Cosodulieu

Cosodulieu

Cưỡng chế hành chính và việc áp dụng cưỡng chế hành chính tác động, ảnh hưởng đến mọi đối tượng trong xã hội, từ cá nhân, tổ chức đến cơ quan nhà nước. Do vậy, những quy định về cưỡng chế hành chính phải vừa bảo đảm thực thi vai trò quản lý của nhà nước, giữ gìn an ninh trật tự, lại vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, việc áp dụng các quy định về cưỡng chế hành chính cũng cần có sự đổi mới, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng.

Cưỡng chế nhà nước nói chung, cưỡng chế hành chính nói riêng và quyền lực nhà nước là những hiện tượng, khái niệm gần nhau và có mối quan hệ chặt chẽ. Hai hiện tượng, khái niệm này dễ gây nhầm lẫn với nhau. Quyền lực là hiện tượng có trong nhiều quan hệ của đời sống xã hội như: quan hệ trong đời sống gia đình, trong các tổ chức xã hội, quan hệ lao động, quan hệ giữa nhà nước và tổ chức, công dân... Quyền lực được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau và cũng được quan niệm khác nhau trong mỗi thời kỳ lịch sử.

Theo từ điển tiếng Việt, "quyền lực" được hiểu là "Quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền lực ấy"[1]. Ở đây, quyền lực chỉ được giới hạn trong lĩnh vực chính trị - pháp lý của đời sống xã hội. Xét trên phương kiện tâm lý (về mặt ý chí), quyền lực được hiểu là ý chí của một bên buộc bên kia phải tuân theo, bao hàm trong đó cả sự phục tùng. Khái niệm quyền lực trong xã hội học được hiểu là “khả năng thực thi ý chí của mình đối với người khác"[2]. Nói một cách khác, bất kỳ ai có thể kiểm soát được hành vi của người khác tức là đang có quyền lực.

Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì quyền lực cũng được hiểu là khả năng tác động đến ứng xử (hành vi) của những người khác để cổ được những kết quả mình mong muốn.

Hành vi của con người có thể được thực hiện do ý chí của họ quyết định (sự tự nguyện), hoặc trái với ý chí của họ (thông qua sự cưỡng bức). Như vậy, có hai khả năng tác động đến hành vi của người khác để có được kết quả mình muốn. Khả năng thứ nhất là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để bảo đảm đạt được hành vi xử sự cần thiết một cách tự giác. Khả năng thứ hai là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để bắt buộc đối tượng thực hiện hành vi xử sự cần thiết. Nói cách khác, quyền lực đó có thể được thực hiện thông qua hai mong phương thức, đó là sự tự nguyện của đối tượng của quyền lực và sự cưỡng bức cưỡng chế buộc đối tượng của quyền lực phải thực hiện hành vi theo ý chí của chủ thể quyền lực.

Quyền lực có được dựa trên các yếu tố: uy tín của chủ thể quyền lực, sự thỏa thuận giữa chủ thể quyền lực và đối tượng của quyền lực, sức mạnh cưỡng bức của chủ thể quyền lực, sự trao quyền (thẩm quyền), vv …

Quyền lực trong xã hội có thể chia thành hai loại: quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội. Quyền lực nhà nước được hiểu là quyền lực được thực hiện bởi chủ thể là nhà nước, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, cá nhận được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền lực đó. Quyền lực nhà nước được thực hiện bằng các phương pháp, hình thức, phương tiện của nhà nước, trong đó, pháp luật là công cụ có tính đặc trưng và đặc biệt quan trọng. Quyền lực xã hội do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện như các đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, nhà trường, gia đình, v.v.. Cách thức thực hiện quyền lực xã hội khác cơ bản với quyền lực nhà nước chỗ không mang tính chất nhà nước xét về chủ thể, hình thức, phương pháp thực hiện đặc biệt là không bằng pháp luật, không có tính cưỡng chế nhà nước.

Từ quan niệm về quyền lực cũng như cách thức thực hiện quyền lực nói trên cho thấy, cưỡng chế không đồng nhất với quyền lực, vì có thể thực hiện được quyền lực mà không cần cưỡng chế. Cưỡng chế chỉ là một dạng thể hiện quyền lực có sử dụng sự ép buộc để áp đặt ý chí của người này lên người khác, vì vậy, nếu quyền lực nhà nước luôn luôn được thực hiện một cách tự nguyện trong thực tế thì vấn đề cưỡng chế nhà nước sẽ không cần để làm gì"[3] và ngoài cưỡng bức, còn có uy quyền (authority) - dạng quyền lực có sự đồng tình của công chúng; “Cưỡng chế chỉ là một hình thức đặc thù của việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng không phải hình thức duy nhất"[4]. Hơn nữa, mức độ biểu hiện của hình thức này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội về các mặt và phụ thuộc vào bản chất, hình thức tổ chức của các nhà nước trong lịch sử.

Trong hoạt động quản lý của nhà nước, quyền lực nhà nước và cưỡng chế hành chính rất khác nhau về mục đích. Quyền lực nhà nước, xét cho cùng hướng tới các mục tiêu như duy trì, củng cố sự thống trị giai cấp, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo đảm an ninh quốc gia, v.v.. Cưỡng chế hành chính chỉ là công cụ, biện pháp sau cùng được áp dụng khi các công cụ, biện pháp khác không bảo đảm được trật tự quản lý bình thường để quyền lực đạt các mục tiêu đó. Tức là, việc thực hiện mục tiêu của quyền lực nhà nước không nhất thiết phải có cưỡng chế kèm theo và cưỡng chế hành chính không có mục đích tự thân, chỉ là phương tiện bảo đảm cho quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp được thực hiện. Sự đồng nhất quyền lực nhà nước với cưỡng chế hành chính không chỉ không đúng về mặt khoa học mà còn có thể dẫn đến điều hết sức nguy hại khi người được sử dụng quyền lực nhà nước luôn nghĩ rằng việc thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý phải luôn đi đôi với cưỡng chế, luôn sẵn sàng sử dụng dưỡng chế độ quyền lực nhà nước được thực hiện.

Từ những phân tích về bản chất của cưỡng chế hành chính, tương quan giữa cưỡng chế hành chính và quyền lực nhà nước, có thể định nghĩa:

Cưỡng chế hành chính là bạo lực có tổ chức của nhà nước được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện vị phạm hành chính hoặc trong các trường hợp pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ chức chấp hành các nghĩa vụ trong hoạt động quản lý hành chính, thể hiện quyền lực nhà nước trong việc bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước phục vụ lợi ích xã hội, Nhà nước và cá nhân, tổ chức.

Tài liệu tham khảo

1. Viện ngôn ngữ học Từ điển tiếng Việt, S4

2. Tel Ard T. Blue for Xi hội họp, Nxb, Thống kê, Hà Nội, 2006

3. Vũ Thư; Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

5. Phạm Bính: Cơ cấu, phương thức thực hiện quyền lực trong hệ thống hành chính Việt Nam, Nxb, Tư pháp, Hà Nội, 2006

 


[1] Viện ngôn ngữ học Từ điển tiếng Việt, S4, tr. 816

[2] Tel Ard T. Blue for Xi hội họp, Nxb, Thống kê, Hà Nội, 2006, tr. 551.

[3] Vũ Thư; Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 12

[4] Phạm Bính: Cơ cấu, phương thức thực hiện quyền lực trong hệ thống hành chính Việt Nam, Nxb, Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 37

Cưỡng chế hành chính và việc áp dụng cưỡng chế hành chính tác động, ảnh hưởng đến mọi đối tượng trong xã hội, từ cá nhân, tổ chức đến cơ quan nhà nước. Do vậy, những quy định về cưỡng chế hành chính phải vừa bảo đảm thực thi vai trò quản lý của nhà nước, giữ gìn an ninh trật tự, lại vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, việc áp dụng các quy định về cưỡng chế hành chính cũng cần có sự đổi mới, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng.

Cưỡng chế nhà nước nói chung, cưỡng chế hành chính nói riêng và quyền lực nhà nước là những hiện tượng, khái niệm gần nhau và có mối quan hệ chặt chẽ. Hai hiện tượng, khái niệm này dễ gây nhầm lẫn với nhau. Quyền lực là hiện tượng có trong nhiều quan hệ của đời sống xã hội như: quan hệ trong đời sống gia đình, trong các tổ chức xã hội, quan hệ lao động, quan hệ giữa nhà nước và tổ chức, công dân... Quyền lực được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau và cũng được quan niệm khác nhau trong mỗi thời kỳ lịch sử.

Theo từ điển tiếng Việt, "quyền lực" được hiểu là "Quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền lực ấy"[1]. Ở đây, quyền lực chỉ được giới hạn trong lĩnh vực chính trị - pháp lý của đời sống xã hội. Xét trên phương kiện tâm lý (về mặt ý chí), quyền lực được hiểu là ý chí của một bên buộc bên kia phải tuân theo, bao hàm trong đó cả sự phục tùng. Khái niệm quyền lực trong xã hội học được hiểu là “khả năng thực thi ý chí của mình đối với người khác"[2]. Nói một cách khác, bất kỳ ai có thể kiểm soát được hành vi của người khác tức là đang có quyền lực.

Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì quyền lực cũng được hiểu là khả năng tác động đến ứng xử (hành vi) của những người khác để cổ được những kết quả mình mong muốn.

Hành vi của con người có thể được thực hiện do ý chí của họ quyết định (sự tự nguyện), hoặc trái với ý chí của họ (thông qua sự cưỡng bức). Như vậy, có hai khả năng tác động đến hành vi của người khác để có được kết quả mình muốn. Khả năng thứ nhất là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để bảo đảm đạt được hành vi xử sự cần thiết một cách tự giác. Khả năng thứ hai là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để bắt buộc đối tượng thực hiện hành vi xử sự cần thiết. Nói cách khác, quyền lực đó có thể được thực hiện thông qua hai mong phương thức, đó là sự tự nguyện của đối tượng của quyền lực và sự cưỡng bức cưỡng chế buộc đối tượng của quyền lực phải thực hiện hành vi theo ý chí của chủ thể quyền lực.

Quyền lực có được dựa trên các yếu tố: uy tín của chủ thể quyền lực, sự thỏa thuận giữa chủ thể quyền lực và đối tượng của quyền lực, sức mạnh cưỡng bức của chủ thể quyền lực, sự trao quyền (thẩm quyền), vv …

Quyền lực trong xã hội có thể chia thành hai loại: quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội. Quyền lực nhà nước được hiểu là quyền lực được thực hiện bởi chủ thể là nhà nước, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, cá nhận được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền lực đó. Quyền lực nhà nước được thực hiện bằng các phương pháp, hình thức, phương tiện của nhà nước, trong đó, pháp luật là công cụ có tính đặc trưng và đặc biệt quan trọng. Quyền lực xã hội do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện như các đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, nhà trường, gia đình, v.v.. Cách thức thực hiện quyền lực xã hội khác cơ bản với quyền lực nhà nước chỗ không mang tính chất nhà nước xét về chủ thể, hình thức, phương pháp thực hiện đặc biệt là không bằng pháp luật, không có tính cưỡng chế nhà nước.

Từ quan niệm về quyền lực cũng như cách thức thực hiện quyền lực nói trên cho thấy, cưỡng chế không đồng nhất với quyền lực, vì có thể thực hiện được quyền lực mà không cần cưỡng chế. Cưỡng chế chỉ là một dạng thể hiện quyền lực có sử dụng sự ép buộc để áp đặt ý chí của người này lên người khác, vì vậy, nếu quyền lực nhà nước luôn luôn được thực hiện một cách tự nguyện trong thực tế thì vấn đề cưỡng chế nhà nước sẽ không cần để làm gì"[3] và ngoài cưỡng bức, còn có uy quyền (authority) - dạng quyền lực có sự đồng tình của công chúng; “Cưỡng chế chỉ là một hình thức đặc thù của việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng không phải hình thức duy nhất"[4]. Hơn nữa, mức độ biểu hiện của hình thức này còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội về các mặt và phụ thuộc vào bản chất, hình thức tổ chức của các nhà nước trong lịch sử.

Trong hoạt động quản lý của nhà nước, quyền lực nhà nước và cưỡng chế hành chính rất khác nhau về mục đích. Quyền lực nhà nước, xét cho cùng hướng tới các mục tiêu như duy trì, củng cố sự thống trị giai cấp, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo đảm an ninh quốc gia, v.v.. Cưỡng chế hành chính chỉ là công cụ, biện pháp sau cùng được áp dụng khi các công cụ, biện pháp khác không bảo đảm được trật tự quản lý bình thường để quyền lực đạt các mục tiêu đó. Tức là, việc thực hiện mục tiêu của quyền lực nhà nước không nhất thiết phải có cưỡng chế kèm theo và cưỡng chế hành chính không có mục đích tự thân, chỉ là phương tiện bảo đảm cho quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp được thực hiện. Sự đồng nhất quyền lực nhà nước với cưỡng chế hành chính không chỉ không đúng về mặt khoa học mà còn có thể dẫn đến điều hết sức nguy hại khi người được sử dụng quyền lực nhà nước luôn nghĩ rằng việc thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý phải luôn đi đôi với cưỡng chế, luôn sẵn sàng sử dụng dưỡng chế độ quyền lực nhà nước được thực hiện.

Từ những phân tích về bản chất của cưỡng chế hành chính, tương quan giữa cưỡng chế hành chính và quyền lực nhà nước, có thể định nghĩa:

Cưỡng chế hành chính là bạo lực có tổ chức của nhà nước được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện vị phạm hành chính hoặc trong các trường hợp pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ chức chấp hành các nghĩa vụ trong hoạt động quản lý hành chính, thể hiện quyền lực nhà nước trong việc bảo vệ trật tự quản lý hành chính nhà nước phục vụ lợi ích xã hội, Nhà nước và cá nhân, tổ chức.

Tài liệu tham khảo

1. Viện ngôn ngữ học Từ điển tiếng Việt, S4

2. Tel Ard T. Blue for Xi hội họp, Nxb, Thống kê, Hà Nội, 2006

3. Vũ Thư; Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

5. Phạm Bính: Cơ cấu, phương thức thực hiện quyền lực trong hệ thống hành chính Việt Nam, Nx


[1] Viện ngôn ngữ học Từ điển tiếng Việt, S4, tr. 816

[2] Tel Ard T. Blue for Xi hội họp, Nxb, Thống kê, Hà Nội, 2006, tr. 551.

[3] Vũ Thư; Chế tài hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 12

[4] Phạm Bính: Cơ cấu, phương thức thực hiện quyền lực trong hệ thống hành chính Việt Nam, Nxb, Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 37

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp, đặc biệt là hoạt động của các đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ cao (sử dụng khoa học - kỹ thuật) làm cho tình hình an ninh, an toàn mạng máy tính luôn đặt trong tình trạng báo động với nguy cơ bị tấn công, phá hoại, phát tán virút, phần mềm gián điệp, mã độc hại hoặc lợi dụng để thực hiện các hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lấy cắp thông tin, tài khoản... cũng như tổ chức hoạt động cờ bạc, mại dâm, mua bán người... với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng. Tất cả các phương thức mới với các yếu tố nêu trên tạo nên thuật ngữ mới trong thời kỳ an ninh mới - “tội phạm phi truyền thống" (Non - traditional crime). Phức tạp hơn, tội phạm phi truyền thống tội phạm sử dụng khoa học - công nghệ cao có đặc thù riêng, khó phát hiện và việc xử lý dấu vết, truy tìm chứng cứ vô cùng khó khăn. Điều đáng quan tâm ở loại tội phạm này là đa phần tội phạm trong nước liên kết với tội phạm người nước ngoài, hoạt động có tổ chức và mang tính quốc tế cao, xuyên quốc gia, xuyên nội địa và rất chuyên nghiệp. Do đó, tất cả những hình thức phạm tội thông qua việc sử dụng khoa học - công nghệ đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, để đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm phi truyền thống này, cần nhận diện khái niệm về nó trong tương quan với tội phạm truyền thống.

1. Khái niệm tội phạm truyền thống

Có tác giả quan niệm: Tội phạm truyền thống là tội phạm có hành vi, địa bàn và khách thể tội phạm diễn ra trong phạm vi biên giới một quốc gia[1]. Quan điểm khác lại cho rằng, tội phạm truyền thống được nhận dạng dưới hai góc độ như sau:

- Dưới góc độ luật học thì đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện theo phương thức, thủ đoạn có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự. Dưới góc độ của khoa học điều tra hình sự, tội phạm truyền thống là hệ thống những hành vi nguy hiểm cho xã hội theo cách thức, thủ đoạn đã được khám phá, xử lý nhiều lần và được tổng kết thành lý luận, áp dụng vào thực tiễn điều tra, phòng ngừa tội phạm[2].

Do đó, dưới góc độ khoa học, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Tội phạm truyền thống được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm các quan hệ xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ, đồng thời hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên phạm vị lãnh thổ quốc gia và theo phương thức, thủ đoạn được ghi nhận trong cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng trong phân các tội phạm Bộ luật này.

Tội phạm truyền thống phản ánh những đặc điểm sau đây:

- Tội phạm truyền thống là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm các quan hệ xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ (tương tự như khái niệm và các dấu hiệu về tội phạm được xác định trong khoa học và trong lập pháp hình sự).

- Tội phạm truyền thống thường được thực hiện ở địa điểm trên phạm vi lãnh thổ quốc gia.

- Tội phạm truyền thống được chủ thể thực hiện theo phương thức, thủ đoạn được ghi nhận trong cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật này.

2. Khái niệm tội phạm phỉ truyền thống

- Có quan điểm nêu "tội phạm phi truyền thống” được phân ra thành hai nhóm chính như sau:

- Đó là các tội phạm mới xuất hiện trong điều kiện hội nhập quốc tế như: tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm về môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, rửa tiền...;

- Đối với các loại tội phạm đã được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thì hiện nay đã xuất hiện một số phương thức hoạt động phạm tội mới, theo hướng ngày càng tinh vi, gây khó khăn cho hoạt động phát hiện, điều tra, xử lý của cơ quan chức năng[3]. Quan điểm khác lại nêu rộng hơn: “Tội phạm phi truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ những loại tội phạm mới xuất hiện trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hoặc những tội phạm truyền thống nhưng có những phương thức, thủ đoạn hoạt động mới, tinh vi hơn, hiện đại hơn, quy mô hơn, hậu quả tác hại cho xã hội lớn hơn mà các lực lượng đấu tranh phòng, chống tội phạm chuyên trách chưa có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh đối với các tội phạm này”[4];

Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu quốc tế, cho rằng tội phạm phi truyền thống là khái niệm mới xuất hiện trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Theo đó, “Tội phạm phi truyền thống” thường được hiểu như những tội phạm mới xuất hiện hoặc những tội phạm cũ nhưng phương thức, thủ đoạn thực hiện mới. Những tội phạm này thường gắn nhiều với việc sử dụng những phương tiện, công cụ của thời kỳ kinh tế tri thức và toàn cầu hóa.

Phạm vi hoạt động của tội phạm thường có tính liên quốc gia, quốc tế[5]. Cùng với đó, hậu quả của các tội phạm này thường lớn, ảnh hưởng đến cả kinh tế, xã hội của không chỉ một nước mà cả một vùng, một khu vực hay toàn cầu. Ngoài ra, các tác giả cho rằng, hiện tại, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tội phạm phi truyền thống thường được phân chia thành các loại sau:

- Tội phạm công nghệ cao;

- Tội phạm ma túy xuyên quốc gia;

- Tội phạm rửa tiền, lưu hành tiền giả, kinh doanh trái phép;

- Tội phạm buôn bán người và nội tạng người;

- Tội phạm về môi trường (bao gồm cả tội phạm làm lây lan các dịch bệnh cho người và gia súc);

- Tội phạm khủng bố; cho Tội phạm cướp biển và làm mất an ninh hàng hải[6]; v.v... Với một số lập luận và cách tiếp cận của các quan điểm trên. Tuy nhiên, người viết chưa tán thành với riêng nội dung của khái niệm về tội phạm phi truyền thống ở chỗ, ở đây không có tội phạm mới (người viết nhấn mạnh) mà chỉ có hai khả năng sau đây:

- Khả năng thứ nhất, tội phạm phi truyền thống thể hiện ở dạng là tội phạm có phương thức, thủ đoạn mới hoặc;

- Khả năng thứ hai, xuất hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới. Bởi lẽ, chỉ khi nào một hành vi nguy hiểm cho xã hội (đáp ứng các yêu cầu của quá trình tội phạm hóa) được nhà làm luật ghi nhận trong Bộ luật Hình sự mới được coi là tội phạm (dưới góc độ pháp lý hình sự). Còn phương thức, thủ đoạn mới thể hiện ở những thay đổi trong yếu tố cấu thành tội phạm và thể hiện qua yếu tố như: mặt khách quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm, qua đó, làm cho yêu cầu phát hiện, xử lý, cũng như việc thu thập chứng cứ, tài liệu gặp khó khăn, phức tạp. Với những đặc tính phi truyền thống của mình, các loại tội phạm này đặt ra nhiều thách thức và đòi hỏi pháp luật hình sự phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định mới bảo đảm khả năng ứng phó với thách thức ấy (hành vi, phương thức, thủ đoạn, địa điểm phạm tội và khách thể của tội phạm).

Như vậy, những mối đe dọa (hay ở mức rộng và cao hơn là thách thức) an ninh phi truyền thống tiếp cận dưới góc độ pháp luật hình sự chính là các loại tội phạm phi truyền thống. Đến lượt mình, tội phạm phi truyền thống cũng là một thách thức rất lớn của vấn đề an ninh phi truyền thống. Do đó, tiếp cận dưới góc độ khoa học, theo người viết, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Tội phạm phi truyền thống là hành vi nguy hiểm cho xã hội có nguồn gốc phi quân sự gây ra cho sự an toàn, ổn định của mỗi con người, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế được thực hiện do cố ý từ bất kỳ chủ thể nào, từ địa điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội và yếu tố khách thể của tội phạm. Tội phạm phi truyền thống phản ánh những đặc điểm sau:

- Tội phạm phi truyền thống là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra sự mất an toàn, ổn định của mỗi con người, mỗi công dân, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế;

- Tội phạm phi truyền thống nảy sinh trong điều kiện hội nhập, mở cửa và trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự thay đối chính sách, cơ chế, kinh tế - xã hội;

- Tội phạm phi truyền thống có sự thay đổi mới về địa điểm. Phương thức, thủ đoạn phạm tội và yếu tố khách thể của tội phạm thể hiện ở chỗ:

(1) Về địa điểm, các tội phạm này không chỉ trong phạm vi “nội địa" mà đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, phát sinh liên quan đến hai hoặc nhiều quốc gia (xuyên quốc gia);

(2) Về phương thức, thủ đoạn phạm tội - thường có yếu tố có tổ chức, xuyên quốc gia và sử dụng khoa học - công nghệ cao như: tội rửa tiền, tội mua bán người, tội mua bán trái phép chất ma túy, tội khủng bố, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tội phạm về môi trường...

(3) Về yếu tố khách thể của tội phạm, xâm phạm không chỉ lợi ích của quốc gia, mà còn cả khu vực, quốc tế (sẽ được phân tích trong phân sau).

- Tội phạm phi truyền thống được thực hiện do cố ý từ bất kỳ chủ thể phi nhà nước nào, qua đó, gây khó khăn cho việc phát hiện đấu tranh và xử lý. Riêng đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân thường có đặc điểm nhân thân là người có trình độ khoa học và công nghệ cao, am hiểu sâu sắc về các lĩnh vực kinh tế, tài chính, quốc phòng, an ninh...

- Tội phạm phi truyền thống thường gây ra những hậu quả (thiệt hại) vượt biên giới quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Học viện Cảnh sát nhân dân: Phòng, chống tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong điều kiện hội nhập quốc tế, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2009

2. Nguyễn Chí Dũng, Trần Thị Bích Hằng (đồng chủ biên): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2015

 


[1] Xem Học viện Cảnh sát nhân dân: Phòng, chống tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong điều kiện hội nhập quốc tế, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.149, 124.

[2] Xem Học viện Cảnh sát nhân dân: Phòng, chống tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong điều kiện hội nhập quốc tế, Nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.149, 124.

[3] Xem Học viện Cảnh sát nhân dân: Phòng, chống tội phạm truyền thống và tội phạm phí truyền thống trong điều kiện hội nhập quốc tế, Sđd, tr. 124, 457.

[4] Xem Học viện Cảnh sát nhân dân: Phòng, chống tội phạm truyền thống và tội phạm phí truyền thống trong điều kiện hội nhập quốc tế, Sđd, tr. 124, 457.

[5] Xem Nguyễn Chí Dũng, Trần Thị Bích Hằng ( đồng chủ biên): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2015, tr.13.81

[6] Xem Nguyễn Chí Dũng, Trần Thị Bích Hằng ( đồng chủ biên): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2015, tr.13.81

Khả năng xuất khẩu sản phẩm, đặc biệt là khả năng xuất khẩu sản phẩm chủ lực được hiểu là năng lực của các sản phẩm có điều kiện sản xuất trong nước hiệu quả hơn so với các sản phẩm khác và có tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia. Khi phân tích và đánh giá khả năng xuất khẩu của một sản phẩm, ta cần xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau sẽ có những hệ thống chỉ tiêu đánh giá khác nhau. Dựa trên các tư tưởng cốt lõi của các lý thuyết về khả năng xuất khẩu, có thể thấy để phân tích và đánh giá khả năng xuất khẩu của một sản phẩm xuất khẩu tại một thị trường nào đó có thể sử dụng một hệ thống chỉ tiêu gồm ba nhóm chỉ tiêu cơ bản sau:

1. Nhóm chỉ tiêu về thành tích xuất khẩu hiện tại của sản phẩm

Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng khi nghiên cứu khả năng xuất khẩu của sản phẩm, thành tích xuất khẩu hiện tại của sản phẩm sẽ đánh giá mức độ thành công của các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường nước nhập khẩu đối với một số sản phẩm chủ lực được lựa chọn. Những sản phẩm có thành tích xuất khẩu hiện tại tốt được xem như đã chứng minh được khả năng xuất khẩu và vì thế có khả năng lớn về xuất khẩu trong tương lai. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm 3 chỉ tiêu: (1) Kim ngạch sản phẩm xuất khẩu, (2) Thị phần sản phẩm xuất khẩu (3) Tăng trưởng sản phẩm xuất khẩu.

Về kim ngạch sản phẩm xuất khẩu:

Kim ngạch sản phẩm xuất khẩu là chỉ tiêu phản ánh giá trị của giá trị sản phẩm được tiêu thụ tại thị trường nước nhập khẩu, tính bằng số lượng sản phẩm xuất khẩu nhân với giá xuất khẩu của sản phẩm trong một khoảng thời gian nhất định.

Kim ngạch xuất khẩu = Giá xuất khẩu sản phẩm x số lượng sản phẩm xuất khẩu

Thông thường, khi kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm nào đó có mức tăng trưởng đều đặn qua các năm thì có thể được đánh giá là sản phẩm có được cạnh tranh tốt, được thị trường quốc tế chấp nhận. Ngược lại, nếu nhu cầu của thị trường nhập khẩu đang tăng lên, nhưng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm không có được mức tăng đều đặn hoặc suy giảm thì chứng tỏ khả năng xuất khẩu của sản phẩm đó chưa cao so với các đối thủ cạnh tranh. Kim ngạch xuất khẩu của một sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá bán và quá trình tổ chức tiêu thụ của sản phẩm.

Thị phần sản phẩm xuất khẩu

Thị phần sản phẩm xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ phần trăm giữa kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của một nước xuất khẩu với tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của thị trường nước nhập khẩu. Thị phần sản phẩm xuất khẩu được xác định bằng công thức sau:

Nx = (Mx/M) x 100 %.

Trong đó: Nx: Thị phần sản phẩm X xuất khẩu;

Mx: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X;

M: Tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm X của thị trường nhập khẩu.

Chỉ tiêu này sẽ cho biết sản phẩm nào có thị phần xuất khẩu càng lớn thì càng có khả năng xuất khẩu cao. Ngược lại, một sản phẩm có thị phần nhỏ hay giảm sút trên thị trường thì sản phẩm đó có khả năng xuất khẩu yếu, khả năng ảnh hưởng của sản phẩm đối với thị trường. nước nhập khẩu là thấp..

Tăng trưởng sản phẩm xuất khẩu

Tăng trưởng sản phẩm xuất khẩu cho biết tốc độ phát triển của sản phẩm đó tại thị trường nước nhập khẩu. Chi tiêu này được đo lường bằng công thức sau:

T = (N/No) x 100 %

Trong đó: T là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm:

N là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm năm sau

No là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm năm gốc.

Chỉ tiêu này cho biết sản phẩm nào có mức tăng trường xuất khẩu nhanh về giá trị trong một giai đoạn sẽ cho thấy sản phẩm đó có khả năng xuất khẩu cao sang thị trường nước nhập khẩu.

2. Nhóm chỉ tiêu về năng lực sản xuất trong nước của sản phẩm xuất khẩu

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh nội lực trong nước khi sản xuất sản phẩm xuất khẩu, nếu năng lực sản xuất trong nước mà tốt và đồng bộ thì sản phẩm sẽ có khả năng xuất khẩu cao, còn ngược lại nếu năng lực sản xuất trong nước mà hạn chế và yếu kém thì khả năng xuất khẩu sản phẩm thấp. Nhóm chỉ tiêu này được phản ánh qua hai chỉ tiêu quan trọng như sau:

Chất lượng sản phẩm và hiệu quả của quy trình sản xuất

Quy trình sản xuất càng hiệu quả và chất lượng sản phẩm càng cao thì khả năng xuất khẩu càng được coi là cao. Chỉ tiêu này được đánh giá trên các mặt: (1) Chất lượng của sản phẩm xuất khẩu; (2) Năng suất lao động so với các nước xuất khẩu chính trong khu vực và trên thế giới; (3) Chi phí sản xuất so với các nước xuất khẩu chính trong khu vực và trên thế giới; và (4) Hiện trạng công nghệ và hình thức sản xuất.

Tính liên kết và hiệu quả của các ngành công nghiệp phụ trợ

Các ngành hoà nhập với kinh tế quốc gia qua các mối liên kết thuận nghịch và hưởng lợi từ các ngành công nghiệp phụ trợ thường có khả năng xuất khẩu cao hơn. Một đôla sản phẩm xuất khẩu của một ngành không thể tác động đến nền kinh tế giống như một đôla sản phẩm xuất khẩu của ngành khác, vì giá trị gia tăng của các ngành có thể rất khác nhau. Các ngành khác nhau nhiều cách chúng liên kết với các ngành còn lại của nền kinh tế trong nước. Một vài ngành hoà nhập hiệu quả vào nên kinh tế quốc gia (qua các mối liên kết với nhà cung cấp và khách hàng để gia công, chế biến thêm), những ngành khác thì ngược lại. Vì thế, những ngành hội nhập mạnh mẽ có thể có sức kéo lớn và tác động đến những ngành kinh tế khác, nhưng hiệu quả có thể khác nhau, như các ngành có các mối liên kết thuận sẽ thuận lợi hơn nếu các ngành công nghiệp phụ trợ hoạt động hiệu quả.

3. Nhóm chỉ tiêu về thị trường nhập khẩu

Nhóm chỉ tiêu này có khả năng kiểm tra về mức độ thuận lợi của môi trường quốc tế cho các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm:

Một, nhu cầu của thị trường nhập khẩu. Nhu cầu nhập khẩu của thị trường tăng trưởng nhanh có khả năng sinh lãi ròng cho nước xuất khẩu. Tất cả đều có sự công bằng, hoạt động nhập khẩu của thị trường càng năng động thì khả năng tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai càng cao. Sự linh hoạt lượng cầu của thị trường đối với mỗi sản phẩm được xác định bằng tỉ lệ tăng trưởng của nhập khẩu của thị trường trong một giai đoạn nào đó. Tỉ lệ tăng trưởng nhập khẩu được xác định bằng cả hai phương thức, theo phương thức đo giá trị (ví dụ như: USD) và theo phương thức xác định khối lượng (ví dụ: tấn). Hai phương thức này hoàn toàn khác biệt về bản chất.

Hai, tiếp cận thị trường nước nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan xưa nay như một hình thức trừng phạt và thậm chí ngăn cản một sản phẩm đang sẵn sàng cho xuất khẩu từ hoạt động chuyển tiềm năng thành xuất khẩu thực tiễn. Tất cả đều có sự công bằng, nghĩa là các điều kiện tiếp cận thị trường của đất nước càng tốt thì khả năng xuất khẩu của sản phẩm càng cao. Các điều kiện này có thể là tuyệt đối và tương đối, nghĩa là các hàng rào thuế quan có thể ở mức thấp trong các giới hạn tuyệt đối hoặc thấp trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh chính.

Hoạt động xuất khẩu sẽ đạt hiệu quả cao nếu kết hợp cả hàng rào thuế quan và phi thuế quan, đặc biệt là những rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và các tiêu chuẩn vệ sinh (biện pháp kiểm dịch động, thực vật). Các biện pháp phi thuế quan ngày càng trở nên quan trọng do: sự quan ngại tăng lên từ phía khách hàng (đặc biệt là khách hàng ở những nước phát triển, như Liên minh châu Âu) đối với những tiêu chí liên quan đến vệ sinh và môi trường; vấn đề về hiểm họa môi trường đôi khi là một hình thức bao biện cho sự bảo hộ; những rào cản ngày càng tăng về tầm quan trọng khi thuế ở mức rất thấp.

Như vậy, tiêu chí đánh giá khả năng xuất khẩu sản phẩm đặc biệt là sản phẩm chủ lực dựa trên nhiều yếu tố và phương diện khác nhau. Việc nghiên cứu các tiêu chí này nhằm đưa ra những định hướng phát triển xuất khẩu nhằm tăng hiệu quả tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm chủ lực trong những giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của đất nước.

Tại Nghị quyết số 08/NQ - TW ngày 17/12/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về chiến lược an ninh quốc gia đã cảnh báo và chỉ ra các yếu tố thách thức đối với an ninh quốc gia của Việt Nam trong đó có vấn đề an ninh phi truyền thống. Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng và từng bước đề ra những chủ trương, đối sách thích hợp đối với an ninh phi truyền thống và gắn các chủ trương, đối sách đó với các quan điểm, tư duy đổi mới kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại trong thời kỳ đổi mới đất nước. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nhận thức, quan điểm nhất quán về nội dung, thách thức an ninh phi truyền thống đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường quốc phòng - an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa... sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và an ninh mạng. Yêu cầu cơ bản là phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh[1].

Tuy nhiên, qua nghiên cứu cũng có quan điểm cho rằng “an ninh phi truyền thống liên quan đến các hoạt động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát truyền thống của nhà nước như: khủng bố quốc tế, cướp biển, nhập cư bất hợp pháp, buôn lậu"[2]. Do đó, thách thức an ninh phi truyền thống chính là các hoạt động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát truyền thống của nhà nước.

- Trong công trình nghiên cứu gần đây năm 2016[3] về an ninh phi truyền thống của Trường Đại học Công nghệ Nanyang, Xingapo, các học giả lại tập trung phân tích an ninh phi truyền thống dưới các góc độ sau:

- Xung đột và an ninh cộng đồng;

- Nghèo đói và an ninh kinh tế;

- An ninh môi trường;

- An ninh lương thực;

- An ninh năng lượng:

- An ninh nguồn nước;

- An ninh y tế, sức khỏe,

- Di cư và các thách thức an ninh;

- Tội phạm xuyên quốc gia.

Gần đây, quan niệm về những thách thức an ninh phi truyền thống nói chung và của khu vực châu Á nói riêng được nêu ra bao gồm:

- Nạn khủng bố;

- Ma túy;

- Cướp biển;

- An ninh năng lượng

- An ninh hàng hải.

Theo quan điểm này, đây là những thách thức an ninh phi truyền thống nói chung và của khu vực châu Á nói riêng phải giải quyết trong bối cảnh mới và xu thế hợp tác trên trường quốc tế hiện nay...[4]

Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, xuất phát từ quy mô, tính phức tạp, đa dạng của những nguy cơ an ninh phi truyền thống tác động đến sự phát triển bền vững của đất nước, đến an ninh quốc gia, Đảng, Nhà nước ta xác định những vấn đề an ninh phi truyền thống bao gồm: ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh hàng hải, tội phạm xuyên quốc gia, ma túy, buôn bán người, an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao, tội phạm kinh tế... Đây là những vấn đề thuộc an ninh phi truyền thống mà Việt Nam đã và đang đối mặt, tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự phát tri của đất nước[5].

Đặc biệt, tiếp cận dưới góc độ hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối đe dọa, nguy cơ, thách thức mang tính toàn cầu cần được giải quyết ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trong đó có một thách thức đặt ra đối với pháp luật hình sự bao gồm:

- Tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia;

- Khủng bố;

- An ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao,

- Biến đổi khí hậu và thảm họa thiên tai;

- An ninh môi trường[6].

Như vậy, những thách thức (hay mối đe dọa, uy hiếp...) này đều do các hiện tượng tự nhiên, xã hội hoặc do chủ thể là cá nhân, pháp nhân gây ra và đôi khi có sự trùng lắp với các mối đe dọa, uy hiếp. Tuy nhiên, ở đây cần thống nhất là “chủ nghĩa khủng bố" mới là một đe dọa an ninh phí truyền thống chứ không phải là nạn khủng bố hay tội phạm khủng bố. Nếu là tội phạm khủng bố lại thuộc nhóm tội phạm phi truyền thống. Các mối đe dọa hay thách thức an ninh phi truyền thống tiếp cận dưới góc độ hẹp và thuộc nhóm thứ hai trong pháp luật hình sự chính là các loại tội phạm đe dọa đến lĩnh vực an ninh phi truyền thống (hay còn gọi là “tội phạm phi truyền thống"), là những hành vi do cá nhân, pháp nhân gây ra cho sự an toàn, ổn định của mỗi con người, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế được thực hiện do cố ý từ bất kỳ chủ thể phi nhà nước nào với đặc trưng mới trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Do đó, việc làm sáng tỏ khái niệm tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống là cần thiết trước khi làm rõ những thách thức cụ thể của an ninh phim truyền thống đối với pháp luật hình sự, trong đó, tội phạm phi truyền thống chính là thách thức cơ bản và quan trọng nhất. Việt Nam cần đáp ứng trước yêu cầu ứng phó trước thách thức an ninh phi truyền thống đòi hỏi không chỉ nắm vững các kiến thức chuyên môn của khoa học luật hình sự, tội phạm học, khoa học an ninh - quốc phòng, mà còn cả sự am hiểu sâu sắc về các vấn đề chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường... An ninh phi truyền thống, trong đó đã xác định - An ninh phi truyền thống là trạng thái an ninh trong đó đòi hỏi việc bảo đảm sự an toàn, ổn định của mỗi con người, cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế khỏi sự nguy hiểm gây ra bởi những mối đe dọa có nguồn gốc phi quân sự từ bất kỳ tác nhân, chủ thế phi nhà nước nào. Ngoài ra, tiếp cận dưới góc độ khoa học luật hình sự, an ninh phi truyền thống được hiểu là trạng thái an ninh, trong đó đòi hỏi việc bảo đảm an toàn, ổn định của mỗi con người cũng như các quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế khỏi sự nguy hiểm gây ra bởi những mối đe dọa dưới dạng là các tội phạm phi truyền thống có nguồn gốc phi quân sự từ bất kỳ tác nhân, chủ thể phi nhà nước nào.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016

2. Andrew Tian Huat Tan, Kent Boutin (editors): Non - traditional security issues in Southeast Asia, Select Publishing for Institute of Defence and Strategic Studies, Singapore, 2001

3. Mely Caballero - Anthony (editor): An Introduction to Non Traditional Security Studies: A Transnational Approach, SAGE Publications, 2016

4. Tôn Sinh Thành: Hợp tác khu vực châu Á: Nhân tố ASEAN và Ấn Độ, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017

5. Nguyễn Thị Thúy Hà: Quan điểm của Việt Nam về một số thách thức an ninh phi truyền thống hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận só 208 (2) / 2014

6. Tô Lâm, Nguyễn Xuân Yêm (tổng chủ biên): An ninh phi truyền thống trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017.

 


[1] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.148, 151

[2] Xem Andrew Tian Huat Tan, Kent Boutin (editors): Non - traditional security issues in Southeast Asia, Select Publishing for Institute of Defence and Strategic Studies, Singapore, 2001, p.23.

[3] Xem Mely Caballero - Anthony ( editor): An Introduction to Non Traditional Security Studies: A Transnational Approach, SAGE Publications, 2016, p.15.

[4] Xem Tôn Sinh Thành: Hợp tác khu vực châu Á: Nhân tố ASEAN và Ấn Độ, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.180-183.

[5] Xem Nguyễn Thị Thúy Hà: Quan điểm của Việt Nam về một số thách thức an ninh phi truyền thống hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận só 208 (2) / 2014, tr. 48.

[6] Xem Tô Lâm, Nguyễn Xuân Yêm ( tổng chủ biên): An ninh phi truyền thống trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Sđd, tr.93-928.

Thứ hai, 22 Tháng 6 2020 07:34

VAI TRÒ CỦA CƯỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đồng nghĩa với việc dần hạn chế sử dụng phương pháp cưỡng chế để thực hiện quyền lực nhà nước và ngày càng sử dụng nhiều hơn các chế định dân chủ để khắc phục những mâu thuẫn và bất đồng nảy sinh. Quan niệm về cưỡng chế hành chính cũng như giới hạn của việc áp dụng cưỡng chế trong giai đoạn hiện nay cũng sẽ phải thay đổi để phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội. Trong nhà nước pháp quyền, vấn đề có tính nguyên tắc là quyền lực nhà nước cần phải giới hạn để bảo vệ công dân của nhà nước. Việc áp dụng cưỡng chế trong hoạt động quản lý hành chính cũng như các lĩnh vực hoạt động khác của nhà nước sẽ tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa một bên là yêu cầu bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân với một bên là nhu cầu sử dụng cưỡng chế để bảo đảm thực hiện quyền lực nhà nước là một yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay. Những yêu cầu này đòi hỏi vai trò của cưỡng chế hành chính nhằm đáp ứng sự đổi mới trong cách nhìn nhận, đánh giá và áp dụng cưỡng chế hành chính.

Cưỡng chế hành chính là biện pháp bảo đảm để thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bảo đảm trật tự quản lý nhà nước.

Quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp được thực hiện thông qua nhiều biện pháp, cách thức khác nhau như: thuyết phục, cưỡng chế, kinh tế, vv.. Biện pháp nào giữ vai trò chủ yếu trong thực thi quyền hành pháp tùy thuộc vào bản chất, tính xã hội của nhà nước. Trong môi trường xã hội chủ nghĩa, lợi ích của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý về cơ bản là nhất trí, hoạt động quản lý nhà nước thể hiện ý chí và phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, biện pháp quản lý chủ yếu là thuyết phục. Mặt khác, thuyết phục chiếm ưu thế còn bởi xuất phát từ hiệu quả của việc áp dụng biện pháp này. Khi các đối tượng quản lý đồng thuận và tự nguyện thì hiệu quả của hoạt động quản lý sẽ cao hơn nhiều so với khi họ bị cưỡng bức thực hiện. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng trong quản lý nhà nước và xã hội chỉ cần các biện pháp thuyết phục. Bởi vì trong xã hội còn tồn tại vi phạm pháp luật thì còn cần phải áp dụng cưỡng chế. Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ trật tự pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Nếu chỉ áp dụng thuyết phục trong những trường hợp này sẽ không giải quyết được các yêu cầu đặt ra. Biện pháp cưỡng chế lúc này lại là một biện pháp cần thiết và hữu hiệu. Việc áp dụng cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, tạo điều kiện cho những quan hệ xã hội phát triển đúng hướng.

Trật tự quản lý nhà nước chỉ có được thông qua các hành vi hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động quản lý. Khi trật tự đó bị phá vỡ bởi các hành vi vi phạm pháp luật thì nó chỉ được thiết lập lại thông qua việc xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục nhanh chóng hậu quả. Cưỡng chế hành chính là biện pháp bảo đảm cho hoạt động điều hành hành chính diễn ra bình thường bằng cách loại bỏ những trở ngại (các vi phạm pháp luật), nhờ đó mà trật tự quản lý nhà nước được thiết lập và bảo vệ.

Mặt khác, khi trong xã hội xảy ra các tình huống bất thường (tình huống “vượt quá giới hạn hay tầm kiểm soát, quản lý của con người, xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý đất nước"; “có tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống hiện tại và lâu dài của con người và xã hội theo chiều hướng tiêu cực"; “phạm vi ảnh hưởng là rất lớn, có thể tác động trực tiếp đến một địa phương, một quốc gia, hay thậm chí là cả một khu vực và cộng đồng quốc tế"[1]), thì cưỡng chế hành chính là biện pháp hữu hiệu để nhanh chóng thiết lập lại trật tự quản lý nhà nước mà các biện pháp khác khó lòng đáp ứng được. Khi những tình huống bất thường xảy ra, cần phải có các giải pháp xử lý đặc biệt, mau lẹ, chính xác, nhằm hạn chế đối đa những thiệt hại có thể xảy ra. Cưỡng chế hành chính trong trường hợp này là đặc biệt cần thiết và khách quan của đời sống cộng đồng để buộc cá nhân, tổ chức thực hiện các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, để huy động các nguồn lực vật chất bằng mệnh lệnh hành chính đáp ứng nhu cầu của nhà nước mà các biện pháp huy động khác không thực hiện được, v.v.. Việc cưỡng chế buộc mọi người phải thi hành pháp luật vô điều kiện trong những tình huống bất thường không nhằm mục tiêu nào khác là nhanh chóng khôi phục lại trật tự, đời sống, hoạt động thường ngày của xã hội, cộng đồng dân cư, kịp thời khắc phục các hậu quả, đưa các hoạt động của xã hội trở lại trạng thái bình thường. Trong những tình huống đó, các biện pháp cưỡng chế hành chính được xem là công cụ có nhiều tính “ưu việt" để các nhà quản lý thực hiện công tác quản lý nhà nước, duy trì trật tự, ổn định xã hội bởi tính mệnh lệnh đơn phương, thủ tục nhanh gọn.

Trong những trường hợp như vậy, cưỡng chế hành chính là biện pháp cần thiết để bảo đảm sự tuân thủ của các đối tượng quản lý, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi. Tuy nhiên, cho dù cưỡng chế hành chính là biện pháp hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước, nhưng nó chỉ được sử dụng trong những trường hợp cần thiết, khi các biện pháp khác không đem lại hiệu quả hoặc không có khả năng đem lại hiệu quả.

Cưỡng chế hành chính có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa vi phạm pháp luật, đồng thời là phương tiện để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Cưỡng chế hành chính không những có vai trò quan trọng đối với nhà nước, với tư cách là chủ thể quản lý, mà còn có tác động tích cực đối với cả người dân - các đối tượng quản lý trong hoạt động quản lý của nhà nước.

Cưỡng chế hành chính góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa vi phạm pháp luật, giữ vững trật tự quản lý hành chính nhà nước. Các biện pháp cưỡng chế khi tác động trực tiếp đến chủ thể vi phạm pháp luật sẽ làm diễn ra quá trình tâm lý ở người vi phạm, tạo ra sự củng cố, thay đổi nhất định về quan điểm, tình cảm, thói quen, hành vi pháp luật. Người/tổ chức vi phạm sẽ thấy được sự cần thiết phải tuân theo pháp luật, kiềm chế, từ bỏ ý định tái phạm hoặc thận trọng hơn để tránh xử sự của mình trở thành vi phạm pháp luật. Biện pháp cưỡng chế còn ngăn ngừa, răn đe tất cả những chủ thể khác trong xã hội, khiến họ phải kiềm chế, giữ mình không vi phạm pháp luật. Điều này trước hết có tác dụng đối với các chủ thể không vững vàng" trong xã hội. Trong trường hợp này, các biện pháp cưỡng chế được áp dụng làm cho những chủ thể “không vững vàng” thấy trước được những hậu quả pháp lý bất lợi nếu họ cố tình vi phạm pháp luật.

Cưỡng chế hành chính là phương tiện để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Việc áp dụng cưỡng chế hành chính mặc dù làm hạn chế quyền, lợi ích của một số người, nhưng là để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác trong xã hội. Bởi vì quyền, tự do cá nhân không mang tính tuyệt đối, nó là một phạm trù pháp lý “có giới hạn" vì xã hội, nhà nước và cá nhân khác cũng có tự do của mình. Trong trạng thái tự nhiên, tự do của người này có thể làm hạn chế tự do, xâm phạm đến lợi ích của người khác, dễ gây rối loạn và không có trật tự xã hội. Vì vậy, mỗi người phải tôn trọng quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích của nhà nước, xã hội. Quyền, tự do, lợi ích của mỗi người chỉ có được trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, suy cho cùng, mục đích của việc hạn chế quyền, lợi ích của một số người khi áp dụng cưỡng chế hành chính cũng là để bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội.

Các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được bảo vệ thông qua việc nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để kịp thời ngăn chặn những hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mặt khác, khi quyền, lợi ích đó bị xâm phạm thì cưỡng chế khắc phục hậu quả là việc làm cần thiết thuộc trách nhiệm của Nhà nước nhằm khôi phục lại những quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm đó. Bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức còn bao gồm cả hình thức xử lý vi phạm từ phía nhà nước sao cho mọi hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được nhà nước tôn trọng và bảo vệ. Mọi hành động xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị xử lý theo pháp luật.

Cưỡng chế hành chính có vai trò quan trọng trong giáo dục ý thức pháp luật, kích thích các hành vi hợp pháp trong xã hội, qua đó củng cố trật tự xã hội.

Không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với nhà nước và các cá nhân, tổ chức nhất định, cưỡng chế hành chính còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn xã hội nói chung.

Cưỡng chế hành chính, ngay khi tồn tại trong quy phạm pháp luật đã là các biện pháp răn đe, giáo dục mọi người tinh thần tôn trọng và tuân thủ pháp luật (vai trò phòng ngừa chung). Giá trị xã hội của cưỡng chế hành chính không chỉ nhằm phòng ngừa vi phạm pháp luật, khắc phục những hậu quả của việc vi phạm đó, thiết lập và giữ gìn trật tự pháp luật mà còn giáo dục người vì phạm pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân, cổ vũ các hành vi hợp pháp trong xã hội.

Khi tác động lên các quan hệ xã hội, cưỡng chế hành chính không chỉ tác động trực tiếp lên hành vi của con người mà còn gián tiếp tác động lên suy nghĩ, tình cảm của họ, gây ra những biến đổi trong tâm lý, động cơ, cũng như mục đích, ý nghĩa của hành vi. Ban đầu, đối với người có hành vi được thực hiện, người ta kiểm soát hành vi chủ yếu do sự lo sợ cho bản thân. Còn về sau, người ta thực hiện hành vi là do sự tự giác, do bổn phận của cá nhân vì thấy được ý nghĩa của hành vì đó đối với cộng đồng và xã hội. Bản thân các biện pháp cưỡng chế hành chính trước và sau khi áp dụng đều có ý nghĩa giáo dục to lớn. Điều đó đem lại những chuyển biến đáng kể trong ý thức của những chủ thể chịu sự tác động trực tiếp hay gián tiếp của cưỡng chế hành chính, cho dù họ có vi phạm pháp luật và trực tiếp bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính đó hay không.

Việc Nhà nước dự kiến các biện pháp tác động đến xã hội bằng cưỡng chế hành chính xuất phát từ lợi ích xã hội, lợi ích giai cấp thông qua hệ thống các quy định của pháp luật. “Tự do của con người chỉ tồn tại trong khuôn khổ nhất định, vì vậy mỗi người muốn được tự do thì phải bớt một phần ý muốn hay sở thích của cá nhân vì lợi ích chung của xã hội để phần tự do ấy được bảo đảm. Vì lý do đó, mỗi thành viên trong xã hội phải chấp nhận từ bỏ làm điều mà pháp luật cấm và phải thực hiện thêm một số công việc để có thể thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân và cũng có thể vì lợi ích xã hội"[2]. Điều đó sẽ làm cho con người sống có kỷ luật hơn và có ý thức cao hơn về trách nhiệm trước cộng đồng. Đó chính là vai trò giáo dục ý thức pháp luật của cưỡng chế hành chính. Có ý thức pháp luật, công dân có điều kiện rèn luyện thói quen xử sự theo đúng pháp luật. Ý thức pháp luật thấp thì thói quen hành xử theo pháp luật không hình thành. Vì vậy, ý thức pháp luật của người dân được nâng cao sẽ là nhân tố kích thích các hành vi hợp pháp trong xã hội.

Cưỡng chế hành chính không chỉ có tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh, tạo điều kiện cho mọi người tránh khỏi vi phạm, mà còn làm cho mọi người nhận thức đúng sự công bằng, nhân đạo và tính tất yếu của biện pháp cưỡng chế, tin tưởng vào công lý, tích cực đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng vi phạm pháp luật. Qua đó, hướng tới việc hoàn thiện con người, hình thành những công dân tự giác, tôn trọng và tuân thủ pháp luật, trật tự xã hội ngày càng được củng cố vững chắc.

Ở đây, cũng cần nhấn mạnh rằng không nên tuyệt đối hóa vai trò của cưỡng chế hành chính nói riêng và cưỡng chế nhà nước nói chung. Pháp luật không chỉ có cưỡng chế để đạt được các mục tiêu nói trên. Và xã hội cũng không phải chỉ có pháp luật để thực hiện những vai trò này. Bên cạnh cưỡng chế còn có thuyết phục và các phương pháp quản lý xã hội khác. Cưỡng chế hành chính chỉ phát huy vai trò của mình trong những điều kiện và hoàn cảnh phù hợp. Nhận thức đúng về vai trò của cưỡng chế hành chính mới có thể vận dụng tốt và hiện thực hóa những vai trò đó.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Quang: “Quản lý xã hội trong các tình huống bất thường quan niệm, đặc điểm, hình thức, phương pháp quản lý tạp chí Nhà nước và pháp luật, 4/2009

2. Lê Vương Long: Trách nhiệm pháp lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008

 


[1] Nguyễn Văn Quang: “ Quản lý xã hội trong các tình huống bất thường quan niệm, đặc điểm, hình thức, phương pháp quản lý tạp chí Nhà nước và pháp luật, 4/2009, tr. 70

[2] Lê Vương Long: Trách nhiệm pháp lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 312

       1. Về bản chất pháp lý của tài sản mã hóa, tiền mã hóa

Đạo luật điều chỉnh các vấn đề chính về tiền mã hóa là Luật Dịch vụ thanh toán (Payment Services Act) của Nhật Bản, có hiệu lực từ ngày 01/4/2017. Theo Luật Dịch vụ thanh toán của Nhật Bản, tiền mã hóa (bản dịch tiếng Anh là virtual currency) là một loại phương tiện thanh toán nhưng không phải là tiền pháp định. Điều 2.5 Luật này chia tiền ảo hay tiền mã hóa thành hai loại: Tiền ảo loại I là giá trị tài sản (property value) được lưu trữ trên thiết bị điện tử hoặc phương tiện khác thông qua các phương thức điện tử, không bao gồm tiền Nhật hay tiền nước ngoài và tài sản định giá bằng tiền..., có thể được sử dụng để thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ hay thuê tài sản từ một người không xác định; và mua hay bán tiền ảo đó với một người không xác định bằng tiền pháp định; và có thể chuyển giao bằng cách sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu điện tử; K - Tiền ảo loại II là giá trị tài sản có thể được sử dụng để trao đổi với tiền ảo loại I nêu trên với người không xác định thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử. Trong hai loại hình giao dịch tiền mã hóa hiện nay đều thông qua sàn giao dịch, và giữa các ví cá nhân với nhau.

Nhật Bản chỉ quản lý giao dịch thông qua sàn và không quản lý đối với giao dịch giữa các ví cá nhân. Lý do là trong thực tế, việc chứng minh một cá nhân là chủ sở hữu của ví tiền mã hóa nào đó là rất khó khăn, phức tạp. Những hoạt động kinh doanh có dịch vụ trao đổi tiền mã hóa một cách thường xuyên sẽ phải đăng ký tại Cục Tài chính địa phương (Local Finance Bureau), cơ quan được Thủ tướng Chính phủ trao quyền quản lý vấn đề này[1].

Đối với tài sản mã hóa không phải là tiền mã hóa (tiền ảo), nếu tài sản mã hóa có các đặc tính của một khoản đầu tư như phân tích dưới đây, tài sản mã hóa đó có thể được coi là chứng khoán và phải tuân thủ pháp luật về chứng khoán (Luật Công cụ tài chính và sàn giao dịch)[2].

2. Về quản lý hoạt động ICO

Đối với hoạt động ICO, những đạo luật chính điều chỉnh vấn đề này tại Nhật Bản bao gồm: (1) Luật Dịch vụ thanh toán: Nếu xu (token) được phát hành của một dự án ICO thỏa mãn những điều kiện tại Điều 2.5 Luật Dịch vụ thanh toán về định nghĩa tiền mã hóa thì sẽ được coi là tiền mã hóa; trong trường hợp này chỉ những nhà cung cấp dịch vụ giao dịch tiền mã hóa (các sàn giao dịch hoặc công ty trung gian) được Chính phủ thừa nhận mới được tiến hành các dự án ICO này[3].. Bên cạnh đó, căn cứ vào quy định tại Điều 3.1 Luật Dịch vụ thanh toán, có thể xếp các loại “xu” tiện ích (không thỏa mãn khái niệm tiền mã hóa tại Điều 2.5) được phát hành từ hoạt động chào bán tiền mã hóa vào danh sách các công cụ thanh toán trả trước (prepaid payment instruments). Theo đó, công cụ thanh toán trả trước là các loại chứng chỉ (dưới dạng văn bản, thẻ, thiết bị điện tử...) lưu trữ một giá trị nhất định (một lượng xác định của hàng hóa hay dịch vụ được cung cấp). Chứng chỉ này được sử dụng để quy đổi giá trị tương ứng hoặc được bù trừ khi sử dụng hàng hóa hay dịch vụ đó.

(ii) Luật Công cụ tài chính và sàn giao dịch

Các quy định về quản lý quỹ đầu tư của Luật này sẽ áp dụng đối với hoạt động ICO thỏa mãn ba điều kiện của một dự án/quỹ đầu tư tập thể, bao gồm:

- Dự án có mục đích thu nhận tiền từ các chủ thể khác, số tiền thu được dùng để đầu tư vào một hoạt động kinh doanh cụ thể;

- Dự án sẽ trả cổ tức cho các cổ đông theo mức đóng góp. Một ví dụ điển hình của hoạt động ICO thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Công cụ tài chính và sàn giao dịch là việc nhà phát hành chào bán tiền mã hóa và quy ước chỉ nhận về tiên pháp định (trường hợp hoạt động ICO tiền mã hóa để thu về một đồng tiền mã hóa khác như Bitcoin hay Ethereum, Luật Dịch vụ thanh toán sẽ được ưu tiên áp dụng thay vì Luật Công cụ tài chính và sàn giao dịch, vì theo pháp luật Nhật Bản, các loại tiền mã hóa nói trên không phải là “tiền”).

- Nếu một dự án ICO không do hai đạo luật nói trên điều chỉnh thì các quy định của Luật Giao dịch thương mại riêng biệt được áp dụng chung cho các hoạt động mua bán token qua mạng internet[4].

(iv) Các đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng

Hiện nay, tại Nhật Bản, có hai đạo luật chính trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, bao gồm: Luật Người tiêu dùng (Basic Consumer Act) và Luật Hợp đồng tiêu dùng (Consumer Contract Act). Căn cứ vào các quy định này, các nhà đầu tư có quyền yêu cầu được giải thích thỏa đáng từ chủ dự án ICO, dù dự án đó thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Luật Dịch vụ thanh toán, Luật Công cụ tài chính và sàn giao dịch hay Luật Giao dịch thương mại riêng biệt.

3. Về quản lý sàn giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa

Tại Nhật Bản, các sàn giao dịch tiền mã hóa và các công ty trung gian, môi giới cho hoạt động mua bán, trao đổi tiền mã hóa có thể coi là những ví dụ tiêu biểu cho các “Nhà cung cấp dịch vụ giao dịch tiền mã hóa” theo quy định của Luật Dịch vụ thanh toán. Chính phủ khuyến khích người dân giao dịch qua các sàn giao dịch, bởi các sàn này, để có thể hoạt động, đều phải gửi hồ sơ đăng ký trực tiếp đến Thủ tướng Chính phủ (ủy quyền cho Cục Tài chính địa phương), và chỉ khi được Thủ tướng Chính phủ (Cục Tài chính địa phương) chấp thuận, các sàn giao dịch tiền mã hóa mới được hoạt động trong phạm vi Nhật Bản. Tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn trở thành một nhà cung cấp dịch vụ giao dịch tiền mã hóa tại Nhật Bản cũng phải được cấp phép như chủ thể trong nước.

Một cá nhân, tổ chức muốn được cấp phép phải nộp đơn đăng ký bao gồm tên của đồng tiền mã hóa được mua bán, nội dung và phương tiện của dịch vụ giao dịch tiền mã hóa, và các nội dung chi tiết khác. Hồ sơ đăng ký bao gồm đơn đăng ký nộp kèm theo các tài liệu, bao gồm tài liệu chứng minh rằng không có cơ sở nào cho việc từ chối đăng ký, tài liệu tài chính và tài liệu giải thích việc thiết lập một hệ thống đảm bảo thực thi và cung cấp phù hợp, an toàn cho dịch vụ giao dịch tiền mã hóa (Điều 63.3 Luật Dịch vụ thanh toán). Trường hợp nhà cung cấp dịch vụ giao dịch tiền mã hóa muốn thay đổi bất kỳ nội dung nào đã đăng ký, chẳng hạn, một sàn giao dịch muốn giao dịch một đồng tiền mã hóa mới ngoài những đồng tiền đã được đăng ký trước đó, nhà cung cấp đó cần báo cáo và được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (Điều 63.6 Luật Dịch vụ thanh toán).

4. Về quản lý thuế

Từ ngày 01/7/2017, các giao dịch dùng tiền mặt mua tài sản mã hóa/tiền mã hóa tại Nhật Bản đã không còn bị đánh thuế tiêu dùng (tương tự thuế giá trị gia tăng). Việc miễn trừ này được quy định trong Lệnh của Nội các về sửa đổi Lệnh Thi hành Luật Thuế tiêu dùng. Tuy nhiên, thu nhập từ các giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa của nhà đầu tư vẫn phải chịu thuế thu nhập[5].

Tài liệu tham khảo

1. Luật Dịch vụ thanh toán Nhật Bản

2. FSA: "Initial Coin Offerings (ICO) - User and Business Operator Warning about the Risks of ICOS", 27/10/2017 https://www.fsa.go.jp/policy/virtual currency / 07.pdf.

3. http://www.so-law.jp/wp-content/uploads/2017/07/ICO-under Japanese - laws_170803.pdf

4. The Law Library of Congress: "Regulation of Cryptocurrency in Selected Jurisdictions", 6/2018, https://www.loc.gov/ law / help / cryptocurrency / regulation - of - cryptocurrency.pdf

 


[1] Điều 104 Luật Dịch vụ thanh toán

[2] FSA: " Initial Coin Offerings ( ICO ) - User and Business Operator Warning about the Risks of ICOS ", 27/10/2017 https://www.fsa.go.jp/policy/virtual currency / 07.pdf.

[3] http://www.so-law.jp/wp-content/uploads/2017/07/ICO-under Japanese - laws_170803.pdf

[4] Chẳng hạn, các hình thức kêu gọi, kinh doanh đa cấp như vụ việc “ Bitconnect" cũng được xác định thuộc phạm vi điều chỉnh của Đạo luật này

[5] The Law Library of Congress: " Regulation of Cryptocurrency in Selected Jurisdictions", 6/2018, tr. 57-58, https://www.loc.gov/ law / help / cryptocurrency / regulation - of - cryptocurrency.pdf

Về quyền lực nhà nước, các học thuyết về vấn đề này được hình thành và phát triển từ nhiều nhà nghiên cứu về khoa học chính trị khác nhau. Về tự do tự nhiên của con người không bị ràng buộc bởi các quyền lực siêu nhiên chính quyền kể cả các quyền lực lập pháp John Locke cho rằng vai trò của chính quyền là bảo vệ tài sản của người dân và chính quyền phải bị thay thế khi không thực hiện được sự ủy nhiệm này. Nói cách khác, quyền lực của chính quyền có nguồn gốc từ sự ủy thác của người dân, được trao để nhằm mục đích bảo vệ cuộc sống và tài sản của nhân dân, và chịu sự giới hạn bởi mục đích này. Quan niệm mà ông đưa ra về tự do dựa trên cơ sở con người có các tự do tư tưởng và phải được bảo đảm bằng sự tham gia trong các quá trình ra quyết định và thực hành quyền lực chính trị[1]. Ngược lại, Rousseau tranh luận về mối quan hệ giữa tự do và quyền lực và đã đưa ra quan điểm về “khế ước xã hội theo đó tự do được bảo đảm bởi pháp luật[2], Rousseau cũng mở rộng sự thực hành tự do thông qua dân chủ. Ông cho rằng, con người được tự do xây dựng pháp luật và lựa chọn quyền lực quá trình đó. Lý thuyết của Locke và Rousseau đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cá nhân và chính quyền mà ngày nay được chấp nhận như các nguyên tắc ở các nền dân chủ hiện đại. Montesquie, với học thuyết phân quyền[3], cho rằng, quyền lực phải bị ngăn chặn bởi quyền lực. Quyền lực nhà nước cần được phân chia để chúng kiểm soát lẫn nhau và tránh việc tập trung quyền lực mà có thể dẫn đến sự độc tài. Mỗi chính thể đều có ba thứ quyền lực, là “quyền lập pháp” - thể hiện ý chí chung của quốc gia (làm luật); “quyền hành pháp” - thực hiện ý chí chung đó (thi hành luật); và “quyền tư pháp” - trừng trị tội phạm và phân xử tranh chấp (áp dụng luật). Chính quyền, hay cơ quan hành chính, là một cơ cấu trung gian, được tạo ra để thi hành “ý chí chung” (quyền lập pháp), “nằm giữa người dân và chủ quyền tối cao, để bảo đảm sự liên lạc hai chiều, có nhiệm vụ thi hành luật pháp và giữ gìn tự do, bao gồm cả tự do dân sự và chính trị”[4]. Tự do của công dân chỉ được bảo đảm khi ba bộ phận quyền lực được phân lập, bình đẳng, và kiểm soát lẫn nhau (quyền lực ngăn chặn quyền lực).

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 


[1] Xem John Locke: Two Treatises of Government. Book II. of Civil Government. Locke, 1821, phần I, chương 4

[2] Jean J. Rousseau (1997: 215-217): Discourse on the Origin of Inequality, Phần II

[3] . Charles S. Montesquieu (1689-1755): “De l'esprit des lois”. Ở Việt Nam, bản trích dịch phổ biến nhất hiện nay là: Bàn về tinh thần pháp luật”, do Hoàng Thanh Đạm dịch (Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006).

[4] Jean J. Rousseau: The Social Contract and Discources by Jean Jacques Rousseau, translated with Introduction by G.D.H. Cole, J.M. Dent & Sons Ltd, London; E.P.Dutton & C. Inc., New York, 1940, Chương I,III. tr.50.

Việc nghe và xem xét báo cáo công tác giúp Quốc hội nắm được tình hình hoạt động của Chính chủ, qua đó, tiếp nhận thông tin một cách đầy đủ, kịp thời về tình hình thi hành Hiến pháp và pháp luật trong thực tiễn; đồng thời, tăng cường trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội và Nhân dân. Trong quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, hoạt động xem xét báo cáo của Quốc hội dựa trên cơ sở hoạt động thẩm tra báo cáo của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Thông qua thẩm tra, các báo cáo công tác của Chính phủ được đánh giá trung thực và khách quan, tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của Quốc hội được thuận tiện, chính xác. Tuy nhiên, hoạt động thẩm tra báo cáo cũng còn những hạn chế, như ít phát hiện được những điểm bất cập, mâu thuẫn trong báo cáo, chủ yếu vẫn là đồng tình với các bản báo cáo. Các báo cáo thẩm tra với tính chất phản biện mang tính xây dựng, hợp tác rất ít.

             Bên cạnh đó, một số thành viên các Ủy ban của Quốc hội thường ít đưa ra ý kiến đóng góp. Các nội dung liên quan đến chương trình giám sát, cách thức tổ chức việc giám sát, việc bảo đảm tính khách quan, chính xác trong giám sát, xử lý kết luận giám sát cũng còn những hạn chế, hơn nữa, trình độ, năng lực của đại biểu Quốc hội cũng còn những bất cập, chưa đáp ứng với yêu cầu của người đại biểu nhân dân trong điều kiện hiện nay. 

          Trên đây là trích dẫn tài liệu, đê xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Có thể định nghĩa quyền lực nhà nước (state power) là khả năng của Nhà nước buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng chính sách, pháp luật do Nhà nước đề ra. Trong xã hội sẽ tồn tại nhiều dạng quyền lực, do nhiều dạng chủ thể khác nhau nắm giữ, tác động đến những đối tượng khác nhau và các quan hệ xã hội khác nhau.

Có thể khẳng định trong các xã hội, quyền lực nhà nước là dạng quyền lực được bảo đảm thực thi tốt hơn cả. Mặc dù vậy, cần thấy rằng cưỡng chế không phải là cách thức duy nhất để thực thi quyền lực nhà nước. Ngoài cưỡng chế, quyền lực nhà nước còn phải được thực hiện qua vận động, thuyết phục. Trong các nhà nước dân chủ hiện đại, phương pháp vận động, thuyết phục trong việc thực thi quyền lực nhà nước rất được coi trọng, trong khi phương pháp cưỡng chế chỉ được thực hiện trong những bối cảnh và trong phạm vi pháp luật cho phép để phòng ngừa những hành vi lạm quyền, chuyên chế của bộ máy nhà nước. Để thực hiện quyền lực nhà nước có hiệu quả, bộ máy nhà nước cần được tổ chức một cách hợp lý, khoa học. Theo thời gian, nhân loại đã liên tục cải tiến tổ chức bộ máy nhà nước và cho đến hiện nay đã xác định một mô hình mang tính phổ biến đó là phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Với tính cách là những phương thức thực thi quyền lực nhà nước, các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là kết quả của sự phân công nội bộ ở từng công đoạn của quy trình lao động quyền lực nhà nước. Quyền lập pháp quyền làm ra các đạo luật) là quyền “...thể hiện ý chí chung của quốc gia, phải được giao cho một cơ quan đại diện bao gồm những người do dân chúng bầu ra”[1] (quốc hội hay nghị viện). Nếu như quyền lập pháp là quyền thể hiện ý chí chung của quốc gia, thì quyền hành pháp là quyền “...thực hiện ý chí chung ấy”[2], tức là quyền áp dụng (thi hành, thực hiện) luật do cơ quan lập pháp ban hành. Quyền tư pháp là quyền xử lý những vi phạm để bảo vệ pháp luật. Ba nhánh quyền này có trách nhiệm phối hợp với nhau để thực hiện quyền lực và mục tiêu chung của nhà nước là quản lý xã hội, nhưng đồng thời có tính độc lập và có khả năng kiềm chế, giám sát nhau.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tẹp đính kèm.


[1] Montesquieu: Tinh thần pháp luật, 1748(Hoàng Thanh Đạm dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996)

[2] Montesquieu: Tinh thần pháp luật, 1748(Hoàng Thanh Đạm dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996)

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành