Lý thuyết kinh tế cung cấp một số chỉ dẫn cho phép hình dung về một hệ thống thuế lý tưởng, nhưng phân tích lý thuyết tập trung vào chi phí hiệu quả phân bổ thuế dựa vào những biến dạng thị trường mà chúng tạo ra sẽ tạo Cơ sở cho ý tưởng cấu trúc thuế “tối ưu”, theo đó có thể tối thiểu hóa chi phí hiệu quả phân bổ (hay tổn thất vô ích). Trên thực tế, chính sách thuế cũng phải chú ý đến chi phí quản lý và chi phí tuân thủ của hệ thống thuế. Những chi phí hiệu quả kỹ thuật này có thể đóng vai trò đáng kể khi thiết kế hệ thống thuế, đặc biệt là thuế đánh vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực phi chính thức tại các nước đang phát triển. Cấu trúc thuế tổng thể cần phải được thiết kế để tối thiểu hóa cả chi phí hiệu quả phân bổ và chi phí hiệu quả kỹ thuật khi tăng thu thuế.

Quan điểm vượt trội về cải cách thuế là hướng tới mục tiêu tạo lập hệ thống thuế có đặc điểm cơ sở tính thuế rộng và thuế suất thấp, và nhìn chung đây là điều đáng mong muốn. Tuy nhiên, nhiều quốc gia, bao gồm hầu hết các nước đang phát triển, phải rất lâu mới có thể đạt được mục tiêu này, và thách thức đối với họ là xây dựng kế hoạch cải cách thuế nhằm nâng cao tính công bằng, hiệu quả, và năng suất thu thuế theo cách phù hợp nhất với đặc điểm và hạn chế của nước mình. Với nhiều quốc gia có nhu cầu chi tiêu lớn, nguồn thu ngoài thuế hạn chế, nguồn viện trợ còn khiêm tốn và không chắc chắn, và các lựa chọn vay nợ hạn chế, thì thu thuế là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Họ thường tìm thấy ít lựa chọn nào khác ngoài phải làm việc với các cơ sở tính thuế hẹp hơn và áp thuế cao hơn mức lý tưởng, nhưng có một số việc họ có thể làm để đảm bảo rằng chi phí của việc tăng số thu là không quá cao.

Một lĩnh vực có sự khác biệt đáng kể giữa lý thuyết thuế và thông lệ thuế là định nghĩa và phạm vi bao phủ hiệu dụng của các cơ sở tính thuế. Các cơ sở tính thuế hiệu dụng thường thấp hơn so với trên lý thuyết. Một nguyên nhân khác biệt bắt nguồn từ tình trạng thường thấy đối với nhiều cơ sở tính thuế bị giảm bởi nhiều khoản trợ cấp hay miễn trừ được thiết kế nhằm phục vụ cho một hoạt động hay một nhóm cụ thể nào đó, thường với tác động không thể biện minh cho chi phí thất thu (hay chi phí thuê ẩn). Ưu đãi đầu tư và đặc biệt là các đợt ưu đãi thuế là trường hợp điển hình. Các vấn đề phát sinh từ chi phí thuế sẽ được giải quyết sau ở chương này. Một nguyên nhân khác khiến cơ sở tính thuế bị thu hẹp lại, đặc biệt đối với các loại thuế tự tính có cơ sở tính rộng, đó là cần phải loại bỏ những phần cơ sở có thể gây ra chi phí quản lý và tuân thủ cao hoặc quá khó để tổ chức thu do các vấn đề về định nghĩa hoặc đo lường cơ sở tính thuế, ví dụ như trường hợp một phần lớn khu vực tài chính cùng chịu một loại thuế VAT.

Đặc biệt tại các nước đang phát triển, đa phần lực lượng lao động không được thuế trong các khu vực chính thức hiện đại, mà thay vào đó là lao động tự thuê hoặc lao động thời vụ tại các khu vực đô thị và nông thôn phi chính thức, nơi họ gần như chỉ có thể kiếm được mức tiền lương vừa đủ sống. Vì cả lí do hiệu quả kỹ thuật và công bằng, thuế thu nhập được thiết kế đặc biệt nhằm mục đích miễn trừ thu nhập đến một mức tối thiểu nào đó, và VAT hay GST đặt ra một giới hạn doanh số đăng ký mà có thể loại trừ hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hệ quả là công tác thu thuế thường kém xa so với tiềm năng. Ví dụ, hiệu suất C của thuế VAT - đó là số thu thuế VAT thực tế so với số thu đáng lẽ thu được nếu thuế VAT được áp ở mức tiêu chuẩn hiện hành trên tổng tiêu thụ - rơi vào khoảng 38% đến 56%, phụ thuộc vào thu nhập quốc gia, và con số này thường thấp hơn tại các nước thu nhập thấp.

sở tính thuế VAT hiệu dụng tại các nước thu nhập cao thường cao hơn 56%. Hiệu suất C đo lường cơ sở tính thuế VAT liên quan đến tiêu dùng bằng cách phân chia doanh thu VAT cho mức thuế suất chuẩn. Các nước thu nhập cao thường có nhiều hơn một loại thuế suất với một phần lớn hàng hóa tiêu thụ “cần thiết bị đánh thuế thấp hơn, do vậy phần đóng góp hiệu dụng của tiêu dùng đối với thuế suất tích cực thực tế sẽ cao hơn. Điều này khiến cho thuế suất hiệu dụng đánh vào hàng hóa bị áp thuế sẽ thấp hơn mức tiêu chuẩn, và do vậy hiệu suất C thực tế sẽ cao hơn. Điều này đặt ra hai câu hỏi về thiết kế sắc thuế liên quan đến nhau: một về phương pháp đánh thuế tiềm năng đối với cách doanh nghiệp nhỏ và vừa, và một về việc đảm bảo rằng cấu trúc thuế và thực tế quản lý không ngăn cản các công ty tuân thủ nộp thuế khi họ phát triển đủ lớn mạnh.

Việc áp thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang được thực hiện bằng các cách tiếp cận trực tiếp và gián tiếp. Thuế có thể được thu một cách gián tiếp, thông qua đánh thuế nhập khẩu hoặc thuế VAT lên đầu vào của các công ty được miễn trừ này, thuế xuất khẩu, thuế khoán hay thuế tạm thu đối với doanh số bán hàng cho khách hàng chính thức được chỉ định. Phương pháp thuế trực thu thường liên quan đến việc áp các loại phí định ngạch theo kỳ (ví dụ như phí giấy phép kinh doanh hàng năm - thuế môn bài) kết hợp với một số loại thuế doanh thu hoặc thuế tổng thu nhập với thuế suất thấp. Quan trọng là những loại thuế khoán này cần phải đủ thấp để thuế suất hiệu dụng của chúng nhìn chung thấp hơn thuế suất thông thường. Có thể phân loại các chi phí cố định nhằm phản ánh các chỉ số đơn giản về kích thước, hoạt động và vị trí trên thị trường của một doanh nghiệp. Trong trường hợp thuế doanh thu, loại thường được áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (nhưng không phải siêu nhỏ) với doanh thu đăng ký dưới giới hạn áp dụng VAT hay GST, có thể bao gồm một số phân loại nhỏ trong thuế suất, ví dụ như thuế suất thấp hơn cho thương nhân. Đặc biệt, để ngăn ngừa thuế khoán không trở nên quá cao về mặt hiệu dụng, các doanh nghiệp cần được trao quyền chọn lựa trả thuế thông thường, nếu như đối với họ thuế kết hợp và chi phí tuân thủ thấp hơn so với thuế khoán, Thuế khoán trực thu yêu cầu quản lý thuế năng động hơn để xác định đối tượng nộp thuế hơn là thuế thu nhập trên cơ sở kế toán và thuế tiêu thụ. Một cách tiếp cận trên cơ sở khách hàng đối với quản lý thuế cũng có thể được sử dụng để giữ chi phí quản lý ở mức thấp. Điều này có thể liên quan đến việc giao phó quản lý đăng ký doanh nghiệp nhỏ và vừa, và tổ chức thu thuế khoán cho chính quyền địa phương như một phần công tác quản lý sử dụng đất địa phương và các thực thể kinh doanh của họ. Số thu thuế khoán từ các đơn vị kinh doanh có thể chiếm một phần đáng kể trong nguồn thu của chính quyền địa phương.[1]

Trong khi thuế đánh vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu (thường phần lớn thuế được thu là từ thiểu số các doanh nghiệp lớn và người nộp thuế thu nhập cao), nó yêu cầu những đơn vị kinh doanh này thực hiện khoản đóng góp cơ bản để cung cấp dịch vụ công và khuyến khích sự tham gia tích cực hơn của xã hội vào quy trình chính trị. Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng trong tuân thủ và tăng thu thuế trong dài hạn là cần phải cho phép các nước đang phát triển theo thời gian tăng quy mô tối thiểu mà tại đó thu nhập của doanh nghiệp trở thành đối tượng của thu nhập thông thường và VAT hay GST. Giả sử rằng việc đảm bảo tuân thủ thuế tự tính thông thường đặt một gánh nặng to lớn lên hệ thống văn thư và kế toán của một doanh nghiệp, khi đó sẽ có một rào cản gia nhập đáng kể đối với các doanh nghiệp bắt đầu phải trả các loại thuế thông thường, chưa kể các loại gánh nặng thuế liên quan khác. Có thể đưa ra ước tính mức doanh thu mà tại đó chi phí kinh tế của việc tuân thủ và quản lý thấp hơn giá trị kinh tế của khoản doanh thu có được bằng việc đăng ký nộp thuế VAT. Mức doanh thu tối thiểu để đăng ký chịu thuế VAT nên trên mức này để đạt được hiệu quả kinh tế[2]. Quy mô doanh nghiệp tối thiểu để tuân thủ đóng thuế thông thường càng lớn thì chi phí tuân thủ gia nhập tương đối càng thấp. Điều này giúp tránh khỏi một vấn đề thường gặp, đó là doanh nghiệp vẫn phát triển nhưng trốn đăng ký nộp thuế thông thường, gây ra một nền văn hóa tuân thủ thuế kém và về lâu dài gây thất thu lớn cho ngân sách. Hệ thống thuế khoán cần khuyến khích việc đăng ký và trợ giúp người nộp thuế tuân thủ nghĩa vụ và cũng cho phép quá trình chuyển giao suôn sẻ sang tuân thủ hệ thống thuế thông thường, tạo ra tăng trưởng trong doanh thu và phát triển lĩnh vực kinh doanh.

Tại các nước phát triển, các doanh nghiệp chưa có tư cách pháp nhân đối mặt với một thách thức có phần khác biệt. Trong khi tại các nước đang phát triển, sự tuân thủ thuế hạn chế của khu vực phi chính thức khiến họ phải đối mặt với thách thức thu thuế cơ bản, thì tại các nước phát triển thách thức phát sinh từ các hoạt động kinh doanh ngầm, đặc biệt ở những nơi hệ thống thuế tạo ra các rào cản tuân thủ, khu vực chính thức. Về vấn đề này, đóng góp an sinh xã hội sẽ áp dụng cho tất cả các loại thu nhập được tạo ra, thường đến một giới hạn nào đó, sẽ gây nản lòng trong việc tạo ra việc làm lương thấp và cho những người làm việc tự do đăng ký thu nhập. Các thỏa thuận lao động thời vụ hay tạm thời được trả bằng tiền mặt sẽ được khuyến khích gây phương hại đến cơ sở tính thuế. Trong trường hợp này, hệ thống thuế lũy tiến nhiều hơn, bao gồm đóng góp an sinh xã hội, sẽ không chỉ công bằng mà còn có thể hiệu quả hơn.

Trong khi tích hợp thuế thu nhập kinh doanh dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đã dẫn đến tình trạng nhiều quốc gia duy trì thuế suất thu nhập doanh nghiệp tại mức hoặc gần mức thuế suất thu nhập cá nhân cao nhất, đánh thuế kép sẽ xuất hiện do thu nhập lao động chịu thuế lũy tiến trong khi thu nhập từ vốn chịu thuế đồng bộ và thường với thuế suất thấp hơn. Tích hợp thuế đòi hỏi điều chỉnh thuế trên thu nhập từ các doanh nghiệp để tổng thuế tại các cấp doanh nghiệp và cá nhân sẽ bằng với thuế mà có thể được chi trả nếu thu nhập được tạo ra bởi cá nhân. Tích hợp thuế đặc biệt liên quan đến sự đối xử của các công ty tự quản hay doanh nghiệp giới hạn thành viên, nơi mà cấu trúc thuế có thể thiên vị các quyết định về cấu trúc và nguồn tài chính của một doanh nghiệp, cũng như cách chủ doanh nghiệp được thưởng cho nỗ lực lao động và đầu tư cổ phần của họ. Các kỹ thuật điều chỉnh khác nhau được sử dụng cả ở cấp doanh nghiệp và cấp cá nhân. Điều này được quyết định phần lớn dựa vào năng lực quản lý thuế và văn hóa tuân thủ thuế của một quốc gia.

Điều này đã dẫn đến áp dụng một số giải pháp với nỗ lực cải thiện tình trạng kết hợp giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Một giải pháp cho thuế kép đó là đánh thuế thu nhập doanh nghiệp cùng lãi suất và lợi tức thụ động ở mức thấp trong khi vẫn để thu nhập kinh doanh phi doanh nghiệp chịu bảng kê thuế thu nhập cá nhân lũy tiến giống thu nhập lao động. Cách tiếp cận này đối xử công bằng với các nhà đầu tư doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong khi vẫn khuyến khích những nhà đầu tư không có tư cách pháp nhân chuyển thể thành doanh nghiệp khi công việc kinh doanh của họ tăng trưởng đủ lớn khiến cho thuế suất thu nhập cá nhân bình quân vượt quá thuế suất thu nhập doanh nghiệp. Một cách khác đó là áp thuế suất thu nhập doanh nghiệp dưới mức thuế suất thu nhập cá nhân cao nhất nhưng sau đó lại áp thuế tạm thu cuối cùng vào khâu phân phối của doanh nghiệp nhằm tăng tổng thuế suất trên phân phối vốn gần mức thu nhập cá nhân mức phải chi trả mà vẫn có thể loại bỏ cổ tức khói thuế thu nhập cá nhân. Tại một số quốc gia, thuế tạm thu trên phân phối vốn có thể được giảm theo các thỏa thuận và hiệp định thuế quốc tế để duy trì ưu đãi dành cho nhà đầu tư nước ngoài.

Trong trường hợp một nước thu hút đầu tư giảm thuế hiệu dụng đối với đầu tư, gánh nặng thuế cuối cùng mà một nhà đầu tư nước ngoài phải trả cũng phụ thuộc vào cách đánh thuế thu nhập ở nước chủ đầu tư và thường vào thời điểm thu hồi lợi nhuận. Điều này bị ảnh hưởng bởi vấn đề liệu nước chủ đầu tư có coi các thu nhập có nguồn gốc nước ngoài là đối tượng của tín dụng thuế nước ngoài hay sẽ miễn trừ thu nhập loại này. Trong một số trường hợp, thuế suất hiệu dụng thấp hơn của nước thu hút đầu tư có thể bị vô hiệu bởi các loại thuế của nước chủ đầu tư, và doanh thu thuế được chuyển sang nước chủ đầu tư. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh thuế quốc tế đang tạo ra hệ quả ngày càng nhiều quốc gia thay đổi cấu trúc thuế khu vực doanh nghiệp thành đánh thuế dựa trên cơ sở lãnh thổ, do đó có thể miễn trừ thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ngoài. Cùng lúc đó, các công ty đa quốc gia hoạt động ở nhiều khu vực có thuế suất doanh nghiệp hiệu dụng khác nhau sẽ sử dụng kỹ thuật chuyển giá trong giới hạn khả năng quản lý thuê nhằm hạn chế những trường hợp này, để chuyển phần thu nhập chịu thuế ra khỏi nơi có thuế suất cao hơn. Về khía cạnh thu thuế, các thông lệ chuyển giá thường ưa thích các nước có thuế suất doanh nghiệp dưới mức bình quân.

 


[1] Glenday (2007) để tìm hiểu sâu hơn về thuế khoán

[2] Ebrill và đồng sự (2001) để biết thêm chi tiết

Thứ năm, 24 Tháng 1 2019 01:37

Giới thiệu về hệ thống giáo dục Pháp

Hệ thống giáo dục phổ thông của Cộng hòa Pháp hiện nay có cấu trúc chung tương đối giống với Việt Nam. Tổng số năm học ở phổ thông kéo dài 12 năm (không tính bậc mầm non) trong đó Cấp 2 gồm Mầm non (3 đến 4 năm) + Sơ cấp (5 năm, từ 6 tuổi) và Cấp 2 gồm Sơ trung 1 collège (4 năm) + Cao trung - lycée (3 năm).

So sánh với Việt Nam, hệ thống giáo dục phổ thông của Cộng hòa Pháp có những đặc điểm nổi bật hơn như giáo dục bắt buộc từ 6 đến 16 tuổi và Giáo dục mầm non không bắt buộc nhưng tuyệt đại đa số học sinh ở độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi đến trường (năm học 2011 - 2012: 100% học sinh 5 tuổi và 4 tuổi, 98,2% học sinh 3 tuổi đến trường). Giáo dục mầm non là một bộ phận của giáo dục phổ thông: trường cấp 1 hay tiểu học (école primaire) gồm trường mẫu giáo (ẻcole matemelle) và trường sơ học (école élémentaire).

1. Về giáo dục cơ sở

- Dù Tiểu học và trung học cơ sở được xếp thuộc hai giai đoạn khác nhau nhưng xu thế gần đây coi 2 cấp học này là hai phần của một giai đoạn giáo dục thống nhất - giáo dục cơ sở với nhiều biện pháp tăng cường tính kết nối, thống nhất của nó. Có thể thấy rõ xu thế này qua việc xây dựng "Nền tảng chung về năng lực và kiến thức bắt buộc cho giáo dục bắt buộc” (do Thủ tướng Pháp ban hành bằng pháp lệnh năm 2006 theo yêu cầu của Luật Fillon 23/4/2005, quy định chi tiết các năng lực mà học sinh cần phải nắm được ở cuối giáo dục bắt buộc - từ đây chúng tôi viết tắt là SOCCOM). Với sự kiện này "lần đầu tiên người ta xuất phát từ ý tưởng coi trường tiểu học và trường sơ trung là những phần của cùng một tổng thể quá trình học tập thống nhất" (O. Rey 2010). Cải cách từ 2016 tiếp tục xu hướng này. Kết nối giữa tiểu học và THCS chặt chẽ hơn: một văn bản chương trình chung thống nhất; lớp 4, 5 của tiểu học và lớp 6 của trung học cơ sở được xếp trong cùng một giai đoạn với chương trình chung.

Thậm chí có nhiều ý kiến đề xuất hình thành "École du socle commun" - trường cơ sở tức là hình thành bậc giáo dục cơ sở thống nhất, gồm cả tiểu học và trung học cơ sở: Ví dụ đề xuất của Uỷ ban Thélot 2004, Hội đồng cao cấp đánh giá giáo dục trong báo cáo đánh giá trường sơ trung năm 2010 và báo cáo về thực hiện SOCCOM năm 2011, hay đề xuất của hạ nghị sĩ Frédéric Reiss trong báo cáo "Quelle direction pour l’école du XXIe siècle" 9/2010...

2. Về phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục phổ thông Pháp trước đây gồm nhiều hệ thống trường song song, phân tầng theo đối tượng: hệ thống "lycée" cũ đảm nhận đào tạo cho tầng lớp "tinh hoa", thời gian đào tạo dài, hướng tới bằng tú tài và giáo dục đại học; hệ thống tiểu học đảm nhiệm giảng dạy cho tầng lớp "bình dân", thời gian đào tạo ngắn, dành cho học sinh tham gia sớm vào đời sống xã hội; hệ thống giáo dục nghề. Hàng loạt cải cách liên tục được tiến hành, đặc biệt từ những năm năm mươi của thế kỉ trước, dẫn đến sự hình thành hệ thống giáo dục Pháp như hiện tại:

- Giai đoạn Tiểu học và trung học cơ sở, chương trình giáo dục là như nhau với đa số học sinh, không phân luồng từ những năm 70 của thế kỉ trước theo luật Haby 1975, ngoại trừ một số nhỏ học sinh học quá kém, học sinh khuyết tật học trong một số lớp đặc biệt.

- Bậc cao trung (lycée) phân luồng rõ, chuẩn bị cho học lên (gần như dự bị đại học) hoặc tham gia ngay vào thị trường lao động, gồm 3 luồng tương ứng với 3 loại hình lycée:

+ Trung học phổ thông đại cương (lycée général) định hướng học tiếp đại học;

+ Trung học phổ thông công nghệ (technologique) định hướng cao đẳng nghề - kĩ thuật viên cao đẳng hay đại học nghề);

+ Trung học phổ thông nghề/chuyên nghiệp (professional) đào tạo nghề.

Cuối trung học cơ sở, học sinh lựa chọn một trong hai luồng, hoặc Trung học phổ thông đại cương và công nghệ, hoặc Trung học phổ thông chuyên nghiệp:

- Hướng Trung học phổ thông đại cương và công nghệ: Năm học lớp 10 chung nhằm nâng cao nền tảng văn hoá cơ bản, khám phá những lĩnh vực mới và giúp định hướng nghề nghiệp. Từ lớp 11, học sinh được chọn hoặc theo luồng đại cương và hoặc theo luồng công nghệ, đồng thời phân nhánh nhỏ hơn (phân ban). Luồng Trung học phổ thông đại cương gồm 3 ban tú tài: Khoa học, Văn chương, kinh tế - xã hội. Luồng Trung học phổ thông kĩ thuật gồm 8 ban tú tài, chia theo 2 hướng sản xuất và dịch vụ: Khoa học và Công nghệ công nghiệp và phát triển bền vững (STI2D - 4 chuyên ngành), Khoa học và Công nghệ design và nghệ thuật ứng dụng (STD2A), Khoa học và Công nghệ phòng thí nghiệm (STL - 2 chuyên ngành), Khoa học và Công nghệ quản lí (STG - 2 chuyên ngành), Khoa học và Công nghệ sức khỏe và xã hội (ST2S), Khoa học và Công nghệ nông nghiệp và sinh vật (STAV), Khách sạn, Kĩ thuật âm nhạc và khiêu vũ (TMD).

- Hướng Trung học phổ thông chuyên nghiệp/nghề, học sinh có thể lựa chọn lộ trình học 2 năm lấy chứng chỉ nghề (trình độ V theo khung trình độ đào tạo quốc gia) hoặc 3 năm thi lấy bằng tú tài nghề với khoảng 80 chuyên ngành của tú tài nghề, 200 chuyên ngành của chứng chỉ nghề. Khoảng một nửa HS theo học Trung học phổ thông chuyên nghiệp là học sinh đã từng bị ở lại lớp, học muộn. Ngoài số theo học tại Trung học phổ thông chuyên nghiệp, khoảng ¼ học sinh chọn chế độ vừa học vừa làm (các apprentis) theo hợp đồng liên kết giữa một doanh nghiệp và một trung tâm đào tạo (CFA), chuẩn bị thi chứng chỉ nghề hoặc tú tài nghề.

Kết thúc lycée, đa số học sinh tham dự kì thi tốt nghiệp và nhận bằng tú tài (baccalauréat). Bằng tú tài ở ba luồng (tú tài đại cương, tú tài kĩ thuật hay tú tài nghề) là tương đương nhau (trình độ IV).

Xu hướng vài chục năm gần đây: Giáo dục nghề nghiệp được coi là bộ phận của giáo dục phổ thông, chủ yếu ở giai đoạn Trung học phổ thông, do Bộ giáo dục quản lí (trừ một số ít trực thuộc Bộ Nông nghiệp); tìm kiếm sự cân bằng giữa các luồng, các ban của cùng loại hình, tăng cường liên thông nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau. Những giải pháp đưa ra theo hướng này: thay đổi số năm đào tạo, chương trình giáo dục, về nội dung đào tạo hay môn tự chọn... Ví dụ trước đây, việc đào tạo nghề phức tạp hơn, thường phải qua bằng nghề bậc thấp trước khi liên thông sang tú tài nghề, học sinh phải học 4 năm. Việc hình thành lộ trình đào tạo tú tài nghề 3 năm đã thu hút đông học sinh, nâng tổng số học sinh theo hướng tú tài nghề tăng thêm hơn 300 ngàn học sinh trong giai đoạn 2005 - 2015, đạt tới 80,6% nhóm theo hướng nghề năm 2015...

Những số liệu dưới đây về đầu vào và đầu ra các luồng, các ban khác nhau cho thấy rõ hơn tính hợp lí của mô hình phân luồng này.

Bảng 1. Một vài số liệu về phân luồng trong bậc Trung học phổ thông (2015)

                                                                                                   gd phap

                                                                                                 fr edu

Đa số học sinh Trung học phổ thông đại cương học tiếp, chủ yếu là trong các lộ trình đào tạo dài như cử nhân, kĩ sư, chuyên ngành...: số liệu đăng kí năm 2014 cho thấy khoảng 2/3 đăng kí học đại học tổng hợp, 1/5 theo học nghề 2 năm. Ban tú tài văn chương có tỉ lệ đăng kí học hệ cử nhân đúng ngành cao nhất. Ban khoa học đăng kí nhiều ngành nghề khác nhau. Năm 2015, số tú tài công nghệ chủ yếu đăng kí kĩ thuật viên cao đẳng 2 năm (41,5%), khoảng 1/3 đăng kí học đại học (trong đó 1/3 là học đại học công nghệ 2 năm). Khoảng 1/3 số tú tài nghề đăng kí học tiếp, trong đó chủ yếu là học kĩ thuật viên ngắn hạn.

Mặt khác, hệ thống đảm bảo sự liên thông, khả năng chuyển đổi giữa các luồng. Cuối lớp 10, một tỉ lệ nhỏ học sinh chuyển từ Trung học phổ thông đại cương và công nghệ sang Trung học phổ thông nghề. Giai đoạn đại học và cao đẳng, nhiều học sinh học hệ ngắn hạn 2 năm chuyển tiếp học cử nhân nghề 3 năm và có thể tiếp tục học lên.

Một trong những điểm đáng lưu ý trong hệ thống Trung học phổ thông gắn với tạo khả năng liên thông và đào tạo nghề: Nhiều lycée cũng đảm nhận đào tạo một phần giáo dục sau trung học ví dụ các lớp "Dự bị thi trường lớn" (tương đương 2 năm đầu đại học với yêu cầu cao hơn để chuẩn bị thi vào các trường "lớn") hay đào tạo kĩ thuật viên cao đẳng (BTS).

Xét từ góc độ phân luồng, do nâng độ tuổi giáo dục bắt buộc, tuyệt đại đa số học sinh theo học trung học cơ sở. Nhiều ý kiến nghi ngờ hiệu quả của trường sơ trung thống nhất, đề xuất việc quay trở lại với việc phân luồng sớm, ngay từ đầu hay giữa cấp sơ trung (tương tự như giai đoạn những năm 1980, đầu 1990). Năm 2011 - 2012, ở cuối nhiệm kì và chuẩn bị cho đợt tranh cử mới, Tổng thống Sarkozy đã đề cập tới việc này, đề xuất việc đa dạng hoá, cá nhân hoá các lộ trình học, tính tới việc phân luồng ngay từ giữa bậc sơ trung nhưng gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của công luận và các công đoàn. Luật Giáo dục 2013 tiếp tục khẳng định không phân luồng đến cuối bậc sơ trung. Những giải pháp đưa ra gần đây chủ yếu gắn với việc tăng cường hướng nghiệp, tạo các tự chọn mang tính hướng nghiệp ở giai đoạn này.

3. Về phân chia giai đoạn trong GDPT

Từng cấp học lại được tổ chức thành các giai đoạn (cycle) từ một đến 3 năm học với vai trò, mục tiêu của giai đoạn như mô tả trong Bảng 3.

                                                                                gd fr 1

Dù có truyền thống lâu đời, theo xu hướng tập trung, thống nhất nhưng nền giáo dục Pháp thường xuyên, liên tục có những vận động, thay đổi, cải cách, đổi mới để đáp ứng nhu cầu luôn biến động của xã hội, đặc biệt là từ nửa cuối thế kỉ XX. Chương trình GDPT các cấp học, các môn học cũng có những thay đổi, phát triển tương ứng. Có thể nêu một vài mốc thay đổi lớn gần đây:

- Chương trình cấp Tiểu học: 1995 – 2002 - 2008 - 2016

- Chương trình cấp trung học cơ sở: 1997- 2005 - 2008 - 2016.

Khoảng thời gian tồn tại của một chương trình hiện tại nói chung không dài, dưới 10 năm. Những thay đổi lớn về chương trình thường là hệ quả của các cải cách các cấp học, sau các báo cáo, tranh luận xã hội lớn, có thể do tác động trong nước hay quốc tế, của giới chính trị, khoa học... và thường gắn với những nỗ lực nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra. Ví dụ thay đổi chương trình trong những năm 1990 gắn với Luật Giáo dục 1989 và sự ra đời của Hội đồng quốc gia về chương trình (hoạt động từ 1990 - 2005), chương trình 2008 gắn với luật 2005 và SOCCOM, chương trình 2016 là hệ quả của Luật Giáo dục 2013. Hay sự thay đổi chương trình giáo dục khoa học cấp Tiểu học và các cấp học sau đó trong những năm 2000 phần lớn là do tác động của các nhà Khoa học, đặc biệt là của Viện Hàn lâm Khoa học. Cải cách chương trình cấp trung học phổ thông 2010 - 2013 gắn với cải cách toàn diện bậc học: xác định lại tính chất các ban của trung học phổ thông đại cương, đặc biệt là ban Văn chương; cấu trúc lại các ban của trung học phổ thông công nghệ thành 8 ban; cơ cấu lại trung học phổ thông nghề với lộ trình cơ bản 3 năm để tương đồng với các loại hình trung học phổ thông khác...

Những thay đổi trong chương trình thường được thực hiện theo cấp học (mầm non, tiểu học, sơ trung, cao trung) và có thể là không phải đồng thời với tất cả các môn học. Có thể có những thay đổi, điều chỉnh với chương trình một môn nhiều lần liên tiếp, ví dụ chương trình Lí - Hoá cấp sơ trung thay đổi liên tục các năm 2005, 2006, 2007, 2008.

Vấn đề xem xét lại tổng thể và thường xuyên các Chương trình giáo dục đã được Collège de France đưa ra năm 1985 với mục tiêu loại bỏ các nội dung lạc hậu, đưa vào các nội dung mới, cập nhật và được Hội đồng quốc gia chương trình những năm 90 nhắc lại (Raulin 2006). Hiến chương về chương trình năm 2013 một mặt khẳng định sự cần thiết phải ổn định chương trình, mặt khác cũng nhấn mạnh "việc xem xét lại thường xuyên là thiết yếu, sao cho các chương trình có thể vận động bình thường và có kế hoạch". Chống lại sự thay đổi chỉ theo ý chí chính trị, Hiến chương cũng khẳng định những sự thay đổi chương trình cần dựa trên các nghiên cứu chỉ rõ:

- Sự tiến triển của các tri thức hay các hoạt động thực tiễn tham chiếu đòi hỏi cần phải thay đổi nội dung dạy học;

- Những thay đổi quan trọng trong kinh tế - xã hội hay văn hoá dẫn tới việc phải đưa vào các đối tượng dạy học mới;

- Các khó khăn đặc biệt thường xuyên gặp phải trong quá trình học của học sinh, dù là do không thích hợp hay có ảnh hưởng tới sự bình đẳng trong giáo dục.

Tại nhiều nước, báo cáo chi tiêu chính phủ chưa phản ánh hết quy mô của chính phủ do chi tiêu được thể hiện dưới hình thức ưu đãi thuế được thiết kế để hỗ trợ cho một số hoạt động đặc biệt như đầu tư, tiết kiệm, sở hữu nhà ở và từ thiện. Những chi tiêu thuế này gây ra một số vấn đề nghiêm trọng. Đầu tiên, đây là một kiểu chi không minh bạch, không được ưu tiên cùng với chi tiêu trực tiếp như một phần của hoạt động ngân sách. Điều này có nghĩa chi tiêu thuế có thể là một nguồn chi không hiệu quả. Hai là, chi tiêu thuế thu nhập được cấu trúc như một sự miễn giảm từ thu nhập chịu thuế, nó có lợi cho người giàu hơn là cho người nghèo do nó có ý nghĩa hơn với những người phải đối mặt với thuế suất cận biên cao thực tế là chúng trợ cấp cho tầng lớp khá giả, nhưng chi phí thuế lại được gánh vác bởi người nộp thuế nói chung do tổng thuế suất phải cao hơn để bù lại một cơ sở tính thuế nhỏ hơn.

Thật không may, cấp ưu đãi thuế lại khá dễ dàng do có thể được triển khai dưới dạng cắt giảm thuế, một động thái dễ biện giải về mặt chính trị hơn so với đề nghị tăng chi tiêu. Giống như vậy, vấn đề này rất khó để loại bỏ do việc loại bỏ nó có thể được nhìn nhận như một sự tăng thuế hơn là cắt giảm chi tiêu. Một số chi tiêu thuế theo thời gian có xu hướng được vốn hóa vào giá tài sản và do đó, việc cắt giảm các chi tiêu này không dễ dàng vì sẽ làm giảm giá các tài sản hiện tại. Đây là một vấn đề đặc biệt nhạy cảm với miễn giảm thuế cho vay mượn có thể chấp, điều này có thể góp phần vào nhu cầu điều chỉnh tài khóa hiện tại ở các nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng cũng rất khó khăn trong bối cảnh giá nhà rớt thảm hại do nó có thể làm giá bất động sản giảm sâu hơn nữa.

Điều này không có nghĩa tất cả các ưu đãi thuế là tiêu cực, nhưng có lẽ nên theo đuổi các khoản chi có mục tiêu hơn, vì cả hai lý do hiệu quả và công bằng thông qua chi tiêu trực tiếp hay tín dụng thuế đồng đều. Việc giảm trừ thuế cho các khoản từ thiện thường nhận được sự ủng hộ rộng rãi, nhưng không có lý do gì để coi trọng khoản từ thiện từ người giàu hơn khoản từ thiện từ những người kém khá giả hơn; thực ra, nhiều người có thể nghĩ điều ngược lại thì đúng hơn. Ít nhất, giảm trừ thuế có thể được đổi thành tín dụng thuế đồng đều nhằm loại bỏ sự phân phối thiên vị này. Một chi tiêu thuế gây tranh cãi là miễn trừ hoặc đánh thuế 0% cho các loại lương thực cơ bản và các nhu yếu phẩm khác dưới hình thức thuế VAT. Một điều đáng quan tâm khác về việc chuyển thuế thu nhập cá nhân thành thuế VAT là nó liên quan đến việc chuyển một loại thuế lũy tiến thành một loại thuế lũy thoái.

Thuế VAT được cho là một loại thuế lũy thoái vì khoản tiền người nghèo phải chi trả cho những hàng hóa bị đánh thuế chiếm tỷ trọng lớn hơn trong thu nhập của họ nếu so với người giàu, ít nhất là ở những nước tiên tiến. Tuy nhiên, việc miễn trừ hay đánh thuế 0% vào các mặt hàng cơ bản hoặc nhu yếu phẩm khác được tiêu dùng chủ yếu bởi người nghèo có thể chuyển VAT thành thuế lũy tiến. Điều đó có nghĩa, khoản tiền thu nhập chuyển sang cho người nghèo, có thể là thông qua thuế thu nhập, sẽ được nhắm tới tốt hơn. Hơn nữa, từ quan điểm công bằng, điều quan trọng là tính lũy tiến của toàn bộ hệ thống thuế, và thuế VAT lũy thoái sẽ không gây ảnh hưởng nếu thuế thu nhập cá nhân có thể phổ biến tính lũy tiến đầy đủ đến toàn bộ hệ thống thuế. Tại các nước đang phát triển, thuế VAT có thể có mục tiêu tái phân phối rõ ràng. Không những thuế VAT thường được miễn trừ dứt khoát ở các mặt hàng nhu yếu phẩm cơ bản như sản phẩm nông nghiệp thô - thứ chiếm phần lớn chi tiêu của các hộ nghèo, mà người dân cũng mua bán các mặt hàng này từ những nhà buôn nhỏ lẻ được miễn trừ thuế VAT hoặc tại các chợ phi chính thức. Do chính phủ các nước đang phát triển thường thiếu thuế thu nhập cơ sở rộng hiệu dụng và phương tiện để thực hiện chuyển giao dựa trên thu nhập, hỗ trợ người nghèo thông qua thuế VAT có thể là lựa chọn khả thi duy nhất.

Một lĩnh vực chi tiêu thuế được quốc tế quan tâm đáng kể là việc sử dụng quá mức ưu đãi đầu tư tại một môi trường cạnh tranh thuế cho đầu tư, khiến cho thuế doanh nghiệp theo luật định nhìn chung bị giảm như đã bàn ở trên. Ưu đãi thuế thu nhập đôi khi được đề nghị áp dụng cho nhiều ngành và lĩnh vực, nhưng thường những ưu đãi này nhắm vào các khoản đầu tư dựa trên cơ sở quy mô, lĩnh vực, địa điểm, định hướng xuất khẩu và các yếu tố tương tự, thường để thu hút các ngành chế tạo sử dụng nhiều lao động tại các nền kinh tế dồi dào nguồn lao động. Một loạt các ưu đãi có thể kể đến là giảm thuế, khẩu trừ đầu tư hoặc chiết khẩu tín thuế và trợ cấp khấu hao nhanh. Những ưu đãi này thường dư thừa và được cấu trúc kém, tạo ra thiên vị tuy không cố ý trong các lựa chọn đầu tư và thường giữa các loại hình kinh doanh.

Ví dụ, một trường hợp thường thấy đó là các nhà đầu tư mới, không kể trong hay ngoài nước, chỉ có thể tiếp cận hạn chế các giá trị thuế của một số biện pháp ưu đãi do họ phải kết chuyển các khoản khấu trừ không sử dụng hoặc khoản lỗ trong khi chờ đợi công việc kinh doanh của mình phát triển và sinh lời. Hơn nữa, những khoản kết chuyển này thực sự cũng có thể bị quá hạn do hạn chế thời gian đổi với kết chuyển lỗ. Ngược lại, các doanh nghiệp đang tồn tại với lợi nhuận chịu thuế hiện có có khả năng tận dụng được đầy đủ giá trị thuế ưu đãi bằng cách xóa tên chúng khỏi những thu nhập hiện phải chịu thuế từ các lĩnh vực kinh doanh khác. Ưu đãi đầu tư thường cũng dư thừa khi biện pháp khấu trừ đầu tư hoặc tín dụng thuế không nhận ra rằng thuế doanh nghiệp chỉ nhắm vào lợi nhuận của cổ đông, những người có thể chỉ góp một phần vốn vào khoản đầu tư mới, những ưu đãi có thể cũng được áp dụng đối với phần cấp vốn bởi các chủ nợ, khi đó thuế suất doanh nghiệp sẽ trở thành số âm. Bên cạnh sự tổn thất về hiệu dụng này, một phần lớn ưu đãi đầu tư đặc biệt đổ dồn về các nhà đầu tư dưới biển - những người có thể sẽ đầu tư kể cả khi không được ưu đãi thuế, do vậy làm cho việc ưu đãi trở nên dư thừa và không đạt hiệu quả chi phí. Hợp lý hóa chi tiêu thuế đầu tư là một lĩnh vực cải cách chủ chốt tại nhiều nước.

Tóm lại, theo quy luật chung, ưu đãi thuế nên có khả năng được giảm thiểu và việc giới thiệu các chi tiêu mới cần được kiểm soát chặt chẽ. Trong quá trình thực hiện, nếu tổng chi có thể được giảm bởi các khoản chi tiêu thuế tốn kém được thay bằng các khoản khác hiệu quả hơn hoặc chi trực tiếp, nó có thể tạo ra cơ sở tính thuế rộng hơn và thuế suất thấp hơn, từ đó cung cấp thêm phạm vi để tăng thu nếu phát sinh nhu cầu. Đối với các chi tiêu thuế còn lại, cần phải nhấn mạnh đến việc tăng tính minh bạch thông qua báo cáo chi tiêu rành mạch và có thể tích hợp những chi tiêu này trong quyết định ngân sách.

Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phải triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ chủ yếu dựa vào chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế. Các loại chính sách trung lập, mở rộng, và thu gọn của chính sách tài khóa liên quan liên quan trực tiếp đến tổng thể ngân sách đối với hoạt động kinh tế.

Mục tiêu của chính sách trung lập là cân bằng ngân sách trong chi tiêu của Chính phủ được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế. Mục đích của chính sách mở rộng lại là tăng cường chi tiêu của Chính phủ thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả hai. Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước đó có ngân sách cân bằng. Còn mục tiêu của chính sách thu hẹp là giảm chi tiêu của chính phủ thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả hai nhằm hạn chế thâm hụt ngân sách hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó, hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng.

Về bản chất, chính sách tài khóa có tác dụng khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại. Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài chính nới lỏng. Ngược lại, khi nền kinh tế ở tình trạng lạm phát và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài khóa như thế này gọi là chính sách tài khóa thắt chặt.

Nhà nước thực hiện chính sách tài chính nới lỏng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ. Nhưng để có nguồn tài chính cho các khoản chi tiêu đó, nhà nước lại phát hành công trái và trái phiếu. Robert Barro khẳng định: người ta, với kỳ vọng hợp lý (rational expectations), sẽ hiểu rằng hôm nay nhà nước đi vay thì tương lai nhà nước sẽ tăng thuế để có tiền trả nợ, nên sẽ giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm hôm nay để tương lai có tiền nộp thuế. Như thế, tuy nhà nước tăng tiêu dùng của mình, nhưng lại làm giảm tiêu dùng cá nhân, nên hiệu quả của chính sách tài chính sẽ không cao như nhà nước mong đợi.

Ở nhiều nước, chính phủ muốn tiến hành đầu tư (chi tiêu chính phủ) thường phải xin quốc hội phê duyệt. Khả năng bị quốc hội bác bỏ không phải là không có. Vì thế, không phải cứ muốn thực hiện chính sách tài chính nới lỏng thông qua tăng chi tiêu chính phủ là luôn có thể làm được. Mặt khác khi đã chi và tiến hành đầu tư rồi, mà lại muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt lại cũng khó khăn vì không thể bỏ dở các công trình đầu tư đang triển khai được.Thực hiện chính sách tài chính nới lỏng thông qua giảm thuế thì dễ. Nhưng khi muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt thông qua tăng thuế lại rất dễ bị người dân phản đối.

Để chính sách tài khóa đạt hiệu quả như mong muốn dù ở bất kỳ hình thức nào cũng cần xác định vai trò trách nhiệm của cơ quan dân cử thông qua việc phân tích đánh giá về tính ổn định của tài khóa và sự giám sát về trách nhiệm tài khóa.

Trách nhiệm tài khóa được giám sát thông qua việc xác định về tính toàn diện, bao trùm của một số hoặc tất cả các nguyên tắc về trách nhiệm giải trình, chu kỳ năng, thẩm quyền ra quyết định chu kỳ ngân sách, các quy định về cân đối ngân sách, các vấn đề về nguồn lực ngân sách, tính toàn diện của luật hệ thống ngân sách, tính cụ thể của các khoản thu chi ngân sách cũng như tính ổn định của các chính sách liên quan đến thu, chi và cán cân tài khóa, nợ công; tính minh bạch của ngân sách cũng như tính thống nhất của các quy định trong luật hệ thống ngân sách. Ngược lại, luật trách nhiệm tài khóa (FRL) là một luật có phạm vi hẹp tập trung vào các nguyên tắc về trách nhiệm giải trình, minh bạch và ổn định. Luật về ổn định tài khóa thậm chí còn hẹp hơn về nội dung: tập trung chủ yếu vào ổn định tài khóa vĩ mô. Chỉ có một số ít nước châu Âu (ví dụ, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) áp dụng luật này, chủ yếu là đối với các mục tiêu tài khóa của Liên minh châu Âu và Hiệp ước ổn định và Tăng trưởng trong bối cảnh các nước này thực hiện phân cấp chính quyền và có các vùng tự trị.

Khi xây dựng các quy định về trách nhiệm tài khóa cần xác định rõ trách nhiệm trong từng thành phần đối với Chính phủ:

Thứ nhất, phải xác định kế hoạch trung hạn của các số liệu tài khóa tổng thể (tổng thu, tổng chi, cán cân tài khóa, nợ công);

Thứ hai, phải mô tả chiến lược ngân sách thường niên và trung hạn để đạt được các mục tiêu tài khóa đề ra;

Thứ ba, phải công bố thường xuyên các báo cáo về tiến triển đạt được các mục tiêu hoặc mục đích tài khóa;

Thứ tư, phải xây dựng các chế định về Kiểm toán các báo cáo tài chính năm nhằm đảm bảo tính chính xác của thông tin tài khóa.

Luật trách nhiệm tài khóa có thể bao gồm hơn bốn yếu tố cốt lõi trên. Ví dụ, luật cũng có thể tập trung vào hiệu quả hoạt động, tập trung vào quản lý ngân sách “vĩ mô” - đạt được các mục tiêu ngân sách tổng thể - thay vì hiệu quả hoạt động “vị mô” của các chương trình ngân sách hoặc các cá nhân quản lý chương trình.

Xét trên bốn tiêu chuẩn trên, chỉ một số ít nước phát triển áp dụng luật trách nhiệm tài khóa.[1] Các luật tương tự với luật trách nhiệm tài khóa đã được nhiều nước mới nổi áp dụng, đặc biệt là các nước Mỹ Latinh và tiểu lục địa Ấn Độ. Hầu hết các luật này bao gồm các quy tắc tài khóa định lượng với mục tiêu giảm thâm hụt tài khóa và nợ công. Ở một số nước, các mục tiêu định lượng của luật trách nhiệm tài khóa cho thấy là rất khó tuân thủ, dẫn tới việc sửa đổi hoặc hủy bỏ luật.[2]

Luật trách nhiệm tài khóa của Brazil (xem Hộp 3.1) là một ngoại lệ. Luật này đã khá thành công trong đạt được các mục tiêu đề ra vì nhiều lý do sau: các chính phủ và nghị viện kế tiếp nhau đã tuân thủ các quy định trong luật; không có mục tiêu định lượng nào cho nợ hoặc thâm hụt liên bang trong luật trách nhiệm tài khóa (thay vào đó, mỗi luật hướng dẫn ngân sách năm đều bao gồm các mục tiêu tài khóa vĩ mô để chỉ dẫn tình hình phát triển của các số liệu ngân sách tổng thể trong trung hạn); và các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc cho việc không tuân thủ. Khác với một số nước, các biện pháp chế tài được áp dụng. Ví dụ, ở chính quyền cấp dưới quốc gia, một số thị trưởng tại Brazil đã bị mất chức khi vi phạm luật trách nhiệm tài khóa. Các biện pháp trừng phạt được quy định trong luật được hỗ trợ bởi các tòa án độc lập và luật hình sự tài khóa riêng biệt.

Các kinh nghiệm trên cho thấy một nước cần phải thận trọng nếu đang cân nhắc đưa các quy tắc tài khóa định lượng vào trong luật trách nhiệm tài khóa. Một số cho rằng việc đưa quy tắc tài khóa vào trong luật sẽ khiến nó “bền vững” và “có tính ràng buộc hơn”, đặc biệt do luật này quy định thẩm quyền của cả cơ quan lập pháp cũng như cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, bất kì luật nào cũng có thể bị hủy bỏ, hoặc khi thiếu các biện pháp chế tài hữu hiệu, bị phớt lờ mà không sợ bị trừng phạt. Để đạt được hiệu quả, luật trách nhiệm tài khóa cũng cần bao trùm tất cả các hoạt động ngân sách và các hoạt động mang tính chất tài chính liên quan trong khu vực công, cũng như bao gồm đầy đủ các yêu cầu về minh bạch và thủ tục. Việc không bao trùm các chính quyền cấp dưới quốc gia trong các điều khoản luật là một lý do tại sao một số nước (như Argentina) không đạt được các mục tiêu ổn định đề ra.

Cho dù quy tắc tài khóa có được đưa vào luật trách nhiệm tài khóa hay không, nếu không có cam kết của cơ quan lập pháp đối với kỷ luật tài khóa, quy tắc tài khóa có thể làm xói mòn độ tin cậy chính sách.[3] Một cách tiếp cận thay thế nhằm tăng cường kỷ luật tài khóa là áp dụng luật trách nhiệm tài khóa yêu cầu các chiến lược tài khóa minh bạch và đáng tin cậy, với sự hỗ trợ của các thể chế tài khóa vững chắc. Cách tiếp cận này đã có hiệu quả ở nhiều nước, trong đó có Australia và New Zealand. Luật trách nhiệm tài khóa ở hai nước này yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài khóa có trách nhiệm, bao gồm áp dụng chiến lược ngân sách trung hạn, lập ngân sách năm nhằm đạt được mục tiêu tài khóa trung hạn, giảm nợ công và duy trì nợ ở mức hợp lý (mà không quy định cụ thể trong luật thể nào là “mức hợp lý”) và đưa vào các yêu cầu minh bạch và giám sát công chặt chẽ.

Như vậy, để có chính sách tài khóa tốt việc nghiên cứu và hoàn thiện các nguyên tắc tài khóa cho hệ thống ngân sách trên cơ sở các điều khoản về giải trình, thẩm quyền ra quyết định chu kỳ ngân sách, nguyên tắc về cân đối, xác định phạm vi quỹ thu chung, tính toàn diện, hiệu quả hoạt động, tính cụ thể, tính ổn định, tính minh bạch và tính thống nhất của chính sách tài khóa. Với một số ít trường hợp ngoại lệ (như mua sắm đấu thầu công), không cần thiết phải có các luật chuyên môn có phạm vi điều chỉnh một phần nhỏ trong hệ thống quản lý ngân sách. Tuy nhiên, trên thực tế, khi luật hệ thống ngân sách mới ít có cơ hội được thông qua về mặt chính trị thì nên nắm lấy bất kì cơ hội thực hiện cải cách khuôn khổ pháp lý nào, kể cả khi kết quả cải cách chỉ là thông qua một luật có phạm vi hẹp hoặc có tính riêng biệt.

 


[1] Tham khảo Lienert (2010).

[2] Về những thất bại ở một số nước OECD được chọn lọc, tham khảo Lienert và Jung (2004) tr.90. Còn về kinh nghiệm của các nước Mỹ Latinh, xem Corbache và Schwartz (2007) tr.58-77.

[3] Xem thêm IMF (2009).

Để hỗ trợ việc đổi mới giáo dục, Bộ giáo dục Singapore đã thay đổi về cấu trúc chương trình học từ các môn học cụ thể và cung cấp những nguồn lực cần thiết trong việc thiết kế các môn học nhằm tăng cường tính linh hoạt, chủ động của các trường bằng cách rút gọn chương trình giảng dạy từ 10 - 20% để tạo “thời gian trống". Giáo viên (GV) được tự do dành thời gian trống thực hiện các bài giảng do họ tự thiết kế, áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy, đánh giá đa dạng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của từng học sinh thông qua việc xây dựng và hoàn thiện chương trình môn học trong hệ thống giáo dục. Bộ Giáo dục giảm 2 giờ làm mỗi tuần cho mỗi giáo viên để họ có thêm thời gian lên kế hoạch giảng dạy và trao đổi kinh nghiệm chuyên môn.

Nhóm môn Khoa học bao gồm Khoa học, Khoa học kết hợp, Vật lí, Hoá học, Sinh học thuộc lĩnh vực Toán và Khoa học trong Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) Singapore. Tên các môn học trong nhóm khoa học thay đổi theo từng cấp lớp[1].

Thời lượng học tập các môn Khoa học (số tiết/tuần) dựa theo tài liệu của Bộ Giáo dục Singapore công bố năm 2000[2].

1. Về cấu trúc văn bản chương trình

Nhóm nghiên cứu thực hiện nghiên cứu và so sánh chương trình môn Khoa học cũ (2008 - chương trình nội dung) và chương trình hiện hành (biên soạn năm 2013 - chương trình phát triển theo hướng tiếp cận năng lực, có chỉnh sửa lại vào năm 2014), nhận thấy đây là một minh hoạ rõ nét về sự chuyển đổi cách viết chương trình từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận năng lực. Ngay từ bố cục chương trình, các yếu tố của một chương trình phát triển theo hướng tiếp cận năng lực người học được đưa vào như: các năng lực cần đạt trong thế kỉ XXI, ngữ cảnh học tập và năng lực đọc hiểu khoa học, ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin (ICT) trong dạy khoa học.

2. Mục tiêu chương trình

Mục tiêu chương trình môn Khoa học của Singapore được phát biểu theo cách mới, với ba mục tiêu:

- Hướng dẫn học sinh (HS) con đường tiếp thu kiến thức và vận dụng những hiểu biết đó trong cuộc sống hằng ngày, trở thành công dân tự tin có khả năng đối phó với những thay đổi và tiến bộ của khoa học và công nghệ trên thế giới;

- Giúp HS phát triển các năng lực thế kỉ XXI (có được những kĩ năng giải quyết vấn đề và sử dụng quá trình tư duy, điều tra khám phá; trở thành người công dân có trách nhiệm; có được những kĩ năng học tập suốt đời; thể hiện sự chăm sóc và quan tâm tới con người và môi trường; phát triển năng lực ICT cho giao tiếp, hợp tác, thu thập thông tin, phân tích và đưa ra kết quả);

- Giúp HS có những chuẩn bị cần thiết cho khoá học sau trung học, có nghĩa là phát triển năng lực và kĩ năng liên quan và hữu ích trong lĩnh vực mà họ lựa chọn, nhận thức được về tác động của khoa học và công nghệ đối với xã hội, công nghiệp, và kinh doanh. Ở những thời điểm thích hợp, GV nên cho HS có cơ hội để thảo luận về các ý liên quan đến đạo đức của khoa học và công nghệ.

Cách phát biểu này cho thấy sự khác biệt với cách phát biểu mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ ở chương trình tiếp cận nội dung.

Trong văn bản chương trình nêu rõ ý nghĩa của việc đưa các ngữ cảnh học tập là các tình huống trong đời sống thực vào môn Khoa học, việc đưa các ngữ cảnh học tập hay và có ý nghĩa sẽ thu hút được HS tham gia đặt câu hỏi và tìm kiếm kiến thức và có thể giúp họ đạt được mục tiêu là hiểu biết sâu sắc hơn về các chủ đề khoa học. Đây là điểm khác biệt lớn giữa hai chương trình theo nội dung và theo năng lực, là cơ sở giúp HS được chuẩn bị và phát triển các năng lực cho tương lai.

3. Mạch nội dung

Khi lựa chọn các môđun cho chương trình, chúng tôi cũng nhận thấy có sự thay đổi đáng kể. Chương trình Khoa học của Singapore vốn là một chương trình tích hợp ở mức độ rất cao. Các chủ đề trong chương trình cũ: năng lượng, tương tác, đa dạng... là các chủ đề thể hiện sự tích hợp cao giữa các nội dung của các lĩnh vực lí, hoá, sinh trong môn Khoa học, nhưng đó vẫn là các chủ đề mang tính tích hợp các nội dung khoa học. Các môđun trong chương trình mới là các môđun thể hiện sự tích hợp các nội dung khoa học vào trong các vấn đề của cuộc sống hằng ngày: vật chất quanh ta (các chủ đề: tính chất của vật chất, dung dịch, huyền phù, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí), những băn khoăn về cơ thể con người... Với cách lựa chọn chủ đề đó cho thấy có sự chuyển biến giúp HS thông qua việc học có thể hình thành các kĩ năng, năng lực để giải quyết các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực khoa học trong đời sống hằng ngày. Về cách mô tả nội dung trong chương trình cũng có sự khác biệt.

4. Phương pháp dạy học (PPDH) và đánh giá kết quả môn học

PPDH theo quan điểm chú trọng phát triển kĩ năng, năng lực, phương pháp tiến trình khoa học

Giáo dục Singapore cũng như nhiều nước rất chú trọng tới phát triển các kĩ năng, năng lực, phương pháp tiến trình khoa học như: quan sát, dự đoán, giải thích... các kĩ năng giao tiếp, hợp tác, đánh giá và ra quyết định. (Nhìn chung thể hiện sự chú trọng (cụ thể, rõ ràng) hơn so với chương trình giáo dục các môn Khoa học của Việt Nam). Mục tiêu này cũng chi phối tới việc lựa chọn các nội dung. Ví dụ, những khái niệm được dạy ở nhà trường tiểu học liên quan đến kinh nghiệm trực tiếp của trẻ và có thể được vận dụng, kiểm nghiệm, và thay đổi qua những hoạt động tìm tòi, khám phá tích cực của HS. Việc khám phá khoa học được xây dựng trên ba lĩnh vực tích hợp là Kiến thức, hiểu biết và ứng dụng; Các kĩ năng và quy trình; và Thái độ. Việc khám phá dựa trên kiến thức, các vấn đề và câu hỏi có liên quan đến vai trò của khoa học trong cuộc sống hằng ngày, trong xã hội và trong môi trường. Đặc biệt, lĩnh vực "Các kĩ năng và các quá trình" chú ý nhiều tới các kĩ năng và các quá trình cụ thể như quan sát, phân loại, giao tiếp, kĩ năng thao tác vật chất, đo đạc, giải thích thông tin, điều khiển biến, đưa ra giả thuyết... Lĩnh vực "Đạo đức và thái độ" quy định các phẩm chất cụ thể cần phải chú ý hình thành trong quá trình khám phá khoa học.

Yêu cầu về đánh giá kết quả cần đạt của môn học

Đánh giá môn Khoa học theo ba lĩnh vực là kiến thức, kĩ năng và thái độ. Xu hướng chung của các nước là sử dụng đa dạng, hợp lí các hình thức đánh giá khác nhau như dùng các bộ test, viết luận, thực hành, sưu tập, quan sát trực tiếp của GV...

Singapore gồm 4 lĩnh vực đánh giá: Kĩ năng tiến trình; Kĩ năng thao tác tay chân; Thái độ tích cực; Hiểu biết các khái niệm khoa học. Các kĩ thuật, công cụ được sử dụng như: Checklists (bảng kiểm); Hỏi miệng; Bài thực hành; Kiểm tra viết: có thể có dạng trả lời ngắn, ghép cặp, đúng - sai, nhiều lựa chọn... Việc đánh giá hiểu biết, vận dụng kiến thức khoa học có thể qua hỏi miệng, bài viết. Đánh giá các kĩ năng tiến trình có thể qua bài viết hoặc đánh giá thực hành. Đánh giá thái độ có thể dùng checklist để ghi lại hành vi, thái độ của HS. Việc chú ý tới các câu hỏi đòi hỏi tư duy của HS cũng được đề cập trong hướng dẫn đánh giá.

5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1. Những điểm nổi bật của Chương trình giáo dục Singapore

Từ những nghiên cứu và phân tích trên cho thấy, mô hình GDPT của Singapore theo mô hình 6 + 4 + 2. Mô hình giáo dục đa dạng, linh hoạt trong phân cấp, phân ngành gồm các bậc. (Mẫu giáo) Tiểu học, Trung học, Dự bị đại học (đại học và các trường cao đẳng nghề).

- Cấu trúc hệ thống giáo dục bảo đảm tính mềm dẻo: chương trình được định hướng phân luồng từ 2 năm cuối tiểu học và bắt đầu phân luồng từ THCS. Chương trình THCS phân ra hệ cấp tốc cho HS giỏi (4 năm) sau đó nhận bằng GCE "O", hệ bình thường 4 năm cho các HS khác với 2 ban cơ bản (có thể học tiếp trình độ cao hơn) và kĩ thuật nhưng chỉ nhận bằng GCE "N". Cấu trúc hệ thống giáo dục cho thấy chương trình co dãn tuỳ theo trình độ HS.

- Về cách tiếp cận và phát triển chương trình: chương trình được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực HS cho thế kỉ XXI.

- Giáo dục Trung học phát huy tối đa năng lực cá nhân HS.

+ Về nội dung: Chương trình của THCS, THPT được thiết kế theo 3 nhóm môn chủ yếu: Các môn học về thể lực, cá nhân và xã hội như: Giáo dục y tế và thể dục thể thao; Phát triển sự giao tiếp; Học tập cá nhân; Giáo dục công dân và bổn phận công dân.

Các môn học truyền thống: Nghệ thuật; Anh ngữ; Nhân văn - Kinh tế; Nhân văn - Địa lí; Nhân văn - Lịch sử; Ngôn ngữ khác ngoài Anh ngữ; Toán; Khoa học.

Các môn học không truyền thống: Truyền thông; Thiết kế - sáng tạo và kĩ thuật; Kĩ thuật thông tin và truyền thông; Tiến trình tư duy.

Với chương trình được thiết kế theo hướng phát huy tối đa năng lực của cá nhân HS nên phần tự chọn rất được coi trọng, HS THPT có thể chọn học từ 7 - 8 môn trong tổng số từ 40 - 50 môn học trong nhà hường để thi tốt nghiệp.

Nội dung các môn học tỉ lệ tri thức hàn lâm được cân đối hài hoà với thực hành, trong đó các nội dung thực hành được đặc biệt coi trọng.

Việc thiết kế chương trình như vậy có thể nhận thấy sự khác biệt với Việt Nam ở 2 điểm, Singapore coi trọng giáo dục thể chất, gắn kết cá nhân với xã hội và bộ phận các môn thích ứng nhu cầu hội nhập với sự phát triển đương đại. Trong khi giáo dục Việt Nam tập trung chủ yếu vào học các môn truyền thống, làm cho sự năng động trong nắm bắt sự phát triển các vấn đề xã hội và khoa học của HS chưa tốt. Do quá tập trung vào bài vở chỉ trong SGK và hoạt động học tập chủ yếu trong không gian lớp học nên khả năng hoà hợp, liên kết nhóm của các cá nhân với cộng đồng trong công việc là một vấn đề còn nhiều thách thức đối với HS Việt Nam.

+ Về PPDH: Với ưu thế về lượng HS, sĩ số hạn chế, số HS không vượt quá 35 HS/lớp. Trong các giờ học và hoạt động, HS được tự do phát biểu quan điểm, thậm chí cả tự do đi lại trong lớp... Trên những bức tường tại lớp học, HS tự vẽ, hoặc tự viết (theo góc quy định của mình), những vấn đề tâm đắc hoặc bức xúc... dựa vào đây mà GV có thể thêm một kênh thông tin, để điều chỉnh các hành vi hoặc giúp đỡ, bồi dưỡng nhân cách tài năng HS.

+ Về vấn đề tích hợp: Chương trình GDPT của Singapore là chương trình mang đậm nét tích hợp, đặc biệt là môn Khoa học, không chỉ tích hợp nội dung các phân môn mà còn thể hiện sự tích hợp các nội dung khoa học vào trong các vấn đề của cuộc sống hằng ngày.

+ Về vấn đề phân hoá: Chương trình GDPT của Singapore thực hiện phân hoá từ rất sớm. Ngay từ cấp Tiểu học, sau khi hoàn thành 4 năm đầu học chương trình cơ sở, 2 năm sau đó, HS đã bắt đầu phân cấp theo khả năng học tập, các em có kết quả học tập cao hơn có thể lựa chọn vào học chương trình khó hơn.

Kiến nghị đối với việc phát triển Chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam

- Có thể học tập Singapore trong việc xác định khung năng lực, mục tiêu và chuẩn; Mô hình giáo dục đa dạng, mềm dẻo; Thực hiện tích hợp bài bản từ Tiểu học đến THPT; Coi trọng việc dạy học tự chọn.

- Có thể tham khảo việc tổ chức các nội dung tích hợp trong chương trình của Singapore để vận dụng vào việc xây dựng phương án tích hợp của Việt Nam, đặc biệt là môn KHTN.

- Tham khảo một số mô hình tổng thể nhà trường các cấp học của Singapore để học tập, vận dụng trong việc xây dựng mô hình nhà trường phù hợp, đáp ứng tốt nhất yêu cầu đổi mới Chương trình GDPT của Việt Nam.

(Để xem các bảng dữ liệu xin tải về tệp đính kèm)


[1] Xem thêm thông tin ở Bảng 1

[2] Xem thêm thông tin ở Bảng 2

Ngân sách Nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của Nhà nước trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Hoạt động thu chi ngân sách Nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc của hệ thống luật ngân sách. Chính vì vậy, việc xác định một số nguyên tắc hướng dẫn quản lý ngân sách có thể đưa vào trong một luật hệ thống ngân sách toàn diện là rất cần thiết. Một khi các mục đích của luật được làm rõ, các điều khoản giới thiệu hoặc một văn bản riêng biệt khác sẽ quy định các nguyên tắc chính và phạm vi của văn bản này cũng như giải thích tất cả các thuật ngữ sử dụng trong luật hệ thống ngân sách.

Để xây dựng nguyên tắc tối ưu cho luật hệ thống ngân sách cần làm rõ những quy tắc tối ưu sau đây[1]:

Thứ nhất về trách nhiệm giải trình: Cơ quan hành pháp phải báo cáo định kỳ với cơ quan lập pháp về hiệu quả hoạt động tài khóa. Một cơ quan kiểm toán bên ngoài (không thuộc chệ thống cơ quan hành pháp, không thuộc hệ thống cơ quan lập pháp) độc lập báo cáo với cơ quan lập pháp hàng năm về tình hình chấp hành ngân sách. Trong nội bộ cơ quan hành pháp, trách nhiệm giải trình của các nhà quản lý ngân sách được làm rõ.

Thứ hai, chu kỳ năm: Thẩm quyền ngân sách được áp dụng trong thời gian 12 tháng. Luật hệ thống ngân sách quy định các trường hợp ngoại lệ như phân bổ trong nhiều năm và chuyển nguồn cuối năm. Mọi giao dịch được dự toán dựa trên tác động của nó trong vòng một năm.

Thứ ba, thẩm quyền: Quyền ra quyết định trong chu kỳ ngân sách được làm rõ trong luật hệ thống ngân sách. Cơ quan hành pháp chuẩn bị một dự thảo luật ngân sách năm và các văn bản bổ trợ; không sắc thuế hoặc chi tiêu nào có thể được thực hiện mà không có sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp; Cơ quan lập pháp phê chuẩn dự toán chi hàng năm (phân bố), có thể là sau khi chỉnh sửa thẩm quyền này được quy định trong luật hệ thống ngân sách, cũng giống như thẩm quyền của cơ quan hành pháp, nếu có, về sửa đổi luật ngân sách đã được thông qua trong năm). Cơ quan hành pháp thực hiện ngân sách năm, quản lý cán cân tiền mặt chính phủ trong các tài khoản ngân hàng và cung cấp các báo cáo về thực hiện ngân sách.

Thứ tư về cân đối: Các khoản chi tiêu được phản ánh trong ngân sách được cân đối theo số thu (bảng cân đối kế toán, cơ sở tiền mặt). Các khoản chi phí ngân sách được cân đối theo thu ngân sách và tài trợ (cơ sở dồn tích). Không có khoản chênh lệch tài chính nào trong ngân sách được phê chuẩn. Khái niệm phù hợp về “cán cân” được xác định rõ, và có thể chịu sự điều chỉnh của các giới hạn pháp lý (một “quy tắc tài khóa”).

Thứ năm, vấn đề về quỹ thu chung: Mọi nguồn lực ngân sách có thể được dùng thay thế cho nhau và đưa vào một quỹ chung.

Thứ sáu, xét về tính toàn diện: Phạm vi ngân sách năm (ví dụ, tất cả các thực thể ngân sách của chính quyền trung ương bao gồm quỹ ngoài ngân sách) được xác định rõ ràng. Mọi nguồn thu, chi được phản ánh trong ngân sách trên cơ sở tổng; các khoản chi không được bù đắp bởi các khoản thu. Luật hệ thống ngân sách sẽ quy định các trường hợp ngoại lệ.

Thứ bảy, về hiệu quả hoạt động: Các kết quả (hoặc đầu ra) mong đợi và thực tế trong quá khứ của chương trình ngân sách được báo cáo trong các tài liệu ngân sách. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân sách căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động của các sở ngành, đơn vị và chương trình hoạt động để hoàn thành mục tiêu. Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động cũng có thể áp dụng trong các tình huống chiến thuật, đem lại cho các nhà quản lý hành chính của chính quyền một bảng điểm[2] về các chỉ số hiệu quả hoạt động quan trọng ở cấp độ tác nghiệp. Biện pháp đo lường hiệu quả hoạt động có thể xem xét trên cơ sở các tiêu chí như đầu vào và tiêu chí; hoạt động/tiến bộ; đầu ra, kết quả; hiệu quả; chất lượng và mức độ hài lòng của khách hàng, thông tin giải thích, so sánh đối chiếu. Các tiêu chuẩn đầu vào, đầu ra và hiệu quả được sử dụng phổ biến nhất (xem sơ đồ dưới đây).

chart tin3KA

Thứ tám, về tính cụ thể: Các khoản thu và chi được xác định cụ thể chi tiết trong dự toán ngân sách. Khi dự báo các khoản thu ngân sách thường niên, con số ước tính cuối cùng phải cân nhắc đến những tác động của sự thay đổi chính sách đến nguồn thu. Phải ước tính được dòng tiền thu trong tương lai kể cả khi các chính sách thay đổi. Nhiệm vụ của dự báo nguồn thu thường tập trung chủ yếu vào nguồn thu chủ yếu từ thuế nên khi thay đổi các chính sách thuế sẽ có tác động rất lớn tới con số dự báo thu ngân sách.

Ngân sách năm đòi hỏi số thu cho năm tài khóa sắp tới phải được ước tính nhằm làm rõ những hạn chế về nguồn lực khi hoạch định có hoạch chi tiêu. Dự toán thu cần phải càng chính xác càng tốt nhằm tránh thiếu hụt thu hoặc thặng dư thu quá lớn. Cả hai kết quả trên đều khiến cho ngân sách Nhà nước phải rà soát lại việc phân bổ ngân sách, có thể gây ra xáo trộn trong việc cung cấp dịch vụ công. Tương tự như vậy, việc lập dự toán chi ở chính quyền địa phương cũng cần đảm bảo tính ổn định. Mặc dù tất cả các cấp chính quyền địa phương đều tham gia lập dự báo thu hàng năm theo một hình thức nào đó, không phải tất cả đều nỗ lực đưa ra các dự báo thu chi dài hạn hơn (từ ba đến năm năm) một cách có hệ thống. Qua việc dự báo thu trung hạn và so sánh dự báo đó với số chi cần thiết để duy trì mức độ dịch vụ hiện tại, các cơ quan chức năng có thể xác định xem có cần tìm nguồn cho khả năng thiếu hụt hay không và cân nhắc các chính sách để giải quyết điều đó. Tương tự, các chuyên gia dự báo/các nhà hoạch định chính sách có thể hỗ trợ chính quyền địa phương trong lập kế hoạch thu chi bằng cách ước tính những tác động thu chi của hoạt động đầu tư cho cơ sở hạ tầng mới, bao gồm cả chi phí vận hành và duy trì bảo dưỡng liên quan đến cơ sở hạ tầng đó.

Thứ chín, về tính ổn định: Ổn định tài khóa vĩ mô trong ngắn hạn và trung hạn: đảm bảo các cam kết chính sách đạt được mục tiêu về thu, tổng chi, cán cân tài khóa và nợ công. Các mục tiêu tài khóa cần được quy định cụ thể trong một khuôn khổ ngân sách trung hạn được cập nhật thường xuyên. Ổn định dài hạn: cần chuẩn bị dự báo tài khóa dài hạn định kỳ và phân tích bền vững tài khóa.

Thứ mười, về tính minh bạch: Vai trò và trách nhiệm của tất cả các cơ quan công được làm rõ. Thông tin kịp thời và thường xuyên về ngân sách được công khai, bao gồm quỹ ngoài ngân sách (nếu có), chi phí thuê và các khoản nợ phát sinh. Để có sự minh bạch một cách hiệu quả, các quyết định tài khóa – về thuế, chi tiêu và vay nợ cần phải được đưa ra trong một quy trình mở, chứ không phải trên nghiên cứu lý luận hay được đưa ra một cách vội vàng khiến cho người dân không có cơ hội giám sát.

Các thông tin tài khóa cần được công bố công khai kể cả ở địa phương. Đây là sự minh bạch giữa công dân và chính quyền về những ưu đãi, kế hoạch, việc ra quyết định, đánh giá kết quả để có thể trở thành nền tảng quan trọng nhằm bảo đảm thực thi các dịch vụ công một cách hiệu quả và có trách nhiệm, đáp ứng nhu cầu của người dân.

Ngân sách công bố bao gồm cả những kế hoạch và kết quả bằng ngôn ngữ minh bạch là yếu tố quan trọng để khuyến khích ý kiến đóng góp của công dân. Việc cho phép công dân địa phương có ý kiến đóng góp là một trong những lợi thế lớn trong việc ra quyết định về tài khóa cả ở chính quyền địa phương và minh bạch cũng là công cụ nhằm đạt được lợi thế của việc tham gia của công dân vào quy trình tài khóa. Trên thực tế, vấn đề minh bạch tài khóa ở địa phương ít nhận được sự quan tâm quan trọng của các nhà lập pháp.

Thứ mười một, về tính thống nhất: Ngân sách phản ánh và cơ quan lập pháp thông qua mọi khoản thu, chi trong cùng một luật ngân sách năm. Đối với chi tiêu, không có hệ thống ngân sách “kép”, một cho chi thường xuyên và một cho các giao dịch đầu tư. Các biện pháp thu mới có thể được phê chuẩn trong luật ngân sách năm hoặc thông qua sửa đổi các luật thuế liên quan (nguyên tắc về tính riêng biệt có thể được đưa vào trong luật hệ thống ngân sách).

Có thể nhận thấy rằng, luật hệ thống ngân sách hoạt động hiệu quả thì nguyên tắc về tính minh bạch và toàn diện được đề cao bởi chất lượng hệ thống quản lý tài chính công có thể xem xét ở tính sẵn có và chất lượng của thông tin ngân sách, từ hệ thống phân loại dùng để tổ chức các hạng mục ngân sách đến phạm vi và tính rõ ràng của các tài liệu ngân sách.

Tiếp đến là cơ chế kiểm soát, giám sát và trách nhiệm giải trình cũng được đặt ra nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống quản lý tài chính công bởi khi xem xét lượng thông tin ngân sách hiện có có thể được sử dụng như thế nào, đã thiết lập đầy đủ cơ chế chưa để đảm bảo sự tuân thủ các quy tắc và thủ tục hiện hành, cũng như để nâng cao tính trách nhiệm giải trình cho việc sử dụng nguồn lực công. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, hệ thống quản lý tài chính công có chất lượng tốt hơn có thể được định nghĩa là những hệ thống có mức độ minh bạch, định hướng chính sách và kiểm soát/trách nhiệm giải trình cao hơn. Khi không có thông tin ngân sách hoặc thông tin ngân sách không rõ ràng mình bạch hoặc cơ chế kiểm soát, giám sát và trách nhiệm giải trình không được đề cao thì sẽ dẫn tới hệ thống quản lý tài chính công kém chất lượng.


[1] Nguồn: Dựa trên Hộp 3 của Lienert và Fainboim (2010).

[2] Bảng điểm là các bảng về hiệu quả hoạt động ở cấp độ tác nghiệp (GFOA 2003. Tham khảo Niven và Mann 2003

Nước Pháp hiện tại đang là một cường quốc về kinh tế, về khoa học, công nghệ (nền kinh thế lớn thứ 6 trên thế giới, năng suất lao động đứng thứ 2 trong khối G7...), và một trong những yếu tố cơ bản cho phép Pháp duy trì vị thế đó chính là nguồn lực rất mạnh về khoa học kĩ thuật và giáo dục. Giáo dục phổ thông (GDPT) của Pháp có truyền thống lâu đời và có ảnh hưởng trên thế giới. Cũng như các tư tưởng dân chủ và xã hội Pháp, nhiều tư tưởng giáo dục Pháp đã, đang và tiếp tục là những tư tưởng nền tảng của giáo dục hiện đại. Mô hình giáo dục Pháp là một mô hình có nhiều nét độc đáo riêng biệt trên nhiều phương diện.

Từ những thập niên cuối thế kỉ XX cho đến nay, nền giáo dục Pháp một mặt liên tục được điều chỉnh, thay đổi nhằm đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi mới của một xã hội vận động nhanh chóng và giải quyết những vấn đề nảy sinh. Nhiều biện pháp, chính sách giáo dục mới được xây dựng bởi những chính phủ khác nhau với những xu hướng chính trị khác biệt nhưng luôn dựa trên sự đảm bảo những nguyên lí, giá trị, quan niệm nền tảng về vai trò, chức năng của giáo dục và vai trò của nhà nước phúc lợi đối với nền giáo dục - những nền tảng tư tưởng gắn kết xã hội Pháp. Những chính sách, biện pháp ấy đều thống nhất ở định hướng làm cho nền giáo dục công bằng hơn, hoà nhập tốt hơn và hiệu quả hơn. Báo cáo của Bộ Giáo dục Pháp gửi UNESCO năm 2004 về khuynh hướng biến đổi của giáo dục Pháp đưa ra một số nét chính của các chính sách mà theo chúng tôi vẫn có thể phù hợp cho giai đoạn hiện tại:

- Hiện đại hoá Chương trình GDPT cả về nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường sử dụng ICT; chú trọng tích cực hoá quá trình học tập. Tạo điều kiện cho việc tăng cường các hoạt động liên môn, cho sự phối hợp các hoạt động giáo dục và các quá trình học tập khác nhau trong nhà trường, chú trọng giáo dục công dân, định hướng nghề nghiệp.

- Tăng cường sự phân quyền cho các địa phương, các cơ sở đào tạo nhằm tăng khả năng đổi mới, phát huy sáng kiến, sự chủ động, linh hoạt của các cơ sở trong điều kiện đặc thù của họ để đạt hiệu quả cao hơn nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất của chương trình giáo dục và thi cử quốc gia thống nhất, tìm biện pháp hiệu quả hơn để duy trì sự quản lí thống nhất của Nhà nước, đảm bảo sự nhất quán, công bằng giữa các cơ sở, tăng cường hỗ trợ cho những nơi khó khăn.

- Tăng cường đầu tư cho giáo dục để cung cấp giáo dục (miễn phí) cho tất cả mọi người: mở rộng giáo dục bắt buộc cả 2 chiều tuổi, cả ở mầm non và sau trung học; đáp ứng những nhu cầu, khả năng khác nhau, định hướng học suốt đời; đồng thời đảm bảo chất lượng giáo dục, đảm bảo hiệu quả và thành công, hội nhập xã hội tốt hơn cho tất cả. Những biện pháp tập trung hơn vào tính nền tảng của giáo dục cơ sở, tăng cường sức hấp dẫn của giáo dục nghề nghiệp trong GDPT, tạo ra nhiều loại hình đào tạo nghề ngắn hạn cả ở GDPT và sau đó, tăng khả năng liên thông, đặc biệt là các mô hình đào tạo liên kết với doanh nghiệp... Cũng theo hướng này có nhiều biện pháp tăng cường tính mở của nhà trường, hợp tác với những những đối tác mới trong xã hội.

- Tăng cường tính mở, tính hội nhập của nền giáo dục đối với châu Âu và thế giới, một mặt bởi nội dung và chương trình giáo dục – với sự chú trọng giáo dục mở về văn hoá, năng lực đa văn hoá, sự hiểu biết và tôn trọng những văn hoá khác nhau; mặt khác bởi sự hội nhập bằng các chương trình trao đổi học sinh (HS), liên kết đào tạo...

Có thể thấy rằng, chất lượng của hệ thống giáo dục Pháp được đánh giá thông qua các kỳ thi, bằng cấp bậc phổ thông do Nhà nước độc quyền. Pháp vẫn sử dụng hình thức thi tốt nghiệp kết hợp thêm đánh giá quá trình ở cuối GDPT cơ sở và cuối bậc cao trung.

6.1. Cấp bằng tốt nghiệp THCS

Bằng tốt nghiệp giáo dục cơ sở - DNB là bằng quốc gia chứng nhận kết thúc chương trình giáo dục cơ sở. Tuy nhiên, bằng này không phải là điều kiện bắt buộc để được nhận vào học cao trung.

DNB gồm 2 loại: DNB đại cương (90% thí sinh) và DNB nghề (khoảng 10% thí sinh).

Trước 2016, việc cấp bằng tốt nghiệp THCS dựa vào 2 điều kiện: Điểm tốt nghiệp và Chứng nhận đạt các năng lực SOCCOM của nhà trường và hạnh kiểm. Điểm tốt nghiệp được tính dựa vào điểm thi tốt nghiệp và điểm quá trình, với các kì thi và cách tính điểm như sau:

- Kì thi tốt nghiệp: Gồm 3 môn thi viết theo đề chung quốc gia: Toán, Tiếng Pháp, Sử - Địa - Giáo dục công dân tổ chức thi trong 2 ngày (năm 2014:26 và 27/6). Điểm mỗi môn thi được tính hệ số 2.

- Một kì thi vấn đáp Lịch sử nghệ thuật (lưu ý là không có môn học riêng trong chương trình mà lồng ghép), tổ chức tại trường, tính hệ số 2.

- Điểm kiểm tra thường xuyên tất cả các môn học trong năm lớp 9 (ngoại trừ Sử - Địa - Giáo dục công dân): hệ số 10 hoặc 11.

- Môn tự chọn nếu điểm trên trung bình sẽ được cộng thêm vào tổng điểm để tính trung bình.

Với chương trình mới 2016: Cách xét cấp bằng tốt nghiệp THCS có sự thay đổi theo hướng kì thi tốt nghiệp bao phủ phần lớn số môn học, dù vẫn duy trì kết hợp với đánh giá quá trình. Kì thi tốt nghiệp gồm 3 bài thi bắt buộc, mỗi bài 100 điểm:

. - Một bài thi viết Toán, Vật lí - Hoá học, Khoa học sự sống và Khoa học Trái Đất, Công nghệ;

- Một bài thi viết Tiếng Pháp, Lịch sử - Địa lí và giáo dục đạo đức và công dân;

- Một bài thi vấn đáp về một trong các dự án liên môn mà HS đã tiến hành trong 3 năm học hoặc về một lộ trình giáo dục (lộ trình tương lai, lộ trình công dân...).

Phần đánh giá việc làm chủ SOCCOM là đánh giá trong quá trình học. 5 lĩnh vực của SOCCOM được chia làm 8 cấu phần, mỗi cấu phần tối đa 50 điểm với thang điểm:

+ Chưa làm chủ/thụ đắc: 10 điểm.

+ Làm chủ chưa vững chắc: 25 điểm.

+ Làm chủ: 40 điểm.

+ Làm chủ rất tốt: 50 điểm.

Điểm tốt nghiệp = tổng điểm thi tốt nghiệp + điểm SOCCOM.

Để được cấp bằng HS phải đạt trên 350 điểm/tổng 700 điểm.

Có quy định riêng cho các trường hợp đặc biệt (song ngữ, quốc tế, người lớn…)

Năm 2013, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THCS khoảng 85%.

6.2. Cấp bằng tú tài

Để được cấp bằng tú tài (tú tài đại cương, tú tài công nghệ, tú tài nghề), học sinh phải đạt điểm tốt nghiệp trên trung bình (10/20 trở lên) đối với chương trình trung học phổ thông.

Cách tính điểm tốt nghiệp như sau: về nguyên tắc, tất cả các môn mà học sinh theo học ở lớp 11, 12 (theo ban), kể cả tự chọn đều được đánh giá tính vào điểm tốt nghiệp, với hệ số khác nhau (tuỳ thuộc ban, tuỳ thuộc việc chọn chuyên ngành). Đại đa số các môn được đánh giá dưới hình thức thi tốt nghiệp. Hình thức thi có thể là viết hoặc vấn đáp, thực hành, thuyết trình dự án hoặc phối hợp cả 2 tuỳ môn, có thi thực hành với một số môn (như vật lí). Các môn tự chọn không bắt buộc có thể thi, được tính điểm thưởng nếu đạt nhưng tiêu chí điểm nhất định (kiểu như thưởng điểm nghề ở Việt Nam). Một số môn sử dụng ngay điểm đánh giá thường xuyên.

Kì thi tốt nghiệp THPT là kì thi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, cả nước thi cùng thời gian theo đề chung (ngoại trừ một số vùng hải ngoại, trường Pháp ở nước ngoài thời gian thi ấn định riêng theo vùng với đề thi riêng, nhưng vẫn là đề thi quốc gia). Những môn kết thúc ở lớp 11 được tổ chức thi ngay cuối lớp 11.

Ví dụ: HS theo học Ban Khoa học (ban S) lớp 12 năm 2013 - 2014 ở Pháp được đánh giá tốt nghiệp như sau:

Ở lớp 11, đánh giá 3 môn Dự án nhóm TPE, Tiếng Pháp, Sử - Địa:

- TPE là dự án theo nhóm 3 người ở lớp 11, điểm gồm 3 phần: Quá trình cá nhân thực hiện (8 điểm - do các GV hướng dẫn cho), sản phẩm cuối và điểm trình bày (do nhóm giám khảo cho). Nếu điểm trên 10/20 sẽ được tính với hệ số 2.

- Tiếng Pháp gồm 2 phần: Thi viết trong 4 giờ theo đề chung quốc gia (hệ số 2); thi nói (20 phút, hệ số 2).

- Sử - Địa: Thi viết theo đề quốc gia trong 4 giờ, hệ số 3.

Lớp 12, đánh giá các môn còn lại.

- Môn giáo dục thể chất và thể thao: Hệ số 2, đánh giá quá trình. Lấy điểm trung bình của 3 bài thi thực hành trong năm.

- Các môn khác: Có thể kết hợp thi viết, thi nói, thực hành, đánh giá quá trình... với lịch thi viết quốc gia như sau:

chart tin1KA

Các học sinh lựa chọn chuyên ngành sẽ có một phần riêng trong đề thi môn tương ứng. Riêng chuyên ngành Tin học và Khoa học số hoá được đánh giá bằng điểm trình bày và bảo vệ hồ sơ - dự án tại trường.

Nếu điểm tốt nghiệp trung bình trong khoảng từ 8 đến dưới 10, học sinh có thể chọn một hay vài môn để thi lại ngay sau hè, trong tháng 9, thường là dưới hình thức vấn đáp.

Năm 2014, tỉ lệ thành công trong kì thi tú tài đạt tới 87,9%, cao nhất từ trước tới nay (tăng hơn 1% so với 2013), trong đó riêng tú tài đại cương (tương đương Trung học phổ thông của Việt Nam) tỉ lệ đỗ lên đến 90,9%.

6.3. Tuyển sinh Đại học - Cao đẳng

Bằng tú tài đồng thời cũng được coi là bằng đầu tiên của đại học. Kì thi tú tài có thể coi đồng thời là kì thi tuyển sinh đại học chung. Có bằng tú tài, học sinh có thể đăng kí vào các trường đại học, cao đẳng hoặc các lớp dự bị thi vào trường lớn CPGE không qua thi. Một số ngành ví dụ kĩ thuật viên cao đẳng, lớp CPGE xét tuyển dựa trên hồ sơ (học bạ, thư tự giới thiệu và đăng kí...).

Trường hợp đặc biệt: Một số trường đào tạo kĩ sư, kiến trúc, kinh doanh, nghệ thuật có thể tổ chức xét tuyển dựa vào hồ sơ, dựa vào kết quả tú tài, phỏng vấn hay tổ chức thi tuyển riêng. Một số trường grandes ecoles như Bách khoa, Sư phạm... chỉ tuyển sinh các học sinh đã học xong 2 năm đại học hoặc các lớp CPGE 2 năm (tương đương 2 năm đầu đại học), kì thi tuyển rất khó.

Việc đăng kí vào đại học, cao đẳng được tổ chức thông qua cổng tuyển sinh điện tử Admission Post - Bac của Bộ Giáo dục. Ví dụ năm 2014, từ 20/1 đến 20/3 học sinh đăng kí trên mạng, lập hồ sơ điện tử, đăng kí nguyện vọng và sắp xếp thứ tự nguyện vọng. Học sinh được đăng kí tối đa 36 nguyện vọng. Với những trường có yêu cầu, HS phải in hồ sơ và gửi đến trường. 2/4 là hạn cuối hoàn chỉnh hồ sơ trên mạng và gửi hồ sơ đến các trường. Thông tin về việc trường đã nhận được hồ sơ hay chưa, hồ sơ đầy đủ hay còn thiếu được gửi qua thư điện tử và thông báo trong hồ sơ điện tử cá nhân. Học sinh có thể điều chỉnh thứ tự nguyện vọng cho tới 10/6 (trước ngày thi tú tài). Việc tuyển được thực hiện trong 3 giai đoạn: 23 - 27/6; 4 - 8/7; 14 - 19/7 (mốc tính 12h). Ở từng giai đoạn, một đề xuất của Bộ được đưa ra cho thí sinh dựa trên: thứ tự ưu tiên nguyện vọng của HS, bảng xếp hạng HS (với những trường có chọn lọc xét tuyển). Học sinh phải trả lời đề xuất này theo kiểu: chấp nhận chắc chắn, chấp nhận nhưng..., không chấp nhận nhưng...

Tóm lại, nước Pháp chú trọng một nền giáo dục vì từng cá nhân và cả xã hội, chống lại quan niệm quá thực dụng về giáo dục ở đó mục tiêu phục vụ thị trường và kinh tế là mục tiêu quan trọng nhất. Chính phủ Pháp xây dựng mục tiêu giáo dục theo hướng:

Thứ nhất, giáo dục luôn duy trì tư tưởng giáo dục khai phóng, đào tạo con người cá thể và con người xã hội có tư duy tự do, tự chủ, độc lập và phản biện; chia sẻ những giá trị nhân văn dựa trên cơ sở hiểu biết, văn hoá...

Thứ hai, nền giáo dục Pháp luôn kế thừa, duy trì những điểm mạnh; chuẩn bị, biện luận, chuẩn bị cho sự đồng thuận trong dư luận xã hội nói chung, trong ngành nói riêng với những thay đổi, đảm bảo tính khả thi, tránh những xáo trộn, đảo thái cực khó kiểm soát.

Thứ ba, cần có sự tham gia rộng rãi của nhiều lực lượng khác nhau trong và ngoài ngành Giáo dục trong các tranh luận, thâm vấn, chuẩn bị cho các cải cách, đổi mới giáo dục.

Do lịch sử, về văn hoá và giáo dục, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Pháp, nền giáo dục hiện đại của ta có thể nói đã hình thành với những ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của giáo dục Pháp đầu thế kỉ XX. Hơn 50 năm đã qua, những dấu ấn của Pháp vẫn còn khá mạnh. Giai đoạn lịch sử tiếp đó, với ảnh hưởng Liên Xô và Trung Quốc lại củng cố thêm một số ảnh hưởng, đặc biệt là tư duy quản lí tập trung nền giáo dục. Quy mô dân số, quy mô nền giáo dục về số lượng HS, GV của Pháp cũng khá tương đồng với Việt Nam: 12 296 400 HS phổ thông (6 796 300 Tiểu học, 3 335 100 THCS, 2165 000 bậc cao trung - 671 200 trung học nghề) và 839 700 GV, 64 000 trường học. Có thể thấy được nhiều bài học từ nền giáo dục Pháp, từ cách thức điều chỉnh nền giáo dục ấy cho quá trình đổi mới giáo dục Việt Nam hiện tại và trong tương lai, ít nhất là tương lai gần. Những mô tả, phân tích chi tiết về phương thức, về xu hướng của họ trong từng vấn đề cụ thể ở những phần trước chủ yếu được tiến hành theo quan điểm này nhằm đáp ứng về chất lượng của hệ thống giáo dục Việt Nam trên cơ sở xem xét thêm kinh nghiệm của Pháp trong chọn lựa, cấu trúc nội dung, kế hoạch dạy học, thiết kế chương trình chung và chương trình môn học theo tiếp cận năng lực, trong quan hệ với việc xác định nội dung học vấn/văn hoá cốt lõi cũng như trong cách thức tăng cường hoạt động liên môn, tích hợp mà vẫn đảm bảo chất lượng dạy học các bộ môn. Một trong những điểm đáng lưu ý là cần điều chỉnh tư duy chọn lựa nội dung tuyến tính, chủ yếu dựa vào logic "khoa học" của bộ môn, làm chương trình trở nên khá hàn lâm và nặng tải trong những đợt cải cách gần đây của chúng ta.

Ngân sách Nhà nước là trọng tâm của chính sách công phản ánh triển vọng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó dưới sự điều hành hợp lý của Chính phủ nhằm hoàn thành tốt vai trò và tuân thủ các hạn chế trong khuôn khổ luật định. Có thể thấy rằng, tất cả các mục tiêu chính sách đều cần đến một nguồn lực tài chính nhất định mà chỉ có thể được huy động từ người dân dưới hình thức thuế và phí. Chính vì vậy, ở hầu hết các quốc gia Chính phủ chỉ tiêu tiền ngân sách Nhà nước khi đã được Quốc hội thông qua.

Ngân sách là bản ghi chép các nguồn thu và chi tiêu của Chính phủ trong một khoảng thời gian nhất định. Về mặt tiền kiểm, cho thấy Chính phủ dự định làm trong giai đoạn đó và cách thức Chính phủ muốn thực hiện cho các hoạt động dự kiến trước. Về mặt hậu kiểm, thể hiện những hoạt động mà Chính phủ thực làm và đã chi trả cho các hoạt động đó dưới hình thức nhất định.

Bản chất ngân sách là kết quả của quy trình lập ngân sách, cách thức ra các quyết định về việc sử dụng và tài trợ các nguồn lực công, từ việc dự thảo luật ngân sách cho đến thực thi ngân sách.

Khi xây dựng các quy định trong luật hệ thống ngân sách[1] các đại biểu nên làm rõ tính chất, các dạng phân bổ ngân sách và tính linh động trong phân bổ hàng năm vì những vấn đề này có tầm quan trọng lớn nhằm thực hiện ngân sách hiệu quả.

Phân bổ là các mức giới hạn trên có tính ràng buộc về pháp lý, vì thế, các quy định trong Luật hệ thống ngân sách nên quy định liệu phân bổ hàng năm thiết lập các mức giới hạn trên có tính ràng buộc pháp lý cho từng khoản chi không và làm rõ các trường hợp ngoại lệ. Liên quan đến các quy định về chi tiêu của Chính phủ có thể được điều chỉnh bởi các luật khác hoặc hợp đồng có tính ràng buộc pháp lý như ở các nước phát triển ví dụ, các khoản chuyển giao cho hộ gia đình như lương hưu và tiền trợ cấp thất nghiệp, trả nợ, chi trả theo lệnh của tòa án và phải được trả bất kể số tiền được phân bổ trong luật ngân sách năm. Nếu những khoản chi tiêu này được bao gồm trong các đạo luật phân bổ năm, dự toán chi không nhất thiết là mức giới hạn trên. Điều này phụ thuộc vào bản chất của khoản chi tiêu đó. Ví dụ, các khoản chuyển giao liên chính phủ, mặc dù thường được xác định bởi các thủ tục không thuộc quy trình phê chuẩn ngân sách năm, có thể được áp đặt các mức trần. Ngược lại, các luật liên quan đến những kế hoạch an sinh xã hội của chính phủ yêu cầu chi trả cho các đối tượng thụ hưởng bất kể dự toán ngân sách có chính xác hay không.

Tuy nhiên, đối với hầu hết các khoản chi tiêu, phân bổ năm sẽ áp đặt giới hạn trên có tính ràng buộc pháp lý. Ngoại lệ là ở Mỹ, mỗi phân bổ chi tiêu cũng đóng vai trò là mức giới hạn dưới: luật yêu cầu cơ quan hành pháp phải dùng hết các khoản phân bổ trong ngân sách. Quy định này làm mất đi tính linh động của cơ quan hành pháp để tiến hành giảm chi nếu hụt thu.

Đối với vấn đề chi ngân sách trên cơ sở tiền mặt, cam kết hay dồn tích? Khi xây dựng chính sách các đại biểu cần phân tích rõ những quy định cơ sở phân bổ. Ở hầu hết các nước, hệ thống phân bổ dựa trên tiền mặt được thực hiện. Pháp và Đức là hai ví dụ cho những nước áp dụng luật ngân sách năm với giới hạn về cam kết chi tiêu và chi trả tiền mặt. Rất ít nước áp dụng phân bổ ngân sách dồn tích, và Australia cho thấy lập ngân sách cho các hạng mục không phải tiền mặt, đặc biệt là để tính khấu hao, rất khó thực hiện.

Lịch sử phân cấp trong quản lý nhà nước của Việt Nam bắt nguồn từ thời phong kiến tuy mức độ phân cấp có sự khác nhau qua các thời kỳ. Trong giai đoạn phát triển từ 1954 đến 1986 về nguyên tắc thì hệ thống quản lý nhà nước của Việt Nam mang tính tập trung cao độ để phù hợp với bối cảnh lịch sử. Song ngay trong giai đoạn này cũng đã có sự tồn tại của phân cấp quản lý ngân sách phi chính thức ở mức độ hạn chế. Giai đoạn từ sau Đổi mới kinh tế đến nay, chủ trương phân cấp quản lý nói chung và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước nói riêng đã và đang được thực hiện mạnh mẽ. Phân cấp về quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc: quyền quyết định của Trung ương và quyền chủ động của các địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ ngân sách. Sau khi ban hành luật Ngân sách 1996 và nhất là luật Ngân sách 2002 các địa phương ngày càng được quyền tự chủ cao hơn và được giao quyền quyết định trong một số nhiệm vụ liên quan đến ngân sách.

Phân cấp quản lý ngân sách hiện nay gồm có phân cấp nhiệm vụ thu và chi NSNN.

Các cấp ngân sách của Việt Nam được thiết kế theo mô hình Búp bê Nga, ngân sách cấp trên bao hàm ngân sách các cấp dưới. Ngân sách nhà nước được chia thành ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh tế phát triển có mô hình phân bổ ngân sách tổng và phân bổ ngân sách ròng, trong đó đề cao nguyên tắc tính toàn diện không cho phép chi tiêu được bù đắp bởi các khoản thu. Mặc dù, luật hệ thống ngân sách của nhiều nước cho phép việc dành riêng một số khoản thu cho các mục đích cụ thể (ví dụ, thuế thu từ sản phẩm xăng dầu phải được chi cho bảo trì đường bộ). Một số nước khác, trong nỗ lực khuyến khích các bộ/cơ quan chính phủ học tập các thực thể ở khu vực tư nhân, đã áp dụng các quy định pháp luật khuyến khích các thực thể ngân sách tự tạo ra các khoản thu và giữ chúng lại. Trong những trường hợp này, cơ quan lập pháp nên phê chuẩn dự toán thu và đưa ra các hướng dẫn thiết lập phí hoặc lệ phí để tạo ra khoản thu đó. Khi dự toán thu của cơ quan bị vượt quá thì bất kì khoản chi nào cũng cần được cơ quan lập pháp phê chuẩn.

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, khi xây dựng Luật ngân sách nhà nước các đại biểu cần quy định chặt chẽ tính chủ động, hiệu quả của các địa phương trong việc sử dụng ngân sách nhà nước. Việc phân cấp theo hướng tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương giúp các cấp chính quyền địa phương phát huy cao độ tính tự chủ trong quản lý ngân sách của cấp mình, tích cực thực hiện các biện pháp khai thác, huy động nguồn thu, chủ động cân đối để điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách địa phương. Việc điều tiết các nguồn thu theo Luật cùng với ổn định tỷ lệ phân chia và số bổ sung cân đối trong thời kỳ ổn định đã tạo nguồn thu ngân sách phường - xã, giúp các phường - xã từng bước thật sự là một cấp ngân sách cũng cần được quy định cụ thể, bởi quy định về phân cấp cũng góp phần lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực tài chính; chấm dứt tình trạng các cấp huyện, xã quy định nhiều khoản thu trái với pháp luật.

Có thể thấy rằng, phân cấp quản lý ngân sách có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương và xóa đói giảm nghèo. Các chính sách phân cấp nguồn thu NSNN có tác dụng khuyến khích các tỉnh đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội địa phương. Tuy nhiên tác động của chính sách này tới kinh tế địa phương là rất nhỏ so với các yếu tố khác, đồng thời, phân cấp quản lý ngân sách là cơ sở để từng bước tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp trong thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến NSNN.

Như vậy, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chế định liên quan đến Luật ngân sách nhà nước cần nâng cao tính trách nhiệm về sử dụng ngân sách nhà nước được giao của các đơn vị sử dụng ngân sách.

Chuyển nguồn ngân sách. Theo truyền thống, khoản chi được phê chuẩn là tiền mặt và chỉ có giá trị trong 12 tháng. Tuy nhiên, để tạo sự linh hoạt trong chi tiêu cuối năm, luật hệ thống ngân sách một số nước cho phép quyền chi đầu tư được chuyển nguồn sang năm tài khóa tiếp theo. Việc chuyển nguồn một số khoản chi thường xuyên cũng được phép ở những nước có cơ chế kiểm soát chi tiêu tốt. Luật hệ thống ngân sách nên quy định cụ thể về loại chi tiêu và giới hạn chuyển nguồn.[2]

Thời gian phân bổ ngân sách năm. Luật hệ thống ngân sách có thể cho phép các cam kết chi tiêu trong nhiều năm, đặc biệt là cho chi đầu tư. Những khoản phân bổ như vậy sẽ được thông qua khi cơ quan lập pháp phê chuẩn ngân sách năm.

Phân bổ cho dự phòng ngân sách. Luật hệ thống ngân sách có thể quy định luật phân bổ năm bao gồm một khoản để đáp ứng những nhu cầu chi cấp thiết phát sinh (ví dụ, cho các trường hợp khẩn cấp hoặc các nghĩa vụ không lường trước khác). Luật hệ thống ngân sách nên giới hạn những khoản chi không được phân bổ này chỉ tương ứng với một tỉ lệ phần trăm nhỏ của tổng chi hoặc thu (thường là dưới 3%) và giao thẩm quyền chi tiêu cho bộ trưởng tài chính. Luật hệ thống ngân sách cũng nên yêu cầu chi dự phòng được báo cáo thường xuyên cho cơ quan lập pháp. Các quy định sẽ xác định tính hợp lý, các thủ tục, giới hạn và báo cáo chi tiêu từ khoản dự phòng không phân bổ này trong đạo luật phân bổ thường niên.

Tóm lại, kỹ năng phân tích chính sách của đại biểu dân cử trong việc nghiên cứu phân bổ ngân sách góp phần thúc đẩy tính minh bạch trong sử dụng ngân sách, hạn chế chi tiêu và đầu tư không hiệu quả, đồng thời sẽ là cơ sở cho việc chống tham nhũng lãng phí của các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.

 


[1] Luật hệ thống ngân sách trong chuyên đề này có thể được hiểu là các quy định liên quan đến việc sử dụng ngân sách của các luật như Luật Ngân sách nhà nước (NSNN); Luật Đầu tư công; và nhiều văn bản pháp luật có liên quan.

[2] Chi tiết xin tham khảo Lienert và Ljungman (2009).

      Những thăng trầm của sản lượng, lạm phát, lãi suất và thất nghiệp hình thành nên chu kỳ kinh tế. Đây là đặc điểm chung của tất cả các nền kinh tế thị trường. Lịch sử kinh tế cho thấy nền kinh tế không bao giờ tăng trưởng theo một hình thái ổn định và bằng phẳng. Sau nhiều năm mở rộng và thịnh vượng sẽ là suy thoái, thậm chí là suy sụp. Ở Việt Nam, nếu trước kia các nghiên cứu còn khá dè dặt khi đề cập chu kỳ kinh tế và lịch sử của nền kinh tế thị trường quá ngắn, nhiều điểm còn chưa rõ, thì tình hình kinh tế từ năm 1991 đến năm 2016 cho thấy Việt Nam đang chịu tác động mạnh của các yếu tố như bất kỳ nền kinh tế thị trường nào đã từng trải qua.

     Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

          Những nội dung pháp lý liên quan đến ứng phó với chuyển giá ở Việt Nam lần đầu tiên được ghi nhận trong Thông tư số 74/1997/TT-BTC “Hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, do Bộ Tài chính ban hành vào năm 1997. Đến năm 1999, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 89/1999/TT-BTC “Hướng dẫn thực hiện các quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thay thế Thông tư số 74/1997/TT-BTC. Năm 2001, Bộ Tài chính tiếp tục ban hành Thông tư số 13/2001/TT-BTC “Hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thay thế Thông tư số 89/1999/TT-BTC. Nội dung liên quan đến “chuyển giá” đề cập trong các thông tư này tập trung vào các giao dịch của các doanh nghiệp có quan hệ liên kết việc xác định giá thị trường đối với các giao dịch của doanh nghiệp liên kết. Mặc dù trong vòng 4 năm, Bộ Tài chính đã liên tục ban hành 3 thông tư có các nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề chuyển giá, nhưng nhìn chung chưa có những thay đổi lớn giữa thông tư ban hành sau so với thông tư ban hành trước đó. Chẳng hạn Thông tư số 89/1999/TT-BTC chỉ làm rõ hơn về khái niệm “Hợp đồng giao dịch, mua bán không theo giá thị trường” và khái niệm “Doanh nghiệp/công ty liên kết” so với Thông tư số 74-TC/TCT-1997. Hoặc tại Thông tư số 74-TC/TCT-1997 và Thông tư số 89/1999/TT-BTC, vấn đề “Chống chuyển giá” được gọi tên là “Biện pháp chống chuyển giá” (mục IV) thì đến Thông tư số 13/2001/TT-BTC được sửa đổi bằng “Biện pháp xác định giá thị trường trong giao dịch giữa các doanh nghiệp liên kết”. 

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành