Cosodulieu

Cosodulieu

Xuất phát từ nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XII của Đảng (20/01-28/01/2016) tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Báo cáo chính trị trình Đại hội XII xác định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người vừa là nguồn gốc, vừa là nguồn lực, vừa là mục tiêu của quá trình xây dựng Nhà nước, trong đó có quyền con người được sống trong một môi trường trong lành, môi trường không bị ô nhiễm. Do đó, các chế định về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đóng vai trò rất quan trọng để đạt được mục tiêu này. 

Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 đã quy định được nhiều vấn đề, điều chỉnh cơ bản những hoạt động có tác động tới môi trường như: đối tượng chịu thuế, mức thuế suất, phương pháp tính thuế... Tuy nhiên, đối chiếu với mục tiêu, yêu cầu đặt ra thì vẫn còn nhiều nội dung cần phải được tiếp tượng tục hoàn thiện, bổ sung và thay đổi. 

Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế. Các quy định về đối chịu thuế bảo vệ môi trường cần bao hàm mọi sản phẩm, hàng hóa gây tác động tiêu cực đến môi trường nhằm bảo đảm mục đích tạo sự công bằng cho tất cả những chủ thể gây ô nhiễm phải trả tiền. Điều này Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 chưa làm được. Đến thời điểm hiện nay, khi áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 được một thời gian, có thể xem xét, lựa chọn những đối tượng phù hợp với trình độ phát triển, khả năng chịu đựng của nền kinh tế. Việc đưa vào diện chịu thuế một loại sản phẩm còn cân nhắc đến khả năng thực hiện được của nhà sản xuất, của cơ quan quản lý và tính khả thi của luật. Hơn nữa, việc đánh thuế còn phải tính đến khả năng chịu đựng của người sản xuất và tiêu dùng, tính đến lợi ích trong lựa chọn giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Không thể có sự phát triển kinh tế cao cùng với bảo vệ môi trường tốt khi điều kiện có hạn. Trong điều kiện nước ta hiện nay, chỉ nên lựa chọn những sản phẩm có ảnh hưởng tới môi trường trên diện rộng và xác định mức thuế hợp lý, bảo đảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, cũng như khả năng tiêu dùng của người dân. Trên thực tế có rất nhiều sản phẩm khi sử dụng, thải bỏ đều gây ô nhiễm môi trường, nhưng mức độ gây ô nhiễm ở mức khác nhau. Tuy vậy, để bảo đảm tính thuyết phục của luật, cần phải lý giải cụ thể về căn cứ xác định đối tượng chịu thuế, đối tượng chưa thuộc diện chịu thuế trong khi có rất nhiều sản phẩm cùng gây ô nhiễm môi trường. Và để bảo đảm tính bao quát, công bằng, bảo vệ môi trường bằng việc thu thuế bảo vệ môi trường sẽ đầu tư cho việc khắc phục hậu quả, cải thiện môi trường. thuộc diện chịu thuế trong khi có rất nhiều sản phẩm cùng gây của quy định về đối tượng chịu thuế, cần phải rà soát lại danh mục hàng hóa, khảo sát thêm thực tiễn, bổ sung các đối tượng chịu thuế dựa trên nguyên tắc đã là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế. Đối với những sản phẩm, hàng hóa có mức độ tác động không lớn hoặc hàng hóa có gây ô nhiễm song tại thời điểm hiện nay cần hỗ trợ để bảo đảm tính cạnh tranh thì trước mắt có thể áp dụng thuế suất thấp hoặc quy định mức thuế suất 0% để xử lý linh hoạt trong một số trường hợp cần thiết, tránh tình trạng phải sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tính ổn định của Luật Thuế bảo vệ môi trường.

Về tính cụ thể trong quy định về đối tượng chịu thuế: Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 cho phép Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng chịu thuế bằng văn bản dưới luật. Ta thấy việc xác định đối tượng chịu thuế là một trong những vấn đề cốt lõi, cơ bản của một đạo luật về thuế, liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của nhiều tổ chức, cá nhân. Do đó, nội dung này phải được xác định cụ thể ngay trong Luật Thuế bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm tính minh bạch, thuận tiện trong áp dụng chính sách. Vì vậy, cần phải rà soát, bổ sung các quy định chi tiết nhằm làm rõ đối tượng chịu thuế. Ngoài ra, một Trong những mục tiêu đặt ra đối với việc ban hành Luật Thuế khai thác nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo nguồn lực đầu tư cho việc khắc phục hậu quả, cải thiện môi trường. Do đó, nếu đối tượng chịu thuế được quy định trong Luật Thuế, bảo vệ môi trường quá hẹp thì khó có thể đáp ứng được mục tiêu này.

Thứ hai, về căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối. Căn cứ này có th điểm là dễ áp dụng trong việc xác định mức thuế nhưng lại không phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, đó là số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu đến môi trường. Yếu tố “ngang giá” cần được ưu tiên trong việc buộc chủ thể gây ô nhiễm phải trả. Cần xác định rõ mục tiêu chính của việc áp dụng thuế này, đó là tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, hay như là công cụ kinh tế tác động vào hành vi gây biến đổi môi trường. Nếu quan niệm đây là nguồn thu cho ngân sách nhà nước, cần quy định cụ thể về phương pháp xác định số lượng hàng hóa tính thuế. Nếu quan niệm đây là công cụ kinh tế tác động vào hành vi gây biến đổi môi trường, trong điều kiện hiện nay, cùng với kinh nghiệm của việc áp dụng loại thuế này, tác giả nghĩ có thể chuyển sang mức thuế tương đối. 

Thứ ba, về căn cứ xác định khung thuế suất. Việc xác định thuế suất thuế bảo vệ môi trường là vấn đề cốt lõi và phức tạp, phải được dựa trên những luận cứ khoa học chặt chẽ, căn cứ thực tiễn xác đáng. Các tiêu chí để xây dựng khung thuế suất đối với một số đối tượng chịu thuế như trong Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 là chưa đủ căn cứ thực tiễn nên tính thuyết phục chưa cao. Việc xác định khung thuế suất đối với một số mặt hàng như xăng, dầu, than dựa trên mức phí bảo vệ môi trường là chưa hợp lý vì tính chất điều tiết của hai công cụ là khác nhau. Mặt khác, phí bảo vệ môi trường xác định mức thu cụ thể, nhưng thuế bảo vệ môi trường lại quy định khung thuế suất. Vì vậy, để các quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường mang tính thuyết phục, cần lý giải rõ căn cứ tính thuế, tác động về kinh tế - xã hội, mức độ gây ô nhiễm môi trường đối với từng mặt hàng dựa trên những luận cứ khoa học, có số liệu minh chứng cụ thể, tránh tình trạng áp dụng thuế suất chủ quan, không bảo đảm công bằng trong áp dụng chính sách. Cần áp dụng mức thuế suất cao đối với sản phẩm gây ô nhiễm môi trường mà có sản phẩm khác thay thế nhằm khuyến khích sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, góp phần thay đổi hành vi tiêu dùng, thói quen sử dụng. Tuy nhiên, đối với sản phẩm không có sản phẩm khác thay thế thì cần cân nhắc áp dụng thuế suất không cao, tránh làm tăng giá sản phẩm, gây bất lợi cho người tiêu dùng. 

Thứ tư, về thẩm quyền xác định thuế suất trong khung thuế suất. Quốc hội quy định khung thuế suất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ quy định các mức thuế suất cụ thể. Việc giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định các mức thuế suất cụ thể là hợp lý, bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành, phù hợp với biến động trong điều kiện kinh tế chưa ổn định. Tuy nhiên, Luật Thuế bảo vệ môi trường không nên quy định khung thuế suất mà cần phải quy định mức thuế suất cụ thể ngay trong Luật nhằm bảo đảm nguyên tắc thuế suất do Quốc hội quyết áp dụng ổn định. Riêng đối với trường hợp đặc thù như xăng dầu, than, để bảo đảm lộ trình thực hiện phù hợp với tình hình biến động giá cả và đáp ứng việc thực hiện cam kết vụ Quốc hội quyết định mức thuế suất trong từng thời kỳ. 

Thứ năm, về biên độ khung thuế suất. Biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng đối với hầu hết các nhóm hàng, mặt hàng. Để khắc phục điều này, cần chia nhỏ các nhóm hàng ra, có khung thuế suất riêng đối với từng mặt hàng. Đối với hàng hóa chịu sự biến động lớn về giá, có thể quy định biên độ rộng, còn đối với những mặt hàng khác cần thu hẹp biên độ lại. 

Thứ sáu, ban hành các quy định về bán hạn ngạch ô nhiễm. Như đã đề cập, Việt Nam chưa triển khai trong khi đây là giải pháp hay mà các nước phát triển đang áp dụng. Do đó, song song với việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường, chúng ta cần nghiên cứu và sớm ban hành các quy định về hình thức này. Việc bán hạn ngạch ô nhiễm áp dụng đối với các doanh nghiệp thải các chất thải độc hại vừa tạo nguồn thu ngân sách, vừa hạn chế và kiểm soát ô nhiễm, vừa có kinh phí để tài trợ lại cho các đối tượng bị thiệt hại. Đây là thị trường rất tiềm năng, đem lại lợi ích kinh tế lớn, trong điều kiện Việt Nam là quốc gia không bị ràng buộc về lượng khí thải của Công ước Khung của Liên hợp lốc về biến đổi khí hậu năm 1992 và Nghị định thư Kyoto năm 1997). Trong Nghị định thư Kyoto năm 1997 chỉ ràng buộc nghĩa vụ cắt giảm khí nhà kính của các quốc gia thuộc Phụ lục B (bao gồm 36 quốc gia công nghiệp phát triển). Việt Nam là quốc gia nằm ngoài Phụ lục B, không bị ràng buộc nghĩa vụ cắt giảm khí nhà kính nên có thể tham gia vào thị trường mua bán hạn ngạch phát thải khí nhà kính và sử dụng số tiền này để đầu tư cắt giảm khí nhà kính bằng cách trồng rừng, nâng cao tiêu chuẩn khí thải, áp dụng cơ chế phát triển sạch..

Việc ban hành và áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường phải tạo ra được công cụ quản lý vĩ mô hữu hiệu nhằm xác định và bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân gây tác động tiêu cực đến môi trường; nâng cao nhận thức của người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường; hạn chế tối đa ảnh hưởng của sản xuất, kinh doanh đến môi trường. Các quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam, một mặt động viên hợp lý nguồn thu cho khắc phục hậu quả môi trường nhưng mặt khác vẫn phải bảo đảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, ổn định thị trường, giá cả, kiềm chế lạm phát, không xáo trộn sản xuất, kinh doanh trong nước, đặc biệt không làm tăng gánh nặng tài chính từ chính sách đối với người tiêu dùng, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với Nhân dân. Điều này phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể với các quy định của pháp luật có liên quan, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của toàn hệ thống, phù hợp với thông lệ quốc tế và bảo đảm việc thực hiện cam kết quốc tế

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.

2. Võ Trung Tín, Nguyễn Lâm Trâm Anh: “Thuế bảo vệ môi trường - hình thức thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền trong pháp luật môi trường Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16 (272), 2014

Từ đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển bền vững trong bảo vệ môi trường. Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về môi trường ngày 24/8/2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu: “Không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, gây ảnh hưởng người dân”. Quan điểm về phát triển bền vững không phải lần đầu được nhắc đến trong phát biểu của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam. Các nội dung về phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường, bảo đảm tiến bộ xã hội trước đó đã được đưa vào các văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá vấn đề tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu là thách thức có tính toàn cầu, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước, xác định rõ định hướng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Cương lĩnh nhận định: “Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người. Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu... Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc”. Năm 2013, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI với những đánh giá đồng bộ về vấn đề biến đổi khí hậu và tài nguyên, môi trường, đã thông qua Nghị quyết số 24 - NQ/TW về Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đây là vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển bền vững của nước ta, được đề cập nhiều lần trong các Báo cáo chính trị ở nhiều kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Đây là cơ sở quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật tài nguyên, môi trường nói chung, pháp luật về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền nói riêng.  Như vậy, nhu cầu sửa các quy định về thuế tài nguyên trong giai đoạn hiện nay là cần thiết để phù hợp với các nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Các quy định về pháp luật thuế tài nguyên cần được nghiên cứu sửa đổi các quy định sau:

Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế. Cần rà soát lại các văn bản hướng dẫn thi hành và có quy định chi tiết hơn về các đối tượng chịu thuế nhằm bảo đảm tính cụ thể, minh bạch, giúp cho việc áp dụng được ổn định. Về các loại tài nguyên khác, khoản 9 Điều 2 của Luật Thuế tài nguyên năm 2010 quy định đối tượng chịu thuế là: “Tài nguyên khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định” nhằm điều chỉnh và mang tính du bao những đối tượng có thể phát sinh trong tương lai và cũng là để tạo sự ổn định cho Luật Thuế tài nguyên. Tuy nhiên, việc quy định trong Luật Thuế tài nguyên năm 2010 những đối tượng chưa được xác định cụ thể là không bảo đảm tính chất chẽ trong áp dụng pháp luật. Về nguyên tắc, trong trường hợp Luật Thuế tài nguyên năm 2010 không quy định thẩm quyền thì không ai có quyền quyết định đưa tài nguyên chưa được quy định trong Luật vào đối tượng chịu thuế. Vì vậy, để bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tránh vận dụng tùy tiện, tạo ổn định cho môi trường đầu tư, cần phải xác định cụ thể đối tượng chịu thuế vào ngay trong Luật Thuế tài nguyên. 

Việc mở rộng đối tượng chịu thuế cần xem xét đến các yếu tố vật chất nhân tạo (yếu tố do con người tạo ra thể hiện dưới dạng vật chất) để bổ sung vào đối tượng chịu thuế vì trên thực tế, đó cũng là một loại tài nguyên (tài nguyên xã hội, theo cách hiểu là yếu tố vật chất nhân tạo được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018), đang được khai thác một cách quá mức vì nhiều lợi ích khác nhau, dẫn đến ảnh hưởng nhất định đối với môi trường. Việc đưa các yếu tố này vào đối tượng chịu thuế sẽ giúp khai thác có hiệu quả, đồng thời bảo vệ môi trường. Về vấn đề này, còn nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên ngoài việc quy định đối tượng chịu thuế là các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì việc xem xét đến các đối tượng cũng được quan niệm là thành phần môi trường khác theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 bao gồm các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác) là cần thiết.

Thứ hai, về căn cứ tính thuế. Luật Thuế tài nguyên cần phải xem xét, điều chỉnh quy định về căn cứ tính thuế cho phù hợp. Hiện nay, Nhà nước chưa ban hành định mức sử dụng tài nguyên, trong khi sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ là do doanh nghiệp tự kê khai, chưa có cơ chế kiểm soát, còn tỷ lệ sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm ở mỗi doanh nghiệp là khác nhau. Trong khi đó, cơ quan thuế lại chưa đủ điều kiện về chuyên môn, kỹ thuật, nhân lực để xác định tỷ lệ này. Vì vậy, việc xác định chính xác sản lượng tài nguyên khai thác để tính thuế trong trường hợp này là rất phức tạp và khó khả thi. Do đó, để quy định này của Luật Thuế tài nguyên năm 2010 mang tính khả thi, cần có quy định về trách nhiệm ban hành định mức sử dụng tài nguyên, trường hợp chưa có định mức thì phải áp dụng biện pháp ấn định thuế nhằm tránh tình trạng gian lận, trốn thuế, gây thất thoát nguồn thu ngân sách. 

Thứ ba, về giá tính thuế. Khi xây dựng thuế suất thuế tài nguyên, phải tính đến tính chất, đặc điểm, điều kiện khai thác của từng loại tài nguyên, phải dựa trên lợi thế so sánh giữa tài nguyên khai thác và các nguồn vật liệu khác. Theo đó, những tài nguyên có khả năng tái tạo nhanh nên đánh với thuế suất thấp hơn so với những tài nguyên tái tạo lâu hoặc chỉ khai thác được một lần, điều kiện khai thác càng khó khăn thì mức thuế tài nguyên càng thấp. Ngoài ra cần tính toán đến các yếu tố khác như giá trị, khả năng ảnh hưởng đến môi trường, khả năng quản lý. Do đó, đi đôi với việc tự khai báo của doanh nghiệp cần tăng cường vai trò kiểm soát của các cơ quan nhà nước, phải có chế tài đủ mạnh nhằm tránh thất thoát nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

 Thứ tư, về thuế suất. Cần phải xem xét thu hẹp biên độ khung thuế suất của Luật Thuế tài nguyên năm 2010, đồng chặt chẽ, rõ ràng đối với hoạt động khai thác tài nguyên tử thoát nguồn thu cho ngân sách nhà nước. thời phân loại từng mặt hàng trong cùng một nhóm hàng để quy định cụ thể không thuế suất riêng biệt, bảo đảm không mà quá rộng khung thuế suất nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu điều tiết việc khai thác tài nguyên trong từng thời kỳ. Luật Thuế tài nguyên năm 2010 quy định trên cơ sở kế thừa có chọn lọc chính sách miễn, giảm thuế tài nguyên trong các quy định cũ. Tuy nhiên, cần làm rõ tình trạng tài nguyên bị tổn thất quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Thuế tài nguyên năm 2010 được hiểu thế nào? Có phải là việc tài nguyên bị giảm đi hay không, bởi lẽ nếu tài nguyên bị mất, tiêu hủy do thiên tai trước khi nộp thuế thì đương nhiên không phải nộp nên không thể gọi là miễn giảm, còn nếu gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ mà tài nguyên vẫn không bị mất đi thì vẫn phải nộp thuế theo đúng nghĩa vụ. 

Thứ năm, về bảo đảm thực hiện. Cần tiếp tục tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm tra giám sát các hoạt động khai thác tài nguyên. Xây dựng lực lượng thanh tra, kiểm tra vững mạnh, trang bị đầy đủ điều kiện để ngăn chặn tận gốc tình trạng khai thác tài nguyên bất hợp pháp. Do chưa có các quy định chặt chẽ về cơ chế kiểm tra, giám sát việc khai thác tài nguyên, vì thế có rất nhiều vì phạm trong khai thác tài nguyên. Cần xây dựng một quy chế chặt chẽ, rõ ràng đối với hoạt động khai thác tài nguyên từ trình tự thủ tục đến quyền, nghĩa vụ của các chủ thể. Các quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về khai thác tài nguyên, nhất là các biện pháp xử lý hành chính chưa tương xứng với những thiệt hại do các hành vi này gây ra. Các vị phạm chưa được xử lý kịp thời, hoặc việc xử lý còn tùy tiện, chưa nghiêm minh, rất ít trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Cần nâng mức xử lý hành chính đối với các vi phạm, tổ chức xử lý kịp thời, nghiêm túc, quy định cụ thể các mức thiệt hại trong các văn bản pháp luật làm cơ sở cho việc xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi vi phạm về quản lý và khai thác tài nguyên. Đồng thời, phải tăng cường công tác giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của người dân về khai thác, bảo vệ tài nguyên. Công tác kiểm kê nhà nước đối với các nguồn tài nguyên, xây dựng quy hoạch, kế hoạch về quản lý, khai thác tài nguyên cũng cần phải được cải thiện.

Tài liệu tham khảo

1. “Không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, ảnh hưởng người dân”, http://tuoitre.vn/khong-danh-doi-kinh-te-lay-moi-truong-gay-anh huong - cuoc - song - 1160059.htm (truy cập ngày 25/8/2016).

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb, Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011,

3. Võ Trung Tín: “Bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 04 (308), 2016.

Ở Việt Nam, nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, sử dụng tiết kiệm nước sạch và tạo nguồn kinh phí cho Quỹ bảo vệ môi trường, thực hiện việc bảo vệ, khắc phục ô nhiễm môi trường, ngày 13/6/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2003/NĐ - CP về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT - BTC - BTNMT ngày 18/12/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ - CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Sau một thời gian áp dụng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2007/NĐ - CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ - CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT - BTC - BTNMT ngày 06/9/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/TTLT - BTC - BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2008/NĐ - CP. Tiếp đó, ngày 22/3/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/2010/NĐ - CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 của Nghị định số 67/2003/NĐ- CP. Ngoài ra, ngày 28/5/2007, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 88/2007/NĐ - CP về thoát nước đô thị và khu công nghiệp và ngày 21/5/2009, Bộ Xây dựng cũng đã ban hành Thông tư số 09/2009/TT - BXD quy định chi tiết thực hiện một số nội dung của Nghị định này. 

Sau đó, ngày 29/3/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/ 2013/NĐ - CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thay thế cho Nghị định số 67/2003/NĐ - CP và Nghị định số 04/2007/NĐ - CP. Cùng với việc triển khai thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ - CP và những bất cập của nó, ngày 16/11/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ - CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thay thế cho Nghị định số 25/2013/ NĐ - CP (sau đây gọi là Nghị định số 154/2016/NĐ - CP). 

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 154/2016/NĐ - CP, đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Trong đó, nước thải công nghiệp là nước thải ra môi trường từ: cơ sở sản xuất công nghiệp; cơ sở chế biến thực phẩm, nông sản, lâm sản, thủy sản; cơ sở hoạt động giết mổ gia súc; cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát; cơ sở thuộc da, tái chế da; cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; cơ sở chăn nuôi công nghiệp tập trung, cơ sở cơ khí, sửa chữa ô tô, xe máy tập trung, cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; cơ sở nuôi tôm công nghiệp; cơ sở sản xuất và ươm tôm giống nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung. Còn nước thải sinh hoạt là nước thải ra môi trường từ: hộ gia đình; cơ quan nhà nước; đơn vị vũ trang nhân dân; trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân; các cơ sở rửa ô tô, xe máy, bệnh viện; phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác; và các đối tượng khác. 

Đối tượng không chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải bao gồm: nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, nước tuần hoàn trong các nhà máy, cơ sở sản xuất, kinh doanh; nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở địa bạn đang được Nhà nước thực hiện chế độ bù giá để có giá nước phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội; nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch; nước thải sinh hoạt của hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn (bao gồm: các xã thuộc biên giới, miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa (theo quy định của Chính phủ về xã biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa); các xã không thuộc đô thị đặc biệt, đô thị loại I, II, III, IV và V theo quy định tại Nghị định số 72/2001/NĐ - CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị); nước làm mát thiết bị, máy móc không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng, nước mưa tự nhiên chảy tràn; nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy hải sản; nước thải sinh hoạt tập trung đã xử lý đạt tiêu chuẩn. 

Người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là hộ gia đình, đơn vị, tổ chức có nước thải thuộc đối tượng chịu phí. Trường hợp các tổ chức, cá nhân xả nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung và trả tiền dịch vụ xử lý nước thải thì không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thoát nước là người nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã tiếp nhận và xả ra môi trường (trừ trường hợp nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thoát nước tiếp nhận và đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định xả thải ra môi trường). Đối với cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; hệ thống xử lý nước thải tập trung sử dụng nguồn nước từ đơn vị cung cấp nước sạch cho hoạt động sản xuất, chế biến thì phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp (không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt)

Các văn bản pháp luật đã đặt ra hai yêu cầu trong quá trình thực hiện việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Thứ nhất, phải thu đúng, thu đủ, quản lý sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả số phí thu được để phục vụ cho công tác quản lý và cải thiện chất lượng môi trường. Thứ hai, các cơ sở sản xuất thuộc đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp có trách nhiệm nộp đủ và đúng thời hạn số phí phải nộp theo thông báo của Sở Tài nguyên và Môi trường. Theo tinh thần trên, kể từ ngày 01/01/2004, các tổ chức, hộ gia đình có nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt thì phải nộp một khoản phí bảo vệ môi trường theo quy định. Cụ thể, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán của 1 mét khối nước sạch, nhưng tối đa không quá 10 % của giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Đối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng (trừ hộ gia đình ở những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch) thì mức thu được xác định theo từng người sử dụng nước, căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường nơi khai thác và giá cung cấp 1 mét khối nước sạch trung bình tại địa phương. Còn đối với nước thải công nghiệp thì mức thu phí được tính theo từng chất gây ô nhiễm có trong nước thải. 

Như vậy, do đặc thù của nước thải sinh hoạt là tương đối giống nhau ở mọi gia đình, công sở, nên mức phí được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) giá bán 1 mét khối nước cấp (tối đa 10 %) mà hộ gia đình, công sở đó sử dụng, và do công ty cấp nước trực tiếp thu. Với nước thải công nghiệp, do mỗi loại có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau, nên không thể tính đồng đều như với nước thải sinh hoạt, mà được tính theo khối lượng các chất gây ra ô nhiễm. 

Chẳng hạn, với 1kg chỉ có trong nước thải, doanh nghiệp phải trả từ 300.000-500.000 đồng (tùy môi trường tiếp nhận chất thải); 1 kg arsen phải trả từ 600.000-1 triệu đồng, 1kg thủy ngân phải trả từ 10-20 triệu đồng. Căn cứ quy định về mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt và tình hình kinh tế - xã hội, đời sống, thu nhập của nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định cụ thể mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt áp dụng cho từng địa bàn, từng loại đối tượng tại địa phương. Và căn cứ khung mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể mức thu phí bảo vệ môi trường đối với từng chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp cho phù hợp với từng môi trường tiếp nhận nước thải, từng ngành nghề; hướng dẫn việc xác định số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp phải nộp của đối tượng nộp phí. 

Nguồn thu được từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thuộc về ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng như sau: để lại một phần số phí thu được cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc thu phí; trang trải chi phí đánh giá, lấy mẫu phân tích nước thải đối với nước thải công nghiệp phục vụ cho việc thu phí hoặc điều chỉnh định mức phát thải của chất gây ô nhiễm. Phần còn lại nộp 100 % vào ngân sách địa phương để sử dụng cho việc bảo vệ môi trường, đầu tư mới, nạo vét cống rãnh, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thoát nước tại địa phương, bổ sung vốn hoạt động cho Quỹ bảo vệ môi trường của địa phương, trà nợ vay đối với các khoản vay của các dự án thoát nước thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương. 

Tài liệu tham khảo

Nghị định số 67/2003/NĐ - CP về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT - BTC - BTNMT ngày 18/12/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ - CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định số 04/2007/NĐ - CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ - CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. 

Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT - BTC - BTNMT ngày 06/9/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 125/TTLT - BTC - BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2008/NĐ - CP. 

Nghị định số 88/2007/NĐ - CP ngày 28/5/2007 về thoát nước đô thị và khu công nghiệp 

Thông tư số 09/2009/TT - BXD ngày 21/5/2009 quy định chi tiết thực hiện một số nội dung của Nghị định này. 

Nghị định số 25/ 2013/NĐ – CP ngày 29/3/2013 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thay thế cho Nghị định số 67/2003/NĐ - CP và Nghị định số 04/2007/NĐ - CP. 

Nghị định số 154/2016/NĐ - CP ngày 16/11/2016 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải thay thế cho Nghị định số 25/2013/ NĐ - CP 

Cũng như Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, Luật Thuế tài nguyên năm 2009 quy định nhiều nội dung, tác giả rừng tự nhiên được khoanh nuôi, bảo vệ, hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển; nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước phối hợp với các bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy dưới đất; yến sào thiên nhiên; tài nguyên khác do Bộ Tài chính chủ trì ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Đối tượng chịu thuế tài nguyên được quy định cụ thể tại Điều 2 Nghị định số 50/2010/NĐ - CP tập trung phân tích các nội dung liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

 Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế tài nguyên 

Đối tượng chịu thuế tài nguyên bao gồm 09 nhóm tài nguyên thiên nhiên. Đây là những nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể phục hồi và không thể phục hồi. Luật Thuế tài nguyên không đưa các nguồn tài nguyên thiên nhiên vĩnh viễn (tài nguyên thiên nhiên vô tận) vào đối tượng chịu thuế là quy định phù hợp, nhằm khuyến khích việc tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Việc quy định đối tượng chịu thuế tài nguyên còn là “Tài nguyên khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định” nhằm hướng đến việc điều chỉnh đối tượng chịu thuế phát sinh trong tương lai. Quy định này thể hiện tính chất dự phòng, hạn chế trường hợp phải sửa đổi Luật Thuế tài nguyên, bảo đảm tính ổn định của pháp luật thuế tài nguyên nói riêng và pháp luật thuế nói chung.

Thứ hai, về người nộp thuế tài nguyên 

Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên được quy định tại Điều 3 Luật Thuế tài nguyên năm 2009. Các tổ chức, cá nhân, kể cả tổ chức, cá nhân nước ngoài, không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động, có khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (dù khai thác cố định hay lưu động, thường xuyên hay không thường xuyên) đều là người nộp thuế tài nguyên. Nhà nước không phân biệt địa vị pháp lý của các tổ chức, cá nhân cũng như mức độ khai thác tài nguyên thiên nhiên của các chủ thể này như thế nào, mà Nhà nước chỉ cần biết các tổ chức, cá nhân này có hay không có việc thực hiện hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam. Nếu tổ chức, cá nhân đó có hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên thì trở thành người nộp thuế tài nguyên. 

Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên chứ không phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước không quan tâm đến việc tài nguyên thiên nhiên sau khi khai thác có được đưa vào sử dụng hay không, ai sẽ sử dụng, mà chỉ quan tâm đến việc cá nhân, tổ chức thực hiện hay không thực hiện hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên. Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của người nộp thuế tài nguyên phải là hành vi khai thác hợp pháp, nghĩa là các chủ thế này trước khi tiến hành khai thác phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác. Việc bắt buộc các chủ thể phải tiến hành các thủ tục xin cấp giấy phép khai thác và chỉ khi có giấy phép khai thác mới được thực hiện hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là nhằm giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, ai là người khai thác, khai thác tài nguyên nào, ở đâu... tránh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách tràn lan, không có kế hoạch, gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia

Thứ ba, về căn cứ tính thuế tài nguyên 

Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất được quy định tại Điều 4 Luật Thuế tài nguyên năm 2009. Trong đó, sản lượng tài nguyên tính thuế được thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế tài nguyên năm 2009; giá tính thuế được quy định tại Điều 6 Luật Thuế tài nguyên năm 2009; thuế suất được quy định tại Điều 7 Luật Thuế tài nguyên năm 2009

Sản lượng tài nguyên tính thuế được quy định phân hóa đối với tài nguyên khai thác xác định được (hoặc chưa xác định được) số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng, tài nguyên khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác; nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện, nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp; tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên. 

Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán thì giá tính thuế tài nguyên được xác định theo một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên năm 2009, khoản 2 Điều 4 Nghị định số 50/2010/NĐ - CP và khoản 2 Điều 6 Thông tư số 152/2015 /TT - BTC, sửa đổi, bổ sung. Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên năm 2009, khoản 3 Điều 4 Nghị định số 50/2010/NĐ - CP và khoản 4 Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT - BTC, sửa đổi, bổ sung. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế tài nguyên trong trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện. Còn Bộ Tài chính có thẩm quyền quy định việc xác định giá tính | thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện, dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và các trường hợp cụ thể khác

Đối với thuế suất, tùy theo tính chất, mức độ quý hiếm, mức độ ảnh hưởng của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đối với môi trường, Luật Thuế tài nguyên năm 2009 quy định biểu khung thuế suất tại khoản 1 Điều 7. Thuế suất cụ thể đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được xác định lũy tiến từng phần theo sản lượng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than khai thác bình quân mỗi ngày. Việc quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên trong từng thời kỳ phải bảo đảm các nguyên tắc: phù hợp với danh mục nhóm, loại tài nguyên và trong phạm vi khung thuế suất do Quốc hội quy định; góp phần quản lý nhà nước đối với tài nguyên, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên; góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước và bình ổn thị trường. 

Luật Thuế tài nguyên năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng quy định về các trường hợp miễn, giảm thuế tài nguyên tại Điều 9. Thông qua quy định này, Nhà nước thể hiện quan điểm, chính sách quản lý đối với một số trường hợp khai thác tài nguyên thiên nhiên, cụ thể như để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên gặp khó khăn do thiên tai dịch họa, định hướng cho người dân trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, tránh lãng phí, khai thác tràn lan gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia; hoặc thực hiện miễn thuế cho các trường hợp khai thác tài nguyên nhằm phục vụ cho đời sống hằng ngày của người dân hay vì mục đích nhân đạo. 

Tài liệu tham khảo

1. Thông tư số 152/2015/TT - BTC, sửa đổi, bổ sung về thuế tài nguyên

2. Nghị định số 50/2010/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên

3. Luật Thuế tài nguyên năm 2009

Thứ sáu, 24 Tháng 7 2020 03:21

Khái quát về thuế tài nguyên

Tài nguyên, theo nghĩa chung nhất, được hiểu là những yếu tố mà con người có thể khai thác, sử dụng được để phục vụ cho nhu cầu (tồn tại và phát triển của mình. Đó có thể là yếu tố tự nhiên hay yếu tố xã hội. Tài nguyên có thể là những yếu tố tự nhiên (gọi là tài nguyên thiên nhiên), tức là những yếu tố không phụ thuộc vào ý chí con người, không chỉ giới hạn trong phạm vi trái đất như: tài nguyên đất - địa quyển, tài nguyên nước - thủy quyền, tài nguyên sinh vật - sinh quyển, tài nguyên khoáng sản - khoáng quyển... Tài nguyên thiên nhiên sẽ mở rộng cùng với khả năng khai thác, sử dụng của con người. Trước đây, con người chủ yếu sử dụng những yếu tố tự nhiên có sẵn trên mặt đất. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, con người có thể khai thác, sử dụng những yếu tố tự nhiên khác. Ví dụ dầu lửa, than, quặng... là những tài, nguyên được con người khai thác và sử dụng trong thời gian gần đây. Trong tương lai, con người sẽ tiếp tục khai thác và sử dụng những tài nguyên thiên nhiên khác như: năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt... Tài nguyên có thể là những yếu tố xã hội như: sức lao động, tri thức mà con người tích lũy được, truyền thống, văn hóa, lịch sử, chính sách phát triển kinh tế... 

Như vậy, có thể hiểu, tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể khai thác nhằm phục vụ nhu cầu của mình. Đây là nguồn tài sản quý giá của quốc gia, có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội loài người, mức độ tác động của con người đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên càng quy mô và mạnh mẽ hơn, dẫn đến sự cạn kiệt, suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên. 

Việt Nam được biết đến như là một quốc gia có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên phong phú. Từ lâu, câu nói “rừng vàng, biển bạc” đã được sử dụng và ăn sâu trong suy nghĩ của nhiều thế hệ người Việt Nam. Mặc dù vậy, tài nguyên thiên nhiên không phải là nguồn vô tận, nên dù có trữ lượng dồi dào đến đầu nhưng không có kế hoạch khai thác tiết kiệm, hiệu quả thì thiên nhiên tồn tại trong lòng đất từ rất lâu nhưng mới chỉ cũng sẽ cạn kiệt. Nếu các nguồn tài nguyên thiên nhiên được khai thác, sử dụng không có kế hoạch, lãng phí thì sẽ gây ra hậu quả xấu cho cả nền kinh tế lẫn môi trường sống một quốc gia. Việc đánh thuế vào hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên được đặt ra nhằm bảo đảm việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên đạt hiệu quả. 

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn ở cụm từ “do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý so với Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 cho thấy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác lập quyền sở hữu đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và những tài sản có vai trò rất quan trọng về kinh tế, an ninh, quốc phòng nhằm để bảo đảm rằng các chủ thể được giao tài sản nhà nước sẽ sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất, đòi hỏi việc sử dụng tài sản quốc gia phải đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. 

Có nhiều căn cứ để phân loại tài nguyên thiên nhiên. Căn cứ vào khả năng cung ứng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể chia thành 03 loại sau: 1) Tài nguyên vĩnh viễn (tài nguyên vô tận): là những tài nguyên không bị cạn kiệt đi do sự khai thác, sử dụng của con người như năng lượng 110 mặt trời, năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt; i) Tài nguyên có thể phục hồi: là tài nguyên có khả năng tái tạo để bù đắp vào lượng mà con người đã khai thác. Tuy nhiên, khả năng phục hồi này cũng có giới hạn. Tài nguyên sinh vật (hay nói rộng là hệ sinh thái: đất, nước, rừng, thủy sản...) là tài nguyên có thể phục hồi; iii) Tài nguyên không thể phục hồi là tài nguyên khai thác đến đâu thì hết đến đó, là loại tài nguyên tồn tại một cách hữu hạn. Vì thế cần khai thác, sử dụng tiết kiệm trên cơ sở tìm ra nguồn tài nguyên khác có thể thay thế. Tài nguyên khoáng sản (dầu lửa, than đá, quặng sắt, quặng đồng...) là tài nguyên không thể phục hồi.

Việc phân loại các nguồn tài nguyên thiên nhiên mang tính chất tương đối để bảo đảm hiệu quả của việc khai thác, sử dụng. Ví dụ, năng lượng mặt trời là tài nguyên vĩnh viễn, nhưng mặt trời không thể tồn tại vĩnh viễn. Nếu đem so sánh với sự xuất hiện của con người thì sự xuất hiện của con người so với thời gian tồn tại của mặt trời là không đáng kể. Hay tài nguyên không thể phục hồi cũng mang ý nghĩa tương đối, vì muốn tái tạo phải cần một khoảng thời gian rất dài. Việc phân loại như trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả sử dụng, đặc biệt là dưới góc độ bền vững.

Tài nguyên vĩnh viễn sẽ khai thác triệt để, tài nguyên có thể phục hồi phải khai thác trong giới hạn của sự phục hồi, tài nguyên không thể phục hồi cần khai thác tiết kiệm trên cơ sở tìm ra nguồn tài nguyên khác có thể thay thế. Đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không thể phục hồi, Nhà nước có nhiều cách thức khác nhau để thực hiện chức năng quản lý, trong đó có việc ban hành pháp luật nhằm đặt với hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên do cá nhân, tổ chức trong nước thực hiện như tiền nuôi rừng đối với các chủ thể ra các loại thuế điều tiết vào hành vi sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, từ đó có biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả, đồng thời động viên một phần thu nhập của các chủ thể này vào ngân sách nhà nước để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. 

Thuế tài nguyên là một khoản thu của ngân sách nhà nước đối với người sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất. Thuế tài nguyên là loại thuế trực thu, tức người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế. Thuế tài nguyên có vai trò đặc thù trong việc thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia. Trong quá trình thu nộp thuế tài nguyên, cụ thể là thông qua việc đăng ký, kê khai, nộp thuế; Nhà nước có được những thông tin cần thiết về tình hình khai thác tài nguyên thiên nhiên để kịp thời đề ra các biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn. Mục đích của thuế tài nguyên là nhằm hạn chế những nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý; hạn chế các tổn thất tài nguyên thiên nhiên trong quá trình khai thác Và sử dụng, tạo nguồn thu cho ngân sách và điều hòa quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. 

Trước năm 1990, Nhà nước ban hành một số chế độ thu đối với hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên do cá nhân, tổ chức trong nước thực hiện như tiền nuôi rừng đối với các chủ thể khai thác sản phẩm rừng tự nhiên, thuế với khai thác vàng... nhưng số thu không đáng kể. Riêng đối với các doanh nghiệp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, theo đó khung thuế suất của các loại tài nguyên khoáng sản tăng mạnh. Trên cơ sở Pháp lệnh này, ngày 19/01/2009, Chính nước phải trả tiền thuê đất, mặt nước, mặt biến. Tuy nhiên, do phủ đã ban hành Nghị định số 05/2009/NĐ - CP quy định chi có vốn đầu tư nước ngoài có sử dụng mặt đất, mặt biển, mặt nguyên quy định chưa cụ thể, thống nhất nên việc sử dụng tài, thiên nhiên có thể nói là rất lãng phí, nguồn thu từ khai thác tài nguyên thiên nhiên được tập trung vào ngân sách nhà nước là hạn chế. Trước tình hình đó, ngày 30/3/1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên nhằm tác động đến hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam của các cá nhân, tổ chức. Trong giai đoạn này, chúng ta đã chú trọng đến yếu tố tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đến năm 1998, trước thực tế yêu cầu nhằm góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên được tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi) đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/4/1998. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/1998/NĐ CP ngày 03/9/1998 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên sửa đổi. Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, nhận thấy biểu thuế suất thuế tài nguyên quy định tại Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 không còn phù hợp, ngày 22/11/2008, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, theo đó khung thuế suất của các loại tài nguyên khoáng sản tăng mạnh. Trên cơ sở Pháp lệnh này, ngày 19/01/2009, Chính phủ đã ban hành nghị định số 05/2009/NĐ-CP quy định tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Điều 6 Pháp lệnh Thuế tài nguyên. Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung Điều 6 vào năm 2008) về cơ bản đã đạt được mục tiêu đặt ra khi ban hành là nhằm góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới, Pháp lệnh Thuế tài nguyên cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp. Xuất phát từ những lý do trên và để nâng cao giá trị pháp lý, thực hiện đúng quy định của Hiến pháp về thẩm quyền quyết định các sắc thuế, pháp điển hóa các quy định về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, ngày 25/11/2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực từ ngày 01/7/2010. Trên cơ sở Luật Thuế tài nguyên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ - CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên (sau đây gọi là Nghị định 50/2010/NĐ - CP). Ngày 23/7/2010, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 105/2010/TT - BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên và hướng dẫn thi hành Nghị định 50/ 2010/NĐ - CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên. Ngày 02/10/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 152/2015/TT - BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên. 

Tài liệu tham khảo

1. Hiến pháp năm 2013

2. Pháp lệnh Thuế tài nguyên (sửa đổi) ngày 16/4/1998

3. Nghị định số 68/1998/NĐ CP ngày 03/9/1998 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên sửa đổi.

4. Nghị định số 05/2009/NĐ – CP quy định tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên

5. Nghị định số 50/2010/NĐ - CP ngày 14/5/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên

6. Thông tư số 152/2015/TT - BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên

Nhận thức rõ yêu cầu về tính tương thích quốc tế đối với pháp luật hình sự trong việc ứng phó trước thách thức an ninh phi truyền thống, các chuẩn mực pháp lý quốc tế cơ bản liên quan đến việc tội phạm hóa một số hành vi đe dọa an ninh phi truyền thống có tính chất điển hình như: tội khủng bố, tội mua bán người, các tội phạm về ma túy, tội rửa tiền... nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống. Trên cơ sở những thành tựu lập pháp trước đây mang tính chất nền tảng đã đạt được trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1999 để làm cơ sở cho việc đánh giá các quy định liên quan trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định này trong giai đoạn hiện nay. 

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đã có nhiều điểm mới quan trọng liên quan đến các tội phạm phi truyền thống và thách thức an ninh trong một số lĩnh vực quan trọng như: vấn đề hiệu lực về không gian của đạo luật hình sự: vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân (loại tội, phạm vi, điều kiện áp dụng, hình thức lỗi...) hoặc đã có nhiều tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có liên quan đến an ninh phi truyền thống như: Tội mua bán người (Điều 150), Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), Tội tài trợ khủng bố (Điều 300), Tội bắt cóc con tin (Điều 301), Tội cướp biển (Điều 302)... có chứa đựng khái niệm, thuật ngữ mang tính khái quát cao hoặc chuyên môn sâu về các lĩnh vực kinh tế, tài chính, công nghệ... đối với các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tội phạm trong lĩnh vực môi trường, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ - thông tin... cần phải được giải thích, thống nhất về nhận thức làm căn cứ cho việc áp dụng chính xác. 

- Theo thống kê trong 6 năm (từ năm 2012 đến năm 2017), quy định về các hành vi mua bán người của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để giải quyết gần 800 vụ án về các tội phạm như sau: 

- Về tội mua bán người ( Điều 119).

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội mua bán người (Điều 119 Bộ luật hình sự)

Năm

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Tổng cộng

Số vụ

146

151

149

138

106

101

791

Số bị cáo

307

295

306

276

180

186

1.550

Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

- Về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120).

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) Bộ luật hình sự

Năm

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Tổng cộng

Số vụ

39

63

67

62

45

31

307

Số bị cáo

79

125

114

120

95

59

592

Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

Tuy nhiên, số vụ mua bán người được đưa ra xử lý về hình sự chỉ chiếm khoảng gần một nửa so với số lượng vụ việc được phát hiện thực tế. Theo báo cáo của Chính phủ, “trong giai đoạn 2011-2015, trên toàn quốc đã phát hiện hơn 2,200 vụ mua bán người, với 3.300 đối tượng, lừa bán gần 4.500 nạn nhân". Số liệu xét xử còn khiêm tốn hơn nữa nếu so với nghi vấn thực tế: theo kết quả điều tra của các cơ quan chức năng tại thời điểm năm 2012, toàn quốc có hơn 22.000 phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu ngày không rõ lý do, không có tin tức, nhiều người trong số này nghi bị mua bán, hơn 80.000 phụ nữ xuất cảnh và xuất cảnh trái phép ra nước ngoài lấy chồng, hoặc xuất cảnh trái phép ra nước ngoài tìm kiếm việc làm, hơn 20.000 em được cho nhân làm con nuôi có yếu tố nước ngoài. Hạn chế trong phát hiện, xử lý tội mua bán người xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau do các đặc thù của tội phạm như: thường là các tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia với thủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp; thường diễn ra ở các tuyến biên giới, nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nạn nhân thường là phụ nữ, trẻ em, người có trình độ văn hóa thấp nên yếu thế và gặp nhiều khó khăn trong việc tố giác tội phạm, tiếp cận với sự trợ giúp của cơ quan chức năng, v... Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng vẫn là quy định của Bộ luật Hình sự vẫn chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này. 

Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã bỏ lọt nhiều dạng hành vi mua bán người diễn ra trong thực tế. Như đã phân tích, Điều 119, Điều 120 Bộ luật này chỉ quy định tội danh mua bán người, mua bán trẻ em mà không có mô tả cụ thể nên chỉ có thể hiểu rằng mặt khách quan của tội mua bán người biểu hiện bằng hai loại hành vi: mua người hoặc bán người. Trong khi, thủ đoạn trong thực tế của các tội phạm mua bán người được thống kê rất đa dạng như: lợi dụng khó khăn về kinh tế, trình độ học vấn thấp, mất cảnh giác, nhẹ dạ cả tin của người dân hoặc sơ hở trong thực hiện chính sách, pháp luật để lừa bán ra nước ngoài dưới dạng cưỡng bức lao động, cưỡng ép mại dâm, cưỡng ép kết hôn; lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo và thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường để tiếp cận, rủ rê, lôi kéo thanh thiếu niên đi du lịch, mua sắm hoặc lao động có thu nhập cao, sau đó, đưa ra nước ngoài bán; lợi dụng chính sách mở cửa, thông thoáng trong thủ tục xuất, nhập cảnh, việc cấp hộ chiếu công dân và giấy thông hành qua biên giới thuận lợi, một số nước miễn thị thực cho nên đã tổ chức thành những đường dây đưa người ra nước ngoài dưới dạng du lịch, thăm thân, lao động trái phép, sau đó, thu giữ giấy tờ, hộ chiếu, không làm các thủ tục cư trú, bắt lao động cưỡng bức…. . Những biểu hiện đa dạng của hành vi mua bán người như vậy đã được mô tả ở Điều 3 (a) của Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000: “Việc buôn bán người nghĩa là việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hoặc bằng việc đưa, nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người nhằm kiểm soát những người khác. Tương tự, các hành vi được coi là mua bán người trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 của Việt Nam bao gồm: mua bán người, chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác...

Bộ luật Hình sự năm 2015 tách tội mua bán trẻ em (người dưới 16 tuổi) ra khỏi các tội đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em và làm rõ cấu thành của tội mua bán người, mua bán trẻ em, trong đó tội phạm hóa tất cả các dạng hành vi mua bán người. Theo quy định của khoản 1 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015, việc thực hiện bất kỳ dạng hành vi nào trong các hành vi sau đều cấu thành tội mua bán người như sau: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện việc chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện những hành vi trên. Còn theo quy định ở khoản 1 Điều 151 Bộ luật này thì tất cả các hành vi giống như ở Điều 150 được thực hiện đối với người dưới 16 tuổi dù với bất kỳ thủ đoạn nào cũng cấu thành tội mua bán người dưới 16 tuổi. Mô tả cấu thành với đầy đủ các dạng biểu hiện thực tế của tội phạm mua bán người của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bảo đảm quy định có tính rõ ràng và tương thích với định nghĩa của Nghị định thư bổ sung cho Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 và Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 của Việt Nam. Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng bổ sung tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154) với mức hình phạt cao đến tù chung thân. 

Vấn đề đặt ra khi thi hành quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm ứng phó hiệu quả trước thách thức an ninh phi truyền thống đối với quy định về tội mua bán người dưới 16 tuổi cần bảo đảm đồng bộ với tội mua bán người về thủ đoạn phạm tội. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi cơ bản và toàn diện đối với tội mua bán người (Điều 150) và tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151) đáp ứng yêu cầu của các Công ước, văn bản quốc tế về buôn bán người và thực tiễn xét xử ở nước ta. Tuy nhiên, ở đây khác nhau về độ tuổi của nạn nhân (từ đủ 16 tuổi trở lên hay dưới 16 tuổi) nên nhà làm luật tách ra thành hai tội danh để xử lý, trong đó, xử lý người có hành vi mua bán người dưới 16 tuổi nghiêm khắc hơn 80 với hành vi mua bán người. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 150 đã mô tả thủ đoạn phạm tội “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác...", trong khi khoản 1 Điều 151 lại không quy định tương tự là chưa đầy đủ. 

Tài liệu tham khảo

1. Hà Việt Dũng, Hô Thế Hòa: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 11/2012

2. Cao Minh Huyền, Mai Văn Mạnh: Tình hình tội phạm mua bán người qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Lào, Campuchia và một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, http://congantravinh.gov.vn/ch26/268-Tinh-hinh-toi-pham-mua-ban-nguoi-qua-bien-gioi-Viet-Nam---Trung-Quoc-Lao-Campuchia-va-mot-so-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-phong-ngua.html 

3. Liên hợp quốc: Công ước về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng, chống và trừng trị Pệc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền" đã trở nên phổ biến tại nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây, khi vấn đề môi trường đang ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với sự phát triển bền vững của hầu hết các quốc gia. Khi con người nhận thức được rõ hơn rằng hoạt động sản xuất của nền kinh tế thế giới đang ngày càng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến điều kiện sống của toàn nhân loại, thì nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được xem như là một nguyên tắc thế hiện việc áp dụng công cụ kinh tế để quản lý và giải quyết các vấn để môi trường. 

Pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay chưa ghi nhận đầy đủ và chính xác các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường (tác nhân chính dẫn đến thực trạng môi trường đáng báo động), cũng như chưa ràng buộc đầy đủ nghĩa vụ của các chủ thể này. Tuy nhiên, người nộp thuế và đối tượng chịu thuế của Luật thuế bảo vệ môi trường có thể phân tích một số điểm cần làm sáng tỏ trong quá trình áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường hiện này.

Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường 

Đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường là hàng hóa, dịch vụ, tài sản, thu nhập hoặc những lợi ích vật chất khác mà sắc thuế tác động đến để phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế. Đối tượng chịu thuế theo quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 là những hàng hóa được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường”

Việc đưa các sản phẩm, hàng hóa (gọi chung là hàng hóa) vào đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường phải thỏa mãn: 

- Là những hàng hóa được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường; 

- Phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và với thông lệ quốc tế; 

- Bảo đảm tính khả thi và; 

- Tính đến sự hài hòa với việc phát triển kinh tế, không tác động đến năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu. 

Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 đã đưa 05 nhóm hàng hóa vào diện thuế bảo vệ môi trường (đây là 05 nhóm hàng hóa lớn mà khi sử dụng gây ô nhiễm trên diện rộng) là phù hợp.

a) Đối với xăng, dầu, mỡ nhờn: đây là các sản phẩm có chứa chì, lưu huỳnh, benzen, cadimi, bari, hydrocacbon thơm, hydrocacbon nặng và một số chất phụ gia, ngay cả khi chưa được sử dụng, các chất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người. Xăng dầu gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và có phạm vi sử dụng rộng rãi, với số lượng lên đến 15 triệu tấn/năm, nên nguy cơ ô nhiễm môi trường cũng diễn ra trên diện rộng. Việc đưa các sản phẩm xăng dầu vào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo. Nhiều nước trên thế giới cũng áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu. khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. 

 b) Đối với than đá: khi than được sử dụng cho mục đích đốt cháy sẽ thải ra môi trường các loại khí như CO, SO,... đều là các khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Phạm vi sử dụng than đá cũng rộng khắp và với khối lượng gần 30 triệu tấn/năm. Việc đưa than đá vào đối tượng chịu thuế cũng nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; giảm sự phụ thuộc vào năng lượng có nguồn gốc hóa thạch, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo. 

c) Đối với dung dịch hydrochlorofluorocarbon (HCFC): được sử dụng trong một số lĩnh vực công nghiệp như làm lạnh, điều hòa không khí. Sự phát thải chất HCFC vào khí quyển làm ô nhiễm bầu không khí, là nguyên nhân chính làm suy giảm tầng ôzôn và gây hiệu ứng nhà kính. Việt Nam đã tham gia phê chuẩn Nghị định thư Montreal năm 1987 về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, Nghị định thư Kyoto năm 1997 về cắt giảm khí nhà kính. Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp làm lạnh và điều hòa không khí với lượng tiêu thụ các chất HCFC tăng nhanh liên tục sẽ đặt ra nhiều thách thức cho tiến trình loại trừ HCFC ở nước ta. Việc đưa chất HCFC vào đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường sẽ góp phần vào việc thực hiện cam kết quốc tế, khuyến khích doanh nghiệp giảm dần sử dụng HCFC bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất. 

d) Đối với túi ni lông (túi nhựa xốp): là loại túi được làm từ màng nhựa đơn HDPE (High Density Polyethilene resin) hoặc LLDPE (Linear Low Density Polyethilen resin). Túi nhựa xốp phải trải qua thời gian rất lâu để phân hủy, có thể tới hàng trăm năm hoặc không thể tự phân hủy được. Túi nhựa xốp thải bỏ sau khi sử dụng sẽ tích tụ trong đất, gây suy thoái môi trường đất. Khi bị phân hủy thì còn sinh ra các chất làm đất bị trợ, không giữ được độ ẩm và dinh dưỡng cho cây trồng. Việc sử dụng và xả thải túi nhựa xốp sau khi sử dụng diễn ra khắp mọi nơi từ thành thị đến nông thôn và gây ô nhiễm môi trường lớn, trên diện rộng. Việc đưa túi nhựa xốp vào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi hành vi của người tiêu dùng thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế. Quy định này phù hợp với Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 trước đây: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp thuế bảo vệ môi trường. Người nộp thuế bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 94 trong việc sử dụng túi nhựa xốp, khuyến khích sản xuất các sản phẩm thay thế thân thiện hơn với môi trường. 

e) Đối với thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng: đây là những hợp chất có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóa học được dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng và bảo quản nông sản. Hiện nay, việc sử dụng đúng cách, đúng liều lượng thuốc bảo vệ thực vật chưa được quan tâm. Những hành vi sử dụng không đúng cách, không đúng liều lượng hóa chất bảo vệ thực vật có thể ảnh hưởng tới môi trường theo rất nhiều cách, ví dụ như các hóa chất lơ lửng trong không khí khi phun thuốc hay tồn tại trong các loại thực phẩm, trong nước, đất... Việc đưa hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng vào đối tượng chịu thuế nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng, khuyến khích họ thay đổi thói quen sử dụng lạm dụng, giảm thiểu những tác hại xấu của hóa chất bảo vệ thực vật đối với môi trường. 

 Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường cũng đã bộc lộ hạn chế về đối tượng chịu thuế. Luật Thuế bảo vệ môi trường quy định 08 nhóm sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế như đã phân tích là chưa đầy đủ. Trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế bảo vệ môi trường. Ví dụ như các chất tẩy rửa trong công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ. Không nhiều hàng hóa được đưa vào danh mục chịu thuế bảo vệ môi trường mặc dù là thuế gián thu, về biên độ khung thuế suất, biên độ khung thuế hàng. Thông tư số 152/2011/TT - BTC, sửa đổi, bổ sung xác định túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa móng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density) chịu thuế bảo vệ môi trường là một trong những lý do khiến lại ít được người tiêu dùng quan tâm, số thu thuế cũng chưa tương xứng với yêu cầu. 

Thứ hai, người nộp thuế bảo vệ môi trường 

Người nộp thuế bảo vệ môi trường được quy định trong Luật Thuế bảo vệ môi trường. Theo đó, người nộp người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế. Quy định này phù hợp với Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 trước đây: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp thuế bảo vệ môi trường”.

Như vậy, theo quy định, các tổ chức, cá nhân có hành vi nhập khẩu hoặc sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường sẽ là người nộp thuế bảo vệ môi trường. Những chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh, mua đi, bán lại hàng hóa chịu thuế không phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường. Cũng giống như thuế tài nguyên, những hành vi nhập khẩu và sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường phải là hành vi hợp pháp. Người nộp thuế bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 phù hợp với cách hiểu về người gây ô nhiễm theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Trong trường hợp này, số tiền trả cho hành vi gây ô nhiễm đánh vào chủ thể gây ra ô nhiễm ở giai đoạn đầu, mang tính dự đoán. Bởi vì những sản phẩm gây tác động xấu, lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người trên thực tế chưa gây ô nhiễm. 

Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 cũng quy định: trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế. Quy định này giúp cho việc thu thuế thuận lợi hơn. 

Tài liệu tham khảo

1. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Giáo trình Luật thuế, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2012.

2. Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010

3. Nghị định số 67/2011/NĐ – CP của Chính phủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường.

4. Thông tư số 152/2014/ TT - BTC, sửa đổi, bổ sung quy định đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường 

Luật thuế bảo vệ môi trường hiện này quy định thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Theo đó, căn cứ để phân biệt thuế bảo vệ môi trường với các loại thuế khác trong hệ thống thuế hiện hành ở các đặc điểm: 

- Đây là loại thuế gián thu; tiền thuế bảo vệ môi trường là một bộ phận cấu thành trong giá cả của hàng hóa chịu thuế khi bán ra thị trường, người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, người nộp thuế là chủ thể sản xuất, nhập khẩu hàng hóa gây ô nhiễm; 

- Đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường là hàng hóa có tác động xấu tới môi trường; 

- Thuế bảo vệ môi trường chỉ điều tiết một lần vào khâu đầu tiên hình thành nên hàng hóa chịu thuế trên thị trường nội địa; 

- Mục tiêu quan trọng nhất của thuế bảo vệ môi trường là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm phát triển bền vững.

Từ những đặc điểm nêu trên cơ thể thấy cơ sở kinh tế ban hành thuế bảo vệ môi trường là sự cần thiết của việc đưa chi phí “gây ô nhiễm môi trường” (các yếu tố ngoại ứng) vào giá bán của hàng hóa. Khi chưa có thuế bảo vệ môi trường, chí phí này không được tính trong giá hàng hóa. Nó buộc các chủ thể gây ô nhiễm và các bên có liên quan phải chịu trách nhiệm về chi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ bằng cách đưa chi phí ngoại ứng vào giá. Các loại thuế được thu cho hoạt động bảo vệ môi trường đã được nhiều nước áp dụng là thuế đánh vào việc sử dụng các thành phần môi trường như thuế tài nguyên, thuế sử dụng nguồn nước, thuế sử dụng đất... Các nước OECD đã sử dụng khá phổ biến công cụ tài chính, nhất là thuế để chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Gần đây, công cụ tài chính và cụ thể là công cụ thuế nhằm bảo vệ môi trường đã bước đầu vận dụng có kết quả ở nhiều nước như: Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Singapo... 

Thuế bảo vệ môi trường thúc đẩy việc cải cách và đổi mới công nghệ. Nếu đánh thuế bảo vệ môi trường mà giá nhiên liệu tăng thì điều này sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới. Như vậy, thuế bảo vệ môi trường có thể giúp chuyển dịch nên kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá sản phẩm tự nhiên. 

Thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá sản phẩm, hàng hóa. Từ đó, có thể sử dụng thuế để kích thích và điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường. Đối với cả người tiêu dùng (muốn mua với giá thấp hơn) và nhà sản xuất (bán được nhiều sản phẩm hơn, lợi nhuận cao hơn) thì thuế bảo vệ môi trường sẽ có nhiều tác dụng khuyến khích, điều chỉnh định hướng sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường trường hơn. Tuy nhiên, giá cả chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động tới hành vi của nền kinh tế. Thành công của thuế bảo môi trường trong việc điều chỉnh hành vi kinh tế còn phụ thuộc vào từng thị trường cụ thể đối với từng đối tượng đánh thuế. 

Nếu không có biện pháp hữu ích nào khả dĩ có thể giúp giảm lượng tiêu thụ năng lượng hóa thạch để thay thế, thì việc áp dụng biện pháp tăng giá năng lượng thông qua thuế bảo vệ môi trường sẽ đem lại hiệu quả rất thấp trong nỗ lực thay đổi hành vi tiêu dùng năng lượng hóa thạch trong nền kinh tế. Tương tự, nếu không kết hợp việc tạo ra các sản phẩm đủ sức cạnh tranh, thay thế, tin cậy và an toàn khác (như giao thông công cộng, xe đạp...), mà chỉ áp dụng riêng lẻ thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá xăng dầu thì hiệu quả điều chỉnh hành vi sử dụng ô tô, xe máy là rất thấp. Không thể quá kỳ vọng vào việc sử dụng công cụ thuế trong trường hợp này. Trong các trường hợp như vậy, hoặc phải áp dụng thuế rất cao, hoặc phải sử dụng các biện pháp khác như hỗ trợ sử dụng hiệu quả năng lượng, nâng cao chất lượng, tiện nghi, đa dạng hóa giao thông công cộng thì mới có thể làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng. Vai trò của Nhà nước là rất rõ nét và quan trọng. Điều này giải thích tại sao thuế bảo vệ môi trường sẽ phát huy hiệu quả cao khi chính sách thuế đồng bộ với các chính sách khác về chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường.

 Nếu đánh thuế bảo vệ môi trường mà giá nhiên liệu tăng thì điều này sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới. Rõ ràng thuế bảo vệ môi trường có thể giúp chuyển dịch nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá sản phẩm tự nhiên. Thuế bảo vệ môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng. 

Khoản 1 Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 sử dụng cụm từ “thuế môi trường, và dành một điều quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một số loại sản phẩm gây tác động xấu, lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp thuế môi trường”. Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài, quy định về thuế môi trường không có hướng dẫn cụ thể để áp dụng. Năm 2010, Quốc hội thông qua Luật Thuế bảo vệ môi trường, thuế môi trường thay đổi bằng thuế bảo vệ môi trường và được quy định thống nhất trong Luật Thuế bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 theo đó cũng không còn quy định về thuế môi trường. 

Như vậy, việc đánh thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường. Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu dùng sản phẩm gây ô nhiễm. Từ đó, giúp tiết kiệm cá nhân, tiết kiệm xã hội, giảm ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý ô nhiễm. Thuế bảo vệ môi trường nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường. Hơn nữa, thuế mang lại nguồn thu nhất định cho ngân sách để đầu tư cải tạo môi trường. Thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của môi trường là mục tiêu lớn nhất mà các chính sách đang hướng tới. Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực đến môi trường. Từ đó, hướng tới một sự phát triển bền vững, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

Tài liệu tham khảo 

1. Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010.

2. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Giáo trình Luật Thuế, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2012.

Chi phí đầu người mua sắm hàng may mặc ở Liên minh châu Âu rất cao, đặc biệt là ở các nước Bắc Âu, Anh, Pháp... Hiện nay, Đức dẫn đầu Liên minh châu Âu về thị phần tiêu thụ hàng dệt may trong khối với 18,5 %, Italia chiếm 17,4 %, Anh 16 %, Pháp 12,7 %, Tây Ban Nha 6,2 %. Liên minh châu Âu là thị trường có sự đa dạng trong tiêu thụ sản phẩm dệt may. So với các thị trường tiêu thụ khác, Liên minh châu Âu có sự phân tán trên nhiều quốc gia nên xuất khẩu dệt may vào Liên minh châu Âu sẽ có áp lực hơn. Nhu cầu tiêu dùng từng dòng sản phẩm nam, nữ, trẻ em ở mỗi quốc gia chia tỷ lệ nhiều hay ít cũng có khác biệt lớn. Hiện nay Bănglađét là nước xuất khẩu sản phẩm may mặc lớn nhất vào thị trường Liên minh châu Âu, tiếp đến là Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Ấn Độ, Inđônêxia, Pakistan, Philippin, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ... Việt Nam vẫn còn là nhà cung ứng triển vọng cho Liên minh châu Âu trong tương lai. Trong 4 nhóm hàng may mặc tiêu thụ tại Liên minh châu Âu, hàng thiết kế cao cấp chiếm gần 5 %, hàng sản xuất theo xu hướng thời trang chiếm trên 30 %, hàng xu hướng theo mùa 45 %, hàng giá rẻ, đáp ứng số đông chiếm 17 %. Trong 4 nhóm hàng trên, Việt Nam mới đáp ứng được phân khúc hàng tiêu thụ theo mùa và giá rẻ vì biên độ lợi nhuận thấp[1].

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1]Euratex quick information guide, 2015

FDI và hợp tác kỹ thuật là hai phương thức chuyển giao công nghệ chủ yếu không chỉ giữa Nhật Bản và ASEAN mà còn giữa các nước công nghiệp tiên tiến khác và ASEAN. Ngày càng có nhiều công nghệ của Nhật được chuyn giao thông qua FDI và hp tác kỹ thuật ở khu vực công cộng. Trong khi hình thức hợp tác k thuật hình như tốt đẹp cả về nội dung lẫn qui mô thì các nưc ASEAN lại không bằng lòng lắm với hình thức FDI.

Rõ ràng các nguồn đầu tư của Nhật Bản cũng như của các nước khác vào ASEAN đã có ảnh hưởng rất ln đến cơ cu công nghiệp, đến cu thành sản phẩm chế tạo và do đó đến cả việc buôn bán các hàng chế tạo ở ASEAN. Chỉ xin nêu một ví dụ, vào năm 1975, khoảng 70% hàng chế tạo của Singapo là từ các xí nghiệp có sự tham gia của nưc ngoài. Các công ty có 100% vn nưc ngoài và các hp doanh đóng góp ti 84% tổng giá trị xut khẩu. Nếu không có FDI, chưa chắc Singapo đã có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao vào cuối những năm 1960 và 1970. Mặc dù Singapo có thể là một trường hp đặc biệt nhưng hầu hết các nưc ASEAN khác ở một chừng mực nào đó cũng được li tương tự như vậy.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành