Cosodulieu

Cosodulieu

Thời kỳ từ khi kết thúc cái gọi là Đường lối Dodge (đường lối tái thiết kinh tế với sự định hướng và giám sát của Bộ chỉ huy tối cao quân đồng minh mà chủ yếu là Mỹ) đến khởi đầu thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh được đặc biệt nhấn mạnh, Việc tái thiết công nghiệp thực hiện dưới sự điều khiển của SCAP (Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng đồng minh), sự hợp lý hoá công nghiệp diễn ra sau khi chấm dứt sự kiểm soát của SCAP, cũng như ý nghĩa của các chính sách của chính phủ đối với việc hợp lý hoá công nghiệp cũng được xem xét trong chương này.

Lịch sử kinh tế thời kỳ này của Nhật Bản rất phong phú. Trên cơ sở tham khảo di sản phong phú này, có thể nhận thấy việc kiểm soát thương mại có tính chất thù địch của SCAP đã bóp méo quá trình tái thiết công nghiệp và nỗi ám ảnh về cán cân đối ngoại của chính phủ Nhật đã cản trở quá trình hợp lý hoá công nghiệp. Tuy nhiên, mặc dù có những cản trở và bóp méo như vậy, người Nhật cuối cùng vẫn có thể tái thiết và hợp lý hoá được toàn bộ các ngành công nghiệp của mình và giành được sự độc lập kinh tế quốc gia.

Có thể thấy rằng sự phát triển của Nhật Bản được hỗ trợ bởi 4 sự kiện: một là, chính sách chiếm đóng của SCAP đã thay đổi từ thù địch sang hoà giải vào thời kỳ tái thiết kinh tế, phản ánh sự bắt đầu của Chiến tranh lạnh. Hai là, viện trợ Mỹ cho công cuộc tái thiết và việc bùng nổ kinh tế nhờ cuộc chiến tranh Triều Tiên có tác dụng như là bước đệm cho các công ty Nhật Bản trong giai đoạn đầu của công cuộc hợp lý hoá công nghiệp. Ba là, việc Nhật Bản là một nước nhỏ và kém phát triển có nghĩa là chính phủ có thể áp dụng một chính sách điều chỉnh công nghiệp chiến lược trên cơ sở một chính sách buôn bán trọng thương chủ nghĩa. Sự kiện cuối cùng quan trọng nhất là Chiến tranh Thế giới thứ hai đã không kéo dài và gây tàn phá đến nỗi các hành vi kinh tế dựa vào các nguyên tắc thị trường tư bản đã bị xoá khỏi ký ức tập thể của người Nhật.

Trong thời hậu chiến, Nhật Bản đã giành lại được chủ quyền quốc gia và thiết lập cơ sở hạ tầng cần thiết cho cái gọi là kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế nhanh của những năm 60. Việc xem xét này cũng làm rõ “gót chân Asin” của nền kinh tế Nhật Bản, cho thấy mậu dịch quốc tế quan trọng như thế nào đối với sự tăng trưởng kinh tế và phác ra những nhân tố chịu trách nhiệm duy trì động cơ của người lao động và sức sống của các doanh nghiệp.

Để mô tả quá trình kinh tế vĩ mô trên bình diện rộng hơn của sự độc lập, trước hết cần phải làm rõ nghĩa của “Sự độc lập kinh tế quốc gia” như là một khái niệm kinh tế. Tiến sỹ Joseph Dodge, mà biện pháp chính sách để cứu nền kinh tế Nhật Bảnra khỏi tình trạng suy thoái - lạm phát trầm trọng của ông được gọi là “Đường lối Dodge” có lần đã nói rằng nền kinh tế Nhật Bản đang đi cà kheo: một trong những chiếc cà kheo đó là: viện trợ của Mỹ cho chính phủ Nhật bản, và chiếc kia là các khoản trợ cấp tài chính của chính phủ Nhật Bản cho các công ty. Nền kinh tế Nhật Bản liên tục phụ thuộc vào hai chiếc cà kheo này trong suốt thời gian gần 5 năm sau khi kết thúc của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai mặc dù chính phủ đã thật sự cố gắng để tái thiết và làm thay đổi nền kinh tế theo công thức chính sách do SCAP vạch ra.

Ở đây, định nghĩa kinh tế là một tình trạng không có hai chiếc cà kheo này, nói cách khác, đó là tình huống trong đó không những chính phủ mà cả khu vực tư nhân đều có thể tiến hành các hoạt động kinh tế mà không cần phải dựa vào trợ cấp hoặc viện trợ nước ngoài.

Trong bài viết về những cải cách kinh tế Xô Viết hiện nay, Nordhans (1990) chỉ ra rằng muốn thành công cải cách đòi hỏi phải có kỷ luật thị trường, kỷ luật ngân sách chính phủ và các điều kiện chủ yếu khác. Nói cách khác, hộ gia đình, các doanh nghiệp thậm chí cả chính phủ phải tự cân đối lấy ngân sách của mình để tránh phá sản về lâu dài. Định nghĩa này về kỷ luật kinh tế là phù hợp với định nghĩa về sự độc lập của nền kinh tế nêu ở trên. Tóm lại, nếu muốn giành được sự độc lập về kinh tế, thì điều kiện cực kỳ cần thiết là phải tăng cường kỷ luật kinh tế tôn trọng những hạn chế nghiêm ngặt về ngân sách.

Mundell (1962) đã đưa ra những tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi để đánh giá điều kiện kinh tế của một quốc gia những cân đối bên trong và bên ngoài. Thông thường người ta cho rằng, hai loại cân đối này là có giá trị trong khoảng thời gian ngắn hạn bởi vì sự tích luỹ các khoản nợ ròng nước ngoài và việc suy thoái lạm phát dai dẳng có thể làm mất ổn định môi trường chính trị mà trong đó các hoạt động kinh tế được tiến hành chỉ đạo một cách bình thường. Khái niệm này thích hợp với các điều kiện kinh tế vĩ mô ngắn hạn và lấy kỷ luật kinh tế và sự độc lập của các công dân và chính phủ làm tiền đề. Sự mất cân đối bên ngoài và bên trong dài hạn có nghĩa là kỷ luật kinh tế cá nhân bị giảm sút và mất độc lập kinh tế quốc gia. Do đó hai tiêu chuẩn này đặc biệt là cân đối bên ngoài sẽ bổ ích hơn trong việc đánh giá các điều kiện kinh tế dài hạn hơn là các điều kiện kinh tế ngắn hạn của một quốc gia. Thêm nữa, theo khái niệm này thì sự thiếu hụt đối ngoại tạm thời sẽ dẫn đến việc thiếu các khoản tiết kiệm quốc gia. Nếu sự thiếu hụt bên ngoài đóng góp vào việc hình thành vốn phát triển kinh tế của một quốc gia thì về lâu dài chúng cũng có thể mang lại số thặng dư đối ngoại để hoàn trả các khoản nợ nước ngoài. Thật vậy, nếu chúng ta chỉ tập trung chú ý vào các cân đối bên ngoài ngắn hạn hơn là các cân đối dài hạn, thì chúng ta sẽ bỏ mất cơ hội tăng các lợi ích kinh tế qua lại lẫn nhau.

Theo dòng lịch sử, năm 1945, năm Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện, Tổng sản phẩm quốc dân (TSPQD) trung bình đã giảm còn một nửa của năm trước. Tuy vậy, bất chấp siêu lạm phát, tăng trưởng không ổn định và sức ép của dân số, nhân dân Nhật Bản có thể dần dần cải thiện được điều kiện kinh tế của họ xét về TSPQD theo đầu người. Từ năm 1950 - 1955. TSPQD bình quân đạt bằng mức của thời kỳ từ năm 1934 đến 1936. Tuy nhiên có 2 điểm cần phải chú ý có liên quan đến quá trình tái thiết. Thứ nhất, tái thiết đòi hỏi phải có những nỗ lực đau đớn và lâu dài từ 5 đến 10 năm. Thứ hai, mặc dù tốc độ tăng trưởng của Nhật Bản đã giảm từ 13% năm 1948 xuống còn 2,2% năm 1949 nhưng TSPQD trên đầu người lại không giảm sút. Nhân tố này có lẽ đã động viên nhiều người Nhật, đặc biệt trong những năm cực kỳ gian khổ.

Việc tái lập liên tục lâu dài các điều kiện kinh tế này, khi được xem xét một cách tổng thể, dường như không đặc biệt xuất sắc lắm. Tuy vậy, những đánh giá sơ bộ về mức độ giảm sút của mỗi biến số từ năm 1944 đến 1946 là như sau: TSPQD 46%; tổng vốn 20%, lao động 2% và năng lượng 47%. Do cú sốc cung cấp này và sự phát triển sau đó, người ta thường cho rằng sự phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ này phụ thuộc đáng kể vào mức độ sẵn có của năng lượng.

Những giao dịch tài chính và mậu dịch quốc tế mở rộng giới hạn của quy mô thị trường trong nước và tháo gỡ những hạn chế của lượng tài nguyên có hạn. Theo nghĩa này, tiềm năng tăng trưởng và cải thiện mức sống của một quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào những quan hệ của quốc gia đó với các nước khác.

Tuy vậy, những lợi ích kinh tế có được từ sự phụ thuộc lẫn nhau có tính chất quốc tế sẽ đạt được trong vòng phạm vi những hạn chế ngân sách đối ngoại tạm thời. Nói cách khác, một quốc gia phải điều chỉnh các điều kiện kinh tế bên trong của nó để duy trì sự cân bằng đối ngoại về lâu dài. Nếu không làm như vậy, quốc gia đó sẽ phải chịu đựng vấn đề nợ bên ngoài và sẽ phải từ bỏ quyền tự chủ trong việc quản lý nền kinh tế quốc dân của mình.

Cho đến khi Nhật Bản buộc phải ngừng buôn bán với phần còn lại của thế giới bằng việc gây chiến với các cường quốc Đồng minh, sự phụ thuộc vào buôn bán với bên ngoài của nước này đã lên đến khoảng 20% TSPQD. Thậm chí ngay cả dưới sự kiềm chế của chính sách chiếm đóng, mậu dịch cũng vẫn mở rộng nhanh chóng khi Nhật Bản nhập khẩu lương thực và các nguyên liệu cần cho việc duy trì một mức sống chấp nhận được và ổn định sản xuất công nghiệp. Đương nhiên nhập khẩu đã vượt quá xuất khẩu, một hậu quả của việc tiêu dùng quốc gia về lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống và những nhu cầu cơ bản về hàng hoá công nghiệp đã vượt quá mức độ sản xuất. Điều này, tất nhiên, tự nó là kết quả của việc thiếu nguyên vật liệu và một số lượng hạn chế các sản phẩm có thể xuất khẩu được của Nhật Bản trong thời gian đó, Nhật Bản luôn bị thâm hụt cao trong cán cân thanh toán cho đến tận năm 1950: 4% TSPQD vào năm 1946, 4,1% trong các năm 1947 - 1948 và 3,3% vào năm 1949.

Trong thời kỳ ngay sau chiến tranh Nhật Bản hầu như không thể thực hiện được các hoạt động kinh doanh bình thường với các nước khác mà phần lớn các nước đều muốn trả đũa Nhật Bản bằng việc đòi bồi thường chiến tranh. Thật vậy Nhật Bản đã không thể nhập khẩu được lương thực và các loại nguyên liệu có tính chất sống còn cho việc tái thiết nền kinh tế nếu không có khoản viện trợ Mỹ bắt đầu từ năm 1946. Vào đầu năm 1948, sự đối lập rõ ràng giữa Liên Xô và Mỹ đã dẫn đến sự thay đổi lập trường chính sách của SCAP từ thù địch sang hoà giải. Trước tình hình đó, chính phủ Nhật Bản đã thiết lập một khuôn khổ thể chế cần thiết để thu hút tư bản nước ngoài. Một trong các mục tiêu của sự chuẩn bị này là làm dịu bớt những căng thẳng đối ngoại trong cán cân thanh toán đối với nền kinh tế Nhật Bản một khi Nhật Bản không thể trông đợi hoặc phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài được nữa. Trên thực tế viện trợ Mỹ cho nhập khẩu của Nhật Bản đã giảm xuống đến mức cực kỳ thấp vào năm 1950. Hơn nữa, “Lệnh thu mua đặc biệt” (the special procurement Order) gây ra bởi chiến tranh Triều Tiên (1950-1952) đã mang lại khoản thặng dư đối ngoại “trời cho” và đó là điều kiện ban đầu cho việc giảm bớt sự phụ thuộc của Nhật Bản vào viện trợ nước ngoài.

Ngay sau đó, chính phủ Nhật Bản đã thực hiện những chính sách kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế không rơi vào cảnh phải nợ nước ngoài chồng chất. Do đó, sự bột phát kinh tế trong nước đã được làm nguội bằng các biện pháp khác nhau (loại trừ sự sắp xếp lại tỷ giá ngoại hối) bất cứ khi nào cán cân thanh toán có xu hướng lâm vào tình trạng thiếu hụt. Sau 1950 nền kinh tế Nhật Bản đã có khả năng vượt qua được sự căng thẳng đối ngoại tác động vào sự độc lập của nó.

Những hiệu quả của các biện pháp chính sách như vậy phụ thuộc vào mức độ tin tưởng của công chúng đối với chính phủ và vào khả năng hướng dẫn chính sách thích hợp của chính phủ. Sự hướng dẫn này bao gồm việc khuyến khích giới lao động làm việc và các nhà doanh nghiệp chấp nhận mạo hiểm. Nhân tố trước có tầm quan trọng đáng kể đối với một nước phải đương đầu với loại khủng hoảng mà Nhật Bản đã phải chịu đựng trong suốt thời kỳ đau đớn trước khi nền kinh tế được ổn định. Ở đây chúng tôi muốn đề cập việc chính phủ Nhật Bản đã làm thế nào để tạo lập được sự tin tưởng lẫn nhau với các chủ thể chủ yếu, tức là, người lao động và các doanh nghiệp, ở phía cung của chính sách dân chủ và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa này.

Là một nước thua trận, Nhật Bản đã phải thay đổi hệ thống chính trị - kinh tế của mình theo mô hình Mỹ: Những nguyên tắc của chính sách kinh tế xã hội mới (New Deal) đã được nhấn mạnh từ trước thời kỳ Dodge Line và những nguyên tắc của thị trường tự do sau thời kỳ Dodge Line. Mặc dù các chính sách kinh tế được SCAP xây dựng dựa trên các kinh nghiệm của Mỹ khi thực hiện New Deal đã bị đánh giá một cách tiêu cực, song việc thực hiện cải cách ruộng đất, việc giải tán các Zaibatsu, việc ban hành Luật Công đoàn (Rodo Kumiai-ho) vào cuối năm 1945 và việc công bố chính thức Hiến pháp mới đều đã góp phần vào việc hạn chế những lợi ích bất di bất dịch không công bằng, đem lại cho nhiều người có sức mặc cả thấp những cơ hội và các kênh có ý nghĩa để tìm kiếm những lợi ích của mình. Thêm nữa, cái gọi là “mạng lưới an toàn” bao gồm: Luật giúp đỡ công cộng (Seikatsu Hogo-ho) ban hành năm 1946 và Luật về phúc lợi và Bảo hiểm cho những người thất nghiệp (Shitsugyo Hoken-ho) năm 1947 là đáng chú ý mặc dù các thế chế hiện hành là chưa đủ để bảo vệ một cách trọn vẹn điều kiện sống của người lao động. Tuy vậy, một loạt các cải cách thể chế nhằm vào nông dân, doanh nghiệp và lao động, dựa trên lý tưởng công bằng của Mỹ dường như đã làm tăng đáng kể lòng tin của công chúng vào chính phủ.

Sự chênh lệch giữa mức tiền lương cao hơn mà người lao động hy vọng có được từ những cải cách thể chế lý tưởng và tỷ lệ tiền lương thực tế mà các công ty trả cho họ càng lớn thì những tranh chấp lao động càng nghiêm trọng. Mặt khác, như Kindleberger đã nhấn mạnh, hồi ức tập thể của nhân dân đã ảnh hưởng đến hành vi của họ trong nhiều thập kỷ.

Những tranh chấp về lao động trong những năm sau chiến tranh cho đến 1955 dường như là đã chịu ảnh hưởng không những của các điều kiện kinh tế của thời kỳ này mà còn của các điều kiện kinh tế của những năm trước chiến tranh. Tiền lương thực tế trung bình của công nhân trong các ngành công nghiệp chế tạo đã bắt đầu giảm vào đầu Chiến tranh thế giới lần thứ II, và vào năm 1947 chỉ bằng 40% mức những năm 1934-36 (sau đây gọi là mức trước chiến tranh). May mắn là, sau chiến tranh tiền lương đã nhanh chóng được cải thiện và vào năm 1952 đã cao hơn mức trung bình trước chiến tranh là 42,1%. Hơn nữa, trong thời kỳ sau chiến tranh, người công nhân ít có lý do để lo lắng về sự thất nghiệp. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp trung bình những năm 1930 khoảng 5% thì trong những năm 1950 tỷ lệ này giảm còn chưa đầy 2% (mặc dù năm 1946 tỷ lệ này đã lên đến 40 do thất nghiệp tạm thời).

Với mục tiêu tăng cao lợi nhuận, các công ty hoạt động như là những động cơ của nền kinh tế thị trường tư bản. Do vậy, họ đã được tổ chức và quản lý bởi những cá nhân vừa có kỹ năng kinh doanh lại vừa lợi dụng được sự cạnh tranh tự do và công bằng trên thị trường. Chính sự tự do được quản lý công ty một cách độc lập và chấp nhận trách nhiệm đối với sự phá sản này đã tạo ra sức sống của doanh nghiệp. Đáng tiếc là, các điều kiện kinh doanh như vậy trong thời kỳ ngay sau chiến tranh lại bị SCAP Kiểm soát thông qua Đường lối Dodge. Mặc dù SCAP không kiểm soát được nhiều mặt tiêu cực của nền kinh tế sau chiến tranh như chợ đen và siêu lạm phát song họ đã thành công trong việc chuyển đổi khuôn khổ thể chế và luật pháp có lợi cho cạnh tranh tự do và kinh doanh công bằng. Điều này đã đạt được bằng việc giải thể các Zaibatsu vào năm 1946 và bằng việc phi tập trung hoá thông qua việc ban hành Luật chống độc quyền vào năm 1947. Trên thực tế tỷ lệ tập trung hóa trong các ngành công nghiệp chủ yếu thấp một cách đáng kể vào những năm này.

Dù sao chăng nữa, bất cứ một công ty nào cũng sẽ không thể quản lý được các hoạt động kinh doanh của mình nếu không có khả năng đưa ra những tính toán kinh tế riêng của mình. Đặc biệt điều này đã xảy ra ở Nhật Bản sau chiến tranh khi mà khuôn khổ thể chế của nó không ổn định và đồng tiền của nó đã mất chức năng cơ bản. Hơn bất kỳ vấn đề nào khác, vấn đề bồi thường là lĩnh vực không ổn định chủ yếu đặt ra cho công nghiệp trong thời kỳ trước năm 1948 khi các chính sách của SCAP vẫn còn thù địch. Trong những điều kiện mà các cơ chế thị trường bình thường không thể hoạt động được, chính phủ Nhật Bản phải cố gắng duy trì sản xuất công nghiệp cần cho việc tái thiết và ổn định nền kinh tế. Với mục tiêu đó, chính phủ đã huy động các nguồn vốn và nhân lực và hướng các nguồn lực này vào các công ty trong các ngành công nghiệp chiến lược. Tuy vậy, hậu quả là, nhiều công ty nhận trợ cấp của chính phủ đã bỏ mất kỷ luật quản lý và không có hiệu quả.

Được thiết lập vào năm 1949, Đường lối Dodge là một bước ngoặt quan trọng bởi vì nó buộc các công ty Nhật Bản và chính phủ phải lập lại hiệu quả và kỷ luật trong quản lý. Mặc dù sự tự do kinh doanh đã trở lại do loại bỏ những kiểm soát kinh tế, song các chính sách thuế và tài chính có tính nguyên tắc được ghi trong Đường lối Dodge đã buộc chính phủ, nhiều công ty và người lao động phải chịu đựng đáng kể. Thật vậy, việc hợp lý hoá quản lý công ty và các hoạt động công nghiệp đã trở thành những ưu tiên hàng đầu đối với cả chính phủ lẫn các cá nhân. Chỉ riêng động cơ lợi nhuận đã chứng tỏ là không đủ để thực hiện nhiệm vụ gay go này. Tuy nhiên, hầu hết các công ty Nhật đều có thể khắc phục được cảnh ngộ của mình bằng cách tận dụng sự bột phát kinh tế tạm thời có được nhờ Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào năm 1950.

Mặc dù có công ty Nhật Bản đủ khôn ngoan để không bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một này, người ta vẫn không tin là liệu nền kinh tế Nhật Bản và các công ty Nhật đã có thể thành công hay không trong việc đạt được sự độc lập và hợp lý hoá kinh tế mà không có sự bột phát nhờ cuộc chiến tranh này.

Như vậy, cùng với nội lực và sự định hướng, giám sát tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Nhật bản đã chấp nhận cải cách, đổi mới toàn diện kinh tế- xã hội. Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế, chính phủ cũng tích cực thể hiện vai trò quản lý tái thiết của mình một cách chặt chẽ và hiệu quả. Với những yếu tố nội tại và ngoại lai như vậy, kinh tế Nhật bản đã nhanh chóng phục hồi và ngày càng phát triển toàn diện.

Về mặt lý luận, có thể hiểu tự do báo chí là trạng thái không bị ràng buộc hay không bị hạn chế hay cấm đoán trong quá trình tìm kiếm, trao đổi, chia sẻ, sản xuất, phổ biến và truyền bá thông tin. Tự do báo chí thể hiện ý chí và nguyện vọng của con người một cách công khai trên báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng

Từ lý luận và thực hiện báo chí hiện đại, có thể nêu ra hai cách tiếp cận vấn đề tự do báo chí để có thể nhận thức rõ hơn về vấn đề này trong thực tế.

Thứ nhất, xem xét tự do báo chí theo mô hình truyền thông. Theo cách này, mô hình truyền thông cơ bản của báo chí được miêu tả như sau:

Nguồn báo chí- Thông điệp báo chí- Kênh cung cấp- Người tiếp nhận thông điệp

Theo đó, nguồn báo chínguồn cung cấp thông tin hay phát ngôn.Theo sơ đồ trên,có thể hiểu bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng có quyền phát hành báo chí.Tuy nhiên, trên thực tế không hoàn toàn như vậy.Ví dụ như ở Mỹ, việc xuất bản, phát hành báo có thể không cần xin phép, nhưng phải đăng kí mã số thuế để nộp thuế.Trên thực tế, chỉ có người có nhiều tiền mới có thể ra báo và trụ được với nghề báo. Như vậy, ở Mỹ, tự do báo chí trên thực tế là tự do cho những người có tiền, trước hết là cho những chủ báo.

Ở Việt Nam, theo luật báo chí 2016, Điều 14 Luật Báo chí quy định:

“1. Cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí.

2. Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật khoa học và công nghệ; bệnh viện cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên được thành lập tạp chí khoa học.”

Thông điệp báo chí- với hình thức viết và phát biểu trên báo chí. Theo luật định và trên thực tế ở nước ta, bất kỳ ai cũng có thể phát biểu trên báo chí, miễn là phát biểu ấy vì lợi ích của đất nước và nhân dân, phù hợp với yêu cầu cụ thể của cơ quan báo chí.

Như vậy, ai cũng có quyền viết báo, phát biểu trên áo chí, bài viết hay ý kiến của công dân được đăng tải hay không là tùy thuộc vào chất lượng và sự phù hợp với chủ đề thi soạn, do tòa soạn báo quyết định. Tổng biên tập hay giám đốc cơ quan báo chí chịu trách nhiệm trước pháp luật và những phát ngôn trên sản phẩm báo chí của mình.

Kênh chuyển tải thông tin, thông điệp - cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động báo chí hoặc là do nhà nước đầu tư, hỗ trợ đầu tư hoặc do tư nhân phát hành.

Tiếp nhận - quyền được thông tin và quyền tiếp nhận sản phẩm báo chí - truyền thông của công dân được pháp luật bảo vệ và khuyến khích thực hiện. Tất nhiên, có quyền tiếp nhận thông tin báo chí, nhưng phải có điều kiện tiếp nhận, như trình độ văn hóa, phương tiện, tài chính,... Cho nên, nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của đất nước được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm lãnh đạo, cũng là nhằm bảo đảm cho nhân dân có điều kiện ngày càng tốt hơn trong việc tiếp nhận sản phẩm báo chí truyền thông.

Thứ hai, xem xét tự do báo chí theo các điều kiện hoạt độngcủa báo chí

Dựa trên khía cạnh này, tự do báo chí được xem xét trên bốn bình diện đó là điều kiện kinh tế, môi trường pháp lý(bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thể chế quyền lực), năng lực sáng tạo và môi trường văn hóa.

Theo cách tiếp cận này, yếu tố đầu tiên cần phải xem xét là điều kiện kinh tế. Muốn xuất bản tờ báo hay thành lập đài phát thanh, đài truyền hình, hoặc mở chương trình mới, đòi hỏi phải có tiền để trang trải các khoản ban đầu, như thuê điạ điểm làm việc, tiền trả lương cho nhân viên, mua sắm máy móc trang thiết bị, thuê bao kênh phát hành, phát sóng,...

Ở nhiều nước phương Tây, về lý thuyết, bất kỳ ai cũng có quyền thành lập cơ quan báo chí, truyền thanh.Tuy nhiên, trên thực tế, không phải bất kỳ ai cũng có thể thực hiện được điều này, mà chỉ những người có tiền - những người giàu mới có thể có điều kiện thực hiện được quyền đó. Do đó, trên thực tế, quyền có thể chi phối dư luận nằm trong tay một số ít người, và là người có tiền và có quyền lực. Mặt khác, đầu tư tài chính vào việc thành lập tòa soạn báo, cơ quan truyền thanh, truyền hình, xét cho cùng mục đích là để kinh doanh, thu lợi nhuận. Thực tế là, muốn có quyền lực chính trị, trước hết cũng phải có tài chính, có tiền. Cho nên, báo chí bao giờ cũng nằm ở giữa hai thể lực, hai gọng kìm: quyền lực chính trị và kinh tế Trong nhiều trường hợp, hai thế lực này có thể thực chất là một. Tự do báo chí, như trên đã trình bày, ở các nước phương Tây, nhất là ở Mỹ, trong điều kiện toàn cầu hóa và tập trung hóa là nằm trong tay các hãng lớn, các tập đoàn truyền thông xuyên quốc gia độc quyền chi phối dư luận, chứ không phải chia đều cho mọi người dân.

Dưới góc độ pháp lý, tự do báo chí phải tuân thủ trật tự của pháp luật, do pháp luật quy định. Nói cách khác, để tự do của người này không xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và của cộng đồng, để bảo đảm trật tự xã hội và để chống lạm dụng, quyền tự do báo chí hòng mưu lợi hoặc xâm hại lợi ích, danh dự của tổ chức và công dân, theo luật báo chí, tự do phải trong khuôn khổ pháp luật, do pháp luật quy định. Muốn thực hiện tự do hoạt động báo chí và thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, nhà báo phải nắm rõ pháp luật và môi trường pháp lý. Tức là cần phải nắm vững hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và thiết chế tổ chức quyền lực nhà nước trong thể chế chính trị mà báo chí hoạt động.Về nguyên tắc, hệ thống quy phạm pháp luật càng hoàn chỉnh, càng chặt chẽ và cụ thể bao nhiêu thì càng đảm tự do hoạt động báo chí bấy nhiêu. Pháp luật quy định phạm vi, mức độ cũng như quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tự do báo chí. Tự do hoạt động báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí phải gắn liền với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công , nhà báo. Đó là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm xã hội 1 đức đối với đất nước, với Tổ quốc, với nhân dân và cộng đồng mình.

Ở nước ta, từ những ngày đầu của chính quyền dân chủ nhân dân mới thành lập, trong kháng chiến kiến quốc, để bảo đảm quyền tự do báo chí, Nhà nước đã ban hành Luật Báo chí. Bốn bộ Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ từ năm 1946 đến nay, đều đề cập đến tự do báo chí một cách nhất quán... Ngày 14/12/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 282, sau đó được Quốc hội thông qua và Sắc lệnh này trở thành sắc luật số 100/SL.L002 ngày 20/5/1957 quy định chế độ báo chí, bảo đảm tự do báo chí cho công dân. Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Báo chí năm 1999, Luật báo chí năm 2016 vừa quy định cụ thể bảo đảm tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Ở góc độ “năng lực sáng tạo”, muốn thực hiện tự do hoạt động báo chí và bảo đảm quyền tự do ngôn luận báo chí của công dân, nhà báo cần có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp. “Mỗi bước đi trong nhận thức là một bện tiến trên con đường đi đến tự do”. Nhận thức là khởi nguồn cả.sáng tạo, chỉ có thể tự do sáng tạo trên cơ sở nhận thức được cái tất yếu và có năng lực, điều kiện chinh phục cái tất yếu ấy. Đối với nhà báo, kiến thức là nền tảng, nhưng muốn tự do sáng tạo phải có kỹ năng, kinh nghiệm và các điều kiện khác nữa.

Mọi hoạt động xã hội đều do môi trường văn hóa xã hội chi phối; đồng thời, với tư cách là sản phẩm văn hóa, báo chí có tác động tích cực đối với môi trường - giá trị văn hóa của cộng đồng. Như vậy, dưới góc độ văn hóa, tự do hoạt động báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí phải phù hợp với hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hóa của cộng đồng, được cộng đồng chấp thuận. Trong các môi trường và phạm vi giao tiếp xã hội của con người thì giao tiếp qua báo chí và truyền thông đại chúng có ý nghĩa xã hội nhất, thể hiện năng lực, vị thế và tính chất xã hội hóa rõ rệt nhất. Đó là kênh giao tiếp thường xuyên liên tục nhất, tác động đến nhiều người một cách nhanh chóng và rộng khắp nhất, phong phú và đa dạng nhất; đồng thời cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất của môi trường văn hóa giao tiếp.

Lịch sử đã chứng minh rằng, báo chí Việt Nam chỉ thật sự có tự do từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Từ đó đến nay, đặc biệt sau giải phóng miền Nam năm 1975 thống nhất nước nhà, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Đến nay, cả nước ta có hệ thống báo chí phát triển chưa từng có, với đầy đủ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, và nhiều ấn phẩm truyền thông khác.Nước ta đã có vệ tinh VINASAT 1 đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước thời kỳ hội nhập toàn cầu. Đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp hơn 17 ngàn người. Cơ chế cung cấp thông tin cho báo chí đang dần dần được cải thiện. Dân vùng sâu vùng xa, nhất là vùng bà con các dân tộc thiểu số được chính sách tài trợ để công chúng có được điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận sản phẩm báo chí - truyền thông.

Như vậy, thực tế lịch sử đã chứng minh rằng, tự do báo chí ở nước ta có được là kết quả của cuộc đấu tranh cách mạng độc lập dân tộc trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi chưa giành được độc lập dân tộc, nhân dân ta không có tự do và tự do báo chí.

Từ Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến các văn kiện chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đều khẳng định quyền tự do hoạt động báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; các văn bản quy phạm pháp luật và văn kiện chính trị đều bảo đảm thực thi quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.

Mặt khác, trên thực tế, mặc dù còn nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, Nhà nước ta đã thực thi những chính sách hỗ trợ, tài trợ đồng bào các dân tộc vùng sâu vùng xa, nhất là vùng dân tộc thiểu số các điều kiện cần thiết để bà con tiếp nhận sản phẩm báo chí - truyền thông nhằm từng bước cải thiện đời sống văn hóa và chất lượng cuộc sống cho nhân dân.

Bên cạnh đó, nhờ quan điểm và chính sách phát triển đúng đắn, ở báo chí Việt Nam không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng, chủng loại, về đội ngũ nhà báo, về kỹ thuật và công nghệ..., bảo đảm quyền tự do hoạt động báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và tự do tiếp nhận sản phẩm báo chí cho công dân.

Cũng trong thực tế, để tự do báo chí thực sự vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”, báo chí cách mạng Việt Nam cần quan tâm thực hiện tốt hơn nữa những nhiệm vụ như chống việc lợi dụng tự do báo chí để tuyên truyền chống phá chế độ nhà nước, kích động bạo lực, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân gây bất ổn chính trị. Tức là phải tuân thủ quy định của pháp luật về những điều được thông tin và không được thông tin trên báo chí, thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của báo chí và nhà báo. Đồng thời, thực hiện ngăn chặn lợi dụng tự do báo chí làm lộ bí mật quốc gia, hoặc gây tâm lý bất an trong nhân dân, gây rối trật tự công cộng hoặc xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức dân, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân; đồn chống lợi dụng tự do báo chí để giật gân câu khách, xâm giá trị văn hóa của cộng đồng. Báo chí nước ta còn góp phần thực hiện việc chống sự lạm dùng quyền lực để hạn chế tự do báo chí, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, của Đảng, của Nhà nước ta.

Có thể thấy rằng, từ thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ, xây dựng đất nước trong nhiều năm qua, đối với mỗi người dân cũng như các nhà báo Việt Nam yêu nước chân chính đều nhận định tự do báo chí là tự do trong việc viết, bày tỏ bằng lời nói mọi vấn đề có lợi cho lợi ích của nhân dân, của cộng đồng và của xã hội. Thực hiện được điều đó đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu vươn lên không ngừng về mọi mặt. Mặt khác, sử dụng quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí như thế nào để báo chí phát huy tối đa sức mạnh của mình vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước còn đòi hỏi ở năng lực, trình độ, phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp cũng như trách nhiệm xã hội,ý thức công dân của đội ngũ nhà báo; đồng thời còn phụ thuộc vào quá trình đổi mới tư duy chính trị và thể chế chính trị, điều kiện kinh tế, môi trường pháp lý… Trong đó. Đòi hỏi trách nhiệm đạo đức của nhà báo cũng như đối với mỗi công dân yêu nước Việt Nam nói chung.

Thứ tư, 20 Tháng 6 2018 03:22

Báo chí với chức năng khai sáng

Thuật nghữ “Khai sáng” có nguồn gốc từ tiếng Pháp là Siècle des Lumière, còn được gọi là kỷ nguyên Ánh sáng, thuộcgiai đoạn thế kỷ XVIII của triết học phương Tây, hay thời kỳ dài hơn gồm cả Thời đại Lý tính (Age of Reason). Từ này có thể được dùng với nghĩa hẹp hơn để chỉ phong trào của trí thức trong lịch sử, phong trào Khai sáng. Phong trào Khai sáng chỉ xảy ra tại Đức, Pháp, Anh, và Tây Ban Nha, nhưng tầm ảnh hưởng của nó lại lan rất xa. Nhiều người trong số những người khai sinh ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã chịu ảnh hưởng lớn bởi các tư tưởng của thời kỳ Khai sáng, đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo (Thuyết thần giáo tự nhiên) và trong lĩnh vực chính trị với Hiến pháp và Pháp lệnh về các Quyền của Mỹ, song song với Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp.

Khai sáng tức là làm cho con người được mở mang về kiến thức, có thể gắn liền hay gần gũi với khái niệm văn hóa. Trong khái niệm văn hóa, có nhiều yếu tố cấu thành, nhưng hai thành tố có vai trò trung tâm là khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo. Đây cũng là căn cứ để đánh giá sự phát triển của một xã hội. Khoa học công nghệ nói lên năng lực sáng tạo giá trị mới của con người và cộng đồng, còn chất lượng giáo dục - đào tạo được thể hiện chủ yếu ở việc nâng cao trình độ dân trí, hình thành bản lĩnh, ý chí của cộng đồng cũng như kiến thức, kỹ năng sống và lao động làm ra của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu xã hội. Văn hóa là phạm trù rộng, với nhiều yếu tố cấu thành phức hợp và với nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Ngay từ năm 1943, khi chưa giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Đề cương văn hóa Việt Nam với ba nguyên tắc Dân tộc, Khoa học, Đại chúng.Các nguyên tắc này cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Thế nhưng quan điểm và cách ứng xử với văn hóa của chúng ta đã trải qua những giai đoạn từ thấp đến cao. Nếu như trước đây, coi văn hóa như lĩnh vực được đi sau, phụ thuộc kinh tế, thì ngày nay, sau thập niên phát triển văn hóa thế giới (1987 - 1997), chúng ta coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, tức là văn hóa vừa là mục tiêu hướng tới của sự phát triển, vừa là động lực để thực hiện mục tiêu ấy; văn hóa là hiện ở tượng nội sinh.

Bên cạnh đó, với những đặc thù riêng, văn hóa chỉ có thể tồn tại và phát triển trong quá trình giao lưu và truyền tải, từ người này sang người khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, và từ thế hệ này sang thể hệ khác. Nếu không có sự truyền tải và giao lưu thì các giá trị văn hóa có nguy cơ bị thoái hóa và diệt vong. Đồng thời, văn hóa là hiện tượng nội sinh, tức là nó sinh ra trong mỗi con người, trong mỗi cộng đồng.Hiệu quả của quá trình tiếp biến văn hóa cũng phụ - thuộc vào sức sống văn hóa của cộng đồng.

Các giá trị văn hóa có thể được truyền tải qua nhiều kênh khác nhau như trường học, các tổ chức trong thể chế xã hội, trong cộng đồng. Nhưng trong xã hội hiện đại, các giá trị văn hóa và giao lưu và truyền tải qua báo chí - truyền thống là con đường và phương thức nhanh nhất, hiệu quả nhất. Do những đặc trưng vốn có của mình, báo chí và truyền thông đại chúng là những kênh truyền thông có sức tác động nhanh chóng và kịp thời nhất; tác động đến đông đảo người nhất trên phạm vi rộng lớn nhất, với các phương thức, phương tiện đa dạng và phong phú nhất; ảnh hưởng thường xuyên và liên tục nhất.

Chức năng văn hóa của báo chí thực hiện thể hiện qua một số phương thức cơ bản. Đó là tham gia bảo tồn hệ thống các giá trị văn thông qua giáo dục truyền thống. Hệ thống giá trị văn hóa truyền thống cần được chọn lọc, phân loại để xác định nội dung và phương thức giáo dục cho các thế hệ người Việt, nhất là thế hệ trẻ, thông qua các kênh như nhà trường, các tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị, qua các phương tiện truyền thông đại chúng và báo chí. Việc giáo dục hệ thống văn hóa này cần được phân cấp cho các nhà trường phổ thông, đại học; hệ thống báo chí cũng cần bám sát hệ giá trị, chương trình và kế hoạch giáo dục trong nhà trường để có phương thức chuyển tải phù hợp với nhóm đối tượng và địa bàn công chúng.

Chức năng văn hóa của báo chí còn thể hiện qua sự cổ vũ, khích lệ năng lực sáng tạo giá trị mới; đồng thời truyền bá và nhân rộng nhân tố mới, giá trị mới, động viên tính tích cực xã hội của con người. Phát hiện, bảo vệ, ủng hộ, truyền bá nhân rộng cái mới, năng lực sáng tạo giá trị mới của cá nhân và cộng đồng là trách nhiệm xã hội của nhà báo. Cái mới ra đời trong lòng cái cũ, thậm chí bị bao vây bởi cái cũ vốn đang có sức mạnh trong hiện tại, cho nên cái mới có thể bị cái cũ chèn ép, thậm chí bị tiêu diệt, cần được báo chí thông qua dư luận xã hội để bảo vệ và tạo sự ủng hộ, để có thể nhân rộng vì lợi ích cộng đồng và quá trình phát triển bền vững.

Ngoài ra phê phán các thói hư tật xấu, các biểu hiện bảo thủ, trì trệ, đấu tranh chống các hiện tượng phi văn hoá... là phương thức quan trọng của báo chí trong quá trình tham gia phát triển văn hóa, giáo dục cũng là nhằm thực hiện chức năng văn hóa của báo chí

Mặt khác, việcgiao lưu văn hóa với các dân tộc, các cộng đồng hồ thế giới là quá trình tiếp biến văn hóa qua các loại hình báo chí - truyền thông.

Có thể nói, báo chí góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc cũng như giao lưu, tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc. Số lượng và chất lượng các sản phẩm báo chí cũng là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của một cộng đồng, một đất nước.Đồng thời, mức độ và khuynh hướng tiếp nhận sản phẩm truyền thông còn là tiêu chí đánh giá trình độ, diện mạo văn hoá của mỗi con người.Giao tiếp qua báo chí và truyền thông đại chúng có vai trò rất quan trọng trong việc khẳng định và nhân rộng các giá trị văn hoá dân tộc, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hoá ấy.

Báo chí có vai trò to lớn tham gia phát triển giáo dục, nâng cao dân trí. Theo cách tiếp cận của báo chí - truyền thông, khái niệm giáo dục có thể được hiểu là quá trình hình thành nhân cách do tác động chủ quan và khách quan, “vô tình hay hữu ý” của môi trường ngoại cảnh đối với các cá nhân và các nhóm xã hội. Ở đây vai trò của Nhà nước có ý nghĩa quyết định.Bởi vì, một trong những chức năng cơ bản của Nhà nước là tổ chức và duy trì trật tự xã hội. Ngoài ra, giáo dục cũng được hiểu là hoạt động có mục đích của các tiểu hệ thống xã hội tác động có kế hoạch, có hệ thống, có mục đích rõ ràng bằng những chương trình mục tiêu hướng đến con người với tư cách là thành viên - đối tượng giáo dục. Ở cấp độ này, tính tự giác của quá trình tác động cao hơn. Do đó, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xã hội như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, công đoàn,... với hệ thống truyền thông thì hiệu quả sẽ được nhân lên. Hơn nữa, giáo dục còn được hiểu là bộ máy tổ chức “chuyên dụng”, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức với nội dung và phương pháp chuyên nghiệp, với đội ngũ các nhà sư phạm chuyên nghiệp và hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật đặc thù nhằm tác động đến nhóm đối tượng được lựa chọn, được xác định theo chương trình mục tiêu.

Báo chí có thể và cần phải tác động, can thiệp vào cả ba cấp độ trên đây theo những nội dung, cách thức phù hợp nhằm góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn lực cho sự nghiệp phát triển đất nước. Báo chí không những can thiệp mà còn là trường học hoàn toàn tự nguyện, tự do lựa chọn với phương thức phù hợp nhất cho mỗi người, mỗi nhóm công chúng thông qua việc cung cấp các ấn phẩm truyền thông có chất lượng văn hóa tốt. Tính tự giác, khả năng lựa chọn rộng rãi, cơ chế tiếp nhận linh hoạt, gần gũi thực tế cuộc sống, sinh động, sức thuyết phục cao... là những ưu thế của báo chí trong việc tham gia vào sự nghiệp giáo dục đào tạo. Do đó, hiệu quả thu được sẽ cao hơn, cả trên diện rộng, chiều sâu cũng như quá trình xã hội hóa và cá thể hóa con người.

Khi nói đến chức năng giáo dục của báo chí cũng có nghĩa là nên chú ý không chỉ nhấn mạnh giáo dục chính trị tư tưởng, trách nhiệm công dân, mà còn giáo dục, cung cấp kiến thức hiểu biết về pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật; trao đổi và chia sẻ kỹ năng kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm ăn,... cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội cũng như cho cộng đồng dân cư. Mặt khác, báo chí cũng là những kênh có nhiều ưu thế trong việc phổ biến các thành tựu khoa học - công nghệ, hướng dẫn cách thức áp dụng, triển khai và chuyển giao công nghệ. Nó còn là công cụ giám sát hữu hiệu trong việc bảo đảm mục tiêu, định hướng giá trị và hiệu quả công tác giáo dục đào tạo cũng như tập hợp nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển.

Báo chí còn là những kênh truyền thông tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân tham gia giải trí. Tức là báo chí - truyền thông tạo điều kiện, tổ chức và hướng dẫn công chúng sử dụng thời gian rỗi một cách hữu ích để cân bằng trạng thái tâm lý và tái sản xuất sức lao động. Truyền hình có ưu thế về tổ chức các chương trình trò chơi cho mọi tầng lớp dân cư có thể tham gia - vừa giải trí vừa mở mang hiểu biết, rèn luyện sức bật tư duy, khả năng suy luận, phán đoán, phát thanh lại có thể mạnh về lời nói, tiếng động, âm nhạc - đặc biệt là các chương trình ca nhạc, báo in lại thiên về tiểu phẩm, đố vui, biếm hoạ...

Tuy nhiên, các loại hình báo chí của nước ta hiện nay chưa chú ý đúng mức đến các chương trình trò chơi, giải trí nói riêng, các dịch vụ xã hội nói chung (thậm chí có những tờ báo lớn nhưng chuyên mục giải trí ngày càng ít và mất dần), trong khi trong điều kiện kinh tế thị trường, tốc độ và cường độ lao động cao, nhu cầu giải trí của nhân dân ngày càng lớn. Nhóm đối tượng nào cũng có nhu cầu giải trí qua báo chí, và mỗi nhóm công chúng - đối tượng có nhu cầu giải trí khác nhau.Vấn đề là có tiếp nhận được nhu cầu ấy và có khả năng đáp ứng, thỏa mãn cho họ hay không. Ngoài những chuyên mục, chuyên trang giải trí, trên báo in hiện nay số báo chuyên giải trí không nhiều, trong khi các chương trình giải trí trên sóng phát thanh, truyền hình và chuyên mục giải trí trên báo mạng điện tử ngày càng gia tăng là dấu hiệu tích cực.

Để thực hiện nhiệm vụ cấp bách “đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo” đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI để đảm bảo chất lượng về con người của đất nước, theo kịp được nhu cầu mới của thời đại thì việc nghiên cứu giáo dục quốc tế là một yêu cầu quan trọng trong thực tiễn phát triển giáo dục của nước ta, trong đó việc so sánh, lựa chọn mục tiêu giáo dục, yêu cầu chuẩn đầu ra, cấu trúc nội dung chương trình và phương pháp dạy học phù hợp với quá trình phát triển của nước ta cũng như thực tiễn giáo dục trên thế giới thông qua sự nghiên cứu, đánh giá quy luật phát triển giáo dục là rất quan trọng. Việc nghiên cứu giáo dục đồi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu về các kinh nghiệm phát triển giáo dục của các nước phát triển trên thế giới. Việt Nam đang phát triển giáo dục trên nền tảng một nền kinh tế lạc hậu đang vươn lên theo xu hướng thị trường, bởi vậy có rất nhiều điều chúng ta không cần phải tự mình phát minh mà cần học tập kinh nghiệm của các nước đi trước và vận dụng một cách thích hợp, đây là yêu cầu cấp bách của Việt Nam. Dưới đây xin giới thiệu khái quát về một số vấn đề liên quan đến mục tiêu giáo dục, yêu cầu đầu ra của giáo dục và cấu trúc nội dung chương trình giáo dục để các nhà xây dựng chính sách có thêm thông tin khi phân tích và xây dựng chính sách liên quan đến Luật Giáo dục sửa đổi.

 

                  Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.

Thực tế cho thấy điều khác biệt giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển không chỉ là khoảng cách về nguổn lực mà còn là khoảng cách về tri thức.Như vậy, các chiến lược phát triển nên tập trung vào việc thúc đẩy học tập, thu hẹp khoảng cách chức giữa các kiến thức kém phát triển hơn. Các chính sách chuyển đổi nền kinh tế và xã hội thành “các xã hội học tập" sẽ giúp thu hẹp khoảng cách nhanh chóng cùng với việc gia tăng thu nhập đáng kể. Sự phát triển đó đòi hỏi phải học cách để học, phương pháp và kỹ năng nghiên cứu, học tập. Thực tế là việc một số quốc gia và công ty “học cách để học" đã giúp giải thích tại sao hai thế kỷ qua mức sống được gia tăng đáng kể trong khi ở những thời kỳ trước kinh tế xã hội trì trệ, không phát triển.

Tuy nhiên, đây không phải là cách duy nhất mà các chương trình điều chỉnh cơ cấu cản trở sự phát triển của một nền kinh tế học tập. Phần lớn việc học diễn ra trong công việc - nhưng nếu có học tập trong quá trình làm việc thì tất yếu phải có việc làm. Tất nhiên là việc loại bỏ bảo hộ thương mại số làm giảm việc làm trong ngành nông nghip, một số việc khác trong ngành công nghip. Tuy nhiên, vn có niềm tin mạnh mẽ rằng niềm tin rằng những người lao động này sẽ nhanh chóng tìm được việc làm trong các ngành công nghiệp mới, phù hợp với lợi thế so sánh của đất nước. Việc di chuyển các nguồn lực từ các ngành được bảo hộ không hiu quảsang các ngành cạnh tranh hiệu quả hơn sẽ làm tăng thu nhập.

 

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.

Việc xây dựng xã hội học tập nhằm tạo điều kiện để phát triển xã hội ngày nay mang một ý nghĩa lớn đối với các quốc gia. Thực tế cho thấy, để xây dựng một xã hội học tập không chỉ cần những chính sách kinh tế phù hợp mà quan trọng hơn cả là thay đổi tư duy, nhận thức của xã hội đối với vấn đề học tập và nghiên cứu phát triển.  Tuy nhiên, việc xây dựng một xã hội học tập, cả chính sách kinh tế và tư duy học tập đều có mối liên kết không thể tách rời.

Mô hình tân cổ điển bỏ qua việc học tập, không chỉ không có đến tầm quan trọng của việc phân bổ các nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển, mà còn ngụ ý rằng tất cả các doanh nghiệp đều phải vận hành tốt việc thực hành vì thế mà họ không cần quá chú trọng vào việc nghiên cứu và học tập.

Không phải tình cờ mà sự thay đổi về nhận thức được liên kết với Thời đại khai sáng lại gắn liền với những thay đổi trong Công nghệ đã mang lại những bước tiến đáng kể trong các tiêu chuẩn sống tạo nên nét đặc trưng cho 200 năm qua. Cùng với việc phát triển công nghệ mở ra kỷ nguyên số, thông tin dần trở nên công khai và nhanh chóng hơn, tư duy của con người cũng trở nên độc lập và sáng tạo hơn, tri thức của xã hội được nâng cao.

 

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.

Thứ tư, 23 Tháng 5 2018 08:56

Về bản chất của hoạt động báo chí

Báo chí là những kênh, những loại hình mang rõ nét nhất đặc trưng nhất tính chất của truyền thông đại chúng. Bản chất hoạt động này là hình thành dòng thông tin đại chúng, tác động vào đông đảo công chúng nhằm lôi kéo và tập hợp. thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra theo định hướng chính trị nhất định, hoặc tạo lập diễn đàn xã hội rộng rãi thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân bàn luận những vấn đề thiết thực, liên quan đến đời sống cộng đồng.

Bản chất hoạt động truyền thông đại chúng được biểu hiện nhiều khía cạnh, trong đó hướng tác động vào quảng đại công chúng xã hội đông đảo và phổ cập nhất - tính công khai, minh bạch và dân chủ, tính định hướng chính trị rõ ràng, phong phú đa dạng nhất, nhanh chóng kịp thời nhất...

            Ý nghĩa của vấn đề này đối với hoạt động của nhà báo cũng như hoạt động lãnh đạo quản lý nói chung được thể hiện trong nhiều khía cạnh khác nhau. 

 

Đối với việc xây dựng một xã hội học tập ở một quốc gia thì vốn tiền tệ và dịch vụ tài chính đóng một vai trò khá quan trọng.Tuy nhiên, với xu thế hội nhập thế giới, bên cạnh nguồn vốn tiền tệ của quốc gia dành cho việc xây dựng xã hội học tập, thì các dịch vụ tài chính do nước ngoài cung cấp có thể chuyển hướng cho việc đầu tư và học tập ra ngoài quốc gia đó, và vì vậy, việc xây dựng xã hội học tập trong nội địa quốc gia trở nên khó khăn hơn. Như vậy, sự sẵn có của nguồn vốn chi phí thấp ở trong một quốc gia có thể khuyến khích đầu tư học tập ở quốc gia đó. Do vậy, một xã hội học tập luôn khuyến khích bổ sung các hoạt động học tập và hạ thấp chi phí vốn trong nước (bằng cách hạn chế dòng vốn). Điều này đặc biệt đúng nếu học tập có liên quan trực tiếp đến mức độ đầu tư. Hơn nữa, trong một thế giới hạn chế tín dụng, việc tiếp cận nguồn vốn có thể là một công cụ quan trọng của chính sách công nghiệp.

Chính sách tài chính và việc xây dựng xã hội học tập của quốc gia có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chính sách tài chính được thiết kế lỏng lẻo có thể dẫn đến bất ổn vĩ mô, song song với nó, vĩ mô không ổn định sẽ cản trở việc học tập.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.

Những người ủng hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh hơn muốn nhấn mạnh rằng các quyền này cần thiết cho đổi mới.Quan điểm đó chỉ rõ rằng có rất nhiều giải pháp thay thế để tài trợ và trao thưởng cho đổi mới. Chẳng hạn, có các cách khác để giành được lợi nhuận từ đổi mới (bí mật thương mại, lợi thế người đi đầu) bên cạnh bằng sáng chế và bản quyền, và trong nhiều lĩnh vực, những thứ này có tính hiệu quả rất cao. Trên thực tế, như đã đề cập, rất nhiều trong số những tiến bộ tri thức quan trọng nhất không được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ và không được thúc đẩy bởi lợi nhuận. Các tiến bộ toán học cơ bản cung cấp nền móng cho chiếc máy tính và việc khám phá ra DNA tạo cơ sở cho nhiều tiến bộ trong y học hiện đại là hai trong vô số dẫn chứng.

Một trong những giải pháp thay thế quan trọng nhất để tài trợ nghiên cứu là thông qua hỗ trợ của chính phủ. Trường hợp Hoa kỳ tài trợ rất nhiều cho nghiên cứu cơ bản làm cơ sở cho nhiều đổi mới của các Công ty dược, Internet sinh ra vô số những đổi mới từ những năm 1990 đã từng dựa trên nghiên cứu được hỗ trợ và phần lớn được quản lý bởi chính phủ Hoa Kỳ và các nước châu Âu. Thực tế là rất nhiều trong số những đổi mới thành công ở Hoa Kỳ đã xuất hiện ở các khu nghiên cứu gần các trường đại học; thực tế này cho thấy các doanh nghiệp được lợi từ những tri thức được tạo ra tại các trường đại học và nghiên cứu của các trường đại học nhìn chung được tài trợ bởi các tổ chức, chính phủ và tiền quyên góp của các trường - nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận.

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu, xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.

Quan điểm kinh tế học thông thường cho rằng, tự do thương mại làm tăng hiu quả kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, thương mại tự do đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Mặt khác, ở góc độ học tập, nghiên cứu sự lan tỏa tri thức (ở cả khía cạnh công nghệ và tổ chức hoạt động) ra toàn bộ các ngành trong các nước có thể là nền tảng cho quá trình tăng trưởng. Mặt khác, có sự cân bng giữa hiệu quả (thiếu hiệu quả) tĩnh và lợi ích động. Ngoài ra, trong nền kinh tế mở, cần phải cân bằng giữa hiệu quả gắn với li thế so sánh và lợi ích động của việc học tập, tốc độ hơn xuất phát từ phân bổ nguồn lực thay thế, bao gồm cả phân bổ sự lan tỏa lợi ích trong phạm vi của một quốc gia.

   Chính phủ được kỳ vọng là sẽ can thiệp vào thị trường để khuyến khích các ngành có nhiều yêu cầu học tập và sự lan tỏa trí thức hơn có thể bằng cách thông qua bảo hộ thương mại. Chúng ta có thế gọi đây là lập luận ủng hộ quan điểm bảo hộ trong nền kinh tế non trẻ: Lợi ích tri thức có thể cực kỳ cao tại các nước có chênh lệch lớn về tri thức đối với các nước tiên tiến.

Trên thực tế, các nước đang phát triển cần bảo hộ cho các “ngành công nghiệp non trẻ cùa mình để các ngành này đạt năng suất cao hơn (học đi đôi với hành) và nhờ vậy có thể cạnh tranh được với các nước tiên tiến hơn. Không thực hiện bảo hộ như vậy, các nền kinh tế đang phát triển sẽ chỉ tập trung vào sản xuất hàng hóa truyền thống với đặc điểm là mức tăng năng suất thấp. Mặt khác, ngành công nghiệp yêu cầu tri thức cao hơn ngành nông nghiệp. Nhưng công nghiệp không phải là lợi thế so sánh hiện có của các nước này, nên nếu không có sự can thiệp cùa chinh phú, các nước đang phát triển khong thẻ tham gia vào nghành công nghiệp, và do vậy không thể học tập.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải xuống tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành