Cosodulieu

Cosodulieu

Môi trường trong lành có thể được hiểu là môi trường vật chất cho phép cuộc sống được bảo đảm an toàn về môi trường, hài hòa với tự nhiên. Quyền con người được sống trong một môi trường trong lành là quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm. Dưới góc độ pháp lý thì chất lượng môi trường xung quanh đạt tiêu chuẩn cho phép.

Quyền được sống trong một môi trường trong lành là quyền tự nhiên của con người, là quyền rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống con người. Tuy nhiên quyền này đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các hoạt động tác động đến chính môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm, suy thoái. Nói một cách khác đi, chính con người đang tự tước đoạt chính quyền được sống trong điều kiện môi trường cho phép.

Nguyên tắc này xuất phát từ xu thế chung là thể chế hóa quyền này trong pháp luật quốc gia. Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường con người năm 1972 (Tuyên bố Stockholm) đã đưa quyền con người được sống trong môi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia. Nguyên tắc số 1 của Tuyên bố Stockholm nêu rõ: “Con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[1]. Nguyên tắc số 1 của Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững năm 1992 (Tuyên bố Rio de Janeiro) cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa thiên nhiên”[2].

Cộng đồng quốc tế thừa nhận đây là quyền quan trọng hàng đầu, là mục tiêu hoạt động bảo vệ môi trường và các quốc gia đều ghi nhận quyền này trong các văn bản pháp luật của mình. Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế đó, nhất là với tư cách quốc gia ký hai tuyên bố trên, có trách nhiệm biến quyền được sống trong môi trường trong lành thành nguyên tắc pháp lý và thực tế nó đã là nguyên tắc của luật môi trường Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 quy định khái quát: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”, “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”[3]. Trước đó, Điều 50 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận một cách tổng quát: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Điều 50 quy định rõ quyền con người này được thực hiện thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như quyền được bồi thường thiệt hại, quyền tự do tín ngưỡng, quyền khiếu nại tố cáo...

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 ghi nhận: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân”[4]. Tuy nhiên, ngay trong lời nói đầu của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 trước đây cũng đề cập: “Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu”. Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, nguyên tắc này cũng được để cập một cách gián tiếp tại khoản 2 Điều 3; “bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình cá nhân". Nhiều quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 thể hiện nguyên tắc này[5]. Đây không chỉ là nguyên tắc mà là mục đích của luật môi trường, tất cả những quy định của luật môi trường đều nhằm thể hiện nguyên tắc này.

Quyền con người được sống trong một môi trường trong lành là quyền tự nhiên của con người, là quyền tạo hóa ban tặng cho con người. Nhà nước phải ghi nhận và xuất phát từ hiện trạng môi trường đáng báo động hiện nay, tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong một môi trường trong lành (khi nó bị xâm phạm) thông qua các hoạt động như: khiếu nại, yêu cầu bồi thường thiệt hại... Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ, phục hồi môi trường, bảo đảm cho người dân được sống trong một môi trường trong lành. Có nghĩa là khi Nhà nước đã ghi nhận quyền này thì Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền đó được thực hiện trên thực tế.

Việc bảo đảm cho người dân được sống trong một môi trường trong lành đòi hỏi Nhà nước phải có sự cân đối giữa triển kinh tế với lợi ích của nhà đầu tư cùng những tác động từ hoạt động phát triển kinh tế với lợi ích của ngưởi dân cùng những ảnh hưởng về môi trường mà họ phải gánh chịu. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện “chọn cá, tôm hay thép”[6] mà là bảo đảm thực hiện mục đích cuối cùng của bảo vệ môi trường, đó là tạo ra một môi trường sống không bị ô nhiễm, những chủ thể gây ra ô nhiễm hoặc phải chi trả chi phí cho việc phục hồi môi trường trong lành, hoặc bị xử lý khi có hành vi vi phạm. Việc thu số tiền đối với hành vi gây ô nhiễm theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền chắc chắn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của nhà đầu tư.

Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay chưa ghi nhận đầy đủ và chính xác các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường (tác nhân chính dẫn đến thực trạng môi trường đáng báo động), cũng như chưa ràng buộc đầy đủ nghĩa vụ của các chủ thể này; dẫn đến việc xem nhe các quy định pháp luật môi trường hoặc sắn sàng đánh đổi theo quan điểm “phát triển bằng mọi giá", kể cả hy sinh những loi ích về môi trường cho các hoạt động phát triển kinh tế. Điều này đặt ra nhu cầu cần xây dựng các quy định pháp luật môi trường theo hướng tác động tương xứng vào lợi ích kinh tế của các chủ thể, từ đó định hướng hành vi xử sự của họ theo hướng có lợi cho môi trường nhằm đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc nhà nước ghi nhận và bảo đảm quyền con người sống trong một môi trường trong lành.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Tổng cục Khí tượng thủy văn: Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, NXB Chính trị quốc gia, 1995.

2. Hiến pháp năm 2013.

3. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

4. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2018.

 


[1] Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Tổng cục Khí tượng thủy văn: Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Sđd, tr. 11

[2] Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Tổng cục Khí tượng thủy văn: Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Sđd, tr. 31

[3] Điều 14, 43 Hiến pháp năm 2013.

[4] Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[5] Xem các điều 128, 130, 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2018.

[6] Mượn câu được nhắc đến nhiều trong vụ Công ty trách nhiệm hữu hạn, mục đích của luật môi trường, tất cả những quy định của luật lợi ích của nhà đầu tư cùng những tác động từ hoạt động phát nhiễm môi trường biến các tỉnh miền Trung năm 2016.

Thứ ba, 21 Tháng 7 2020 09:41

BẢN CHẤT CỦA CƯỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH

Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm “cưỡng chế" được định nghĩa là “dùng quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo[1]. Ở đây có hai vấn đề: một là, việc coi “cưỡng chế" như một “đặc quyền" trong lĩnh vực nhà nước là không có cơ sở vì trong đời sống xã hội có những cưỡng chế không liên quan đến nhà nước được gọi là cưỡng chế xã hội; hai là, cách diễn đạt về cưỡng chế, theo đó, cưỡng chế = (bằng) “dùng quyền lực" + (cộng với) “bắt phải tuân theo" chỉ là hình thức bên ngoài của cưỡng chế, chưa thể hiện được bản chất của khái niệm cưỡng chế. Trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật, cưỡng chế nhà nước được hiểu là “việc ban hành những quyết định hoặc việc áp dụng những biện pháp tổ chức có tính chất bắt buộc trực tiếp, cũng như việc ban hành những quy định làm cơ sở cho việc ban hành những quyết định cưỡng chế và áp dụng những biện pháp nói trên”[2]. Quan niệm này mang tính cụ thể về các biểu hiện của cưỡng chế nhà nước nhưng chưa chỉ ra được bản chất của cưỡng chế nhà nước.

Một quan điểm khác về cưỡng chế nhà nước là “biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định, về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của các cá nhân”[3]. Quan điểm này trong chừng mực nhất định đã đi gần tới bản chất của cưỡng chế nhà nước khi nhận thức đó là biện pháp “bắt buộc bằng bạo lực" mà hậu quả của nó là về “vật chất hay tinh thần"... Tuy nhiên, bản chất của cưỡng chế nhà nước không phải là “biện pháp". “Biện pháp" chỉ là hình thức thể hiện của bản chất. Đồng thời quan điểm này chưa phát triển sâu hơn tính chất “bạo lực". Đầy đủ hơn cả là quan điểm cho rằng bản chất của cường chế nhà nước là “bạo lực" có tính nhà nước. Trong lĩnh vực quyền lực, có ba cách cơ bản để tác động tới hành vi của người khác nhằm có được kết quả mà chủ thể mong muốn, đó là: 1) Ép buộc họ (bằng sự đe dọa hoặc sử dụng bạo lực về thể chất, kinh tế,...); 2) Dụ dỗ họ (bằng lợi ích vật chất, danh vọng,...); 3) Thu hút, hấp dẫn chính người chịu tác động của quyền lực bằng sức hấp dẫn, các giá trị, tư tưởng... của quyền lực[4]. Hai cách tác động sau có thể đạt được kết quả chủ thể quyền lực mong muốn thông qua sự tự nguyện hoặc kích thích đến đối tượng, không thuộc phạm trù “cưỡng chế". Chỉ có thể nói đến cưỡng chế ở cách thức tác động thứ nhất là ép buộc. Nó là tác động mà người bị cưỡng chế không mong muốn. Cái để buộc người này phải thực hiện điều không mong muốn chính là “bạo lực". Do đó, bản chất của cưỡng chế là bạo lực. Bạo lực này có thể tác động gián tiếp đến hành vi của người khác (tác động đến tâm lý đối tượng, khiến cho họ lo sợ nên buộc phải thực hiện hành vi trái với ý muốn của mình); hoặc có thể tác động trực tiếp đến hành vi của người khác buộc họ phải tuân theo ý chí của mình. Như vậy, không nên hiểu bạo lực ở đây chỉ là những biện pháp tác động trực tiếp đến thân thể (bạo lực về thể chất), bạo lực đó có thể là bạo lực về kinh tế, bạo lực về tinh thần, v.v... Tuy nhiên, nói về cưỡng chế nhà nước cần nhấn mạnh thêm rằng, đây là bạo lực có tổ chức với quy mô rộng lớn, có trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng chặt chẽ và danh nghĩa chung, được quy định trong pháp luật, khác với các thứ bạo lực khác trong đời sống xã hội (cưỡng chế xã hội). Hiện nay, ở hầu hết các nhà nước trên thế giới, cưỡng chế nhà nước được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh việc sử dụng tùy tiện.

Như vậy, cưỡng chế nhà nước là việc sử dụng bạo lực có tổ chức của nhà nước nhằm buộc các chủ thể trong xã hội phải tuân theo ý chí của nhà nước. Quan điểm này đồng nhất với quan điểm về cưỡng chế nhà tậc của một số tác giả trong nước cũng như của khoa học pháp lý Xô-viết trước đây, coi cưỡng chế nhà nước là phương tiện tác động xã hội nghiêm khắc, được dựa trên sức mạnh có tổ chức, tạo khả năng bảo đảm sự xác định vô điều kiện ý chí của nhà nước[5]. Trong khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu đã phân chia cưỡng chế nhà nước thành bốn loại: cưỡng chế hình sự, cưỡng chế hành chính, cưỡng chế kỷ luật, cưỡng chế dân sự. Ngoài ra còn một dạng cưỡng chế tuy chưa được khoa học pháp lý tổng kết, nhưng có thể nhận diện được là cưỡng chế biến pháp.. Xác định bản chất của cưỡng chế nhà nước sẽ giúp cho việc xác định bản chất của cưỡng chế hành chính, đó là việc sử dụng bạo lực trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhằm buộc đối tượng quản lý phải thực hiện các nghĩa vụ của mình để thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước.

Ở đây cũng cần phải xác định phạm vi áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính. Trước hết, cưỡng chế hành chính là phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, được pháp luật hành chính điều chỉnh. Trong lĩnh vực này còn có biện pháp cưỡng chế kỷ luật hành chính cũng do luật hành chính điều chỉnh, nhưng trong khoa học pháp lý không gọi là cưỡng chế hành chính. Cưỡng chế kỷ luật hành chính hướng đến mối quan hệ tổ chức nội bộ bên trong cơ quan, tổ chức, còn cưỡng chế hành chính là loại biện pháp cưỡng chế mà chủ thể quản lý áp dụng tác động đến mối quan hệ quản lý bên ngoài xã hội, không trong quan hệ phụ thuộc về tổ chức.

Liên quan đến phạm vi áp dụng cưỡng chế hành chính, trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn pháp luật còn có nhiều ý kiến khác nhau về cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Về thi hành án dân sự, có ý kiến cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính hoặc là một dạng của hoạt động hành chính - tư pháp. Tuy nhiên, ý kiến cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp và thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện có cơ sở khoa học hơn cả. Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử vì nó là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Xét xử là tiền đề của thi hành án dân sự, không có xét xử thì không có thi hành án dân sự, Ngược lại, thi hành án dân sự tiếp nối với xét xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng củng cố kết quả xét xử.

Thi hành án dân sự mang tính tài sản - đặc trưng của quan hệ dân sự. Trên thực tế, phần lớn các bản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành đều quyết định các vấn đề về tài sản. Thông qua thi hành án dân sự, người phải thi hành án phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của họ và người được thi hành án dân sự sẽ nhận được các quyền, lợi ích về tài sản. Như thế, trong quá trình thi hành án dân sự, nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết như biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự.

Thi hành án dân sự mang tính độc lập - đặc trưng của hoạt động tư pháp. Thi hành án là quá trình phức tạp, trong đó cơ quan thi hành án dân sự thường phải chịu áp lực, tác động từ nhiều phía. Để bảo đảm hiệu quả của thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên phải được độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự. Vì vậy, pháp luật thi hành án dân sự hiện hành đã quy định cơ quan thi hành án dân sự tách khỏi các cơ quan tư pháp địa phương, không phụ thuộc về tổ chức và quản lý của các cơ quan này. Thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự - có quan tư pháp tổ chức thực hiện. Việc thực hiện quyền từ pháp của nhà nước do nhiều cơ quan tư pháp thực hiện và tòa án chỉ là một trong các cơ quan đó. Cơ quan thi hành án dân sự có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện quyền tư pháp của nhà nước cho nên cơ quan thi hành án dân sự là một trong các cơ quan tư pháp...

Ngoài ra, để thực hiện các bản án, quyết định được đưa ra thi hành thì trong quá trình thi hành án dân sự đôi khi các chủ thể tham gia thi hành án còn phải tiến hành các hoạt động như yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ, việc ủy quyền thi hành án, trước bạ chuyển quyền sở hữu nhà cho người được thi hành án,v.v.... Tuy vậy, những hoạt động này không phải là hoạt động cơ bản, chỉ mang tính bổ trợ cho việc thi hành bản án, quyết định dân sự.

Phạm vi áp dụng cưỡng chế hành chính cũng được xem xét dưới góc độ là cơ sở áp dụng các biện pháp này. Trong khoa học luật hành chính hiện nay đang tồn tại những ý kiến khác nhau trong việc xác định phạm vi áp dụng của cưỡng chế hành chính. Có thể chia ra hai nhóm ý kiến: Một là, cưỡng chế hành chính luôn gắn liền với vi phạm phạm luật, cụ thể là vi phạm hành chính; hai là, cưỡng chế hành chính ngoài việc áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luật thì còn được áp dụng để phòng ngừa hoặc trong trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng và vì lợi ích quốc gia (không có vi phạm pháp luật).

Về ý kiến xem cưỡng chế hành chính chỉ liên quan tới vi phạm hành chính, hầu như không có ai phản đối rằng đối với vi phạm pháp luật thì cưỡng chế nhà nước là tất yếu. Không áp dụng cưỡng chế hay coi nhẹ nó cũng có nghĩa là dẫn đến tình trạng vô chính phủ, vô kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước. Ý kiến thứ hai cho rằng ngoài trường hợp có vi phạm hành chính xảy ra, cưỡng chế hành chính còn được áp dụng để phòng ngừa (ví dụ như kiểm tra giấy tờ, hàng hóa, hành lý, ngăn cấm vào khu vực có dịch bệnh) và trong trường hợp cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia (ví dụ như trưng dụng, trưng mua tài sản). Lập luận của ý kiến này là “Phòng ngừa hành chính là các biện pháp do các cơ quan hành chính hoặc người có thẩm quyền áp dụng để ngăn ngừa những hiểm họa xảy ra đối với sinh mạng và tài sản của công dân, cộng đồng trong hoàn cảnh cấp thiết, không liên quan với vi phạm pháp luật... không cần sự đồng ý của công dân, cộng đồng hữu quan và quyết định phòng ngừa phải được chấp hành; hoặc để “bảo đảm an toàn xã hội, phục vụ lợi ích công cộng và thực hiện những chính sách chung”[6].

Nếu coi các biện pháp phòng ngừa kể trên là cưỡng chế hành chính thì rất dễ đồng nhất những cái mà pháp luật “cấm đoán" với “cưỡng chế" (cấm vào khu vực có dịch, cấm vào khu vực quân sự...); hoặc đồng nhất những điều mà pháp luật quy định phải làm" là “cưỡng chế" cách ly y tế (với những người nghi nhiễm bệnh dịch, phải di dời khỏi khu vực nhất định). Nếu theo lôgích này thì trong xã hội có quá nhiều cưỡng chế bởi những cái mà pháp luật “cấm làm" và quy định phải làm" có rất nhiều.

Vì vậy, không nên coi các biện pháp phòng ngừa kế trên là biện pháp cưỡng chế nhà nước. Nó chỉ là những nghĩa vụ pháp luật. Các cá nhân, tổ chức có thể hoàn toàn tự nguyện thi hành các biện pháp hành chính được áp dụng trong những hoàn cảnh đặc biệt. Ví dụ cá nhân chấp hành việc kiểm tra hành chính về giấy tờ tùy thân, phương tiện giao thông trước các lực lượng chức năng thì không thể coi biện pháp kiểm tra hành chính này là biện pháp cưỡng chế vì ở đây hoàn toàn có sự tự nguyện của các đối tượng quản lý. Chỉ khi họ không chấp hành yêu cầu kiểm tra và lực lượng chức năng phải tiến hành cưỡng chế kiểm tra hành chính thì mới coi là biện pháp cưỡng chế hành chính. Hoặc khi người nghi mắc bệnh dịch hoàn toàn tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cách ly y tế thì biện pháp cách ly này không thể coi là cưỡng chế được. Chỉ khi người bệnh không chấp hành nghĩa vụ thì lúc đó việc buộc họ phải cách ly y tế mới trở thành biện pháp cưỡng chế và biện pháp này được gọi là “cưỡng chế cách ly y tế".

Tài liệu tham khảo

1. Viện Ngôn ngữ học; Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng, 2005

2. Nguyễn Cửu Việt: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000

3. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 201Lê Minh Quân, Bài Việt Hương: Về quyền lực trong quản lý nhà nước hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012

5. Vũ Thư; “ Vấn để áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính đối với người chưa thành niên", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2009

6. Nguyễn Duy Gia: Cưỡng chế hành chính nhà nước, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội, 1996

 


[1] Viện Ngôn ngữ học; Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr, 233.

[2] Nguyễn Cửu Việt: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000, tr. 362

[3] Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 130

[4] Xem Lê Minh Quân, Bài Việt Hương: Về quyền lực trong quản lý nhà nước hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr 108.

[5] Xem Vũ Thư; “ Vấn để áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính đối với người chưa thành niên", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2009, tr, 30

[6] Nguyễn Duy Gia: Cưỡng chế hành chính nhà nước, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 19–21

Xuất phát từ thực trạng các quy định pháp luật môi trường Việt Nam hiện nay. Hệ thống pháp luật quy định về môi trường ở Việt Nam đã phát triển cả về nội dung lẫn hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các yếu tố tạo nên thành phần môi trường. Các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường đã quy định từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi cá nhân, tổ chức trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường; là cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường. Các quy định pháp luật đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường; xác định rõ bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân chứ không phải chỉ là trách nhiệm riêng của Nhà nước. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật về môi trường liên quan đến từng yếu tố môi trường hay điều chỉnh những hoạt động của con người tác động đến môi trường được ban hành chưa đồng bộ cả về mặt thời gian ban hành và nội dung của các quy định. Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tương đối đầy đủ các thành tố, nội dung các quy định pháp luật đã cụ thể hóa tương đối kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã cam kết. Tuy nhiên, cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật quốc gia cũng như cam kết quốc tế chưa cao. Các biện pháp chế tài nói chung chưa thích và chưa đủ mạnh để trừng trị và răn đe những hành vi vi phạm[1] và các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế nên việc hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra cần được xem xét ở các mặt sau:

Một là, hoàn thiện các quy định liên quan đến quyền khởi kiện của công dân. Cơ chế ủy quyền khởi kiện cho một bên nào đó dù họ là bên thứ ba trong một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường cũng sẽ giúp giảm thiểu thời gian, công sức, tiền bạc của các bên. Ở một số nước trên thế giới (Malaixia, Singapo, Nhật Bản... ), khi xảy ra các dạng tranh chấp như trên, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện riêng lẻ như ở Việt Nam hoặc khởi kiện tập thể để tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh sự gia tăng của các tranh chấp bồi thường thiệt hại môi trường có số lượng bị đơn đông đảo như hiện nay, tác giả cuốn sách đề nghị nên ghi nhận quyền khởi kiện tập thể để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Điều này có thể mang lại một số thuận lợi như:

- Đối với Tòa án: trong trường hợp luật cho phép áp dụng chế định kiện tập thể thì chỉ có một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức đại diện thay vì phải lần lượt vất vả làm việc trực tiếp với tất cả các chủ thể bị thiệt hại, với hàng chục, hàng trăm và thậm chí là hàng ngàn lần tống đạt, lần triệu tập, cũng như rất nhiều lần tổ chức hòa giải, Tòa án sẽ chỉ làm việc với người đại diện nên giảm thiểu được các khâu thủ tục lặp đi lặp lại. Chưa kể, trong cơ chế kiện tập thể, khi bản án của Tòa án có hiệu lực thì quá trình thi hành án cũng dễ dàng hơn. Đồng thời, làm giảm gánh nặng cho Tòa án cấp dưới, vừa giúp cho việc giải quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi hơn.

- Đối với các đương sự: về phía người bị thiệt hại, việc họ ủy quyền cho cá nhân hoặc tổ chức đứng ra thay mặt khởi kiện sẽ giúp quá trình chứng minh thiệt hại nhanh hơn, chính xác hơn, kỹ càng hơn. Thực tế, trình độ nhận thức và kiến thức pháp luật của người dân không đồng đều. Khi họ ủy quyền cho người hiểu biết hơn hoặc một cơ quan có chuyên môn thi công việc sẽ trôi chảy và có khả năng đạt kết quả tốt hơn nhiều. Chưa kể, nếu ủy quyền cho một tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân chẳng hạn, với tư cách pháp nhân, Hội sẽ dễ dàng yêu cầu các cơ quan khác cung cấp tài liệu, chứng cứ hơn là người dân trực tiếp đi xin. Bên cạnh đó, người dân còn tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc vì không phải trực tiếp lui tới Tòa án nhiều lần. Không chỉ phía nguyên đơn được lợi, mà cả phía bị đơn cũng “khỏe” hơn nhiều. Chẳng hạn, thay vì phải nhiều lần nhận tống đạt, nhiều lần bị triệu tập và tham gia hòa giải, phía bị đơn sẽ chỉ phải cử đại diện tham gia một vụ kiện chung với các thủ tục thông thường. Như vậy, chưa tính đến kết quả xét xử thắng thua ra sao, trước mắt bị đơn đã tiết kiệm được rất nhiều công sức, thời gian, tiền bạc so với việc phải lần lượt theo hầu kiện từng vụ riêng lẻ một. Đồng thời, quy định quyền khởi kiện tập thể cũng có ý nghĩa tác động đến ý thức, hành vi của chủ thể gây thiệt hại khi họ nhận thấy rằng, người bị thiệt hại đã có những thiết chế pháp lý để yêu cầu bồi thường thiệt hại thuận lợi, hiệu quả hơn rất nhiều so với trước đây.

Đồng thời, đối với các vụ việc phức tạp có số lượng nguyên đơn đông đảo như thế này, có nhiều ý kiến cho rằng luật có thể cho phép những người có lợi ích bị xâm hại có tính chất giống nhau được nhóm lại thành một hội có tư cách pháp nhân. Hội loại này chỉ tồn tại nhằm mỗi mục tiêu bảo vệ lợi ích của hội viên trong trường hợp đặc thù và giải tán sau khi mục tiêu chung đã đạt được. Luật có thể trao cho hội quyền thay mặt các hội viên đứng nguyên đơn trong một vụ kiện vì lợi ích tập thể của hội viên. Để tạo nguồn tài chính cần thiết cho việc theo đuổi vụ kiện, đặc biệt là chi phí cho việc thu thập chứng cứ, hội được quyền thu hội phí, thậm chí được tổ chức quyên góp ngoài xã hội dưới sự giám sát của các cơ quan thẩm quyền...[2] Đây cũng là một giải pháp cần được các nhà làm luật quan tâm trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật hiện hành. Bởi, thực tế cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, việc các nạn nhân tập hợp lại thành một tổ chức nhằm tạo nên sức mạnh tập thể để đấu tranh với các chủ thể vi phạm không phải là chuyện hiếm. Hơn thế, kiểu tổ chức xã hội này không xa lạ với thực tiễn pháp lý Việt Nam. Hội các nạn nhân chất độc da cam là một trong những khuôn mẫu giải quyết tranh chấp liên quan đến lợi ích tương đồng của nhiều cá nhân thông qua vai trò của một chế định tập thể.

Hai là, hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của một định chế tập thể. đương sự. Khi quyền, lợi ích chính đáng bị xâm phạm, mọi công dân đều có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặc dù vậy, có thể khẳng định rằng, khả năng tự bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự là rất thấp, nguyên nhân chính xuất phát từ trình độ dân trí chưa cao, sự hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn nghèo khó trước các yêu cầu về chứng minh, chứng cứ như hiện nay. Đặc biệt là trong các vụ việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, việc xác minh thiệt hại luôn là trở ngại lớn nhất của người dân. Xuất phát từ điều đó, thiết nghĩ, pháp luật cần có quy định phù hợp với những đặc thù của lĩnh vực môi trường theo hướng giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho người bị thiệt hại khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo đó, có quan điểm cho rằng, nghĩa vụ chứng minh trong các trường hợp này được tiếp cận theo hướng người nào chứng minh được thiệt hại đối với môi trường tự nhiên thì cũng sẽ chứng minh được thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản cũng như mối quan hệ nhân quả giữa các thiệt hại xảy ra và tình trạng ô nhiễm môi trường. Với cách tiếp cận này, trách nhiệm chứng minh trước tiên thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc chứng minh thiệt hại xảy ra đối với môi trường tự nhiên, từ đó làm cơ sở để xác định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người dân. Mặt khác, để giải quyết những khó khăn đối với việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp nhiều người cùng gây ô nhiễm, nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau là giải pháp đã được pháp luật dân sự tính đến trong trường hợp này. Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng trong áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, có quan điểm cho rằng, trong các trường hợp này, nếu người gây thiệt hại chứng minh được mức độ mà mình gây thiệt hại đối với môi trường là không đáng kể thì họ chỉ phải bồi thường thiệt hại theo phân tương ứng với mức độ gây hại đó[3]. Thiết nghĩ, đây là hướng giải quyết tối ưu, bởi, theo quy định này thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đối tượng gây thiệt hại, qua đó, sẽ giúp các tổ chức, cá nhân nâng cao hơn trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng như nâng cao năng lực tự bảo vệ mình trong lĩnh vực này.

Ba là, về mức bồi thường. Một nguyên tắc quan trọng trong chế định bồi thường thiệt hại là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ. Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường, nguyên tắc này không đủ sức để răn đe các chủ thể gây thiệt hại cũng như bảo vệ tốt nhất quyền lợi của chủ thể bị hại, nhất là trong điều kiện các căn cứ xác định thiệt hại còn chưa rõ ràng làm cho mức thiệt hại mà các cơ quan chuyên môn đưa ra thường thấp hơn rất nhiều so với thiệt hại xảy ra trên thực tế. Mặt khác, các thiệt hại về môi trường không chỉ chấm dứt ngay tại thời điểm hành vi vi phạm kết thúc, hoặc thời điểm giải quyết bồi thường thiệt hại mà nó còn có thể kéo dài, đặc biệt là các thiệt hại về sức khỏe. Do vậy, thiết nghĩ, các nhà lập pháp cần nghiên cứu, áp dụng chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới, theo đó, mức bồi thường mà bên gây thiệt hại có nghĩa vụ chi trả phải tương đương với giá trị lợi nhuận mà các chủ thế này thu được 1 gây ô nhiễm môi trường, hoặc gấp 2, 3 và thậm chí là nhiều lần so với mức thiệt hại được tính toán.

Tài liệu tham khảo:

1. Võ Trung Tín: “Tổng quan về pháp luật môi trường Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế "Môi trường và nhà nước pháp quyền: tăng cường thực thi pháp luật về môi trường ở khu vực Đông Nam Á” do Viện Nhà nước và Pháp luật - Chương trình pháp quyền châu Á tổ chức, 2014.

2. http://phapluattp.vn/2010051511023419p1063c1016/tu-vu vedan - sua - luat - ra - sao, htm (truy cập ngày 20/2/2018)

3. Vũ Thu Hạnh & các đồng nghiệp trường Đại học Luật Hà Nội: Báo cáo về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam. Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện,

 


[1] Xem thêm Võ Trung Tín: “Tổng quan về pháp luật môi trường Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế "Môi trường và nhà nước pháp quyền: tăng cường thực thi pháp luật về môi trường ở khu vực Đông Nam Á” do Viện Nhà nước và Pháp luật - Chương trình pháp quyền châu Á tổ chức, 2014.

[2]http://phapluattp.vn/2010051511023419p1063c1016/tu-vu vedan - sua - luat - ra - sao, htm (truy cập ngày 20/2/2018)

[3] Vũ Thu Hạnh & các đồng nghiệp trường Đại học Luật Hà Nội: Báo cáo về quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam. Cơ sở pháp lý và quy trình thực hiện, Tlđd, tr. 21.

An ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống có tính liên hệ mật thiết với nhau, nhưng đặc điểm và tính chất cũng có sự khác biệt rõ ràng. Làm rõ tính liên hệ và khác biệt giữa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống sẽ có lợi cho việc tính toán và quy hoạch lại chiến lược an ninh để ứng phó với uy hiếp do vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đem đến trong môi trường an ninh mới, qua đó, bảo đảm sự ổn định và vững chắc cho an ninh quốc gia[1]. Tính liên hệ lẫn nhau giữa an ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống chủ yếu được biểu hiện ở chỗ: Một là, bản thân từ ngữ hoặc khái niệm “an ninh phi truyền thống" chính là do sự mở rộng trong nội hàm và ngoại diện của khái niệm “an ninh truyền thống" và khái niệm “an ninh quốc gia"[2] mà có. Hoặc có thể nói, nhận biết đối với vấn đề an ninh phi truyền thống được phát triển trên cơ sở quan niệm an ninh quốc gia truyền thống. Thực tế cho thấy, đa số vấn đề an ninh phi truyền thống phản ánh từng bước diễn biến hoặc phát sinh từ trong môi trường và trở thành vấn đề an ninh mới. Do đó, theo cách nhìn nhận vấn đề hiện nay như chủ nghĩa khủng bố, di dân bất hợp pháp, khan hiếm tài nguyên nước, môi trường sinh thái, buôn lậu ma túy lại không phải là sự “xuất hiện an ninh mới", mà xã hội chỉ coi nó là một loại “uy hiếp an ninh mới” nên quan tâm nhiều hơn. Nếu trước đây những cái đó là “vấn đề cũ” còn hình thức biểu hiện và kết quả tạo ra thì hiện nay lại có các đặc điểm “mới". Hiện nay, chủ nghĩa khủng bố đã mang tính toàn cầu hóa, mạng lưới hóa, phương thức, thủ đoạn hoạt động và sự nguy hại của nó cũng khác nhiều so với trước đây. Đương nhiên, trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống cũng có một số vấn đề mới xuất hiện như vấn đề an ninh về hệ thống thông tin và cơ sở hạ tầng then chốt do sự tấn công mạng lưới thông tin đem đến[3].

Hai là, trong điều kiện cụ thể, nhất định vấn đề an ninh truyền thống và vấn đề an ninh phi truyền thống có thể “chuyển hóa" lẫn nhau. Một số vấn đề vốn thuộc về lĩnh vực an ninh truyền thống thì nay có thể diễn biến thành vấn đề an ninh phi truyền thống như: vấn đề dân tộc thiểu số, xung đột tôn giáo, khủng hoảng kinh tế, bạo loạn quốc gia trong nội bộ một nước có thể vượt qua biên giới quốc gia mà “lan tỏa" ra bên ngoài[4]. Ở đây, không thể tránh khỏi việc ảnh hưởng đến sự ổn định và an ninh của các nước láng giêng và khu vực xung quanh, khiến nó trở thành vấn đề an ninh mang tính “xuyên quốc gia"... Hoặc trong thời kỳ Chiến tranh lạnh vấn đề vũ khí hạt nhân là một nội dung của lĩnh vực an ninh truyền thống nhưng ngày nay có nguy cơ chủ nghĩa khủng bố và phần tử khủng bố tìm các cách thức, thủ đoạn giành được và sử dụng nên các nguyên liệu hạt nhân và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân đã trở thành những thách thức, mối đe dọa của an ninh phi truyền thống[5].

Ba là, tiếp cận rộng từ môi trường an ninh toàn cầu và nước lớn chủ yếu, cũng như vấn đề an ninh mà các quốc gia ở vào vị trí địa chính trị, kinh tế, chiến lược quan trọng, nhạy cảm phải đối mặt. Cho thấy, cho dù tình hình đất nước, sự phát triển xã hội và nhu cầu an ninh của mỗi nước là khác nhau, nhưng cả hai vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đồng thời cùng tồn tại, liên hệ, chi phối và tác động lẫn nhau. Chiến lược và chính sách an ninh của những quốc gia đó đều phải đồng thời ứng phó với sự uy hiếp, các thách thức mà an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đã và đang đặt ra.

Bốn là, an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống có mối liên hệ tác động lẫn nhau, vấn đề an ninh phi truyền thống nếu không được khống chế và bị kích thích hóa thì sẽ gây ra xung đột giữa các quốc gia, dân tộc dẫn đến có nước sẽ áp dụng thủ đoạn quân sự của an ninh truyền thống để giải quyết[6]. Hiện nay, chính nước Mỹ dùng chiêu bài chiến tranh của an ninh truyền thống để hòng loại bỏ chủ nghĩa khủng bố toàn cầu “uy hiếp phi truyền thống”. Vấn đề tranh đoạt tài nguyên nước, đối phó với việc phố biến vũ khí giết người hàng loạt cũng đều có thể dẫn đến việc sử dụng thủ đoạn quân sự và phương thức chiến tranh. Ngoài ra, do vấn đề “an ninh phi truyền thống" được đưa vào trong hệ thống đánh giá chiến lược của uy hiếp an ninh quốc gia, yêu cầu sự hợp tác giữa bộ phận an ninh truyền thống và các bộ phận liên quan khác đã được tăng cường. Chẳng hạn, trước đây những bộ phận vốn không mấy liên quan với nhau như quốc phòng, tư pháp, tình báo, y tế công cộng, nông nghiệp và môi trường của các nước phát triển nhưng ngày nay đều tăng cường điều hòa lẫn nhau cùng bảo vệ an ninh quốc gia[7]. Do đó, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, người viết cho rằng nhận thức chung về an ninh phi truyền thống trong sự đối sánh, quan hệ với an ninh truyền thống như sau[8]:

Tiêu chí An ninh phi truyền thống An ninh truyền thống
Sự xuất hiện Xuất hiện sau Xuất hiện trước
Đối tượng bảo vệ Hướng đến trọng tâm bảo vệ cá nhân con người hoặc cộng đồng, qua đó bảo vệ các lợi ích quốc gia, dân tộc Hướng đến mục tiêu chủ đạo là bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, dân tộc
Nguồn tạo ra các mối đe dọa Được tạo ra bởi các tác nhân tự nhiên, các nhóm người, cá nhân hoặc tổ chức phi nhà nước, v.v… Được tạo ra từ mối đe dọa là các quốc gia thù địch hoặc phe nhóm chính trị đối lập
Tính chất của các mối đe dọa Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống rất đa dạng, có tính phi quân sự (tác động trên nhiều lĩnh vực đời sống như kinh tế, chính trị, xã hội, thông tin, môi trường.v.v…) Các mối đe dọa an ninh truyền thống thường là hoạt động trên bình diện quân sự hoặc bình diện chính trị.
Phạm vi tác động Tác động ở nhiều phạm vi, quy mô khác nhau từ hẹp đến rộng như: an ninh của một nhóm, tầng lớp, cộng đồng dân cư hay an ninh của một quốc gia, dân tộc, thậm chí là an nnh khu vực và an ninh toàn cầu… Thường uy hiếp an ninh của một quốc gia, dân tộc.
Các thức biện pháp giải quyết Nhấn mạnh nhiều biện pháp giải quyết, coi trọng hợp tác song phương hoặc đa phương, thể hiện tính tổng hợp của biện pháp ứng phó. Nhấn mạnh biện pháp quân sự, liên kết đồng minh và coi trọng lợi ích và an ninh quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Eddie Walsh: Threats Non - Traditional Security in Asia: Finding a regional way forward, 2011 (http://www.eastasiaforum.org/2011/06/04/ non - traditional), truy cập ngày 22/10/2017.

2. Nguyễn Văn Hưởng: An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 201416

3. Tô Lâm, Nguyễn Xuân Yêm (tổng chủ biên): An ninh phi truyền thống trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017.

4. Trịnh Tiến Việt: An ninh phi truyền thống: Khái niệm, những thách thức, các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật hình sự Việt Nam và một số kiến nghị, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 5, 2017

 


[1] Xem Eddie Walsh: Threats Non - Traditional Security in Asia: Finding a regional way forward, 2011 (http://www.eastasiaforum.org/2011/06/04/ non - traditional), truy cập ngày 22/10/2017.

[2] “An ninh quốc gia" được hiểu là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc (Điều 3 Luật An ninh quốc gia năm 2004)

[3] Xem Nguyễn Văn Hưởng: An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Sđd, tr.44-45

[4] Xem Nguyễn Văn Hưởng: An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Sđd, tr.44-45

[5] Xem Nguyễn Văn Hưởng: An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Sđd, tr.44-45

[6] Xem Tô Lâm, Nguyễn Xuân Yêm (tổng chủ biên): An ninh phi truyền thống trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Sđd, tr.34

[7] Xem Nguyễn Văn Hưởng, An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Sđd, tr. 46

[8] Xem Trịnh Tiến Việt: An ninh phi truyền thống: Khái niệm, những thách thức, các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật hình sự Việt Nam và một số kiến nghị, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 5, 2017, tr.14

Tại châu Âu, nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền được thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng cũng không ngoài mục đích yêu cầu người sử dụng hoặc gây ô nhiễm cho môi trường phải đáp ứng những chi phí cho việc thực hiện các quy định của môi trường. Trong đó, thuế, phí, và các khoản thu là những công cụ quan trọng thúc đấy sự áp dụng hiệu quả nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Bằng cách yêu cầu người gây ô nhiễm hoặc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường bồi thường cho các hoạt động tác động xấu tới môi trường, các công cụ này có thể đem lại những biện pháp nhằm định hướng hành động thực tiễn đối với môi trường hiệu quả và tạo ra nguồn chi phí nhằm quản lý và điều hành chính sách môi trường, tài nguyên[1].

Như vậy, nguyên tắc của luật môi trường hiểu theo nghĩa chung nhất, là "điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo một loạt việc làm"[2], hoặc "những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, làm chỗ dựa để xem xét, làm việc"[3]. Ở cách tiếp cận này, nguyên tắc được xem là chuẩn mực, căn cứ vào đó để thực hiện một công việc, hoạt động.

Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ "nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng latinh (pricipium), có nghĩa là “nền tảng, tư tưởng chủ đạo, là khởi đầu của một hiện tượng nào đó (học thuyết, tổ chức, hoạt động, và các hiện tượng tương tự). Theo quan niệm cổ “nguyên tắc là phần quan trọng nhất của mọi hiện tượng" (pricipium est prorissima pars cujuque rei). Nguyên tắc pháp luật là vấn đề mang tính nền tảng, là xuất phát điểm để xác định nội dung tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội và là những tiêu chí để đánh giá giá trị của pháp luật đối với các chủ thể của pháp luật[4].

Từ điển Luật học không giải thích riêng sử dụng thuật ngữ “nguyên tắc áp dụng pháp luật", là những nguyên tắc cơ bản do luật định dựa vào đó các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền vận dụng những văn bản pháp luật, tập quán luật thích hợp nhằm giải quyết công việc thuộc thẩm quyền"[5]. Cách tiếp cận này được hiểu phổ biến trong một số tài liệu, ví dụ “nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng chính trị, pháp lý cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng và thực thi pháp luật"[6].

Nghị quyết số 01/2014/NQ-HÐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại đề cập gián tiếp về nguyên tắc thông qua quy định “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam"[7]. Theo đó, “khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định dược phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tấc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trong tài. Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc co bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trong lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba. Cách hiểu này không chỉ dừng lại ở “nền tảng, tư tưởng chủ đạo" mà trở thành yêu cầu áp dụng trực tiếp để áp dụng pháp luật khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

Nguyên tắc pháp luật, gồm hai loại, những nguyên tắc chung mang tính chất chính trị xã hội của pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù[8]. Nguyên tấc chung của pháp luật luôn phản ánh một cách trực tiếp chế độ xã hội hiện hữu và được đặt ra nhằm xác định rõ những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo để giải đáp một vấn đề lớn là hệ thống phán luật hiện hữu củng cố và bảo vệ chế độ nào. Các nguyên tắc pháp lý đặc thù thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật nhằm giải đáp một vấn đề có tính đặc thù là hệ thống pháp luật sẽ củng cố và bảo vệ chế độ xã hội đó như thế nào[9].

Các nguyên tắc của pháp luật có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo Kulapov V.L., nguyên tắc pháp luật được chia thành ba nhóm: (i) Nguyên tắc chung - liên quan đến cả hệ thống pháp luật, bao gồm: nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc công bằng xã hội, nguyên tắc nhân đạo; (ii) Nguyên tắc liên ngành - liên quan đến hai hoặc một số ngành (lĩnh vực) pháp luật, như nguyên tắc trách nhiệm cá nhân; (iii) Nguyên tắc ngành - là các nguyên tắc của từng lĩnh vực pháp luật, chẳng hạn nguyên tắc tự do hủy hợp đồng trong pháp luật dân sự, pháp luật lao động, nguyên tắc phân chia quyền lực trong luật Hiến pháp[10]... Cũng có quan điểm khác, chia các nguyên tắc pháp luật thành nguyên tắc chung, nguyên tắc liên ngành, nguyên tắc của ngành luật (căn cứ theo phạm vi chỉ đạo của các nguyên tắc); hoặc nguyên tắc chính trị, nguyên tắc kinh tế, nguyên tắc xã hội, nguyên tắc đạo đức, nguyên tắc tư tưởng, nguyên tắc pháp lý (căn cứ theo lĩnh vực đời sống mà pháp luật điều chỉnh).

Trên thế giới, có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa, hệ nguyên tắc là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật[11]. Theo cách phân loại chung, có thể chia các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa thành hai loại chính là: các nguyên tắc chung mang tính chất chính trị - xã hội của pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù. Trong đó, các nguyên tắc chung của pháp luật luôn phản ánh một cách trực tiếp chế độ xã hội hiện hữu; còn các nguyên tắc pháp lý đặc thù thể hiện rõ bản chất và những đặc trưng của pháp luật[12]. Cách phân loại chung này tương tự như cách phân loại đã đề cập trước đó.

Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, các nguyên tắc chung của pháp luật thường được khẳng định trong Hiến pháp hay các văn bản mang tính lập hiến. Ví dụ, khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2018 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”; hoặc khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 đề cập: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. Các nguyên tắc đặc thù thường được thể hiện trong các đạo luật chuyên ngành của từng lĩnh vực pháp luật. Ví dụ, khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”; các nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân, tự do, tự nguyện thỏa thuận, áp dụng thói quen, tập quán trong hoạt động thương mại... trong Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019; nguyên tắc suy đoán vô tội, thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia; nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, kịp thời, công bằng và công khai trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. So với nhiều lĩnh vực pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật môi trường hình thành muộn hơn. Trước năm 1993, chưa có một đạo luật riêng ở Việt Nam quy định về vấn đề môi trường. Các chế định liên quan đến môi trường được quy định ở nhiều văn bản đơn lẻ. Ngày 27/12/1993, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (có hiệu lực từ ngày 01/4/1994). Sau hơn 10 năm thực hiện, ngày 27/12/2005, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006). Ngày 23/6/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), đã sửa đổi, bổ sung năm 2018. Các nội dung được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, 2005 và 2014 đều thể hiện các nguyên tắc của luật môi trường, từ cách tiếp cận chung về nguyên tắc của pháp luật cũng như hoạt động bảo vệ môi trường.

Nguyên tắc của luật môi trường, theo đó, có thể hiểu là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật môi trường cũng như chỉ đạo thực hiện pháp luật môi trường nói riêng, hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật môi trường và các văn bản liên quanh. Bên cạnh những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nói chung, luật môi trường có những nguyên tắc đặc thù. Vấn đề đặt ra là nguyên tắc nào được xem là nguyên tắc đặc thù của luật môi trường, thể hiện đó là lĩnh vực pháp luật song hành cùng với những lĩnh vực pháp luật khác, vừa mang tính độc lập tương đối? Tổng kết hoạt động bảo vệ môi trường trên toàn thế giới trong thời gian qua, đặc biệt là từ sau năm 1972[13] tới nay, các nhà khoa học môi trường trên thế giới đã nêu lên rất nhiều nguyên tắc, đều được gọi là những nguyên tắc cần phải tuân thủ trong hoạt động bảo vệ môi trường. Thực ra, không phải tất cả các nguyên tắc đã được đưa ra đều có thể được là “nguyên tắc đặc thù”, vì phần lớn chúng được đút kết để nhằm vào nhiều mục tiêu khác nhau. Trong hoàn cảnh như vậy, luật môi trường cần lựa chọn và xác định những nguyên tắc chính của hoạt động bảo vệ môi trường. Theo tác giả bài viết này, luật môi trường có những nguyên tắc chính sau đây:

- Nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong một môi trường trong lành;

- Nguyên tắc phòng ngừa;

- Nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất;

- Nguyên tắc phát triển bền vững,

- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền[14].

Đây là những nguyên tắc được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia và là nội dung được giảng dạy trong môn pháp luật môi trường của Ôxtrâylia, Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á[15]. Ở Việt Nam, các giáo trình giảng dạy luật môi trường của các cơ sở đào tạo luật đều đề cập những nguyên tắc này trong phần lý luận chung về luật môi trường cùng với các nội dung về đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của luật môi trường. Nhận diện các nguyên tắc cơ bản của luật môi trường có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chế định pháp lý cụ thể về môi trường liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, vì giữa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và các nguyên tắc khác có mối liên hệ qua lại, các quy định của luật môi trường đều cụ thể hóa từ chính những nguyên tắc này.

Tài liệu tham khảo

1. Clare Coffey and Jodi Newcombe: Institute for European Environmental Policy, London, The Polluter pays principle and Fisheries: The role of Taxes and Charges, 2010

2. Viện Ngôn ngữ hoc: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2005

3. Nguyễn Nhu Ý (chủ biên): Từ điển tiếng Việt thông dụng Nxb. Giáo duc, Hà Nội, 1998

4. Trần Hoàng Hai: "Bản chất, chức năng và nguyên tac Ph luật", tài liệu Hội thảo cấp Trường của Trường ĐH Luật TP HCM @Những vấn để lý luận về pháp luật", Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2016,

5. Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006

6. Võ Trung Tín: “Các nguyên tắc cơ bản của luật môi nay, trường ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 08, 2009. 7. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009): Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội

 


[1] Clare Coffey and Jodi Newcombe: Institute for European Environmental Policy, London, The Polluter pays principle and Fisheries: The role of Taxes and Charges, 2010, pp. 2-3

[2] Viện Ngôn ngữ hoc: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr. 694.

[3] Nguyễn Nhu Ý chủ biên: Từ điển tiếng Việt thông dụng Nxb. Giáo duc, Hà Nội, 1998, tr. 508.

[4] Trần Hoàng Hai: "Bản chất, chức năng và nguyên tac Ph luật", tài liệu Hội thảo cấp Trường của Trưong Đai hoc Luật Thành pho Ho Chf Minh "Những vấn để lý luận về pháp luật", Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2016, tr. 35, 36 (trích dẫn lại từ Radko T.N., Lazarev v.v.., Morozova L.A.: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Prospect, 2015, tr. 74).

[5] Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 567.

[6] Trường Đại hoc Luật Hà Nội: Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh, Sdd, tr. 23.

[7] Điểm d khoản 2 Điều 14

[8] Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Sdd.

[9] Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Sdd,

[10] Trần Hoàng Hai: "Bản chất, chức năng và nguyên tắc pháp tr. 568. luật", Tlđd.

[11] Trường Đại học Luật Hà Nội ( 2009): Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 348

[12] Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Sđd, tr. 349,

[13] Năm 1972 là năm diễn ra sự kiện quan trọng: Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người họp tại Stockholm (Thụy Điển) từ ngày 05 đến 16/6/1972. Hội nghị thu hút sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế với sự tham gia của 113 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Từ hội nghị này, vấn đề môi trường mới được quốc tế quan tâm môi trường toàn cầu. Hội nghị này cũng cho ra đời Chương trình Programme), một tổ chức của Liên hợp quốc có nhiệm vụ điều phối môi trường của Liên hợp quốc (UNEP - United Nations Environment những biện pháp liên Chính phủ về giám sát và bảo vệ môi trường.

[14] Xem thêm: Võ Trung Tín: “Các nguyên tắc cơ bản của luật môi nay, trường ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 08, 2009.

[15] Kết quả thảo luận và trao đổi giữa các giảng viên giảng dạy môn Luật môi trường đến từ các nước Campuchia, Lào, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc và Ôxtrâylia trong chương trình “Giải thưởng phát triển vô địch luật môi trường ADB” của Ngân hàng Phát triển châu Á, tổ chức tại Manila, Philippin từ ngày 01 đến 05/6/2015.

Chính phủ Canada chưa có khung khổ pháp lý chính thức điều chỉnh riêng cho tài sản mã hóa, tiền mã hóa (tiền ảo), nhưng Canada lại là một trong những quốc gia đầu tiên đưa thuật ngữ “tiền ảo” vào trong văn bản pháp lý của mình. Tuy nhiên, khái niệm tiền ảo được nhắc đến trong Đạo luật C - 31. Đây được coi như một trong những văn bản pháp lý đầu tiên trên thế giới có quy định liên quan đến tiền ảo, được ban hành vào ngày 11/02/2014 nhằm sửa đổi Luật về Chống rửa tiền và tài trợ khủng bố (rodowe dorados 124) của Canada. Các nhà làm luật của Canada vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, thảo luận về các vấn đề liên quan đến bản chất, định nghĩa, vai trò, những ứng dụng tiềm năng cũng như rủi ro mà tiền ảo cũng như công nghệ tiền ảo tạo nên, có thể mang lại cho xã hội.

1. Về bản chất pháp lý của tài sản mã hóa, tiền mã hóa

Hiện nay, cơ quan nhà nước và người dân của Canada đang sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau khi bàn về tiền ảo, như: tiền kỹ thuật số, tiền mã hóa hay tiền ảo. Trong đó, tiền kỹ thuật số được coi là một khái niệm có nội hàm rộng nhất, không chỉ bao gồm tiền mã hóa như Bitcoin; Litecoin... mà còn được hiểu là cả các hình thức điện tử của đồng tiền pháp định, như: thẻ trả trước và điện chuyển khoản ngân hàng (wire transfer); thẻ tín dụng, các hình thức thanh toán giao dịch trực tuyến... Ngân hàng Trung ương Canada và Bộ Tài chính Canada đã xác định rằng, khái niệm tiền kỹ thuật số có thể chia làm hai loại.

Loại thứ nhất mang tính tập trung (centralized), được quản lý trực tiếp bởi chính quyền Trung ương, đây chính là tiền pháp định được thể hiện dưới các hình thức điện tử (như đã nêu ở trên).

Loại thứ hai mang tính chất phi tập trung (decentralized), nghĩa là không được bảo trợ hay quản lý bởi bất kỳ ngân hàng hay chính quyền nào. Đó chính là tiền mã hóa (crypto - currency). Ngân hàng Trung ương Canada đã mô tả tiền mã hóa là đồng tiền kỹ thuật số được vận hành thông qua các mạng lưới đồng đẳng ngang hàng (P2P), trong đó, không một thực thể riêng biệt nào quản lý và đảm bảo nghĩa vụ nợ đối với dạng tiền này[1].

- Đối với khái niệm phổ biến nhất là “tiền ảo”, cơ quan có thẩm quyền của Canada chưa có bình luận hay giải thích về định nghĩa của khái niệm này. Tuy nhiên, theo báo cáo của Tổ chức đặc nhiệm tài chính quốc tế (FATE) mà Canada là một thành viên thì “tiền ảo” là biểu hiện của giá trị dưới hình thức kỹ thuật số mà có thể giao dịch được trong môi trường số và thực hiện các chức năng như là: (1) Một trung gian của giao dịch; (2) Một đơn vị kế toán (3) Lưu trữ giá trị, nhưng không có địa vị pháp lý như là một đồng tiền pháp định ở một quốc gia bất kỳ nào[2]. FATF cũng lưu ý rằng: tiền ảo hoàn toàn khác biệt với tiền điện tử (e - money); trong khi đó, tiền kỹ thuật số JEUD (digital currency) được định nghĩa là sự thể hiện mang tính kỹ thuật số của tiền ảo (virtual currency/non fat) hoặc tiền điện tử (e - money - fat).

Như vậy, về cơ bản, cách hiểu các khái niệm về tiền ảo nêu trên của Canada và FATF là tương đối gần nhau. Nhưng, qua các tài liệu nghiên cứu, có thể thấy rằng, tại Canada thuật ngữ “digital currency” vẫn được sử dụng nhiều hơn trong các báo cáo, các bài nghiên cứu khi bàn về vấn đề tiền ảo. Tuy nhiên, chính “Virtual Currency” lại là từ được sử dụng chính thức trong văn bản pháp lý của Canada - Đạo luật C - 31 sửa đổi Luật về Chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Ở khía cạnh về tiền tệ, qua nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng tiền ảo như một loại tiền tệ về lâu dài được cho là không khả thi, do tiền ảo không có những đặc tính cơ bản của tiền tệ theo phân tích của Ngân hàng Trung ương Canada; mặt khác, do sự bất ổn về giá, ví dụ tiêu biểu nhất là của Bitcoin.

Ở khía cạnh hàng hóa, Cơ quan quản lý thuế của Canada (CRA) xem tiền ảo như một loại hàng hóa và khẳng định đó không phải là một loại tiền được phát hành bởi Chính phủ. Bộ Tài chính Canada cho rằng, tiền ảo, với tư cách là một loại hàng hóa, nhưng có thể là đối tượng của các quy định pháp luật về chứng khoán của Canada[3].

Ở khía cạnh là phương tiện thanh toán, Bộ Tài chính Canada cho rằng, cần phải nghiên cứu, nhận diện rõ hơn về hiện tượng mà những người kinh doanh chấp nhận Bitcoin như một phương tiện thanh toán và phạm vi, mức độ họ ứng xử với Bitcoin như một loại tiền tệ và dùng nó để thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ[4].

2. Quản lý hoạt động ICO

Canada vẫn chưa có một khung pháp lý chính thức để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến ICO. Các hoạt động ICO hiện nay vẫn mang tính tự phát và chưa có sự quản lý rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế vào tháng 8/2017, Cơ quan quản lý chứng khoán của Canada (CSA) đã đưa ra một số hướng dẫn nghiệp vụ, mở ra khả năng áp dụng pháp luật về chứng khoán đối với các hoạt động ICO hoặc ITO.

Hoạt động huy động vốn thông qua phát hành tiền ảo (ICO) hay token (ITO) đang được áp dụng khá rộng rãi bởi khối doanh nghiệp khởi nghiệp (start up business) thông qua mạng Internet. Cách thức ICO/ITO được sử dụng để gọi vốn thông qua các dự án đa dạng khác nhau, bao gồm sự phát triển một loại tiền ảo mới, công nghệ sổ cái phân cấp, dịch vụ và nền tảng sử dụng. Bất kỳ cá nhân nào có kết nối Internet có thể tạo hoặc đầu tư vào các thương vụ ICO/ITO; và trong rất nhiều trường hợp, các hoạt động đó đều mang tính ẩn danh. Ở một khía cạnh nào đó, ICO/ITO rất giống với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng (IPO), Các đồng tiền ảo hoặc token được gắn liền với dự án ICO/ITO dường như tương tự với cổ phiếu, cổ phần truyền thống của các doanh nghiệp cổ phần bởi giá trị của chúng có thể tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ thành công trong việc điều hành kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì lý do nêu trên, CSA đã ban hành pháp luật về chứng khoản của Canada đối với các hoạt một hướng dẫn (Staf notice) thể hiện khả năng áp dụng động huy động vốn bằng tiền ảo hay tiền mã hoá[5], CSA cho rằng, căn cứ vào khối lượng chào bán cũng như công tác chuẩn bị cho việc gọi vốn, một số các hoạt động ICO/TO cần phải được xem xét và điều chỉnh một cách phù hợp bằng các quy định về chào bán chứng khoán và là đối tượng điều chỉnh của pháp luật chứng khoán[6]. Điều này có nghĩa là, mỗi đồng tiền mã hóa hay token, khi muốn được cho phép tiến hành ICO hay ITO thì phải được phân tích về mặt bản chất xem đó có phải là một loại chứng khoán (security) hay không? Bên cạnh đó, CSA cũng yêu cầu chủ thể của các hoạt động ICOTTO phải có những bước chuẩn bị nhằm đáp ứng các nghĩa vụ cơ bản của Luật Chứng khoán Canada về:

Thứ nhất, yêu cầu về bản cáo bạch: các cá nhân/tổ chức phát hành ICO hay ITO như là một loại cổ phiếu sẽ phải có Bản cáo bạch khi gọi vốn. Có một số ngoại lệ, miễn trừ nhất định khi tiền mã hóa hoặc xu (token) có thể được bán cho các cá nhân gọi là “ nhà đầu tư được công nhận" hoặc các nhà đầu tư nhỏ lẻ khác, phù hợp với quy định về Bản ghi nhớ chào bán miễn trừ cáo bạch (Offering, hoặc các nhà đầu tư nhỏ lẻ khác, phù hợp với quy định về Memorandum Prospectus Exemption: OM)[7]. Trong bản hướng dẫn của mình, CSA cũng lưu ý rằng một số công ty trong lĩnh vực công nghệ tài chính phát hành sách trắng để tiến hành ICO/ITO, trong đó mô tả chi tiết các nội dung như mục đích gọi vốn, dự án sẽ được rót vốn cũng như số lượng xu và khoảng thời gian chào bán; tuy nhiên, về mặt hình thức, các Sách trắng này chưa bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật chứng khoán;

Thứ hai, yêu cầu về đăng ký: các chủ thể hoàn tất ICO hay ITO có thể tiến hành giao dịch xu như một loại chứng khoán và được yêu cầu phải tiến hành đăng ký hoặc xin phép được miễn trừ đăng ký. Việc quyết định các cá nhân, công ty gọi vốn có phải đăng ký hay không phụ thuộc vào các yếu tố thực tế của mỗi dự án gọi vốn và được căn cứ dựa vào các yếu tố sau đây: (1) Dự án phải thu hút được một lượng lớn nhà đầu tư, bao gồm các các nhà đầu tư nhỏ lẻ; (2) Sử dụng Internet, bao gồm các websites công cộng hoặc các diễn đàn để tiếp cận được một lượng lớn các nhà đầu tư tiềm năng; (3) Chủ thể gọi vốn tham các sự kiện public như là hội nghị, các cuộc gặp mặt để tiến hành quảng bá cho đợt gọi vốn ICO/ITO của mình và (4) Cá nhân, doanh nghiệp đang lập dự án phải gọi được một số lượng vốn đáng kể từ lượng lớn các nhà đầu tư của mình.

Bên cạnh đó, người gọi vốn thông qua ICO/ITO phải đáp ứng được những nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc quan đến dịnh danh của cá nhân các nhà đầu tư và thu thập các thông tin phù hợp khác của nhà đầu tư như: mục đích đầu tư, tình trạng tài chính và khả năng đối mặt với rủi ro. Ngoài các yêu cầu trên, CSA còn đưa ra một số yêu cầu cụ thể đối với các quỹ đầu tư tiền ảo (cryptocurrency investment fund), bao gồm: những yêu cầu về đăng ký: yêu cầu về sự cẩn trọng đối với các giao dịch tiền ảo; yêu cầu về định giá, kiểm toán và các yêu cầu liên quan đến lưu trữ, cất giữ các đồng tiền mã hóa là tài sản thuộc danh mục đầu tư của quỹ[8].

Ngoài ra, CSA đã ban hành Cơ chế thử nghiệm (sandbox) nhằm hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh tài chính công nghệ có tiềm năng mang đến những sản phẩm, dịch vụ đột phá[9]. Cơ chế thử nghiệm này cho phép doanh nghiệp có thể được hưởng những miễn trừ, ngoại lệ của pháp luật chứng khoán dựa trên những quy trình nhanh hơn và linh động hơn so với thông thường, những điều kiện có thể gây cản trở cho các mô hình kinh doanh mang tính chất đột phá sẽ bị loại trừ. Cơ chế sandbox là một phần của kế hoạch 3 năm (2016 -2019) của CSA nhằm tăng cường hiểu biết về sự ảnh hưởng của công nghệ cao đối với thị trường tài chính và cách thức để đổi mới khung khổ pháp luật chứng khoán đáp ứng được với thời đại của công nghệ tài chính. Một trong những nguyên tắc cơ bản của sandbox là mỗi quyết định cho phép tham gia thử nghiệm sẽ không được coi là tiền lệ cho những trường hợp đăng ký tham gia sau này[10].

3. Về quản lý trung gian giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa

Hiện nay, việc quản lý các hoạt động trung gian cho giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa ở Canada đang được điều chỉnh bởi khung pháp luật về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Sự xuất hiện, bùng nổ của Bitcoin và nhiều loại tài sản mã hóa, tiền mã hóa khác đã dẫn đến rất nhiều lo ngại rằng chúng có thể trở thành công cụ hữu hiệu cho các hoạt động rửa tiền và chuyển tiền nhằm các mục đích phi pháp khác. Do đó, từ năm 2014, Luật về Chống rửa tiền và tài trợ khủng bố của Canada đã được sửa đổi, bổ sung (Đạo luật C - 31) theo hướng coi hoạt động giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa là một trong những loại hình dịch vụ kinh doanh tiền tệ[11]. Điều 5 (h) của Luật (được sửa đổi, bổ sung) đã mở rộng về chủ thể của các hoạt động dịch vụ kinh doanh tiền tệ, bao gồm các thực thể có trụ sở kinh doanh ở Canada; các thực thể có trụ sở nằm ngoài Canada nhưng cung cấp các dịch vụ kinh doanh tiền tệ cho các khách hàng ở Canada thì vẫn được coi là nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh tiền tệ theo pháp luật của Canada[12].

Theo các nội dung được sửa đổi, bổ sung, các công ty có các hoạt động trao đổi, giao dịch tiền ảo sẽ phải đăng ký với FINTRAC (Trung tâm phân tích các báo cáo và giao dịch tài chính của Canada) và bảo đảm các quy trình tuân thủ như: lưu giữ hồ sơ; báo cáo các giao dịch tình nghi hoặc có liên quan đến khủng bố, và xác định xem liệu có ai trong các khách hàng của họ là các nhân vật chính trị cấp cao hay không. Các điều khoản sửa đổi cũng áp dụng đối với các trao đổi tài sản mã hóa, tiền mã hóa được thực hiện bên ngoài Canada nhưng có hướng đến các cá nhân hay thực thể tại Canada. Ngoài ra, các nội dung sửa đổi cũng cấm các ngân hàng mở và duy trì các tài khoản hoặc là có mối quan hệ liên ngân hàng đa quốc gia đối với các công ty trao đổi, kinh doanh tài sản mã hóa, tiền mã hóa nếu họ không đăng ký với FINTRAC.

4. Về quản lý thuế

Vấn đề có hay không đánh các loại thuế đối với các giao dịch liên quan đến tiền ảo tại Canada vẫn chưa thực sự rõ ràng và đang được hiểu theo một giải thích hạn chế của Cơ quan quản lý thuế Canada (CRA). CRA đã đưa ra quan điểm cho rằng tiền mã hóa như một loại hàng hóa ra quan chứ không phải là một loại tiền tệ. Theo đó, việc sử dụng tiền mã hóa để trả cho hàng hóa hoặc dịch vụ được nhìn nhận là giao dịch hàng đổi hàng (barter). Đây là loại giao dịch được thực hiện khi các cá nhân đồng ý trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ với nhau mà không sử dụng đồng tiền pháp định. Theo các nguyên tắc về thuế thì loại giao dịch này sẽ tạo ra thu nhập, quan hệ tiêu dùng, sự chiếm hữu và định đoạt tài sản[13]...

Theo quan điểm của CRA về giao dịch hàng đổi hàng có liên quan đến tiền mã hóa, giá trị số tiền mã hóa mà người bạn nhận được sẽ tương đương với giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ mà người đó cung cấp và giá trị đó sẽ được tính vào thu nhập trong hoạt động kinh doanh của họ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị tiền mã hóa nhận được là thu nhập chịu thuế hay không thì còn phải dựa trên mục đích của các bên trong giao dịch, nếu giao dịch mua bán, trao đổi tiền mã hóa được xác định là nhằm mục đích kinh doanh thì sẽ bị đánh thuế thu nhập. Việc xác định giá trị tiền mã hóa mà người bạn nhận được để xác định thuế thu nhập sẽ được dựa trên giá trị thực tế của hàng họn tỉnh theo đơn vị đồng đô la Canada. Ví dụ: việc cùng tiền mã hóa để chi trả cho việc xem phim được coi là giao dịch hàng đổi hàng. Giá trị của bộ phim được mua bởi tiền mã hóa sẽ được coi là thu nhập chịu thuế của người bán và sẽ dựa trên giá trị thị trường tính bằng đồng đô la Canada của bộ phim đó[14]. Ngoài thuế thu nhập; thuế hàng hóa và dịch vụ (GST) và thuế tiêu thụ (HST) cũng được áp dụng cho giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ bằng tiền mã hóa dựa trên giá trị thị trường thực tế (fair market value) của hàng hóa, dịch vụ đó.

Ngoài ra, trong một giải thích khác có liên quan đến Bitcoin, CRA cho rằng, Bitcoin không phải là tiền tệ, thay vào đó, đó là một loại hàng hóa, do đó, khi khai báo thuế, cần phải báo cáo bất cứ sự tăng thêm hay mất đi từ việc mua hoặc bán tiền kỹ thuật số[15]. Bất cứ sự tăng thêm hay mất đi nào cũng có thể coi là thu nhập chịu thuế hoặc vốn. Để xác định một giao dịch mua, bán tiền mã hóa có phải chịu thuế thu nhập hay không sẽ được áp dụng dựa trên khoán (chủ yếu dựa trên mục đích của giao dịch có phải là kinh doanh hay không). Đối với hoạt động đào tài sản mã hóa, tiền mã hóa, CRA cũng cho rằng, sẽ không được miễn trừ thuế. Theo đó, việc những người đào tài sản mã hóa, tiền mã hóa (miners) bị đánh thuế hay không sẽ phụ thuộc vào mục đích của họ đối với việc đào tài sản mã hóa, tiền mã hóa chỉ đơn thuần là sở thích cá nhân hay là hoạt động mang tính chất kinh doanh[16]...

Tóm lại, Canada đang có cách tiếp cận khá thận trọng nhưng không quá cứng nhắc đối với tài sản mã hóa (tài sản ảo) hay tiền mã hóa (tiền ảo) và công nghệ đứng đằng sau, trong đó có công nghệ tài chính và đang có những bước tiến chậm nhưng chắc chắn để tiến tới quản lý một cách toàn diện lĩnh vực mới này.

Tài liệu tham khảo

1. Digital currency: you can't t flip this co coin!, Report of the Standing Senate Committee on Banking, Trade and Commerce https://sencanada.ca/content/sen/Committee/412/banc/(Canada), bgeelilolins rep/rep12jun 15 - e.pdf

2. Báo cáo của FATE: Những khái niệm quan trọng về tiền ảo và những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, 6/2014. Xem: http: //www.fatf-gaf.org/media/fatf/ documents / reports /Virtual - currency - key - definitions - and - potential aml - cft - risks.pdf.

3. Quan điểm của Cơ quan quản lý thuế Canada (23/12/2013) về việc đánh thuế các giao dịch liên quan đến Bitcoin, CRA Views 2013-051470117," Bitcoins", http://www.canadiantaxlitigation.com/wp-content/ uploads / 2014 / 01 / 2013-051470117.txt

4. Digital currency: you can't flip this coin!, Report of the Standing Senate Committee on Banking, Trade and Commerce (Canada), https://sencanada.ca/content/sen/Committee/412/banc/rep/rep12jun 15 - e.pdf.

5. Hướng dẫn của CSA (Staff Notice 46-307) được áp dụng trên tất cả các bang của Canada, trừ Saskatchewan. Xem: http://www.osc.gov.on.ca/documents/en/Securities Category4/csa_ 20170824_cryptocurrency - offerings.pdf.

6. Thông báo của Cơ quan quản lý chứng khoán Canada về việc ban hành cơ chế thử nghiệm, https://www.securities-administrators.ca/ aboutesa.aspx ? id = 1555. De leukoniyatleri

7. CSA Regulatory Sandbox, https://www.securities-administrators.ca/ industry_resources.aspx ? id = 1588. acalabretode

8. Luật C - 31, Luật hợp nhất các đạo luật Liên bang Canada.

9. Quan điểm của Cơ quan quản lý thuế Canada ( 23/12/2013) về việc đánh thuế các giao dịch liên quan đến Bitcoin, CRA Views 2013 051470117,"Bitcoins", http://www.canadiantaxlitigation.com/wp-content/ uploads/2014/01/2013-051470117.txt.mobloiditi od to

10. CRA: What You Should Know about Digital Currency, https://www.canada.ca/en/revenueagency/news/newsroom/fact-sheets/ fact - sheets - 2015 / what - you - should - know - about - digital currency.html

11. Digital Currency, https://www.canada.ca/en/financial-consumeragency/ services / payment / digital - currency.html. 1970 - to tong

 


[1] Digital currency: you can't t flip this co coin!, Report of the Standing Senate Committee on Banking, Trade and Commerce https://sencanada.ca/content/sen/Committee/412/banc/(Canada), bgeelilolins rep/rep12jun 15 - e.pdf

[2] Báo cáo của FATE: Những khái niệm quan trọng về tiền ảo và những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, 6/2014. Xem: http: //www.fatf-gaf.org/media/fatf/ documents / reports /Virtual - currency - key - definitions - and - potential aml - cft - risks.pdf.

[3] Quan điểm của Cơ quan quản lý thuế Canada (23/12/2013) về việc đánh thuế các giao dịch liên quan đến Bitcoin, CRA Views 2013-051470117," Bitcoins", http://www.canadiantaxlitigation.com/wp-content/ uploads / 2014 / 01 / 2013-051470117.txt

[4] Digital currency: you can't flip this coin!, Report of the Standing Senate Committee on Banking, Trade and Commerce (Canada), https://sencanada.ca/content/sen/Committee/412/banc/rep/rep12jun 15 - e.pdf.

[5] Trong bản hướng dẫn của mình, CSA sử dụng khái niệm tiền mã hoá (cryptocurrency) thay vì dùng khái niệm “ digital currency hay “ virtual currency" như thông thường.

[6] Hướng dẫn của CSA ( Staff Notice 46-307) được áp dụng trên tất cả các bang của Canada, trừ Saskatchewan. Xem: http://www.osc.gov.on.ca/documents/en/Securities Category4/csa_ 20170824_cryptocurrency - offerings.pdf.

[7] Hướng dẫn của CSA, tr. 4

[8] Hướng dẫn của CSA, tr. 5

[9] Thông báo của Cơ quan quản lý chứng khoán Canada về việc ban hành cơ chế thử nghiệm, https://www.securities-administrators.ca/ aboutesa.aspx ? id = 1555. De leukoniyatleri

[10] CSA Regulatory Sandbox, https://www.securities-administrators.ca/ industry_resources.aspx ? id = 1588. acalabretode

[11] Điều 256 (2) Đoạn số 19, Phần 6, Chương 20 ( Luật C - 31), Luật hợp nhất các đạo luật Liên bang Canada

[12] Điều 256 (2) Đoạn số 19, Phần 6, Chương 20 ( Luật C - 31), Luật hợp nhất các đạo luật Liên bang Canada

[13] Quan điểm của Cơ quan quản lý thuế Canada ( 23/12/2013) về việc đánh thuế các giao dịch liên quan đến Bitcoin, CRA Views 2013 051470117,"Bitcoins", http://www.canadiantaxlitigation.com/wp-content/ uploads/2014/01/2013-051470117.txt.mobloiditi od to

[14] CRA: What You Should Know about Digital Currency, https://www.canada.ca/en/revenueagency/news/newsroom/fact-sheets/ fact - sheets - 2015 / what - you - should - know - about - digital currency.html

[15] Digital Currency, https://www.canada.ca/en/financial-consumeragency/ services / payment / digital - currency.html. 1970 - to tong

[16] CRA Views 2014-0525191E5 :" Virtual Currencies (Bitcoins) (March28,2014), http://www.canadiantaxlitigation.com/wp-content/uploads/2014/04/2014-0525191E6.txt.htiyaclava

Thế giới từ lâu đã biết đến “ma túy" (drug) và sự hủy hoại ghê gớm của nó tới thể chất, tinh thần của con người khi bị lạm dụng. Cùng với đó, kéo theo là sự suy giảm về kinh tế, biến động về chính trị và tha hóa các mối quan hệ trong xã hội. Đặc biệt, nguy hiểm hơn nghiện ma túy còn là tiền đề dẫn đến tội phạm như trộm cắp, cướp giật tài sản, giết người... và đồng hành cùng đại dịch HIV/AIDS. Mặc dù vậy, loài người vẫn chưa thể nào xóa bỏ hoàn toàn sự hiện diện của các chất ma túy trên hành tinh bởi những ứng dụng không thể thay thế của nó trong y học. Việt Nam đã ký kết Hiệp định phòng, chống tội phạm về ma túy với Lào, Campuchia và Thái Lan năm 1998, bên cạnh ba công ước của Liên hợp quốc bao gồm[1]:

- Công ước Thống nhất về các chất ma túy năm 1961 được sửa đổi, bổ sung năm 1972;

- Công ước về Các chất hướng thần năm 1971;

- Công ước về Chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988.

Ba Công ước này quy định về kiểm soát các hoạt động liên quan đến 225 chất ma túy và 22 tiền chất ma túy, hình sự hóa các hoạt động vi phạm tội xâm phạm chế độ kiểm soát cũng như xác định những hành vi yêu cầu quốc gia thành viên quy định là tội phạm về ma túy.

Ở Việt Nam quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 về các tội phạm ma túy đã trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Mỗi năm, trung bình có khoảng trên 15.000 vụ án về ma túy được đưa ra xét xử, trong đó chủ yếu về các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy như sau:

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy[2] (Điều 194 Bộ luật Hình sự)
Năm 2012     2013 2014 2015 2016 2017 Tổng cộng
Số vụ 14.932     15.082 14.635 10.168 16.397 16.924 88.138
Số bị cáo 18,572   19.020 19.012 13.118 20.547 21.045   111,314
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

Tuy nhiên, nhìn vào bảng số liệu trên cũng cho thấy diễn biến gia tăng của các tội phạm về ma túy. Theo Báo cáo công tác của Chính phủ, tình hình mua bán, vận chuyển các chất ma túy xuyên biên giới ngày càng có tính tổ chức, chuyên nghiệp, diễn biến phức tạp, tập trung ở các tuyến Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Miền Trung; các đường dây vận chuyển, mua bán ma túy số lượng lớn tập trung chủ yếu tại các tỉnh biên giới phía Bắc; hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy có vũ trang từ khu vực biên giới giáp Lào vào sâu trong nội địa khu vực Sơn La, Hòa Bình với hàng chục lượt nhóm đối tượng, vận chuyển số lượng ma túy lớn, được trang bị vũ khí quân dụng, sẵn sàng tấn công, chống trả quyết liệt lực lượng vây bắt; ma túy được vận chuyển bằng nhiều phương tiện qua tuyến hàng không, tuyến biển với phương thức, thủ đoạn tinh vi hơn, số lượng ngày càng nhiều hơn, một số tổ chức tội phạm quốc tế sử dụng Việt Nam làm địa bàn trung chuyển ma túy đi các nước tiêu thụ; tội mua bán, vận chuyển ma túy tổng hợp dạng “ma túy đá" tiếp tục gia tăng tình trạng tái diễn trồng cây thuốc phiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và trồng cây cần sa ở một số tỉnh phía Nam, tập trung ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới[3].

Điển hình, ngày 27/02/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã đưa ra xét xử vụ mua bán ma túy xuyên quốc gia lớn nhất từ trước đến nay đối với 23 bị cáo với các tội danh mua bán trái phép ma túy, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và không tố giác tội phạm. Đây là vụ án có số lượng ma túy tiêu thụ vận chuyển lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Theo đó, vào lúc 03h00 ngày 06/01/2015, tổ công tác của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C47), Bộ Công an đã phối hợp với các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại khu vực dốc Má, xã Thu Phong (xã Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) phát hiện, bắt quả tang đối tượng Trần Đức D. (sinh năm 1986, Hòa Bình) đang vận chuyển trái phép 94 bánh heroin có tổng trọng lượng 32,999,10 gram cùng 1 khẩu súng ngắn với 7 viên đạn. Quá trình điều tra, mở rộng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bắt giữ và ra quyết định khởi tố thêm 22 bị can có liên quan về các tội - mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và tội không tố giác tội phạm. Kết quả điều tra của lực lượng chức năng đã xác định, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến đầu năm 2015, các bị cáo trong vụ án đã hình thành đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy từ Lào qua xã Loóng Luông (huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La) rồi tiếp tục mua bán, vận chuyển qua các tỉnh Hòa Bình, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn rồi bán sang Trung Quốc tiêu thụ với số lượng 1.415 bánh heroin, thu lợi bất chính hơn 13 tỷ đồng và 708.000 nhân dân tệ…[4].

Như vậy, diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm về ma túy cơ bản xuất phát từ đặc thù riêng của tội phạm và tính chất hoạt động xuyên quốc gia của nó. Tuy nhiên, trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 vẫn còn một số điểm chưa hoàn thiện gây khó khăn cho việc xử lý các hành vi phạm tội về ma túy:

Quy định về tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại có chứa chất ma túy tại Điều 192 có yêu cầu quá nhiều điều kiện về mặt khách quan chưa phù hợp với thực tiễn. Khoản 1 Điều này quy định: “Người nào trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy, đã được giáo dục nhiều lần, đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm". Như vậy, để có thể xử lý hình sự theo Điều luật nêu trên quy định ngoài hành vi trồng cây có chứa chất ma túy còn phải có đủ ba điều kiện khác nữa là: đã được giáo dục nhiều lần; đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Sở dĩ có quy định này là vì trong tư duy xây dựng pháp luật trước đây từ thực tiễn cho thấy chỉ có đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi mới trồng cây có chứa chất ma túy do thiếu hiểu biết. Tuy nhiên, diễn biến của tội phạm này cho thấy hành vi trồng cây có chứa chất ma túy không chỉ có ở miền núi mà đã xuất hiện nhiều ở các thành phố, vùng ven đô thị, ngay cả hành vi này diễn ra đồng bào miền núi nhiều khi cũng không phải do tập quán và sự thiếu hiểu biết mà có thể là cố ý và được điều hành bởi các tổ chức tội phạm. Vậy nhưng do quy định của Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 nên hầu như khi hành vi bị phát hiện đều không đủ điều kiện xử lý về hình sự trong khi trồng cây có chứa chất ma túy có thể được xem là tiền đề của tất cả các hành vị sản xuất, mua bán ma túy. Do đó, để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm này, Bộ luật Hình sự cần bỏ bớt và cần sắp xếp lại các điều kiện về mặt khách quan đối với hành vi trồng cây có chứa các chất ma túy.

Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tất cả các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy ở cùng một điều luật, cùng khung hình phạt trong khi bản chất, tính chất nguy hiểm của chúng là khác nhau. Mặc dù, trong thực tiễn diễn biến của tội phạm, các hành vi này thường gắn liền, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không phải luôn luôn như vậy nên việc quy định về cùng một tội danh ở Điều 194 đã dẫn đến những vướng mắc, bất hợp lý trong thực tiễn áp dụng để xử lý các tội phạm về ma túy và những tồn tại, vướng mắc này đã được khắc phục trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 tách tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999) thành các tội danh độc lập, tách tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1999) thành hai tội danh độc lập; bỏ hình phạt tử hình đối với tội tàng trữ và tội chiếm đoạt chất ma túy; cụ thể hơn một số tình tiết định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự. Những sửa đổi này làm tăng tính minh bạch, rõ ràng và công bằng trong quy định của Bộ luật Hình sự, đồng thời thể hiện sự phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chủ trương cải cách tư pháp ở nước ta về xu hướng giảm hình phạt tử hình.

Khi thi hành các quy định về tội phạm liên quan đến ma túy có thể thấy các quy định về điều kiện khách quan của tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy cần hợp lý hơn.

Cần nghiên cứu bỏ bớt các điều kiện về mặt khách quan trong cấu thành của tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015). Bởi lẽ, nếu so với Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn đòi hỏi nhiều điều kiện trong mặt khách quan của tội này. Theo đó, người nào trồng các loại cây có chứa chất ma túy chỉ bị coi là phạm tội nếu thỏa mãn thêm một trong các điều kiện sau:

a) Đã được giáo dục 2 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây.

Ở đây, bản thân việc trồng cây có chất ma túy vốn có đầy đủ tính chất nguy hiểm bởi nó là tiền đề của tất cả các hành vị sản xuất, vận chuyển, mua bán trái phép ma túy. Bởi vậy, ngoài dấu hiệu định lượng nó không cần thêm các dấu hiệu khác để thỏa mãn tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi này gây ra. Như đã nêu, các dấu hiệu: “đã được giáo dục nhiều lần; đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” có mặt trong quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 là do trước đây, căn cứ vào tình hình thực tế chỉ có đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi mới trồng cây có chứa chất ma túy do thiếu hiểu biết. Tuy nhiên, kể từ đó đến nay đã gần 20 năm (từ năm 1999), chính sách quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với loại dược phẩm đặc biệt này cũng đã có từ lâu và đã được tuyên truyền, nhắc nhở sâu rộng trong nhân dân, nhất là ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Do đó, có lẽ nên làm rõ dấu hiệu định tội trong khoản 1 Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bảo đảm tính khoa học, hợp lý và lôgíc hơn theo hướng sau:

“Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy

1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Với số lượng dưới 500 cây nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

b) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây…”.

Tài liệu tham khảo

1. Xem Bộ Tư pháp: Văn bản pháp luật hiện hành và Công ước quốc tế về phòng, chống ma túy, Hà Nội, 2002

2. Chính phủ: Báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2015

3. http://dantri.com.vn/phap-luat/xet-xu-vu-mua-ban-ma-tuy xuyen - quoc - giat - lon - nhat - tu - truoc - den - nay - 20170228084716879.htm, truy cập ngày 22/10/2017.

 


[1] Xem Bộ Tư pháp: Văn bản pháp luật hiện hành và Công ước quốc tế về phòng, chống ma túy, Hà Nội, 2002, tr.313-443.

[2] Nay là Điều 249, Điều 250, Điều 251 và Điều 252 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xem Chính phủ: Báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2015, TÌđd, tr.10.

[4] Xem: http://dantri.com.vn/phap-luat/xet-xu-vu-mua-ban-ma-tuy xuyen - quoc - giat - lon - nhat - tu - truoc - den - nay - 20170228084716879.htm, truy cập ngày 22/10/2017.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói chung được hiểu là đu tư vốn vào hoạt động kinh doanh c ngoài (địa phương) nhằm thu li nhuận. Hầu như tất cả s tiền đầu tư vào các hoạt động kinh doanh ở địa phương phải được đem từ nưc đầu tư vào nưc chủ nhà. Đó là cách hiểu thông thường của người Nhật và được xem là “kiến thức chung”.

Vào mùa thu năm 1988, có một luồng thông tin cho rằng, y ban Đầu tư (BOI) lựa chọn và phê chuẩn những dự án đầu tư cần được khuyến khích không hài lòng vi việc cung cấp vn của các hãng nước ngoài. Lý do có li đn đại này là, vốn cổ phần không có lãi cố định của các hãng nưc ngoài (chủ yếu của Nhật Bản) chỉ bằng 1/3 tổng số vốn đầu tư. Nhiều ngưi cảm thấy rằng, chính việc tỷ lệ nợ so vi vn cổ phn không có lãi c định cao đã cho thấy tầm quan trọng của việc cho vay tiền của các công ty mẹ Nhật Bản so vi số chứng khoán có giá thu được (cổ phần không có lãi cố định); nói cách khác, các công ty Nhật Bản cn rót nhiều tiền cho các công ty con của họ nước ngoài.

Nói chung, khuynh hưng tiết kiệm ở một nước đang phát triển thấp hơn nhiều so vi các nước tiên tiến, và thêm vào đó, tỷ lệ nợ so vi vốn cổ phần không có lãi cố định hoặc các nguồn lực s hữu cao là đặc trưng của các hãng trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế. Do đó, các công ty mẹ Nhật Bản liệu có nên cho các công ty con của mình vay một khối lượng tiền ln hay không? Có phải các công ty con địa phương không thu hút được vốn đầu tư trên các thị trường tài chính địa phương của mình không?

Vấn đề tỷ lệ nợ so vi vốn c phần không có lãi cố định cao trong các hãng Nhật Bản ở Thái Lan không phải là do tình hình chung đã nêu trên. Theo Trung tâm Bangkok của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), các hãng Nhật Bản (các hãng chế tạo) tiến hành đầu tư mi vào Thái Lan thu hút được bình quân 2/3 tổng đầu tư bằng đồng bạt Thái Lan từ các thị trường tài chính địa phương (JETRO, 1988). Thưng thì số còn lại (1/3) được các công ty mẹ cung cấp như là vốn cổ phần không có lãi cố định. Trong các cuộc phỏng vấn cá nhân, một ví dụ đã được nêu ra trong đó 20% tổng đầu tư là vốn cổ phần không có lãi cố định và phần còn lại được thu hút tại địa phương.

Hơn nữa, theo một điều tra của Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Nhật Bản (EXIM Bank 1991) nguồn vốn FDI chủ yếu của các công ty con Nhật Bản là các thị trường tài chính địa phương các nưc đang phát triển châu Á, đặc biệt là các nưc ASEAN cũng như Mỹ và EC. Các tổ chức tài chính địa phương mở rộng các khoản cho vay và tín dụng đối vi các công ty con của Nhật Bản, bao gồm các chi nhánh Ngân hàng Nhật Bản, các ngân hàng địa phương do người Nhật quản lý, và các t chức đặc biệt như các công ty tài chính và ngân hàng thương mại mà mở rộng cho vay cùng với các tổ chức tài chính Nhật Bản.

Các ngân hàng Nhật Bn đã nhảy vào các nước tiên tiến (Mỹ và chân Âu) dưới nhiu hình thc, ngoài việc thiết lp các chi nhánh, nhm hỗ trợ cho các công ty con Nht Bản tại địa phương. Tuy vậy, ở các nước châu Á, việc kinh doanh của họ bị gii hạn việc thiết lập các văn phòng chi nhánh. Ví dụ, ở Thái Lan nơi mà các hoạt động của các hãng chế to Nhật Bản đã và vẫn còn mạnh, ch có Ngân hàng Tokyo và ngân hàng Taiyo-Kobe-Mitsui, Malaysia chỉ có Ngân hàng Tokyo là được phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh của văn phòng chi nhánh, các nước ASEAN, khi các công ty con Nhật Bản tìm kiếm các khoản vay, thì chúng không chỉ dựa vào các ngân hàng Nhật Bn. cho họ có vay từ các ngân hàng Nhật Bản, thì s vốn đó không phi đến từ Nhật Bản là từ các nguồn địa phương.

n na, khi vay từ các công ty tài chính liên doanh Nhật - Thái hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh Nhật- Malaysia, thì những t chức tài chính phi ngân hàng bị gii hạn việc thu thập các khoản tiền gi và việc kinh doanh ngoại tệ phải kiếm được vốn từ các ngân hàng địa phương hoặc phát hành các kỳ phiếu đầy hứa hẹn nhằm trực tiếp kiếm được vn tại địa phương. Vì vậy, các khoản vốn vay mưn thông qua các t chức tài chính địa phương bởi các công ty con nước ngoài của Nhật Bản không phải bắt ngun từ các khoản tiết kiệm của người Nhật mà là của người địa phương.

“Nguyên tắc” gây quỹ đầu tư tại ch chứ không phải Nhật Bản, đây cũng không phải là một hiện tượng cá biệt chỉ thấy Thái Lan và Malaysia. Theo quan điểm của các công ty đa quốc gia (MNCs), sẽ là lôgíc nếu thu hút vốn đầu tư cần thiết các thị trường địa phương và thị trưng nước ngoài trong khi giảm đến mức tối thiểu lượng tiền được chuyển khoản trực tiếp từ Nhật Bn.

Một vn đề khác na là sự phụ thuộc lẫn nhau (tác dụng và phản c dụng) giữa việc gây vốn tại địa phương bi các công ty con Nhật Bản và việc hiện đại hoá các thị trưng tài chính địa phương. Học giả Nhật Bản ít quan tâm đến nhng ảnh hưng của việc gây vốn tại địa phương đến sự phát triển ca các thị trưng tài chính địa phương châu Á. Việc thiếu quan tâm đến việc gây vốn tại địa phương và vì vậy tác động của FDI ti việc cải thiện các thị trưng tài chính địa phương, một phần là do lý thuyết “hiểu biết chung” về động cơ của các hãng Nhật Bản trong việc thiết lập các hoạt động kinh doanh ở nưc ngoài.

Giáo sư Yoshikazu Miyazaki cho rằng, dự trữ nội bộ của các hãng Nhật Bản hoặc li nhuận không được phân phi sẽ tạo ra đầu tư ra nước ngoài hoặc các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, nói cách khác, việc tiết kiệm quá mức của các công ty so vi đu tư trong nưc đã thúc đẩy chúng chuyển vốn đầu tư sang các nước khác nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư mi. Ý kiến này rất phổ biến trong gii học thuật Nhật Bản.

FDI được tiến hành không chỉ bi các hãng lớn mà còn cả bi các hãng vừa và nhỏ. Ví dụ trong công nghiệp ô tô, các hãng Nhật Bản đang thiết lập các cơ sở sản xuất c ngoài “có sự hộ tống”. Cũng có một số nhà chế tạo phụ tùng, cái gọi là các nhà thầu khoán, đã kết hp vi các hãng lắp ráp ln và đang có những tiến bộ tích cực hơn trong các kế hoạch sản xuất đa quốc gia. Lý do các hãng Nhật Bản theo đui xu hướng đa quốc gia hoá không phải là do họ có số vốn nội bộ quá mức hoặc dự trữ nội bộ nhiều hơn. Ít nhất trong điều kiện hiện nay, ưu thế hơn hn về công nghệ tương đối của các hãng Nhật Bản bất chấp những bất lợi về chi phí so sánh, đang khuyến khích họ thiết lập các cơ sở sản xuất ở nưc ngoài, số dư tiền vốn trong nội bộ các công ty mẹ được chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) các sản phẩm mi hoặc cải tiến các quy trình sản xuất hơn là sử dụng chung chúng như là một nguồn vốn FDI.

Để tho luận chi tiết hơn bản cht của FDI Nhật Bản các nước đang phát triển châu Á, việc định nghĩa rõ hơn FDI là cn thiết. Thuật ngữ FDI trong ngành chế tạo v cơ bản được xác định là cách để bảo đảm kiểm soát được v quản lý đối với các t chức kinh doanh địa phương bằng cách chuyển giao các công nghệ mi hoặc các ngành công nghiệp mới vào các nước (đang phát triển, châu Á) chủ nhà.

So vi định nghĩa về FDI này, điều đáng chú ý là chng hạn trong FDI của các hãng Nhật Bản ở Thái Lan, dùng vốn đổ vào Thái Lan gần như tương đương vi khối lượng vốn cổ phần (vốn cổ phần không có lãi cố định), vì nó chiếm khoảng 1/3 tổng vốn đầu tư. Vn cổ phần không có lãi c định như thế cũng được dùng để thanh toán các thiết bị cơ bản..., mà đã được các công ty con địa phương của các hãng Nhật Bản mua. Do những giao dịch như vậy, nên tiền được trả cho vốn thiết bị cơ bản máy móc gần như tương đương vi khối lượng vn cổ phần không có lãi c định. Nói cách khác, do nhng giao dịch này, nên giá cả của vốn thiết bị cơ bản có thể được xem như là vốn cổ phần không có lãi c định chuyển từ các công ty mẹ Nhật Bn chuyển sang cho các công ty con địa phương.

Những giao dịch tương tự như vậy cũng có thể được coi là việc chuyển giao công nghệ và việc kiểm soát nó. Nếu các dòng vốn cổ phần không có lãi c định quay trở lại các hãng mẹ Nhật Bản như là việc bồi hoàn cho vốn thiết bị cơ bản...., mà tượng trưng cho công nghệ, thì khi đó cần phải xem xét các vn đề sau:      

Thứ nhất, các hãng Nhật Bản giành đưc c phần ở các tổ chức pháp nhân địa phương bằng cách chuyển giao vốn cổ phần không có lãi c định từ Nhật Bản, thì các hãng Nhật Bản sẽ nắm quyền s hữu các tổ chức địa phương và kiểm soát đưc việc quản lý chúng.

Thứ hai, chuyển giao công nghệ được kết hp vi xuất khẩu thiết bị cơ bản..., sang các tổ chức địa phương..., các công ty con Nhật Bản.

Thứ ba, vốn cổ phần không có lãi cố định thực tế được trả lại Nhật Bản do việc hoàn trả vốn thiết bị cơ bản... và thêm vào đó các hãng mẹ sẽ giành được quyền quản lý các công ty con, trong đó bao gồm cả việc kim soát các kỹ thuật đã được chuyển giao. Đó là những lý do giải thích tại sao việc giành được quyền sở hữu và chuyển giao kỹ thuật sẽ tạo thành một tổng thể hài hoà trong trường hợp FDI của Nhật Bản ở châu Á.

Về nguyên tắc, FDI không phải là một phương pháp để các hãng Nhật Bản chuyển tiền qua biên giới quốc gia. Thay vào đó, đó là một phương pháp đảm bảo quyền sở hữu của các hãng được thiếp lập như các tổ chức nước ngoài để tồn tại và phát triển sức cạnh tranh tương đối hoặc lợi thế cạnh tranh của họ.

Mặt khác, các chính phủ và các hiệp hội kinh doanh ở các nước chủ nhà muốn xây dựng các ngành kinh tế tự lực cánh sinh, đã không tán thành việc kiểm soát không phân biệt đối xử bởi các công ty nước ngoài đối vi các chi nhánh địa phương. Họ đã đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt đối vi quyền sở hữu đa s các tổ chức pháp nhân địa phương bi người nước ngoài. Lý do chính lý giải tại sao họ tán thành FDI là các hãng nước ngoài đã khuyến khích các ngành công nghiệp có tính đổi mới và đưa các loại công nghệ và kỹ thuật mi vào.

Mục đích của FDI của các hãng Nhật Bản ở châu Á không phải là chuyển vốn dư thừa sang các nước chủ nhà mà là duy trì hoặc phát triển lợi thế cạnh tranh của h nhằm kiểm soát các kỹ thuật riêng của mình đã đưc chuyển giao cho các nước đang phát triển châu Á. Đồng thời, s tập trung vào các phương pháp gây quỹ tại địa phương của các công ty con Nht Bn và sau đó vào việc hiện đại hoá các thị trường tài chính châu Á, trọng tâm là các nước ASEAN, mà đặc biệt là Thái Lan và Malaysia. Cuối cùng, sự phụ thuộc lẫn nhau của các trung tâm tài chính quốc tế của châu Á và các thị trường tài chính trên toàn lãnh thổ Nhật Bản.

Tài liệu tham khảo:

1. https://www.jetro.go.jp/en/

1. Cơ sở lý luận

Thông tin là một nhu cầu cấp thiết cho hoạt động, sinh hoạt và làm việc của con người. Thông tin còn là công cụ để quản lý, điều hành, là phương tiện để giao lưu hiểu biết và cung cấp tri thức trên mọi mặt của đời sống xã hội cho mọi người. Loại hình thông tin có thể thể hiện qua báo giấy, báo đài (nói), báo hình, trên mạng Internet... Do đó, an ninh thông tin được hiểu là việc bảo vệ thông tin, trao đổi thông tin và hệ thống thông tin khỏi các truy cập trái phép, sử dụng, làm lộ, làm hỏng, chỉnh sửa, ghi chép không được phép..., qua đó, bảo đảm thông tin đúng, chính xác, đầy đủ, an toàn và không gây phương hại đến an ninh quốc gia, ổn định và trật tự an toàn xã hội, bí mật của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức và quyền lợi hợp pháp của cá nhân. Ở mức độ cao hơn, trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0 thì yêu cầu bảo đảm an ninh thông tin còn góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, sự ổn định và an toàn của an ninh thế giới, tránh các mối đe dọa khủng bố, bạo loạn, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, nạn trộm cắp bản quyền, phá hoại đời tư, bôi nhọ lãnh đạo, làm lộ bí mật, an ninh quốc gia... Chẳng hạn, hacker nổi tiếng Kevin Mitnick, trong một lần, chỉ cần vài thông tin quan trọng của Tổng thống Mỹ, đã gọi điện cho thư ký của ông và lấy được toàn bộ thông tin về thẻ tín dụng của Tổng thống[1]. Hoặc ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu, những năm vừa qua, thông qua hoạt động tấn công trên mạng Internet, hàng loạt thông tin, tài liệu mật, tài liệu nhạy cảm liên tục được công bố, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống chính trị trên thế giới, điển hình như vụ Wikileaks, “Hồ sơ Panama" năm 2016; v.v..

Trong giai đoạn từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 bắt đầu có hiệu lực đến khi được sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ - thông tin không được áp dụng để xử lý về hình sự đối với vụ việc nào trong thực tế. Tuy nhiên, từ sau khi được sửa đổi, bổ sung, các quy định này bắt đầu có hiệu quả thực thi trên thực tế. Theo thống kê xét xử, trong vòng 6 năm (2012-2017) có 55 vụ án hình sự đã đưa ra xét xử sơ thẩm về các tội phạm trong lĩnh công nghệ - thông tin, viễn thông như sau: - Về tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225)[2].

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225 Bộ luật Hình sự)
Năm 2012   2013 2014 2015 2016 2017 Tổng cộng
Số vụ 1 0 1 1 0 0 3
Số bị cáo 1 1 0 0 1 0 3
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

- Về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226)[3]

Bảng Thống kê xét xử sơ thẩm tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226 Bộ luật Hình sự).
Năm 2012   2013 2014 2015 2016 2017 Tổng cộng
Số vụ 09   02 08 09 12 04 44
Số bị cáo 21   09 21 15 20 6 92
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao năm 2018

Mặc dù đã có những chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này nhưng diễn biến của các hành vi đe dọa an ninh thông tin vẫn gia tăng theo chiều hướng phức tạp. Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2013 phát hiện hơn 3.000 trang mạng tên miền “vn" (có 83 trang tên miền “gov.vn" của cơ quan Đảng, Nhà nước) bị tin tặc tìm cách tấn công để chỉnh sửa nội dung, đánh cắp bí mật nhà nước[4]. Năm 2014, phát hiện 3,146 cổng thông tin, trang tin điện tử, trong đó có 114 trang của cơ quan nhà nước bị tấn công, thay đổi giao diện, cài mã độc[5]. Trong năm 2016, các cơ quan chức năng đã phát hiện, khởi tố điều tra 217 vụ, 493 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao. Hoạt động chủ yếu của tội phạm sử dụng công nghệ cao là sử dụng Internet, mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản (xuất hiện nhiều thủ đoạn mới như giả mạo các trang mạng xã hội của cá nhân, tổ chức, giả mạo các nhà mạng viễn thông, các ngân hàng uy tín, dùng Internet tạo số điện thoại giả của cơ quan Công an), đánh bạc, tổ chức đánh bạc; trộm cắp thông tin thẻ tín dụng, sử dụng thẻ ngân hàng giả rút tiền tại cây ATM; tấn công các trang Web của ngân hàng, cơ quan nhà nước bằng mã độc, phần mềm độc hại đánh cắp thông tin. Tình trạng tin tặc tấn công, chiếm quyền điều khiển mạng máy tính của cơ quan, doanh nghiệp tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự. Ví dụ: Vụ tin tặc tấn công mạng máy tính tại sân bay Nội Bài và sân bay Tân Sơn Nhất ngày 29/7/2016 làm thay đổi trạng thái bảng thông tin điện tử về các chuyến bay, chèn vào các thông tin phản động, đăng tải công khai thông tin của 40.000 hành khách; vv...[6]

2. Đánh giá thực tiễn

Thực tiễn cho thấy hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản diễn ra khá phổ biến nhưng thực tiễn xét xử lại chưa có vụ án nào về hành vi này. Sở dĩ như vậy là bởi cơ quan áp dụng pháp luật cho rằng các tội phạm đó có mục đích xâm phạm quyền sở hữu nên thường áp dụng các quy định tương ứng trong Chương các tội xâm phạm quyền sở hữu để xử lý[7]. Điều này cũng phù hợp bởi vì hành vi sử dụng công nghệ - thông tin ở đây chỉ là thủ đoạn phạm tội, mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản, khách thể bị xâm hại ở đây là quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức. Do đó, có thể nói rằng quy định ở Điều 226b Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015) về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là chưa phản ánh đúng bản chất của tội xâm phạm an ninh thông tin. Mặc dù vậy, việc quy định tội phạm này là không cần thiết mà có thể sử dụng các quy định về các tội xâm phạm sở hữu (theo cách hiểu truyền thống) để giải quyết các hành vi sử dụng công nghệ cao nhằm chiếm đoạt tài sản.

Bộ luật Hình sự năm 2015 tách các quy định về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông thành một mục

Sở dĩ như vậy là bởi quy định này được Bộ Hình sự năm 2015 kế thừa và xây dựng trên cơ sở Điều 226b Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, về bản chất tội phạm này là hành vi xâm phạm quyền sở hữu chỉ có điều phương thức, thủ đoạn phạm tội có tính phi truyền thống. Do đó, không cần quy định mới mà có thể sử dụng các quy định về tội phạm xâm phạm sở hữu truyền thống để xử lý về hình sự với các sửa đổi, bổ sung phương thức, thủ đoạn phạm tội mới này.

3. Kiến nghị giải pháp

Đối với Việt Nam, khoa học và công nghệ luôn được xác định là một trong những khâu trọng tâm của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Theo đó, Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 246/2005/QĐ - TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định “công nghệ thông tin và truyền thông là ngành kinh tế mũi nhọn"..

Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức rất lớn về vấn đề bảo mật an ninh thông tin, an ninh mạng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Năm 2016 đã có tổng cộng khoảng 145 nghìn cuộc tấn công mạng khác nhau nhằm vào hệ thống thông tin Việt Nam với ba loại hình tiến công chính là: lừa đảo, mã độc và thay đổi giao diện, gây thiệt hại hơn 10.400 tỷ đồng; hơn 10 nghìn trang/cổng thông tin điện tử có tên miền “.vn" bị tiến công, chiếm quyền điều khiển, thay đổi giao diện, cài mã độc và có hơn 70 % số máy tính bị lây nhiễm[8]. Theo ghi nhận của Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính (VNCERT) thì quý I năm 2017 đã có gần 7.700 sự cố tấn công mạng vào các website tại Việt Nam. Tháng 7/2016 đã xảy ra vụ tấn công vào hệ thống mạng của các sân bay tại Việt Nam theo hình thức APT (tiến công có chủ đích) làm ảnh hưởng hơn 100 chuyến bay, đồng thời làm rò rỉ dữ liệu của hơn 400 nghìn tài khoản khách hàng thường xuyên của hãng. Tháng 3/2017, một số website của các cảng hàng không như Tân Sơn Nhất, Rạch Giá, Tuy Hòa đã bị tin tặc tấn công. Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ, đánh cắp công nghệ, bản quyền trên Internet ngày càng tăng, nguy cơ gián điệp mạng, tội phạm mạng trở nên phức tạp, nguy hiểm. Môi trường Internet cũng bị lợi dụng để tán phát thông tin bịa đặt, không kiểm chứng, độc hại nhằm vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, hoạt động khủng bố, phá hoại, hoạt động tội phạm mạng ngày càng tinh vi, phức tạp, nguy hiểm với mức độ thiệt hại ngày càng tăng[9]. Nhận thức được tầm quan trọng của không gian mạng - một phần của lãnh thổ quốc gia, là một phần không gian sống của con người. Ở khía cạnh quân sự, an ninh không gian mạng thực sự trở thành một miền tác chiến mới[10].

Do vậy, để ứng phó trước thách thức này, chúng ta phải thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

- Nâng cao nhận thức về an ninh thông tin, an ninh mạng thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và nhận thức về tính hai mặt của Internet và các thông tin chưa kiểm chứng, chưa chính xác;

- Thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Luật An ninh mạng, đã được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2019. Theo đó, cần thực hiện tốt chính sách và các quy định trong Điều 3 Luật An ninh mạng bao gồm: 1) Ưu tiên bảo vệ an ninh mạng trong quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đối ngoại; 2) Xây dựng không gian mạng lành mạnh, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; 3) Ưu tiên nguồn lực xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực cho lực lượng bảo vệ an ninh mạng và tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng; ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ để bảo vệ an ninh mạng; 4) Khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh mạng, xử lý các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng; phối hợp với cơ quan chức năng trong bảo vệ an ninh mạng và; 5) Tăng cường hợp tác quốc tế về an ninh mạng. Qua đó, bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cũng như phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng.

- Tăng cường hệ thống các thông tin truyền thông, xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ an ninh mạng, an ninh thông tin chuyên trách; thường xuyên diễn tập, luyện tập ứng phó trước thách thức an ninh phi truyền thống với các nước trong khu vực, trong nước để chủ động phòng ngừa, xử lý và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và khắc phục những lỗ hổng trong chiến đấu, ứng phó;

- Tăng cường hợp tác song phương và địa phương trong phòng, chống nguy cơ đe dọa đến an ninh mạng, tội phạm mạng và bảo mật an ninh thông tin; xác lập chủ quyền kinh tế số, xây dựng cung cấp các dịch vụ mạng cơ sở thiết yếu, giới hạn ảnh hưởng của các mạng xã hội nước ngoài đối với an ninh quốc gia[11]; v, v.. Ngoài ra, cần chú trọng hợp tác với các nước có cùng đặc điểm phát triển với nước ta như các quốc gia ASEAN, châu Á, Hàn Quốc, Ấn Độ... qua đó không những gia tăng năng lực cho đội ngũ cán bộ, mà còn từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức và cách thức phòng, chống, cũng như kỹ thuật khoa học - công nghệ - Nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện quy định về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ - thông tin trong Bộ luật Hình sự năm 2015; vv..

- Cần tiếp tục phi tội phạm hóa tội sử dụng mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tài liệu tham khảo

1. https://lanninhthongtin.vn, truy cập ngày 22/10/2017.

2. Chính phủ: Báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2013, 2014, 2016.

3. Định tội danh đối với người chiếm đoạt tài sản bằng sử dụng thiết bị công nghệ cao (http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc), truy cập ngày 22/10/2017

4. http://www.nhandan.com.vn/xahoi/item/84094402-giai-phap bao - dam - an - toan - thong - tin - trong - tinh - hinh - hien - nay.html, truy cập ngày 22/10/2017

5. Nguyễn Văn Hưởng: An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Nxb, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014;

6. Trần Đại Quang: Không gian mạng: Tương lai và hành động, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015

 


[1] Xem: https://lanninhthongtin.vn, truy cập ngày 22/10/2017.

[2] Nay là Điều 287 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Nay là Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015

[4] Xem Chính phủ: Báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2013, tr.8.

[5] Xem Chính phủ: Báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2014, tr.10,

[6] Xem Chính phủ; Báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật năm 2016, tr.11-12

[7] Xem Định tội danh đối với người chiếm đoạt tài sản bằng sử dụng thiết bị công nghệ cao ( http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc), truy cập ngày 22/10/2017

[8] Xem: http://www.nhandan.com.vn/xahoi/item/84094402-giai-phap bao - dam - an - toan - thong - tin - trong - tinh - hinh - hien - nay.html, truy cập ngày 22/10/2017

[9] Xem: http://www.nhandan.com.vn/xahoi/item/84094402-giai-phap bao - dam - an - toan - thong - tin - trong - tinh - hinh - hien - nay.html, truy cập ngày 22/10/2017

[10] Xem Trần Đại Quang: Không gian mạng: Tương lai và hành động, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2015, tr.14.

[11] Xem Nguyễn Văn Hưởng: An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam, Sđd, tr.262-265.

Trong tổng thể sự phát triển bền vững của một quốc gia, chính sách môi trường và chính sách kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ. Ở nhiều nước trên thế giới, nguyên tắc người gây ô nhìiếm phải trả tiền dược sử dụng là một công cụ chính thức để kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng tới môi trường của các chủ thể. Ở Việt Nam, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền cũng được xem xét và áp dụng trong việc quản lý môi trường nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của các chủ thể vào môi trường. Để thực hiện nguyên tắc thì phải bảo đảm những yêu cầu: số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu đến môi trường; tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích, đến hành vi của các chủ thể. Tiền ở đây phải mang tính ngang giá nhưng không phải thu mang tính tượng trưng, phải thu đúng, thu đủ.

Ví dụ, để hạn chế việc sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới, Nhà nước áp dụng thí điểm thu phí bảo vệ môi trưòng đổi với các phương tiện này, đối với xe gắn máy, 300.000 đồng xe năm và xe ô tô, 5.000.000 đồng/xe/năm. Mục đích thu nhằm tạo sự công bằng cho các chủ thể sử dụng, đánh vào hành vi gây ô nhiễm để các chủ thể hạn chế sử dung các phương tiện này, đồng thời tạo nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc thu như thế là thu bình quân, mang tính cào bằng và không thể làm giảm lượng xe lưu thông vì có xe sử dụng nhiều, xe sử dụng ít, xe mới, xe cu, mức độ tác động xấu đến môi trường của từng xe là khác nhau. Nếu thu phí bảo vệ môi trường bằng cách tính vào giá xăng dầu thì sẽ bảo đảm mức độ gây ô nhiễm môi trường của các phương tiện giao thông cơ giới tỷ lệ thuận với lưong xăng dầu dưoc tiêu thụ và tỷ lệ thuận với tiền chủ xe phải trả. Lúc này sẽ góp phần hạn chế lưu thông, vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách. Việc thu phí qua giá xăng dầu được đánh giá là phương pháp dễ thu, dễ nộp và chi phí xã hội thấp, do đó có nhiều loại phí được đề xuất thu theo cách này. Đó cũng chính là cách áp dụng thuế bảo vệ môi trường hiện nay.

Việc đánh thuế và phí được xem là công cụ kinh tế để điều tiết việc sử dụng mặt hàng xăng dầu, từ đó vừa hạn chế khí thải gây ô nhiễm vừa tạo nguồn thu đầu tư trở lại cho môi trường. Lúc này sẽ góp phần hạn chế lưu thông, giải quyết sự tắc nghẽn giao thông, giảm bớt lượng khí thải vào môi trường, đồng thời cũng tạo thêm nguồn thu cho ngân sách. Tuy nhiên nếu việc thu phí này thấp quá (100 đồng/1 lít xăng chẳng hạn), sẽ không tác động đáng kể gì và người ta vẫn chấp nhận bỏ tiền nộp vì thu như thế là thu tượng trưng.

Quy định tại Điều 148 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 của Việt Nam là một ví dụ về việc sự thể hiện yêu cầu của nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiến vào trong pháp luật quốc gia, theo đó mức phí bảo vệ môi trường phải được quy định trên cơ sở số lượng chất thải ra môi trường, quy mô ảnh hưởng tác động xấu đối với môi trường cũng như mức độ độc hại của chất thải, mức độ gây hại đối với môi trường và sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải.

Nếu số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm không tuơng xứng với tính chất, mức độ gây tác động xấu đến môi trường, không đủ sức tác động đến lợi ích và hành ví của các chủ thải liên quan thì sẽ không bảo đảm được công bằng, hợp lý trong việc hưởng dụng và bảo vệ môi trường, không định hướng được hành vi tác động của các chủ the vào môi trường theo hướng có lợi cho môi trường. Đồng thời, nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường sẽ không được bảo đảm trong những trường hợp này. Nói cách khác, nếu số tiền phải trá không ngang giá mà chỉ mang tính tượng trưng thì các chủ thể sẽ sẵn sàng chấp nhận bỏ tiền ra để đóng mà không quan tâm đến hậu quả xảy đến cho môi trường, khi đó sẽ không thể hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường của các chủ thể.

Theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thì những chủ thể gây ra ô nhiễm phai chịu chi phí cho việc cải thiện mối trường bị ô nhiễm. Đó là điều hiển nhiên, nhưng vấn để quan trọng là số tiền mà người gây ô nhiễm phải trả sẽ được tính toán theo các căn cứ nào, để có thể thu nhằm bảo đảm các mục dích và yêu cấu của nguyên tác người gây ô nhiễm phải trả tiên. Trong thực tế, việc đưa ra cách thức tính toán hợp lý đối với tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là việc lựa chọn các chi tiêu thích hợp với mỗi loại sản phẩm của từng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, để trên cơ sở đó tính toán một cách tương đối chính xác số tiền phải nộp là vấn để rất nan giải. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ở các nước cho thấy số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm thường được tính theo các cách thức sau đây:

Tiền phải trả có thể được tính căn cứ vào khối lượng tiêu thụ các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào. Theo đó, nếu các loại nguyên, nhiên, vật liệu được sử dụng cho quá trình sản xuất là nguyên nhân phát sinh ô nhiễm môi trường thì chúng phải chịu một mức thuế hoặc phí tương đương với mức độ ô nhiễm môi trường mà chúng gây ra. Phương pháp này có rất nhiều ưu điểm, như: để hạn chế tối đa, thậm chí tránh được số tiền phải nộp, các chủ thể phải tích cực tìm kiếm và sử dụng các loại nguyên, nhiên vật liệu thích hợp với các yêu cầu của việc bảo vệ môi trường, thông qua đó khuyến khích việc tăng cường sử dụng các nguyên, nhiên vật liệu sạch, thân thiện với môi trường.

Số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm còn có thể được tính dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra. Phương pháp này đơn giản và dễ thực hiện nhưng có một số nhược điểm là: khó có thể xác định được tỷ lệ thu hợp lý và không bảo đảm công bằng giữa các cơ sở sản xuất - kinh doanh; nó có thế gây bất lợi cho các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ mới, hoặc bất lợi cho các doanh nghiệp đã triển khai thực hiện các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường.

Đặc biệt, số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm có thể được tính theo mức độ gây ô nhiễm môi trường của hành vi đó. Theo phưong pháp này, việc xác định số tiền phải dựa vào quy mô, tính chất hoạt động và mức độ gây ô nhiễm môi trường của từng doanh nghiệp cụ thể. Điều đó đòi hỏi cần phải nghiên cứu xem xét hoạt đong của từng doanh nghiệp một cách toàn diện dể thông qua việc thu tiền, Nhà nước có thể kiểm soát chặt chẽ và điều tiết kịp thời các hoạt dong của từng doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ và quan lý môi trường. Các cơ quan chức năng cũng phải chú ý tới việc điều chỉnh số tiền phải trả một cách hợp lý, bảo đảm phù hợp với những thay đổi mức độ gây ô nhiễm môi trường của từng doanh nghiệp. Như vậy, nếu khối lượng chất thải của một doanh nghiệp nào càng lớn, hàm lượng chất độc hại càng cao, tính chất các mức độ độc hại càng nguy hiểm, thì mức tiền doanh nghiệp phải càng nhiều. Nếu như doanh nghiệp nào thải ra môi trường càng nhiều chất thải nguy hại thì Nhà nước sẽ đánh thuế nặng vào doanh nghiệp đó, dẫn đến doanh nghiệp sẽ khó có thể phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh. Điều này làm cho doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ hạn chế chất thải ra môi trường. Trong thực tế, việc tính này khá phức tạp, vì phần lớn các doanh nghiệp đều có nhiều loại chất thải khác nhau (chất thải rắn, khí thải, nước thải...), thành phần các chất độc hại có trong các chất thải cũng thường phức tạp, lại có sự thay đổi theo từng kỳ, hơn nữa việc xác định hàm lượng chất độc hại có trong chất thải để tính thuế dòi hoi phải có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại.

Số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm còn có thể được tính căn cứ vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Trên lý thuyết, lợi nhuận truóc thuế của một doanh nghiệp được tính bảng hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch. Phương pháp này do đó rất đơn giản và dễ thực hiện, nó phản ánh được một cách trực tiếp các chi phí môi trường mà doanh nghiệp phải nộp. Vấn đề được đặt ra l tỷ lệ thu là bao nhiêu phần trăm trên tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp, làm sao bảo đảm cân đối được lợi ích của doanh nghiệp và xã hội, bảo đảm một mặt Nhà nước vẫn có được nguồn thu cần thiết nhưng mặt khác, doanh nghiệp cũng không bị thiệt thòi. Cơ sở để xác định tỷ lệ thu phụ thuộc vào mức độ gây ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp gây ra. Thông thường chính quyền các nước thường quy định một tỷ lệ thu vừa phải, rồi điều chỉnh lên từng bước, ở mức doanh nghiệp có thể chịu đựng được vào từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.

Mặc dù nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền không còn xa lạ đối thế giới hiện nay, nhưng việc áp dụng thực hiện nguyên tắc này xem ra vẫn chưa có tính toàn diện. Đã có khá nhiều tranh luận về việc giải thích cụ thể nguyên tắc này. Một trong những vấn đề thường xuyên đó là vai trò tương đối của quy định so với công cụ kinh tế trong việc thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, có nghĩa là số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm có đủ sức tác động đến lợi ích, hành vi của các chủ thể và liệu người gây ô nhiễm có trả toàn bộ chi phí cho việc kiểm soát và phục hồi môi trường hay không. Trường hợp thu phí và các công cụ kinh tế khác được sử dụng cũng rất khác nhau, có thể nhằm nâng cao nguồn phí chi trả cho việc bảo vệ môi trường, hoặc đôi khi bao gồm cả việc khôi phục lại môi trường. Trong một số trường hợp, phí phải trả này có liên quan chặt chẽ tới từng cá nhân gây ô nhiễm, qua đó khuyến khích rõ ràng trong việc thay đổi hành vi của các chủ thể[1], trong khi điều đó lại không được đề cập trong những lĩnh vực khác. Vấn đề đặt ra là mỗi quốc gia phải sử dụng các phương pháp tính thuế thích hợp để vừa bảo đảm được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích được doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, chú trọng vào việc xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Tài liệu tham khảo

Võ Trung Tín: "Về nguyên tắc người gây ô nhiem phải trả tiền - kinh nghiệm nước ngoài và những van để pháp lý dặt ra đối với Việt Nam", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06(85), 2014

 


[1] Võ Trung Tín: "Về nguyên tác người gây ô nhiem phải trả tiền - kinh nghiệm nước ngoài và những van để pháp lý dặt ra đoi với Việt Nam", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06(85), 2014, tr. 30.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành