và bằng phẳng, mà có thời gian mở rộng và có giai đoạn suy thoái, nhìn chung có tính chu kỳ. Paul A Samuelson và Wiliam D. Nordhalls năm 1948 đưa ra khái niệm chu kỳ kinh doanh là một sự dao động của tổng sản lượng quốc dân, của thu nhập và việc làm, thường kéo dài trong một giai đoạn từ 2 đến 10 năm, được đánh dấu bằng một sự mở rộng hay thu hẹp trên quy mô lớn trong hầu hết các khu vực của nền kinh tế. Tương tự, chu kỳ kinh tế có thể hiểu là hiện tượng tổng sản lượng thực tế của nền kinh tế dao động lên xuống theo thời gian, xoay quanh mức tiềm năng theo trình tự các pha lần lượt là suy thoái hay thu hẹp sản xuất, hưng thịnh hay mở rộng sản xuất.

2. Các giai đoạn của chu kỳ kinh tế

Một chu kỳ kinh tế thường trải qua các giai đoạn như suy thoái, mở rộng, đạt đỉnh, chạm đáy; dù tên gọi có thể không giống nhau, nhưng về cơ bản các giai đoạn này chuyển tải nội dung tương tự.

- Suy thoái

Là pha thu hẹp của chu kỳ kinh tế, sản lượng thực tế từ vị trí từ đỉnh, cao hơn sản lượng tiềm năng xuống dưới sản lượng tiềm năng và tiến tới đáy của chu kỳ. Khi có suy thoái, có thể xảy ra các hiện tượng như sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường vốn... thu hẹp, dẫn đến hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội. Khi sản lượng ngừng suy giảm và bắt đầu tăng trường trở lại thì điểm thấp nhất của sản lượng là đáy của chu kỳ.

- Mở rộng

Là pha mở rộng của chu kỳ kinh tế, sản lượng thực tế từ vị trí đáy, dưới sản lượng tiềm năng lên trên sản lượng tiềm năng và tiến tới đinh mới của chu kỳ. Trong giai đoạn này, sản lượng bắt đầu tăng trường trở lại, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập tăng, nguồn cung hàng hóa tăng, tỷ lệ hàng tồn kho giảm.

- Đạt đỉnh

Tại đỉnh của chu kỳ, sản lượng thực tế, hoạt động kinh doanh, việc làm, tiêu dùng và sản xuất của nền kinh tế đạt đến mức cao nhất. Nhìn chung tại đỉnh của chu kỳ, sản lượng thực tế của nền kinh tế vượt mức sản lượng tiềm năng.

- Chạm đáy

Ngược lại với đỉnh của chu kỳ, tại điểm đáy của chu kỳ kinh tế, sản lượng thực tế, hoạt động kinh doanh, việc làm, tiêu dùng và sản xuất của nền kinh tế tụt xuống đến mức thấp nhất. Tại đáy của chu kỳ, sản lượng thực tế của nền kinh tế ở dưới mức sản lượng tiềm năng.

Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật. Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế. Chính vì vậy, chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn. Trong các giai đoạn của chu kỳ kinh tế, giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh tế tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội, do đó nhà nước muốn can thiệp bằng các chính sách nhằm giảm thiểu giai đoạn suy thoái và đưa sản lượng thực tế của toàn nền kinh tế tiến sát mức sản lượng tiềm năng.

3. Ổn định chu kỳ kinh tế

Ổn định chu kỳ kinh tế là quá trình giảm thiểu những biến động kinh tế vĩ mô, cụ thể là hạn chế suy thoái cũng như tình trạng tăng trưởng quá nóng nhằm đưa sản lượng thực tế của nền kinh tế đạt gần mức tiềm năng.

Do tất cả các nền kinh tế đều trải qua các giai đoạn tăng trường nhanh, mở rộng hay hưng thịnh xen kẽ với giai đoạn tăng trưởng chậm, thậm chí lâm vào suy thoái, hay khủng hoảng, dẫn đến những tổn thất và hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế, nên cần phải ổn định chu kỳ kinh tế. Lịch sử các nền kinh tế đã cho thấy sự thăng trầm của các nền kinh tế cùng với những cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Điều này đặt ra một loạt các câu hỏi cho các nhà kinh tế: Tại sao các nền kinh tế tăng và giảm tốc trong ngắn hạn? Tại sao một nền kinh tế không đơn thuần chuyển dịch lên vị trí toàn dụng và cố định ở đó? Và làm thế nào giúp một nền kinh tế tránh rơi vào pha suy thoái?

Nhìn chung, hiện nay các lý thuyết về ổn định chu kỳ kinh tế vẫn còn nhiều quan điểm bất đồng do bản chất của chu kỳ kinh tế là không đều đặn và khó có thể dự báo.

• Một số học thuyết về ổn định chu kỳ kinh tế là:

Theo trường phái cổ điến, nền kinh tế có khả năng "tự điều chỉnh", với giả định hung tâm là quy luật Say: "cung quyết định cầu" ("supply creates its own demand"), quy mô sản lượng của nền kinh tế không bao giờ bị hạn chế bời một sự sụt giảm tiêu dùng trong ngắn hạn.

Trong Lý thuyết Tống quát (1936), Keynes đưa ra quan điểm trái ngược với quan điếm của trường phái cổ điển, theo đó nền kinh tế không thể tự điều chỉnh trở lại trạng thái toàn dụng lao động mà nhà nước phải can thiệp để ổn định chu kỳ kinh tế. Keynes giải thích: nền kinh tế có những giai đoạn tăng trường hưng thịnh hay suy thoái xuất phát từ sự tồn tại của những bất trắc không thể suy giảm (irreducible uncertainties) trong một nền kinh tế sử dụng tiền tệ. Ông cho rằng nền kinh tế không thể tự điều tiết, do đó chính phủ cần phải hành động để kích cầu khi nền kinh tế suy yếu và làm nguội nền kinh tế khi quá nóng.

Cũng theo học thuyết Keynes, một trong những công cụ chính phủ sử dụng để chống lại sự biến động của chu kỳ kinh tế là chính sách tài khóa ngược chu kỳ. Chính sách này còn gọi là chính sách tài khóa linh hoạt bao gồm: (i) chính sách tài khóa mở rộng trong thời kỳ suy thoái (được sử dụng để kích thích kinh tế thông qua kích cầu hiệu quả); (ii) chính sách tài khóa kiềm chế hay thu hẹp trong thời kỳ hưng thịnh (được sử dụng để kiềm chế lạm phát). Một hình thức của chính sách tài khóa ngược chu kỳ được biết đến là công cụ ổn định tự động (Automatic stabilizers), là những chính sách được thiết kế để tự nó điều chỉnh làm cho chính sách tài khóa mở rộng trong thời kỳ suy thoái và thu hẹp trong thời kỳ tăng trưởng cao như là chính sách bảo hiểm, an sinh xã hội, thuế thu nhập...

Còn quan điểm “tổng hợp tân cổ điển” (neoclassical synthesis) vào thập niên 1950 đã cố gắng tổng hòa quan điểm cùa Keynes với quan điểm cổ điển. Quan điểm này thống nhất với Keynes rằng nền kinh tế không thể tự điều tiết trong ngắn hạn mà cần có sự can thiệp của chính phủ, song lại bác bỏ quan điểm về sự bất trắc không thể suy giảm của Keynes và cho rằng nền kinh tế vẫn tự điều tiết trong dài hạn. Tuy nhiên quan điểm đó sau này đã không được chứng minh và có thể rút ra rằng cung tiền được duy trì ổn định không phải là điều kiện đủ để nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cân bằng.

Nỗ lực tiếp theo tìm giải pháp để ổn định chu kỳ kinh tế, cũng như giải thích về các cuộc suy thoái là lý thuyết về chu kỳ kinh tế thực (Real Business Cycle - RBC) cho rằng chu kỳ kinh tế là phản ứng nhằm tối ưu hóa nền kinh tế trước các cú sốc công nghệ. Những phát minh mới có thể đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, tránh suy thoái, đưa nền kinh tế tăng trưởng ờ mức toàn dụng. Nguyên nhân suy thoái, theo lý thuyết RBC, là do người dân phản ứng hợp lý theo những thay đổi trong nền kinh tế: khi tốc độ thay đổi công nghệ chậm hơn làm giảm tiền lương thực ở mức cận biên, phản ứng của người lao động là dành thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn, dẫn đến lực lượng thực lao động sẽ giảm, làm tăng trưởng kinh tế chậm đi.

Nhà nước thể hiện quyền lực của mình thông qua các nội dung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, chính vì thế giải thích pháp luật có thể hiểu là một hoạt động thể hiện quyền lực Nhà nước buộc các chủ thể phải tuân theo. Mỗi hệ thống pháp luật sẽ có một cơ chế giải thích pháp luật tương ứng nên cơ sở pháp lý của giải thích pháp luật sẽ được thể hiện dưới các hình thức văn bản khác nhau như Hiến pháp, Luật hoặc các văn bản dưới luật ….

Ở Việt Nam cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật là Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội, hoặc khi Ủy ban thường vụ Quốc hội thấy cần thiết. Hoạt động giải thích pháp luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải đảm bảo đúng với tinh thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh; phù hợp với nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp, luật, pháp lệnh và không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới.

Giải thích pháp luật là một hoạt động độc lập nhằm hỗ trợ nhận thức pháp luật nên cần phải xác định chính xác nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật để nhận thức, thực hiện pháp luật đúng và bảo đảm tính thống nhất, đặc biệt là khi quy phạm đó bộc lộ khả năng cần phải giải thích.

Với ý nghĩa pháp luật là tập hợp những quy định được các chủ thể thẩm quyền ban hành nhằm mục đích tác động, duy trì trật tự xã hội và điều chỉnh các hành vi của con người. Trong hệ thống các quy định pháp luật ấy thì quy phạm pháp luật là bộ phận cốt lõi quan trọng nhất. Vì vậy, giải thích pháp luật thực chất là giải thích các quy phạm pháp luật. Tất nhiên, còn có nhiều vấn đề khác mà hoạt động giải thích pháp luật phải tác động, như sự mâu thuẫn giữa các quy tắc, mâu thuẫn giữa các quy phạm, sự thiếu hụt trong một quy phạm, vv... nhưng quy phạm pháp luật vẫn là đơn vị đặc thù của hệ thống pháp luật, nó chiếm một số lượng rất lớn, bao quát hàng triệu tình huống của đời sống xã hội và con người, nó là đối tượng hàng đầu và cơ bản của hoạt động giải thích pháp luật.

Lý do nổi bật khiến cho quy phạm pháp luật trở thành đối tượng chủ yếu của giải thích pháp luật chính là mâu thuẫn theo quy luật nội tại của nó. Đó là mâu thuẫn giữa tính khái quát và tính cụ thể. Tính khái quát đáp ứng yêu cầu của nhà làm luật thì sẽ gây khó khăn cho các nhà áp dụng luật. Chính điều đó tạo ra khoảng cách giữa pháp luật thành văn và các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

Giải thích pháp luật có nghĩa vụ thu hẹp hoặc xóa bỏ khoảng cách này bằng một hoạt động là làm rõ nội dung, ý nghĩa chứa đựng trong các quy phạm pháp luật, một hoạt động do nghĩa vụ trong tình huống thực tế đặt ra. Bên cạnh đó, có thể hiểu giải thích pháp luật là hoat động tất yếu sau hoat động lập pháp, trong quá trinh thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Đặc điểm này cho phép mở rộng nội hàm của khái niệm "giải thích". Nghĩa là, pháp luật cần phải được hiểu rõ (nhận thức) khi thực hiện.

Lập pháp là để pháp luật đi vào cuộc sống, để cuộc sống có pháp luật, có trật tự. Việc hiện thực hóa pháp luật có thể bằng nhiều con đường, một phần do sự chủ động của các chủ thể pháp luật, phần khác do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của họ. Đối với hình thức thực hiện pháp luật nào, thì trước hết, việc nhận thức cho đúng, cho thông nhất pháp luật cũng phải đặt ra. Để nhận thức được pháp luật thì phải giải thích pháp luật. Giáo sư Cass R. Sunstein nhà nghiên cứu luật người Mỹ đã nói: Chúng tôi truy cập một văn bản pháp luật chỉ sau khi chúng tôi có được sự giải thích nó, giải thích có chủ ý hoặc không có chủ ý. Một văn bản không chứa đựng ý nghĩa giải thích từ trước[1]. Một học giả khác lý giải: Trong sự làm cho dễ hiểu, không gì xứng đáng hơn việc giải thích. Đó không phải là kiểu La Mã kinh điển, nhưng nó đã được nắm giữ bởi truyền thống văn hóa lâu dài, và được các thẩm phán ở mọi nơi biết đến rất rõ. Chúng ta không thể hành độngdựa trên ý nghĩ của người khác trừ khi chúng ta hiểu thấu đáo nó[2].

Lý luận cho rằng, giải thích pháp luật như là một hoạt động tất yếu sau hoạt động lập pháp trong quá trình hoàn thiện hóa pháp luật là một hình ảnh biện chứng của nhận thức: "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn". Ở đây, chiều đảo của nhận thức chính là quá trình "cuộc sống hóa pháp luật", nó có nghĩa vụ kiểm chứng lại quá trình "pháp luật hóa cuộc sống", và đó chính là bản chất triết học của quá trình giải thích pháp luật, một quá trình "tái tạo phần hồn" của văn bản pháp luật trong hiện thực. Đây là những đặt điểm nêu lên khả năng giải quyết sự "thiếu hụt" cố hữu của quy phạm, còn đặc điểm này nói về nghĩa vụ tuân thủ nguyên lý tiếp cận quy phạm.

Ngoài ra, giải thích pháp luật đươc thực hiện theo một phương thức và quy trình nhất định, các quy tắc đạo đức trong cuộc sống thường được kiểm soát bỏi dư luận xã hội, bởi tập quán bởi lương tâm, ý thức nhân bản của mỗi người, còn các quy tắc pháp lý lại được kiểm soát chủ yếu bằng sự thực hiện các quy phạm pháp luật gắn liền với sức mạnh của Nhà nước. Trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, thì giải thích pháp luật là hoạt động tất yếu. Song, kết quả của hoạt động giải thích pháp luật chính thức có thể đưa đến những lợi ích hoặc cũng có thể đưa đến những bất lợi cho các chủ thể liên quan. Để bảo đảm cho kết quả giải thích pháp luật hợp pháp, khoa học, chân thực và khách quan, các chủ thể giải thích và hoạt động giải thích phải được quy định và tuân theo một phương thức, một quy trình nhất định, bao gồm các phượng pháp và cách thức tiếp cận các quy phạm pháp luật trong một trình tự chặt chẽ từ việc xác định nhu cầu, nghiên cứu, phân tích, giải thích đến công bố kết quả, thu thập phản hồi. Quy trình này cần phải được luật hóa, được tuân thủ nghiêm ngặt với các nguyên tắc, quy tắc, phương pháp, mục đích của hoạt động giải thích pháp luật. Nếu trong quá trình giải thích pháp luật, thấy cần phải giải thích theo nghĩa rộng thì các chủ thể giải thích vẫn phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật cho phép, vẫn phải theo những quy trình nhất định. Như vậy, có thể hiểu khái quát rằng, phương thức và quy trình pháp lý của giải thích pháp luật giống như một "bà đỡ" cho hoạt động này.

 


[1] Aharon Barak: Porposive Interpretation in Law, Princeton Uni, 2005, tr. 103.

[2] Văn phòng Quốc hội: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Nxb. Thời đại, Hà Nội, 2009, tr.13.

1. Giáo dục và đào tạo đạt được nhiều thành tựu

Sự phát triển của giáo dục và đào tạo đạt được nhiều thành tựu nổi bật, nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc, Singapo, Trung Quốc. Chính vì thế quy mô giáo dục và đào tạo của các cấp học cũng tăng đáng kể, tỷ lệ học sinh tiểu học và trung học cơ sở so với dân số trong độ tuổi của các nước đều đạt trên 90%; tỷ lệ học sinh trung học phổ thông và tương đương đạt trên 45%, trong đó Hàn Quốc đạt tới 90,1%; tỷ lệ sinh viên đại học so với dân số trong độ tuổi và số lượng nghiên cứu sinh thạc sĩ, tiến sĩ đều ở mức cao[1].

Nhật Bản là một trong những quốc gia có nền giáo dục rất phát triển. Phần lớn dân cư có trình độ từ trung học cơ sở trở lên. Nhật Bản đứng thứ hai trong số 30 nước của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế về tỷ lệ thanh niên được đào tạo nghề hay đại học. Tỷ lệ dân cư 55 - 64 tuổi có bằng tương đương trung học phổ thông của Nhật Bản đứng thứ 10 trong số 30 nước của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế[2]. Tỷ lệ sinh viên đại học tốt nghiệp đạt tới 91%, cao hơn nhiều mức trung bình 70% của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế[3]. Năm 2005, toàn nước Nhật có 726 trường đại học, với 569 trường có đào tạo sau đại học, 488 trường cao đẳng, 63 trường cao đẳng công nghệ (đầu vào là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở) và 3.439 trường đào tạo chuyên ngành (đầu vào là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở). Năm 2005, Nhật Bản có 4.181.829 sinh viên, trong đó có 164.550 học viên cao học và 74.907 nghiên cứu sinh.[4] Mỗi năm các trường cao đẳng và đại học tuyển mới khoảng 1,1 triệu sinh viên, trong đó có hơn 100.000 sau đại học.

Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, Hàn Quốc đã tập trung giải quyết tốt nhiệm vụ mở rộng quy mô giáo dục phổ thông, coi đó là nền móng để có nguồn nhân lực cần thiết cho công nghiệp hóa. Phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông được tuần tự hoàn thành trong thập kỷ 1960, thập kỷ 1970 và thập kỷ 1980. Năm 1989, tỷ lệ học trung học phổ thông trong độ tuổi, bao gồm cả trung học nghề và trung cấp chuyên nghiệp là 90,1%. Đặc biệt ấn tượng là tỷ lệ học đại học đã tăng từ khoảng 5% vào những năm 1950 lên tới 78% vào năm 2000, hơn hẳn một loạt nước trong Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế.

Trung Quốc đã cơ bản phổ cập giáo dục 9 năm và xoá mù chữ cho những người ở độ tuổi thanh niên và trung niên. Tính đến cuối năm 1997, 65% địa phương cả nước đã phổ cập giáo dục nghĩa vụ 9 năm, tăng 47% so với năm 1993, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở là 87%, tăng 15% so với năm 1992; tỷ lệ người trong độ tuổi thanh niên, trung niên mù chữ chỉ còn 6%, giảm 4% so với năm 1992. Giáo dục đại học phát triển ổn định. Trong 5 năm (1993 - 1997), số lượng tuyển sinh và số sinh viên đang theo học đại học trên cả nước tăng bình quân hàng năm là 8% và 10%.

2. Hệ thống giáo dục phát triển bền vững và có chất lượng cao

Giáo dục phổ thông của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo được xếp thứ hạng cao trong các đánh giá quốc tế. Hệ thống đào tạo đại học và nghề nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động trong kinh tế tri thức. Các nước đều có các trường đại học với chất lượng nghiên cứu và đào tạo hàng đầu trên thế giới.

Tất cả các quốc gia được xem xét đều được xếp hạng cao trong các đánh giá quốc tế. Đánh giá kiến thức của học sinh ở độ tuổi 15 trong chương trình PISA năm 2006, gồm 57 quốc gia, kể cả các nước không thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Việt Nam và Trung Quốc chưa tham gia) cho thấy vị trí của các nước tham gia[5].

Tuy nhiên, Việt Nam tham gia PISA chu kỳ đầu tiên năm 2012, đã hoàn thành chu kỳ PISA 2015 với kết quả khá khả quan. Chu kỳ PISA 2015, trọng tâm được đánh giá là lĩnh vực Khoa học cho thấy:

- Lĩnh vực Khoa học, Việt Nam đứng thứ 8 (Top 10);

- Lĩnh vực Toán học, Việt Nam đứng thứ 22;

- Lĩnh vực Đọc hiểu là 32.

So với trung bình kết quả của các nước OECD:

Ở lĩnh vực Khoa học: kết quả trung bình của các quốc gia OECD là 493 điểm, của học sinh Việt Nam là 525 điểm. Kết quả của học sinh Việt Nam cao hơn trung bình các nước OECD 31,4 điểm một cách có ý nghĩa thống kê.

Ở lĩnh vực Toán học: Kết quả trung bình của các quốc gia OECD là 490 điểm, của học sinh Việt Nam là 495 điểm. Kết quả kiểm định về sự khác biệt kết quả trung bình của hai mẫu độc lập cho thấy: kết quả của học sinh Việt Nam cao hơn kết quả trung bình của OECD 5 điểm nhưng sự kiểm định cho thấy, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, nghĩa là kết quả Toán học của học sinh Việt Nam tương đương với điểm trung bình của OECD.

Năm 2018 Việt Nam tham gia Chu kỳ PISA 2018 và được xếp thứ 21 trong tổng số 65 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia.

Theo bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu trên thế giới năm 2007, số lượng trường được xếp hạng của từng nước như sau:

Lưu ý là trong bảng xếp hạng này không có bất kỳ trường đại học nào của Việt Nam được đưa vào, kể cả bảng 500 trường.

Hoa Kỳ, Anh, Cộng hòa Liên bang Đức và Nhật Bản không chỉ là những quốc gia xếp thứ hạng cao trong hệ thống giáo dục đại học thế giới mà còn là các quốc gia hàng đầu trong sáng tạo và thương mại hóa các thành tựu khoa học và công nghệ.

3. Công bằng giáo dục được thực hiện với nỗ lực cao nhất

Trường công lập luôn mở cửa cho tất cả trẻ em thuộc tất cả các cộng đồng dân cư đến học tập. Giáo dục bắt buộc 9 năm, miễn phí (bao gồm tiểu học 6 năm và trung học cơ sở 3 năm) trở thành nhu cầu và biện pháp cơ bản để thực hiện xoá mù chữ và nâng cao dân trí. Giáo dục trung học 12 năm tuy không là giáo dục bắt buộc (Nhà nước không cam kết trợ giúp cho dân) nhưng việc phổ cập trình độ giáo dục trung học 12 năm đang trở thành hiện thực ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tình hình đó đã góp phần vào việc nâng cao số năm tiếp nhận giáo dục tính bình quân đầu người của các nước (trên 8 - 9 năm)[6].

Trong khu vực giáo dục phổ thông của các nước được xem xét không có sự khác biệt giữa nam và nữ đổi với các nhóm dân thuộc độ tuổi 45 trở xuống).[7]

Ở Việt Nam, tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam ổn định ở tỷ lệ 89 - 92% ở mọi cấp học, so với các nước khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng sau Brunây, Mianma, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia thời điểm năm 2001[8].

Như vậy, có thể thấy tất cả các quốc gia được xem xét đều đã đạt được công bằng về giới trong giáo dục phổ thông.

Tóm lại, thành tựu phát triển giáo dục của các nước nói trên một mặt đã tạo nên mặt bằng dân trí cao, mặt khác đã góp phần to lớn trong việc hình thành và phát triển một đội ngũ trí thức đông đảo có chất lượng, đáp ứng được các yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước..


PHỤ LỤC

Bảng 1. Tỷ lệ phần trăm dân cư trong độ tuổi từ 25 đến 64

phân theo trình độ học vấn (năm 2005) [9]

Quốc gia Trung học phổ thông và tương đương Cao đẳng và đại học trở lên
Hoa Kỳ 49 39
Đức 52 25
Nhật Bản 60 40
Hàn Quốc 44 32
Xingapo Không có số liệu Không có số liệu
Trung Quốc Không có số liệu Không có số liệu
Việt Nam Không có số liệu 5

Bảng 2. Số năm đi học bình quân của dân cư (năm 2000)[10]

Hoa Kỳ 12,05
Đức 10,20
Nhật Bản 9,47
Hàn Quốc 10,84
Xingapo 7,05
Trung Quốc 6,35
Việt Nam (1998) Xấp xỉ 6,8

Bảng 3. Kết quả PISA năm 2006

Quốc gia Về kiến thức khoa học Về năng lực đọc hiểu Về khả năng làm toán
Hàn Quốc 11 1 4
Nhật Bản 6 15 10
Đức 13 18 20
Hoa Kỳ 29 (không tham gia) 35

Bảng 4. Kết quả PISA năm 2015

Science (Khoa học) Reading (Đọc hiểu) Mathematics (Toán học)
Các nước Điểm trung bình PISA 2015 Sự thay đổi so với chu kì trước Điểm trung bình PISA 2015 Sự thay đổi so với chu kì trước Điểm trung bình PISA 2015 Sự thay đổi so với chu kì trước
Mean Score dif. Mean Score dif. Mean Score dif.
Điểm trung bình của OECD 493 -1 493 -1 490 -1
  1. Singapore
556 7 535 5 564 1
  1. Japan
538 3 516 -2 532 1
  1. Estonia
534 2 519 9 520 2
  1. Chinese Taipei
532 0 497 1 542 0
  1. Finland
531 -11 526 -5 511 -10
  1. Macao (China)
529 6 509 11 544 5
  1. Canada
528 -2 527 1 516 -4
  1. Viet Nam
525 -4 487 -21 495 -17

Bảng 5. Số trường đại học được xếp hạng và tỷ lệ[11]

Quốc gia Nhóm 200 trường hàng đầu Nhóm 500 trường hàng đầu
Hoa Kỳ 88 (44,0%) 166 (33,2%)
Đức 14 (7,0%) 41 (8,2%)
Nhật Bản 9 (4,5%) 32 (6,4%)
Hàn Quốc 1 (0,5%) 9 (1,8%)
Xingapo 1 (0,5%) 2 (0,4%)
Trung Quốc 1 (0,5%) 14 (2,8%)
Pháp 7 (3,5%) 22 (4,4%)
Anh 23 (11,5%) 42 (8,4%)

Bảng 6. So sánh tỷ lệ học sinh nữ và học sinh nam

Quốc gia Tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam trong giáo dục tiểu học và trung học[12]
Hoa Kỳ 100%
Nhật Bản 100%
Đức 99%
Hàn Quốc 96%
Xingapo 101%
Trung Quốc 100%

 


[1] Xem thêm Bảng 1 và Bảng 2 phần phụ lục

[2] OECD: Education at a Glance, 2007.

[3] UNESCO Statistics Institute: World Education Indicators 2006.

[4] Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao và Khoa học - Công nghệ Nhật Bản: Niên giám thống kê 2006.

[5] Xem thêm Bảng 3 phần phụ lục

[6] Xem thêm bảng số 5 phần phụ lục.

[7] Thống kê giáo dục thế giới năm 2006 của Viện Thống kê UNESCO

[8] Ban Khoa giáo Trung ương: Triển khai Nghị quyết Đại hội X, 2006.

[9] Các nước lấy theo thống kê của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) trong báo cáo Education at a Glance 2007 Bảng Alla, số liệu Việt Nam lấy theo Kết quả điều tra biến động dân số ngày 1-4 2006 của Tổng cục Thống kê.

[10]Theo Bộ số liệu Barro-Lee 2000 World Bank Edstat (Thống kê giáo dục của Ngân hàng Thế giới). Số liệu Việt Nam là số nội bộ của Ngân hàng Thế giới.

[11] Đại học Giao thông Thượng Hải, Trung Quốc, 2007.

[12]. Ngân hàng Thế giới: Các chỉ số phát triển của thế giới 2008.

Riêng với giáo dục cơ sở, Luật Giáo dục 2005 chỉ rõ: "Giáo dục bắt buộc tối thiểu phải đảm bảo cho từng học sinh các công cụ cần thiết để làm chủ một nền tảng chung được cấu thành bởi m ột tổng thể kiến thức và năng lực nhất thiết phải làm chủ để có thể thành công trong học hành, tiếp tục quá trình đào tạo, xây dựng tương lai cá nhân và tương lai nghề nghiệp, thành công trong cuộc sống trong xã hội". Bản SOCCOM 2015 khẳng định: Giáo dục bắt buộc có mục tiêu kép: đào tạo và "xã hội hoá". "Nó cung cấp cho học sinh một văn hoá chung, dựa trên các kiến thức và năng lực thiết y ếu, cho phép phát triển hài hoà tột bực cá nhân, phát triển tính xã hội, thành công trong các lộ trình đào tạo tiếp theo, hội nhập vào xã hội mà họ sẽ sống và tham gia với tư cách là m ột công dân vào sự vận động của nó.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Ngay sau khi vào Nhà Trắng từ tháng Giêng năm 2001, Tổng thống Bush đã nhấn mạnh nhu cầu làm cho Chính phủ hướng vào hoạt động hiệu quả và trách nhiệm hơn. Quan điểm này thể hiện trong đề nghị ngân sách của Tổng thống cho năm tài chính 2002 và 2003. Sự suy giảm kinh tế trở nên trầm trọng hơn bởi cuộc tấn công khủng bố ngày 11-9-2001, cũng đã ảnh hưởng gần như đến tất cả các khía cạnh về chính sách và ngân sách của Chính phủ. Mặc dù vậy, khuôn khổ chung và phương hướng chính sách khoa học và công nghệ về cơ bản hầu như không thay đổi. Hoa Kỳ tiếp tục giữ vững vị trí số một trong các lĩnh vực tri thức khoa học mũi nhọn và sử dụng khoa học và công nghệ hỗ trợ cho an ninh và tăng trưởng kinh tế dài hạn của quốc gia, cải thiện sức khỏe và phúc lợi của công dân và bảo vệ chất lượng môi trường.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành