Quy định pháp lý của hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta được xác định tương đối sớm, có sự điều chỉnh, kế thừa và bổ sung, tạo nên một hệ các yếu tố cấu thành cho mô hình giải thích pháp luật của Việt Nam. Dưới đây là những thành tựu về xây dựng cơ sở pháp lý theo từng phương diện:

- Về đối tượng của giải thích pháp luật: bước đầu có sự phân biệt giữa giải thích Hiến pháp và giải thích luật, pháp lệnh. Từ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã quy định việc soạn thảo, công bố, sửa đổi và giải thích Hiến pháp được thực hiện theo một quy trình riêng. Sự phân biệt này đã phản ánh nhận thức vể vị trí đặc biệt của giải thích Hiến pháp, đồng thời, đặt tiền đề pháp lý để các quy định cụ thể, riêng biệt về giải thích Hiến pháp ra đời. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã dành hẳn một chương để quy định về giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh trong đó quy định cụ thể về các trường hợp và nguyên tắc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

- Về chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật: gần đây đã có các cơ quan giúp việc cho ủy ban thường vụ Quốc hội là Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quổc hội. Điều này cho thấy công việc giải thích pháp luật sẽ dần được đi theo hướng chuyên môn hóa.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền giải thích pháp luật. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc kiến nghị của đại biểu Quốc hội quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

Về cơ sở pháp lý, Chính phủ, các Bộ (Bộ trưởng), và các cơ quan khác là những chủ thể không được pháp luật trực tiếp quy định có quyền giải thích pháp luật. Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pliáp luật năm 2015, Chính phủ được quyền ban hành Nghị định để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Đối với những vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Quan hệ lao động là những tương tác giữa người sử dụng lao động và người lao động và các tổ chức của họ - chịu tác động can thiệp của chính phủ - tại nơi làm việc, hoặc phát sinh ngoài bối cảnh công việc. Các quan hệ lao động thường bị chi phối bởi sự phát triển của kinh tế thị trường, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động và các tổ chức của họ là không thể tránh khỏi, dẫn đến những bất đồng và tranh chấp cần phải giải quyết. Có thể phòng ngừa và giải quyết tranh chấp bằng các hành động dựa trên sự đồng thuận của chính người sử dụng lao động và người lao động hoặc thay bằng các hành động của các bên thứ ba thông qua các quy trình hòa giải và thương lượng. Chính vì vậy, việc xác lập các quy định cụ thể, rõ ràng và nâng cao tính trách nhiệm đối với chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cũng như quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động trong Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung là rất quan trọng đòi hỏi các đại biểu cần phân tích đầy đủ các yếu tố liên quan đến giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp người lao động bị sa thải.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Về bản chất, kiểm toán nội bộ cung cấp sự bảo đảm khách quan về việc thiết kế, xây dựng, vận hành giúp các nhà quản trị kiểm soát được tất cả các bước công việc, các quy trình kiểm soát và quản trị của cơ quan, đơn vị mình phụ trách.

Kiểm toán nội bộ tại Việt Nam ra đời trên cơ sở Quyết định số 832/1997/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Bộ Tài chính và thông tư số 171/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 hướng dẫn thực hiện kiểm toán nội bộ (KTNB) tại các doanh nghiệp Nhà nước. Theo đó, kiểm toán nội bộ mới chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước về việc kiểm toán, đánh giá, đánh giá, quản lý và giám sát cho tất cả các cơ quan và tổ chức công để đảm bảo hiệu quả hoạt động, quản trị của đơn vị.

Mục tiêu của kiểm toán nội bộ là giúp các nhà quản trị tổ chức, vận hành tốt, nhận diện những rủi ro ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành mục tiêu của đơn vị, xác định mức rủi ro để từ đó chủ động đề xuất các biện pháp đối phó, giảm thiểu rủi ro.

Thực tế tại Việt Nam, hoạt động kiểm toán nội bộ chỉ được thực hiện với quy mô nhỏ ở các tổ chức bảo hiểm, tổ chức tín dụng, tổ chức quản lý quỹ theo quy định của pháp luật Việt Nam nhưng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, chưa phát huy được vai trò của kiểm toán nội bộ.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Chính sách tiền lương hiện nay của Việt Nam trong khu vực hành chính nhà nước được quy định bằng hệ thống thang bảng lương, ngạch bậc lương và chế độ phụ cấp theo lương. Chính sách tiền lương hiện nay đang mang nặng tính bình quân, chưa đảm bảo sự công bằng, chưa phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm và phân ngạch người lao động trong khu vực công còn nhiều bất cập, nặng về hình thức bằng cấp và thâm niên, không khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn…vv. Việc nâng bậc, nâng ngạch, thăng hạng lương chủ yếu dựa vào bằng cấp đào tạo và thâm niên công tác, chưa gắn với nhiệm vụ cụ thể của vị trí việc làm và kết quả thực thi nhiệm vụ. Việc quy định mức lương bằng hệ số chỉ là biện pháp tình thế, nhưng đã kéo dài nhiều năm làm triệt tiêu ý nghĩa tiền lương, làm sai lệch ý nghĩa của tiền lương là giá trị được trả cho công sức người hưởng lương.

Nhiều nước áp dụng cách thức xác định bảng lương theo tháng (hoặc theo kỳ khác) phải dựa trên chế độ cho cá nhân để tính ra số gộp, sau đó mới xác định số ròng chi trả cho cá nhân, bên cạnh cách thức quản lý việc chấp hành ngân sách, bao gồm cả môi trường kiểm soát và các biện pháp kiểm soát tuân thủ. Tuy nhiên các vấn đề cơ bản trong việc sử dụng công nghệ thông tin và các hệ thống liên quan để quản lý đạt hiệu suất và hiệu quả với chi phí thấp - như đã ghi nhận, nghiệp vụ lượng bản thân nó không phải là quy trình tạo giá trị gia tăng, Hiện nay, các tổ chức hầu như chuyển sang tăng cường phát triển năng lực và quản lý, các nghiệp vụ lương đều được hỗ trợ bởi các hệ thống phù hợp và đáng tin cậy về thu thập dữ liệu, tính toán bảng lương, quản lý giải ngân, những thay đổi này chủ yếu đi theo các nghị trình cải cách quản lý tài chính công nói chung. Những thay đổi đó có thể đem lại tác động to lớn về nghiệp vụ lương cho dù về tự động hoá hay chuyển đổi quy trình, cải thiện về quản lý nguồn nhân lực hay thay đổi liên quan đến hệ thống thông tin quản lý tài chính (FMIS).

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Ngoài các quy định bắt buộc đối với cơ quan quản trị, điều hành, kiểm soát và kế toán trưởng, doanh nghiệp không bắt buộc phải có cơ cấu tổ chức khác. Doanh nghiệp có thể không thành lập hoặc thành lập bao nhiêu phòng ban, đơn vị trực thuộc cũng được. Đây chính là một ví dụ điển hình của việc, doanh nghiệp được quyn tự do làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Tuy nhiên, trừ trường hợp doanh nghiệp không thuê lao động, còn khi đã thuê lao động thì doanh nghiệp phải “thiết lập cơ chế và thực hiện đối thoại với tập thể lao động tại doanh nghiệp”[1].

Đối thoại tại nơi làm việc thực chất là hoạt động trao đổi trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động về những vấn đề phát sinh trong quá trình lao động, nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động. Hoạt động đối thoại này nhằm bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở[2].

Thực hiện việc đối thoại trực tiếp, doanh nghiệp tổ chức đi thoại với tập thể người lao động tại doanh nghiệp nơi làm việc về các nội dung gồm tình hình sản xuất, kinh doanh, điểu kiện làm việc, thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy, quy chế và cam kết, thỏa thuận khác tại nơi làm việc[3].

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.


[1] Điểm b khoản 2 Điều 6 về “Quyền và nghĩa vụ của ngưi sử dụng lao động”, Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

[2] Khoản 2 Điều 63 vể “Mục đích, hình thức đối thoại tại nơi làm việc”, Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật t tụng dân sự năm 2015).

[3] Điểu 64 về “Nội dung đối thoại tại nơi làm việc”, Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Về mặt nguyên tắc, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị không được hành động nhân danh cá nhân, mà đều phải dựa trên nghị quyết của tập thể Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị, trừ một số văn bản có tính chất thủ tục hành chính, đơn giản để thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ cụ thể của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị như ký giấy giới thiệu, thông báo mời họp Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị.

Vì vậy, tất cả văn bản của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị do Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị ký phải ghi “Thay mặt” Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị.

Ở các doanh nghiệp đều có chức danh Chủ tịch, hoặc là Chủ tịch công ty hoặc là Chủ tịch Hội đồng của công ty. Chủ tịch công ty là chức danh trong Công ty TNHH một thành viên không có Hội đồng thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên là cá nhân thì không bao giờ có Hội đồng thành viên, mà chỉ có Chủ tịch công ty. Công ty TNHH một thành viên là tổ chức thì có thể có hoặc không có Hội đồng thành viên và như vậy thì có thể có Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Mỹ ngày càng cần nhiều những nhà khoa học và kỹ sư để giữ vững vai trò lãnh đạo ở các mặt trận khoa học mũi nhọn và áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn của quốc gia, cải thiện sức khỏe và sự thịnh vượng của công dân và bảo vệ môi trường.

Hiện đã xuất hiện một số lo ngại về việc không có đủ công dân Mỹ theo đuổi hoạt động nghiên cứu ở cấp đại học về khoa học và công nghệ. Thay vì đó, Mỹ có thể phải dựa ngày càng nhiều vào chuyên gia lành nghề về công nghệ cao của nước ngoài sống ở Mỹ theo thị thực cấp tạm thời cho nhân công không nhập cư. Danh sách Sinh viên Mỹ đăng ký trong các chương trình khoa học và công nghệ ở trình độ đại học hiện nay (giữa những năm 2000) thấp hơn 9% so với năm 1993. Cũng trong giai đoạn này, danh sách sinh viên nước ngoài có thị thực tạm thời đăng ký vào trường đại học của Mỹ tăng 3%.

Theo số liệu của Quỹ Khoa học quốc gia (National Science Foundation, NSF), số lượng tiến sĩ khoa học và công nghệ được cấp bằng ở Mỹ bình quân hàng năm là khoảng 20.000 người trong giai đoạn 10 năm từ 1991 đến 2000. Trong số này, công dân Mỹ chiếm 59% và 38% không phải là công dân Mỹ (quốc tịch của 3% còn lại không rõ). Trong số không phải là công dân Mỹ, 21% có thị thực dài hạn ở Mỹ và 78% có thị thực tạm thời (quốc tịch của 1% còn lại không rõ).

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Hoạt động xét xử của Tòa án tại Việt Nam luôn gắn với việc giải thích pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn, mặc dù tòa án không phải là chủ thể chính được trao quyền giải thích pháp luật. Hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án được thực hiện khi Tòa án ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật mà trong đó các văn bản có chứa đựng nội dung giải thích pháp luật gần với giải thích pháp luật mang tính quy phạm cũng như giải thích pháp luật mang tính vụ việc.

Việt Nam không theo mô hình tòa án giải thích pháp luật, nhưng trên thực tế tòa án đã giải thích pháp luật qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền. Thẩm quyền giải thích pháp luật của Tòa án được thể hiện khá rõ nét qua các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao với các chủ thể khác theo thẩm quyền. Mặc dù theo quy định của pháp luật thì, Tòa án nhân dân tối cao không trực tiếp được giao quyền giải thích pháp luật, tuy nhiên, nếu theo dõi nội dung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền mà Tòa án nhân dân tối cao ban hành, thì trong các văn bản đó có nhiều nội dung nhằm diễn giải, "làm cho hiểu rõ pháp luật". Nếu thừa nhận các "yếu tố” đó là giải thích pháp luật theo nghĩa rộng nhất của hoạt động này, thì có thể thấy, các nội dung giải thích pháp luật trong những văn bản trên của Tòa án nhân dân tối cao là những nội dung hướng dẫn, quy định chi tiết, tuy không phải là giải thích pháp luật chính thức (vì không có thẩm quyền) nhưng lại rất gần với giải thích pháp luật chính thức, cụ thể là giải thích pháp luật mang tính quy phạm, bởi Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao chính là các văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực bắt buộc chung, có giá trị pháp lý ràng buộc đối vối các chủ thể pháp luật khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI trong bối cảnh cách mạng khoa học - kỹ thuật tiếp tục phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển của kinh tế tri thức; toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới. Tình hình đó đã đem lại cho các nước nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng xuất hiện những nguy cơ và thách thức không nhỏ. Để tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, các Chính phủ đều hoạch định và thực hiện những chính sách phát triển giáo dục và đào tạo phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển cá nhân.

Các Chính phủ đã chú trọng đầu tư cho giáo dục ổn định ở mức cao, từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn đóng góp của người dân. Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội gần đạt hoặc vượt mức 4%, mức bình quân thế giới[1].

Hiện nay, ngân sách của Chính phủ Hoa Kỳ về giáo dục là khoảng 4,8% GNP. Năm 1990, Hoa Kỳ chi cho một học sinh là 4.622 USD/học sinh. Năm 1999 - 2000, Hoa Kỳ đầu tư cho giáo dục là 351 tỷ USD. Trong những năm gần đây, Hoa Kỳ đã chi trên 100 tỷ USD cho các chương trình đặc biệt nhằm thu hẹp khoảng cách về thành tích học tập của trẻ em nhà nghèo và trẻ em thuộc các gia đình tầng lớp trung lưu, nhưng kết quả thu được không như mong muốn.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Xem thêm bảng 1 và bảng 2 phần Phụ lục

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành