Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 quy định ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng có phân công và phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp. Như vậy, phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước là sự chuyển giao trách nhiệm và quền hạn từ cấp trung ương xuống các cấp chính quyền bên dưới trong việc quyết định và quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm cho các cấp chính quyền có sự tự chủ nhất định về tài chính để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Việc phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Nhà nước đối với trách nhiệm và quyền hạn trong việc quyết định và quản lý hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước ở cấp mình một cách hiệu quả nhất.

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tạo ra nguồn lực tài chính mang tính độc lập tương đối cho mỗi cấp chính quyền chủ động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, đây cũng là động lực khuyến khích mỗi cấp chính quyền và dân cư ở địa phương tích cực khai thác các tiềm năng của mình để phát triển địa phương. Bên cạnh đó, phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước tạo cho mỗi cấp chính quyền địa phương sự chủ động trong việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính cho các hoạt động quản lý Nhà nước được phân cấp.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 kế hoạch tài chính 5 năm là kế hoạch tài chính được lập trong thời hạn 5 năm cùng với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm. Kế hoạch tài chính 5 năm xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể về tài chính ngân sách Nhà nước; các định hướng lớn về tài chính, ngân sách Nhà nước; số thu và cơ cấu thu nội địa, thu dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; số chi và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chi thường xuyên; định hướng về bội chi ngân sách; giới hạn nợ nước ngoài của quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ, các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch.

Kế hoạch tài chính 5 năm để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương trong giai đoạn 5 năm kế hoạch; đưa ra các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản về tài chính - ngân sách nhà nước trong thời gian 5 năm kế hoạch; giữ vai trò định hướng cho kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Chu trình ngân sách là hoạt động ngân sách trong năm của Nhà nước đối với các hoạt động thu chi ngân sách. Trong bối cảnh bội chi ngân sách hiện nay của Việt Nam, đặt mục tiêu phát triển nền quản trị tài chính công hiện đại, minh bạch, công khai và tăng cường trách nhiệm giải trình với sự tham gia giám sát của cộng đồng vào chu trình ngân sách thì việc tạo ra hành lang pháp lý hoàn chỉnh trong quy trình ngân sách là rất cần thiết.

Trong chuyên đề này xin phân tích một số bước trong chu trình ngân sách của các trên thế giới và thực trạng chu trình ngân sách ở Việt Nam để các đại biểu, các nhà nghiên cứu có thêm thông tin và một số cách nhìn khác về các khâu trong chu trình ngân sách giúp ích cho việc xây dựng hành lang pháp lý và giám sát thực hiện ngân sách Nhà nước.

Về lý luận, chu trình chấp hành ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo tuân thủ với dự toán ngân sách được Quốc hội phê duyệt hàng năm, trong đó năm ngân sách được xác định từ ngày mùng 1/1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng nằm. Việc chấp hành ngân sách phải thích ứng với những thay đổi về môi trường kinh tế, giải quyết được các vấn đề gặp phải trong triển khai chương trình; mua sắm hàng hóa và dịch vụ, quản lý các hoạt động một cách hiệu quả; và phòng tránh rủi ro xảy ra lạm dụng và tham nhũng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Có thể nói, có rất nhiều thước đo khác nhau để xác định hiệu quả của doanh nghiệp, tuy nhiên, mỗi thước đo có những điểm mạnh, điểm yếu riêng. Cách xác định hiệu quả thông thường là ly đầu ra chia cho một đầu vào nào đó (như lao động hay vốn) thì nó có tính gộp, nghĩa là kết quả hoạt động của doanh nghiệp được tạo ra do nhiều yếu tố, nhưng khi tính năng suất hay hiệu quả thì chỉ tính cho một yếu tố đầu vào, ví dụ giá trị gia tăng bình quân trên một lao động được xác định bằng tổng giá trị gia tăng chia cho tổng số lao động, song trên thực tế, lao động chỉ đóng góp một phn vào giá trị gia tăng đó. Do vậy, ngoài việc tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo các ch tiêu truyền thng, thông thường còn sử dụng cách tiếp cận thông qua ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên để xác định hiệu quả kỹ thuật cho từng doanh nghiệp trong từng ngành (giả định các doanh nghiệp trong cùng một ngành sẽ có cùng một công nghệ sản xuất), từ đó xác định hiệu quả trung bình của các doanh nghiệp theo ngành và xem xét ảnh hưởng của một số yếu tố đến hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp trong từng ngành.

Việc sử dụng phương pháp tiếp cận này sẽ giúp nghiên cứu chỉ ra được hiện trạng hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp trong các ngành như thế nào và những yếu tố nào đang có tác động tích cực, tiêu cực đến mức hiệu quả này, từ đó đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp cải thiện được hoạt động sản xuất kinh doanh, đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Cách tiếp cận này đã được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới và được áp dụng trong một số lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Hiện nay, vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả: Theo Đại từ điển tiếng Việt, hiệu quả là kết quả đích thực (Đại từ điển Tiếng Việt, NxbVăn hóa, Hà Nội, 1998). Như vậy, quan niệm này cho rằng, hiệu quả là tất cả các kết quả đã đạt được, hay giữa kết quả thực tế và hiệu quả là không có sự khác biệt. Một số nhà kinh tế học cho rằng hiệu quả nghĩa là không lãng phí (Samuelson P: Kinh tế học, Nxb. Quan hệ quôc tế Hà Nội, 1981), có thể nói đây là quan điểm có tính bao quát về cách tiếp cận thực chất hiệu quả nói chung, đó là việc sử dụng hp lý các khoản chi phí cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra.

Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không th tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó" (P.Samuelson và W.Nordhaus: Giáo trình Kinh tế học, Nxb. Thông kê, Hà Nội, 2002). Thực chất quan điểm này đã đề cập tới khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội, và nền kinh tế được xem là có hiệu quả khi việc phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Xét trên phương diện lý thuyết thì đây là mức hiệu quả cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được trên giới hạn năng lực sản xuất, và rõ ràng là hiệu quả chỉ có thể đạt được trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Tuy nhiên, để đạt được mức hiệu quả này sẽ cn rất nhiều điu kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu tư sản xuất bảo đảm quy mô phù hợp với nhu cầu thị trường nhưng vấn đề này không phải nền kinh tế nào cũng thực hiện được, và không phải thực hiện được trong bất kỳ thời gian nào.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều mô hình giải thích pháp luật, trong đó yếu tố có tính quyết định nội dung hoạt động giải thích pháp luật là chủ thể giải thích. Vì thế, có thể lấy tên chủ thể giải thích pháp luật để gọi tên những mô hình giải thích pháp luật cơ bản trên thế giới, mặc dù giải thích pháp luật luôn hiện diện các nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, việc giải thích pháp luật được thực hiện khi có hiện tượng chuyển nghĩa của từ khiến cho từ ngữ được dùng trong văn bản pháp luật có thể có nhiều nghĩa và nghĩa có thể thay đổi bởi nhiều lý do, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các ý tưởng của lập pháp.

Thứ hai, đối với những quy định của pháp luật mà tính chất khái quát của văn bản pháp luật thường dung nạp yếu tố "khóa", "mở" làm cho những điều không rõ ràng, những mâu thuẫn trong quy phạm pháp luật có cơ hội xuất hiện cũng cần phải tiến hành giải thích pháp luật.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Việc giải thích pháp luật nhằm đạt được những giá trị khoa học và phục vụ tích cực đối với đời sống pháp lý. Những giá trị thu được từ giải thích pháp luật luôn có tính phổ biến, tuy nhiên khi nghiên cứu lý thuyết giải thích pháp luật dựa trên khái niệm, nguyên tắc, phương pháp, hình thức, chủ thể và đối tượng của giải thích pháp luật ở mỗi quốc gia có những đặc điểm khác biệt nhất định phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, truyền thống pháp luật. Như vậy, giải thích pháp luật là việc làm rõ nội dung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể nào đó của văn bản quy phạm pháp luật.

Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng, giải thích là việc làm sáng tỏ về mặt tư tưởng và nội dung các quy phạm pháp luật, bảo đảm cho sự nhận thức và thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật; là nhằm xây dựng lại ý tưởng mà tác giả mong muốn truyền đạt qua các quy định của văn bản pháp luật đó. Tuy nhiên, thuật ngữ "giải thích pháp luật" xuất hiện lần đầu trong Hiến pháp năm 1959 (khoản 3 Điều 53), nhưng từ đó đến nay, tại các văn bản pháp luật ở nước ta chưa có một quy định nào diễn giải, hoặc đưa ra khái niệm, định nghĩa về giải thích pháp luật để làm cơ sở pháp lý xây dựng một lý thuyết chính thống, tiên tiến đối với hoạt động này.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Thời gian qua, việc đổi mới, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đang được tích cực thực hiện. Tuy đã có những thành công nhất định, nhưng quá trình đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước với mục tiêu tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn có những hạn chế nhất định. Căn cứ vào nền tảng lý thuyết năng lực cạnh tranh hiện đại, cộng với kinh nghiệm quốc tế về cải cách doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới và đặc biệt là dựa trên thực trạng quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có thể khuyến nghị một số giải pháp chính sách nhằm giúp đẩy nhanh quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (đặc biệt là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2015-2025). Những giải pháp chính sách khuyến nghị cho Việt Nam được phân chia thành bốn nhóm lớn như sau: Một là đổi mới tư duy và nhận thức về vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Hai là cải cách thể chế bảo đảm khuôn khổ pháp lý có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; Ba là nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và quản lý nhà nước về doanh nghiệp nhà nước; cuối cùng là áp dụng đầy đủ khuôn khổ quản trị doanh nghiệp hiện đại cho doanh nghiệp nhà nước theo các thông lệ tốt và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế theo cơ chế thị trường.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Trong hệ thống giáo dục và kế hoạch giáo dục, cấu trúc các môn[1] thể hiện rõ cách mô hình phân hoá vĩ mô của Cộng hòa Pháp, trong đó giáo dục cơ sở thống nhất, không phân luồng. Riêng lớp cuối trung học cơ sở (THCS), học sinh có thể chọn học lớp 9 "chuẩn bị học nghề" nếu muốn theo luồng nghề ở bậc sau. Ngoài chương trình như các học sinh khác, họ sẽ phải học thêm phần giới thiệu các ngành nghề khác nhau, có thể có thêm đợt thực tập tham quan trong môi trường nghề nghiệp. Tuy nhiên, sự phân hoá vĩ mô muộn thông qua phân luồng lớn và chia nhỏ dần theo hướng kết thúc giáo dục cơ sở, học sinh được phân theo 2 luồng chính: trung học phổ thông (THPT) đại cương và công nghệ theo hướng tiếp tục học lên lộ trình dài (đại học - ĐH) hoặc ngắn (kĩ thuật viên, đại học công nghệ) và THPT nghề.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Xem thêm bài viết về “Giới thiệu về cấu trúc nội dung và hệ thống môn học của giáo dục phổ thông của Cộng hòa Pháp”

Quản lý tiền lương công chức và viên chức là một nhiệm vụ quan trọng về mặt tài chính và tài khoá; môi trường quản lý tiền lương tại mỗi quốc gia có sự khác biệt, đặc thù và thường phức tạp; nhiệm vụ quản lý có lẽ còn phức tạp hơn do sự đa dạng của các hình thức sử dụng lao động và trả lương cho phù hợp với những thay đổi về nhu cầu nhân sự để thực hiện công việc (thậm chí là nhu cầu chính trị), nhu cầu quản lý và tài chính; các phương thức và hệ thống công nghệ thông tin mới đem lại các công cụ có thể giúp chức năng quản lý tiền lương hoạt động đạt hiệu suất và hiệu quả cao hơn so với trước đây với điều kiện phải phát triển và áp dụng một cách thận trọng và chuyên nghiệp. Tuy nhiên, cho dù rõ ràng công tác quản lý tiền lương ngày càng phức tạp, và nhiệm vụ đầy thách thức về quản lý các phương thức và hệ thống công nghệ thông tin mới để thích nghi với độ phức tạp ngày càng tăng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành