Hệ thống các quy định về quản lý và sử dụng nguồn thu từ vốn nhà nuớc đầu tư vào doanh nghiệp được quy định ở một số văn bản quy phạm pháp luật như Luật Ngân sách nhà nước (NSNN), các văn bản quy phạm về cổ phần hóa, quy định về quy chế tài chính đối với các DNNN...

    Hệ thống Luật NSNN từ năm 1996 cho đến Luật NSNN năm 2015 đã quy định những khoản thu nhập từ vốn nhà nước về NSNN bao gồm các khoản thu nhập từ vốn góp, các khoản thu hồi vốn, khoản sử dụng vốn ngân sách, cho vay từ NSNN đều được thu về NSTW (Luật NSNN năm 1996, Luật NSNN năm 1998). Tuy nhiên, đến Luật NSNN năm 2002, khoản thu này được phân cấp thu về ngân sách trung ương (NSTW) đối với khoản đầu tư từ NSTW và thu về ngân sách địa phương (NSĐP) đối với khoản đầu tư từ NSĐP, điều này tiếp tục được khẳng định tại luật NSNN 2015.

     Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Những năm qua, nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN), phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đảm bảo cạnh tranh, công bằng và lành mạnh giữa các khu vực doanh nghiệp, nhiều chủ trương, định hướng và giải pháp về tái cấu trúc khu vực DNNN đã được ban hành, tập trung vào bốn nội dung lớn, đó là cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh, tái cơ cấu tổ chức, tái cơ cấu tài chính và tái cơ cấu quản trị doanh nghiệp. Trong đó, thoái vốn (và cổ phần hóa) CPH là một trong những mắt xích quan trọng của quá trình tái cơ cấu DNNN. Tuy nhiên, quá trình thoái vốn ngoài ngành và tiến trình CPH DNNN thời gian qua gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện; thiếu biện pháp quyết liệt và một lộ trình thực hiện rõ ràng theo nguyên tắc thị trường dẫn đến kết quả vẫn chưa đạt yêu cầu cả về giá trị và mục tiêu cải cách DNNN.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Nhìn lại hơn 30 năm đổi mới có thể thấy, từ việc Nhà nước khuyến khích phát triển ồ ạt xí nghiệp quốc doanh, đến nay, Nhà nước đang thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước và tái cấu trúc nền kinh tế. Trong lý luận truyền thống, kinh tế quốc doanh được xem là thành phần kinh tế mang tính xã hội chủ nghĩa. Đối lập với đó là kinh tế tư nhân được xem là khu vực kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa”. Chính vì thế, đã có thời kỳ, chúng ta có nhận thức rằng càng nhiều kinh tế quốc doanh thì càng nhiều xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cũng dễ hiểu khi Hiến pháp năm 1980 quy định: “Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên” (Điều 18).

Trong bối cảnh áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, hoạt động của các xí nghiệp quốc doanh được thực hiện theo phương thức cấp phát - giao nộp. Việc hạch toán lời lỗ hầu như không được đặt ra. Tuy nhiên, chuyển sang cơ chế thị trường, việc hạch toán trở thành yêu cầu hàng đầu. Với việc khẳng định sự bình đẳng trước pháp luật của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân với doanh nghiệp nhà nước mà Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, sửa đổi năm 1994 và Luật Công ty năm 1990, sửa đổi năm 1994 chính thức ghi nhận, doanh nghiệp nhà nước bắt đầu phải chịu áp lực cạnh tranh trên thị trường từ chính các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Hoạt động kinh doanh không còn là đặc quyền riêng của doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã mà đã được mở cửa cho doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thực tiễn đó đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải được hiện đại hóa về phương thức quản trị và chấp nhận quy luật đào thải của thị trường.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Cho đến gần đây, Nhà nước thường giới hạn sự tham gia của khu vực tư nhân trong khuôn khổ thực hiện cung cấp các dịch vụ công không thuần tuý. Trong đó, thường xuyên nhất là các dịch vụ như xây dựng và vận hành các công trình hạ tầng công cộng trong lĩnh vực giao thông, vận tải (đường xá, cầu cống), hoặc lĩnh vực hạ tầng cứng khác như cung cấp điện, cấp nước và xử lý nước thải, bảo đảm cây xanh và cảnh quan đô thị, v.v...

Đối với một số loại dịch vụ công mang tính “thuần tuý” nhiều hơn như giáo dục, y tế... việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi, cả trong giới học thuật và trong giới hoạch định chính sách. Điều này là dễ hiểu vì rằng nếu việc một công dân đến phòng mạch của bác sỹ để tư vấn hay khám bệnh có vẻ dễ dàng được chấp nhận là “dịch vụ tư", thì việc loại trừ khả năng tiếp cận của họ đến dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chỉ vì lý do anh ta hay chị ta không có khả năng chi trả cho dịch vụ đó lại có thể trở thành một chỉ bảo tiêu cực về khả năng đảm bảo phúc lợi cho người dân của Nhà nước.

            Trên đây là trích dẫn tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Trong mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung (đại diện là mô hình kinh tế Xô-viết), Nhà nước hiện diện ở hầu như mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Nhà nước chịu trách nhiệm toàn diện về phúc lợi kinh tế của mỗi cá nhân, hộ gia đình và kết quả hoạt động chung của toàn bộ nền kinh tế[1]. Mỗi tổ chức, cá nhân trong xã hội chỉ được xem như một trong những mắt xích trong chuỗi giá trị hoạt động kinh tế do Nhà nước thiết kế và trực tiếp tổ chức, chỉ huy, hoạt động theo một kế hoạch hoặc hệ thống kế hoạch thống nhất (gosplan). Việc quyết định sản xuất gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất cho ai, giá cả ở mức nào đều do Nhà nước ấn định thay vì để cho các chủ thể kinh tế (hộ gia đình, nông trại, xí nghiệp) tự chủ và tự quyết[2]. Trong nền kinh tế ấy, chế độ sở hữu tư nhân bị thủ tiêu và được thay thế bằng chế độ công hữu[3]. Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung kiểu Xô viết được thiết lập bởi Xtalin từ thập niên 90 của thế kỷ XX sau khi Lênin qua đời (1924). Đây cũng là hình mẫu chung cho các quốc gia xã hội chủ nghĩa vào những thập niên 60-70 của thế kỷ XX. Có thể nói, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã chứng minh được tính ưu việt về khả năng tập trung nguồn lực của toàn bộ nền kinh tế khi giải quyết những thách thức chung của quốc gia (nhất là trong thời chiến) nhưng cũng bộc lộ nhiều yếu kém, khiếm khuyết điểm trong điều kiện đất nước hòa bình và trong xu thế cạnh tranh của thời kỳ toàn cầu hóa


[1] Xem Vito Tanzi: Government versus Markets: The Changing Economic Role of the State, New York: Cambridge University Press, 2011, at 43

[2] Xem Philip Hanson: The Rise and Fall of the Soviet Economy: An Economic History of the USSR from 1945, London: Routledge, 2014, at 10-11.

[3] Xem Đặng Phong: Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 - 1989, Nxb. Tri Thức, Hà Nội, 2012, tr.61,

Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách thức diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về sự phát triển kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng. Mục đích của mô hình tăng trưởng kinh tế là mô tả phương thức vận động của nền kinh tế thông qua mối liên hệ nhân quả giữa các biến số quan trọng, sau khi đã loại b những sự phức tạp không, cần thiết. Những diễn đạt trong mô hình có thể thông quan lời văn, sơ đồ hoặc biểu thức toán học.

Ví dụ: Mô hình Harrod - Domar là một mô hình tăng trưng kinh tế do hai nhà kinh tế học Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra. Mô hình này giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển cũng như xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ vốn đầu tư. Trong mô hình Harrod - Domar, các yếu tố bị loại b đó là ngoại thương và chi tiêu của chính phủ. Kết luận của mô hình cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm (hay tỷ lệ đầu tư) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR.

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Khoa học và công nghệ là lĩnh vực tạo được nhiều dấu ấn quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện để nước ta tiếp cận và chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, phát triển công nghệ nội sinh. Cho đến nay, khoa học và công nghệ đã đóng góp tích cực vào tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước.

Tiềm lực khoa học - công nghệ ở nước ta đã được tăng cường và phát triển, làm chỗ dựa cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cho đến nay, nước ta đã có hàng triệu người tốt nghiệp đại học, trong đó có gần 10 nghìn giáo sư và phó giáo sư, gần 25 nghìn tiến sĩ. Chúng ta đã hình thành được mạng lưới bao gồm hàng trăm trường đại học và cơ quan nghiên cứu. Cơ sở hạ tầng khoa học công nghệ như viện khoa học, trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trung tâm thông tin, tư liệu thư viện... đã được đầu tư nâng cấp, xây dựng và trang bị phương tiện hiện đại.

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng giám sát thông qua nhiều hình thức khác nhau: nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước tại các cuộc họp; các đại biểu có thể thực hiện quyền chất vấn của mình tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp. Các đại biểu Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng các đoàn kiểm tra, thường là các đoàn kiểm tra của các ủy ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội.

  1. Xem xét báo cáo

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan khác của Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thông qua việc xem xét, thẩm tra báo cáo công tác hằng năm, sáu tháng một lần và báo cáo chuyên đề của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước. Bên cạnh đó, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thể yêu cầu các thành viên của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước trực tiếp đến báo cáo hoặc báo cáo bằng văn bản hay cung cấp các tài liệu mà Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội quan tâm.

2. Kiểm tra việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền hủy bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

3. Chất vấn

Đây là hình thức giám sát quan trọng, thể hiện trực tiếp quyền giám sát của Quốc hội, thể hiện rõ nét tính dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, chất vấn là quyền của mỗi đại biểu Quốc hội, nhưng khi đại biểu thực hiện quyền này thì có tính chất là một hoạt động giám sát của Quốc hội. Có hai hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội, đó là chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội. Quốc hội có thể giám sát được hoạt động của các cơ quan nhà nước thuộc đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội thông qua việc trả lời của người bị chất vấn.

4. Thực hiện hoạt động giám sát ở các địa phương

Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội dựa trên chương trình giám sát hàng năm, căn cứ tình hình thực tế sẽ thành lập các đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ, hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương. Tùy theo tính chất của sự việc và cấp độ của nội dung giám sát, thành phần đoàn giám sát có thể bao gồm: lãnh đạo Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại diện các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và đại diện của các cơ quan chuyên môn có liên quan đến nội dung giám sát, Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức bị giám sát cung cấp các tài liệu liên quan tới hoạt động giám sát, hoặc yêu cầu các tổ chức, đơn vị, cá nhân trả lời những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm. Điều 11, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về việc thực hiện giám sát như sau:

“1. Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội thành lập và các báo cáo khác quy định tại Điều 13 của Luật này.

2. Xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Luật này có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

3. Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 của Luật này.

4. Xem xét báo cáo giám sát chuyên đề.

5. Xem xét báo cáo của Ủy ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định.

6. Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

7. Xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội". Như vậy, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 còn xác định rõ thêm một số hoạt động thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội: xem xét báo cáo giám sát chuyên đề; xem xét báo cáo của Ủy ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.”

Ngoài ra, trong một số trường hợp, Quốc hội còn thành lập Ủy ban Giám sát để bảo đảm việc thực hiện giám sát đúng quy trình, đúng pháp luật. Việc thực hiện hình thức này vẫn còn thể hiện nhiều bất cập và hạn chế. Đó là việc các ủy ban tiến hành số lượng khá lớn các đoàn đi giám sát thực tiễn. Lĩnh vực được giao giám sát lại quá rộng nên chưa thể bao quát hết toàn bộ nội dung mà chương trình giám sát của ủy ban đã đề ra. Bên cạnh đó, việc phối hợp hoạt động giám sát giữa các ủy ban chưa chặt chẽ theo một trình tự, kế hoạch giám sát thống nhất dẫn đến việc cùng một vấn đề của một địa phương lại có những đoàn khác nhau giám sát, đôi khi còn trùng cả thời điểm giám sát. Thực trạng này đã được một số đại biểu Quốc hội và nhân dân nhận xét: tình trạng đại biểu Quốc hội thực hiện quyền giám sát của mình một cách hình thức, còn thụ động và chưa làm hết trách nhiệm, hầu như chỉ đi xuống nghe địa phương báo cáo rồi về làm kiến nghị.

Vì vậy, chưa có thể hội đủ thông tin, các yếu tố cần thiết để kết luận, kiến nghị cụ thể về vấn đề được giám sát. Thông qua các cơ chế giám sát của Quốc hội có thể thấy Quốc hội thực hiện quyền giám sát của mình bằng hai cách: trực tiếp - bằng chính hoạt động của Quốc hội và gián tiếp - thông qua hoạt động giám sát của một số cơ quan nhà nước được Quốc hội ủy quyền. Hai hình thức này có liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một hoạt động giám sát thống nhất nhằm bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và luật do Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, mỗi hình thức này lại có tính độc lập tương đối với nhau. Khi đã giao quyền hoạt động giám sát cho các cơ quan nhà nước trong những phạm vi giới hạn xác định thì Quốc hội không bao biện làm thay, không can thiệp vào hoạt động của những cơ quan đó trong từng trường hợp cụ thể. Có thể nói, Hiến pháp và các văn bản pháp luật đã ghi nhận khá đầy đủ và rõ ràng chức năng giám sát của Quốc hội và phương thức để thực hiện chức năng đó. Những quy định trên đây đã giúp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội thực hiện tốt hơn quyền giám sát của mình. Hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và cá nhân mỗi đại biểu Quốc hội nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, động lực, năng lực và kỹ năng của các chủ thể. Nhằm tăng cường vai trò và hiệu lực giám sát của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Đây là quy định mang ý nghĩa lớn trong tiến trình dân chủ hóa các hoạt động của Nhà nước. Với thẩm quyền có được này, Quốc hội với vai trò giám sát đối với hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước được nâng lên. Cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 12 và Điều 13, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 đều có những quy định liên quan tới việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. Trong đó: “Điều 12: Lấy phiếu tín nhiệm Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:

Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước;

Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Thời hạn, thời điểm, trình tự lấy phiếu tín nhiệm đối với người được Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm do Quốc hội quy định.

Việc thực hiện bỏ phiếu tín nhiệm được tiến hành trong các trường hợp sau (Điều 13 Luật Tổ chức Quốc hội):

Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị;

 Có ý kiến bằng văn bản của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội;

Có kiến nghị của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội;

Người được lấy phiếu tín nhiệm theo quy định tại Điều 12 của Luật này mà có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá tín nhiệm thấp”.

Cũng theo quy định tại điều này, người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm khi có trên 50% tổng số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm có thể xin từ chức. “Trường hợp không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chức vụ đó quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 8 và Điều 9 của Luật Tổ chức Quốc hội 2014 có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm người không được Quốc hội tín nhiệm". Quyền bỏ phiếu tín nhiệm là quyền được thực hiện chủ động từ phía các đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Tuy nhiên, chỉ có Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền tự mình trình việc bỏ phiếu tín nhiệm với Quốc hội, các chủ thể khác thực hiện quyền của mình thông qua việc kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm.

Ở nước ta quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, nước ta không thừa nhận nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức quyền lực nhà nước, chính vì vậy hoạt động giám sát nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng có những đặc điểm khác biệt. Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân: Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân là thống nhất và phải được tập trung thống nhất vào một cơ quan đại diện quyền lực nhà nước duy nhất và cao nhất mà ở nước ta là Quốc hội. Tuy nhiên, sự thống nhất này không loại trừ sự cần thiết phải có các thiết chế nhà nước truyền thống khác (Chính phủ, Tòa án…) để thực hiện phân công, phân nhiệm. Các thiết chế này phải được tổ chức trên nguyên tắc phái sinh từ cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Quyền lực của những cơ quan này có tính chất phái sinh từ quyền lực của Quốc hội nên những cơ quan này chịu sự giám sát của Quốc hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội có nội dung là theo dõi, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối với các văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động chấp hành pháp luật của những cơ quan nói trên. Vậy, Quốc hội có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp và các đạo luật do chính mình ban hành hay không và ai là người giám sát hoạt động của Quốc hội; Quốc hội trước hết phải tự giám sát trong hoạt động của chính mình. Do đó, hoạt động giám sát của Quốc hội còn có khía cạnh tự giám sát.

1. Về bản chất pháp lý của tài sản mã hóa, tiền mã hóa

Tháng 7/2013, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã cấm việc sử dụng Bitcoin[1]. Tuy nhiên, đến tháng 9/2017, Ủy ban chứng khoán Thái Lan ủng hộ việc huy động vốn thông qua ICO, nhất là đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp và khẳng định trong một số trường hợp đặc biệt, tài sản mã hóa có thể là một loại chứng khoán và phải tuân thủ theo pháp luật chứng khoán. Mặc dù vậy, tháng 02/2018, Ngân hàng Trung ương Thái Lan lại bạn hành Thông tư cấm các tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động liên quan tới tài sản mã hóa do quan ngại những hoạt động không kiểm soát được, bao gồm không được:

Thứ nhất, không được đầu tư hoặc giao dịch tài sản mã hóa;

Thứ hai, không được trao đổi tài sản mã hóa;

Thứ ba, không được tạo nền tảng cho giao dịch mua bán tài sản mã hóa;

Thứ tư, không cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng để mua tài sản mã hóa; và

Thứ năm, không tư vấn khách hàng đầu tư hoặc mua bán tiền ảo mã hóa[2].

Tuy nhiên, ngày 13/5/2018, Chính phủ Thái Lan đã ban hành 02 nghị định khẩn cấp (Emergency Decree), gồm Nghị định về hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số (Digital Asset Business Operation B.E. 2561) với hơn 100 điều khoản và Nghị định về sửa Thuế thu nhập (Amendment of Revenue Code (No.19) B.E. 2561) có hiệu lực ngay ngày 14/5/2018 để quản lý và đánh thuế các tài sản kỹ thuật số (digital asset)[3]. Theo các nghị định này, tài sản kỹ thuật số được phân loại thành tiền mã hóa (cryptocurrencies) và xu kỹ thuật số (digital tokens)[4]. Hai nghị định này đã đưa ra các định nghĩa tương đối khái quát về tiền mã hóa và xu kỹ thuật số, theo đó:

- Tiền mã hóa là một đơn vị thông tin điện tử được tạo lập trong một hệ thống điện tử với mục đích hướng đến là để sử dụng như một phương tiện trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các quyền khác (bao gồm trao đổi với các tài sản kỹ thuật số khác);

- Xu kỹ thuật số là một đơn vị thông tin điện tử được tạo lập trong một hệ thống điện tử với mục đến là xác định quyền của một người đã đầu tư vào một dự án hay hoạt động kinh doanh; hay xác định quyền đối với hàng hóa, dịch vụ hay quyền khác theo thỏa thuận giữa người phát hành và người nắm giữ xu kỹ thuật số.

Ngoài ra, Ủy ban Chứng khoán Thái Lan (SEC) còn có quyền quy định bất kỳ một đơn vị dữ liệu điện tử nào khác có cùng mục đích như tiền mã hóa và xu kỹ thuật số là tiền mã hóa và xu kỹ thuật số. Như vậy, thực chất tài sản kỹ thuật số là tài sản mã hóa và về bản chất pháp lý được coi là tài sản vô hình[5]. Đáng chú ý là so với dự thảo ban đầu thì khái niệm “tài sản kỹ thuật số” đã được thu hẹp và không bao gồm các dữ liệu điện tử (electronic data) đơn thuần.

Hai nghị định nêu trên mới dừng lại ở việc đưa ra những nguyên tắc chung đối với tài sản kỹ thuật số và các hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số. Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Thái Lan sẽ tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn (nhất là về mặt thủ tục) để thi hành 02 nghị định này. Mục đích ban hành 02 nghị định trên là để quản lý một cách toàn diện tiền mã hóa và xu kỹ thuật số nhằm ngăn chặn tội phạm rửa tiền, lừa đảo, trốn thuế và các tội phạm khác[6]... Các quy định mới này của Thái Lan không cấm tiền mã hóa, ICO nói riêng và các giao dịch liên quan đến tài sản kỹ thuật số (tài sản mã hóa) và có mục đích tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng nhằm tạo thuận lợi cho các hoạt động sử dụng tài sản kỹ thuật số một cách hợp pháp và bảo vệ nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Trên cơ sở đó, Ủy ban Chứng khoán và Bộ Tài chính Thái Lan đã ban hành một số thông tư hướng dẫn trong đó đưa ra các yêu cầu và thủ tục cấp phép hoạt động đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số, chẳng hạn như Thông tư của Bộ Tài chính về việc cho phép hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số (B.E. 2561 (2018), có hiệu lực từ ngày 24/7/2018, trong đó quy định các tiêu chuẩn, điều kiện, phí cấp phép[7].

Ngày 01/8/2018, Ngân hàng Trung ương Thái Lan ban hành Thông tự cho phép các định chế tài chính (trong đó có các ngân hàng) hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số thông qua các công ty con, công ty liên kết sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận (Thông tư này thay thế Thông tư ban hành tháng 02/2018)[8]. Việc ICO qua phát hành xu kỹ thuật số (digital tokens) chỉ có thể được thực hiện bởi công ty trách nhiệm sau khi được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán

2. Về quản lý hoạt động ICO

Việc ICO qua phát hành xu kỹ thuật số (digital tokens) chỉ có thể thực hiện bởi công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần được thành lập tại Thái Lan San Thái Lan (SEC) trên cơ sở để trình thông tin, dữ liệu liên quan và cung cấp dự thảo Tài liệu công bố thông tin phát hành/sách trắng (draft White Paper). Việc chào bán đối với các nhà đầu tư nhỏ lẻ bị giới hạn đăng ký mua ở mức 300.000 Bạt Thái; các nhà đầu tư khác được mua không giới hạn[9].

Tổ chức phát hành xu kỹ thuật số phải nộp báo cáo lên Ủy ban Chứng khoán trong đó nêu rõ hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính và bất kỳ thông tin nào khác có ảnh hưởng đến những người nắm giữ xu kỹ thuật số, đến quyết định đầu tư của họ hoặc dẫn tới sự thay đổi về giá, giá trị của xu kỹ thuật số. Ngoài ra, việc chào bán phải được thực hiện thông qua cổng thông tin ICO (ICO Portals) do Ủy ban Chứng khoán cấp phép, Điều hành cổng ICO phải là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần thành lập tại Thái Lan với số vốn điều lệ tối thiểu là 5 triệu Bạt Thái. Các cổng ICO này có trách nhiệm định giá ICO được đề xuất để xác định đặc tính của token số, phẩm chất của nhà phát hành, tính chính xác của các thông tin đăng ký, dự thảo bản cáo bạch và tất cả các thông tin khác được gửi đến nhà đầu tư thông qua cổng ICO[10].

Nghị định về hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số đưa ra một loạt quy định nhằm ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp nhằm bảo vệ nhà đầu tư liên quan tới giao dịch tài sản kỹ thuật số như công bố hoặc xác nhận thông tin sai lệch, gây hiểu lầm về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, các đặc tính hoặc giá của các tài sản kỹ thuật số. Việc sử dụng thông tin nội bộ để mua bán các xu kỹ thuật số (giao dịch nội gián) và thao túng thị trường bị nghiêm cấm[11].

Ngoài ra, các nhà phát hành xu kỹ thuật số tiếp tục có nghĩa vụ công bố thông tin tài chính và thông tin về mã nguồn mở được sử dụng để tạo ra xu kỹ thuật số. Nghị định kinh doanh tài sản kỹ thuật số đặt ra các mức phạt hành chính và hình sự có tính răn đe đối với việc vi phạm quy định tại Nghị định, các mức phạt này tương tự như quy định của pháp luật về chứng khoán. Cụ thể là, việc chào bán xu kỹ thuật số qua ICO không được sự chấp thuận từ Ủy ban Chứng khoán hoặc không sử dụng cổng thông tin ICO được phép sẽ bị phạt tù tới 02 năm hoặc phạt tiền bằng ít nhất 02 lần giá trị xu kỹ thuật số chào bán của tổ chức phát hành hoặc cả hai hình thức trên nhưng số tiền phạt không thấp hơn 500.000 Bạt (khoảng 350 triệu VNĐ)[12]. Việc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin thực tế lẽ ra phải được công bố trong quá trình nộp đơn xin thực hiện ICO hoặc trong dự thảo sách trắng nộp lên Ủy ban Chứng khoán có thể bị phạt tù tới 5 năm và bị phạt tiền bằng ít nhất 2 lần giá trị xu kỹ thuật số chào bản của tổ chức phát hành nhưng số tiền phạt không thấp hơn 500.000 Bạt. Phạt hành chính bao gồm phạt tiền, mức phạt do Ủy ban Chứng khoán Thái Lan quyết định, lệnh cấm giao dịch và lệnh cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý doanh nghiệp[13]...

3. Về quản lý sàn giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa và tổ chức trung gian khác

Hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số là các hoạt động kinh doanh về thiết lập sàn giao dịch tài sản kỹ thuật số, môi giới tài sản kỹ thuật số và giao dịch mua bán tài sản kỹ thuật số và các hoạt động khác liên quan đến tài sản kỹ thuật số theo quy định của Bộ Tài chính trên cơ sở đề xuất, kiến nghị của Ủy ban Chứng khoán Thái Lan. Ủy ban Chứng khoán Thái Lan được trao quyền ban hành các chính sách để thúc đẩy sự phát triển, quản lý, giám sát và kiểm soát các tài sản kỹ thuật số và các tổ chức có hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số.

Các tổ chức kinh doanh tài sản kỹ thuật số (trong đó có các sàn giao dịch) phải xin giấy phép từ Bộ Tài chính Thái Lan. Bộ này sẽ cấp phép trên cơ sở đề nghị từ Ủy ban Chứng khoán Thái Lan và các tổ chức này phải đáp ứng các điều kiện về vốn, các biện pháp đảm bảo an ninh mạng, định danh khách hàng, và các biện pháp phòng chống rửa tiên. Các doanh nghiệp kinh doanh tài sản kỹ thuật số đang hoạt động trước ngày Nghị định có hiệu lực buộc phải có được giấy phép từ Bộ Tài chính trong vòng 90 ngày kể từ ngày Nghị định về hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số có hiệu lực (tức là trước ngày 14/8/2018)[14]. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh tài sản kỹ thuật số đã được cấp phép vi phạm các quy định có liên quan hoặc có tình trạng tài chính hay hoạt động có thể gây thiệt hại cho xã hội thì Ủy ban Chứng khoán Thái Lan có quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện biện pháp khắc phục, tạm đình chỉ toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trường hợp sau đó, doanh nghiệp vẫn không khắc phục được hoặc tái vi phạm thì Ủy ban Chứng khoản Thái Lan có quyền kiến nghị Bộ Tài chính thu hồi giấy phép.

Theo quy định của Nghị định về hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số thì các tổ chức kinh doanh tài sản kỹ thuật số và các cổng thông tin ICO được coi là “tổ chức tài chính” theo quy định tại Luật Phòng chống rửa tiền của Thái Lan và chịu sự điều chỉnh của Luật này nhằm đảm bảo rằng tài sản kỹ thuật số sẽ không bị lợi dụng cho mục đích rửa tiền[15].

Việc kinh doanh tài sản kỹ thuật số khi chưa được Bộ Tài chính cấp phép sẽ bị phạt tù tới 02 năm hoặc phạt tiền bằng ít nhất 02 lần giá trị của giao dịch hoặc cả hai hình thức trên nhưng số tiền phạt không thấp hơn 500.000 Bạt ( khoảng 350 triệu đồng Việt Nam)[16]. Phạt hành chính bao gồm phạt tiền, mức phạt do Ủy ban Chứng khoán Thái Lan quyết định, lệnh cấm giao dịch và lệnh cấm đảm nhiệm chức OLD vụ quản lý doanh nghiệp[17].

4. Về quản lý thuế

Dưới góc độ của Cơ quan thuế Thái Lan, tài sản kỹ thuật số (tài sản mã hóa) là tài sản vô hình; do đó, về nguyên tắc, giao dịch liên quan đến tài sản kỹ thuật số sẽ phải chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất là 7%. Các giao dịch chịu thuế bao gồm giao dịch trao đổi giữa tài sản kỹ thuật số với tiên pháp định, giữa tài sản kỹ thuật số này với tài sản kỹ thuật số khác và giữa tài sản kỹ thuật số với các hàng hóa/dịch vụ. Các nhà đầu tư nhỏ lẻ sẽ được miễn thuế giá trị gia tăng nếu họ mua bán tài sản kỹ thuật số thông qua các sàn giao dịch.

Về thuế thu nhập, thu nhập từ hoạt động kinh doanh tài sản kỹ thuật số, kể cả giao dịch tại nước ngoài, sẽ chịu thuế thu nhập; trong đó thuế suất đối với thuế thu nhập doanh nghiệp là 20 %, thuế suất đối với thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến (cao nhất là 35 %). Ngoài ra, thuế suất thuế thu nhập khấu trừ tại nguồn (withholding tax) là 15%[18].

 


[1] Xem: https://www.telegraph.co.uk/inance/currency/102100221/Bitcoins - banned - in - Thailand.html.

[2] https://news.bitcoin.com/bank-of-thailand-bans-banks-from cryptocurrency - activities

[3] https://news.bitcoin.com/thailand-cryptocurrency-regulations/; https://news.bitcoin.com/thailand-approves-draft-decree-cryptol

[4] www.lawplusltd.com/2018/06/digital-asset-business.

[5] https://pugnatorius.com/bitcoin-taxation

[6] https://news.bitcoin.com/thailand-approves-draft-decree cryptol

[7] https://www.chandlermhm.com/thailand-digital-assets-law to - regulate - digital - tokens

[8] https://coingape.com/bank-of-thailand-allows-banks-invest in - cryptos

[9] https://medium.com/@OrionW_Law/thailand-regulates-initial coin - offerings - and - digital - asset - businesses - f331895a2d8d.

[10] https://medium.com/@OrionW_Law/thailand-regulates-initial coin - offerings - and - digital - asset - businesses - f331895a2d8d

[11] http://www.nortonrosefulbright.com/knowledge/publications/ 168042 / regulation - of - digital - assets - takes - effect - in - thailand

[12] https://bitlegal.io/2018/05/22/thailands-royal-deeree-to regulate - eryptos

[13] http://www.nortonrosefulbright.com/knowledge/publications 168042 regulation - of - digital - assets - takes - effect - in - thailand

[14] https://medium.com/@OrionW_Law/thailand-regulates-initial coinofferings - and - digital - asset - businesses - f331895a2d8d

[15] Summary of the Royal Decree on the Digital Asset Businesses B.L.2561, tháng 5 / 2018, tr. 4, xem tại https://www.sec.or.th/TH/SECInfo/LawsRegulation Documents / Act_ Royal_Enactment / enactment_digital_2561_summary_en.pdf.

[16] https://bitlegal.io/2018/05/22/thailands-royal-decree-to regulate - cryptos.

[17] http://www.nortonrosefulbright.com/knowledge/publications/168042 regulation - of - digital - assets - takes - effect - in - thailand

[18] https://pugnatorius.com/bitcoin-taxation

Phương thức PPP đã có lịch sử phát triển lâu dài trên thế giới và phổ biến từ những năm 1990, tuy nhiên mỗi quốc gia đều có những chiến lược về PPP riêng tùy thuộc vào bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất dự án. Các Quốc gia có thể chế Nhà nước mạnh với khung pháp lý đầy đủ, minh bạch thường thành công với PPP.

Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp vào thế kỷ XVIII, các cây cầu ở London vào thế kỷ XIX hay cây cầu Brooklyn nổi tiếng ở New York cũng vào thế kỷ XIX. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai trò nhất định trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển.

Những năm đầu thế kỷ XX, Vương Quốc Anh đã là một trong những quốc gia triển khai xây dựng thành công dự án PPP với những bước đi đầu tiên cho việc hình thành cơ chế PPP đối với các dự án cung cấp dịch vụ công. Vương Quốc Anh đã xây dựng cơ chế PPP xuất phát từ nhu cầu cải cách và hiện đại hóa dịch vụ công, đồng thời cải thiện mua sắm các dịch vụ công cũng như tăng khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực này một cách hiệu quả nhất. Việc áp dụng dự án PPP đã giúp cải thiệt tính minh bạch về chi phí của dịch vụ công của cả hai khu vực công và tư.

Ban đầu mô hình PPP tại Vương quốc Anh rất đơn giản theo hình thức những yêu cầu dịch vụ được cung cấp đáp ứng đầy đủ điều kiện sẽ được khu vực công trả tiền và trả theo từng năm. Mô hình này được đánh giá là rất hiệu quả, chỉ chiếm 11% trong tổng đầu tư công ở Anh. Hiện nay, Vương Quốc Anh đã có 667 hợp đồng PPP đã được ký kết với giá trị vốn 56,6 tỷ bảng Anh và 590 dự án đang thực hiện và chủ yếu là lĩnh vực môi trường và giao thông vận tải.

Đối với vấn đề bảo đảm tài chính cho một dự án PPP hoặc nền tảng cấu trúc tài chính với giá trị tối thiểu là 20 triệu bảng Anh đã được Vương Quốc Anh áp dụng cơ chế tái cấp vốn, bởi thực tế các ngân hàng không có chính sách ưu đãi cho các dự án PPP có thời hạn thực hiện kéo dài trên 5 năm, nên Chính phủ Anh đã phải thiết lập cơ chế liên minh giữa các ngân hàng nhằm thu hút nhiều ngân hàng tham gia vào các dự án có thời hạn thực hiện kéo dài. Đây là kinh nghiệm cho Việt Nam khi triển khai các dự án PPP có thời hạn thực hiện dại.

Đối với các dự án đầu tư của Nhật Bản cho hệ thống cơ sở hạ tầng của bất kỳ quốc gia nào cũng cần có sự hỗ trợ của các nhà đầu tư tư nhân, vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro, cần có một nguồn vốn lớn và Nhật Bản cũng không phải là ngoại lệ. Việc áp dụng mô hình PPP của Nhật Bản được tiến hành trong bối cảnh Châu Á phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ công cộng cũng như cơ sở hạ tầng rất lớn đem lại nhiều thành công. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, đối với dự án không thể áp dụng phương pháp cổ phần hóa và Nhà nước cũng không thể trực tiếp tham gia như các dự án về sản xuất và phân phối điện, đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng sẽ áp dụng mô hình PPP và hiệu quả thu được là giảm chi phí, giảm rủi ro trong môi trường cạnh tranh cao.

Đối với các nước đang phát triển ở khu vực Mỹ Latinh, mô hình PPP bắt đầu phổ biến từ đầu thập niên 1990, đã mang lại hiệu quả đáng kể trong 20 năm qua kể từ năm 1990 -2009 với tổng số vốn cam kết đầu tư là 1.515 tỷ đô la Mỹ cho 4.569 dự án được thực hiện ở các nước đang phát triển và tương đương với 1% GDP của các nước đang phát triển. Như vậy, với phương thức PPP thì mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng chỉ chiếm 20% so với 5-6% tổng GDP trong hơn hai thập kỷ qua. Hiện nay các nước này vẫn đang dẫn đầu thế giới, nhưng mô hình đầu tư PPP lại không có nhiều tiến triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương.

Ở các nước đang phát triển do hạn chế của cơ sở pháp lý và khả năng chế tài của các cơ quan nhà nước nên mô hình nhượng quyền hay thuê vận hành chưa phổ biến. Các dự án đầu tư theo phương thức xây dựng sở hữu vận hành (BOO) chiếm hơn một nửa, phần còn lại là các dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng và viễn thông.

Xét về cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực, năng lượng và viễn thông là hai ngành có tỷ trọng cao nhất. Tỷ phần của ngành giao thông vận tải có xu hướng tăng trong thời gian gần đây, nhưng vẫn thấp hơn khá nhiều so với hai ngành trên. Loại trừ phần tư nhân hóa, các dự án đầu tư theo phương thức xây dựng sở hữu vận hành (BOO) chiếm hơn một nửa, phần còn lại là các dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT). Ở các nước đang phát triển, mô hình nhượng quyền hay thuê vận hành chưa phổ biến, chủ yếu do hạn chế của các cơ sở pháp lý và khẳ năng chế tài của các cơ quan nhà nước.

Mô hình PPP tại Việt Nam được thực hiện theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư thì “đầu tư theo hình thức công tư là việc nhà nước và các đơn vị tư nhân cùng phối hợp thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án”. Phí Nhà nước có lợi thế về chính sách, cơ chế quản lý, ưu đãi thuế, đất đai của Nhà nước. Còn phía tư nhân có lợi thế về nguồn vốn, kỹ thuật, nhân lực. Vì thế hợp tác công tư có nghĩa bên Nhà nước và tư nhân cùng bổ sung những điểm mạnh, yếu cho nhau để tạo nên các dự án phục vụ tốt nhất lợi ích của nền kinh tế, của xã hội một cách hiệu quả.

Nếu hiểu theo các khía cạnh này, các hình thức đầu tư BTO, BOT, BT theo Nghị định số 108/2009/NĐ-CP nằm trong hình thức hợp tác PPP theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg. Sự khác biệt về văn bản có thể làm cho các nhà đầu tư hiểu lầm đây là các hình thức hoàn toàn khác nhau. Vì thế, để hình thức hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân hiệu quả, yêu cầu đầu tiên là phải thống nhất các quy định thành một luật hay quy định duy nhất.

Theo thống kê của ngân hàng thế giới, từ năm 1994 -2009 các dự án được thực hiện theo mô hình PPP chủ yếu tập trung ở hình thức BOT và BOO với các lĩnh vực điện, viễn thông chiếm đa số thị phần bên cạnh các dự án hợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai từ thập niên 90 của thế kỷ XX[1].

Riêng năm 2010, tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới[2], chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án, chiếm % cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư, so với năm 2009 không có dự án mới nào đầu tư theo hình thức BOT, BT, BTO đó là một sự khởi sắc tốt.

Có thể thấy rằng, sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/1/2011 đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và ngoài nước đang dồn vào mô hình PPP, đặc biệt là hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO đang phát triển theo chiều hướng tích cực dưới sự giám sát và hỗ trợ của nhà nước.

Bên cạnh đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 8% trên tổng số dự án, số dự án cấp mới chỉ có 799 dự án trong khi tổng số dự án đăng ký là 9.599 (tính hết ngày 21/12/2010). Hình thức liên doanh chỉ chiếm 7% trên tổng số dự án cấp mới đăng ký, hình thức cổ phần và hợp đồng hợp tác vốn đầu tư chiếm lần lượt là 4% và 1% trên tổng số dự án cấp mới.

Tóm lại, để mô hình PPP phát triển ở Việt Nam cần có những điều kiện về pháp lý minh bạch, rõ ràng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tận dụng tốt nguồn vốn của các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài một cách hiệu quả, có lợi cho hai bên tham gia đầu tư phát triển.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư;

2. Nghị định số 108/2009/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao.

 


[1] Từ năm 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO. Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự án với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng.

[2] Theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành