Hoạt động xét xử của Tòa án tại Việt Nam luôn gắn với việc giải thích pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn, mặc dù tòa án không phải là chủ thể chính được trao quyền giải thích pháp luật. Hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án được thực hiện khi Tòa án ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật mà trong đó các văn bản có chứa đựng nội dung giải thích pháp luật gần với giải thích pháp luật mang tính quy phạm cũng như giải thích pháp luật mang tính vụ việc.

Việt Nam không theo mô hình tòa án giải thích pháp luật, nhưng trên thực tế tòa án đã giải thích pháp luật qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền. Thẩm quyền giải thích pháp luật của Tòa án được thể hiện khá rõ nét qua các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao với các chủ thể khác theo thẩm quyền. Mặc dù theo quy định của pháp luật thì, Tòa án nhân dân tối cao không trực tiếp được giao quyền giải thích pháp luật, tuy nhiên, nếu theo dõi nội dung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền mà Tòa án nhân dân tối cao ban hành, thì trong các văn bản đó có nhiều nội dung nhằm diễn giải, "làm cho hiểu rõ pháp luật". Nếu thừa nhận các "yếu tố” đó là giải thích pháp luật theo nghĩa rộng nhất của hoạt động này, thì có thể thấy, các nội dung giải thích pháp luật trong những văn bản trên của Tòa án nhân dân tối cao là những nội dung hướng dẫn, quy định chi tiết, tuy không phải là giải thích pháp luật chính thức (vì không có thẩm quyền) nhưng lại rất gần với giải thích pháp luật chính thức, cụ thể là giải thích pháp luật mang tính quy phạm, bởi Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Tòa án nhân dân tối cao chính là các văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực bắt buộc chung, có giá trị pháp lý ràng buộc đối vối các chủ thể pháp luật khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI trong bối cảnh cách mạng khoa học - kỹ thuật tiếp tục phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển của kinh tế tri thức; toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu lôi cuốn tất cả các nước trên thế giới. Tình hình đó đã đem lại cho các nước nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng xuất hiện những nguy cơ và thách thức không nhỏ. Để tranh thủ cơ hội, vượt qua thách thức, các Chính phủ đều hoạch định và thực hiện những chính sách phát triển giáo dục và đào tạo phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển cá nhân.

Các Chính phủ đã chú trọng đầu tư cho giáo dục ổn định ở mức cao, từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn đóng góp của người dân. Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội gần đạt hoặc vượt mức 4%, mức bình quân thế giới[1].

Hiện nay, ngân sách của Chính phủ Hoa Kỳ về giáo dục là khoảng 4,8% GNP. Năm 1990, Hoa Kỳ chi cho một học sinh là 4.622 USD/học sinh. Năm 1999 - 2000, Hoa Kỳ đầu tư cho giáo dục là 351 tỷ USD. Trong những năm gần đây, Hoa Kỳ đã chi trên 100 tỷ USD cho các chương trình đặc biệt nhằm thu hẹp khoảng cách về thành tích học tập của trẻ em nhà nghèo và trẻ em thuộc các gia đình tầng lớp trung lưu, nhưng kết quả thu được không như mong muốn.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Xem thêm bảng 1 và bảng 2 phần Phụ lục

Tranh chấp lao động là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu trong đời sống lao động ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Trong nền kinh tế thị trường quan hệ lao động được thiết lập thông qua hình thức hợp đồng lao động nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao kết hợp đồng mà cụ thể là người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ). Hợp đồng lao động được thiết lập trên cơ sở nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng giữa các bên trong hợp đồng lao động. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động có thể có những bất đồng và mâu thuẫn, không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình thường theo đúng thỏa thuận. Những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ chủ yếu liên quan đến quyền và lợi ích trong lao động do hai bên đều mong muốn đạt được lợi ích tối đa cho mình. Trong đó có một số bất đồng được hai bên thỏa thuận và giải quyết thành công nhưng cũng có những bất đồng mà hai bên không thể thương lượng và đưa ra phương án giải quyết hòa giải. Những bất đồng, xung đột nếu được giải quyết tốt thì sẽ không trở thành mâu thuẫn, ngược lại, nếu không được giải quyết thì dễ trở thành những mâu thuẫn gay gắt. Lúc này, họ phải cần đến một trung gian (một cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định hoặc người thứ thứ ba) để giải quyết. Ở đây có thể hiểu quan hệ lao động là sự thương tức giữa người lao động và người sử dụng lao động

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Nền giáo dục của Trung Quốc được thiết kế theo hướng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ phát triển. Việc nghiên cứu và hoàn thiện chương trình giáo dục phổ thông luôn được Trung Quốc xem là một trong những yêu cầu quan trọng việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Từ cuối thập kỉ 70 của thế kỉ XX, Trung Quốc bắt đầu nhận ra sự chênh lệch và sự lạc hậu ghê gớm về khoa học kĩ thuật và về giáo dục của đất nước so với đà phát triển của thế giới. Nhận định về vai trò quan trọng của giáo dục, Đặng Tiểu Bình, người được coi là "Tổng công trình sư" của cải cách mở cửa ở Trung Quốc đã phát biểu: "Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta hoàn toàn có đủ năng lực thúc đẩy giáo dục tiến lên và nâng cao trình độ khoa học kĩ thuật của nước ta, đào tạo nhiều nhân tài hơn nữa. Một nước có hơn 1 tỉ dân, nếu đẩy giáo dục tiến lên thì không nước nào có thể sánh được với ưu thế to lớn về nguồn nhân tài của Trung Quốc". Hội nghị Trung ương 3 khoá XII (10/1984) của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng chỉ rõ: "Khoa học kĩ thuật và giáo dục có vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc dân. Cùng với cải cách thể chế kinh tế, cải cách thể chế khoa học kĩ thuật và thể chế giáo dục ngày càng trở thành nhiệm vụ chiến lược cần giải quyết cấp bách".

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Theo quy định tại luật doanh nghiệp năm 2014 cổ đông sáng lập là: “Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần”[1].

Như vậy có thể thấy rằng, cổ đông sáng lập, đều phải là cổ đông sở hữu ít nhất 1 cổ phần. Mặt khác, cổ phần của cổ đông sáng lập theo Luật doanh nghiệp năm 2014 thì chỉ là cổ phần phổ thông khác so với quy định tại luật doanh nghiệp 2005 khi cổ phần của cổ đông sáng lập có thể là cổ phần ưu đãi hoặc cổ phần phổ thông. Bên cạnh đó, cổ phần của cổ đông sáng lập có thể là cổ phần đã phát hành hoặc chưa phát hành. Cũng theo quy định của luật, cổ đông sáng lập phải có tên và kí tên trong danh sách cổ đông sáng lập khi đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Cổ đông sáng lập phải được ghi nhận trong Điều lệ công ty. Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và khi thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp thì phải kèm theo danh sách cổ đông sáng lập (nhưng không còn ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp)[2]. Trong thời hạn 3 năm đầu, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp thì đương nhiên phải thông báo khi có thay đổi danh sách cổ đông sáng lập. Tuy nhiên, sau thời hạn 3 năm thì có bắt buộc phải thông báo danh sách cổ đông sáng lập hay không thì quy định chưa rõ.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.


[1] Khoản 2 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật doanh nghiệp năm 2014

[2] Điểm b khoản 1 Điều 32 v “Thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Thứ năm, 28 Tháng 3 2019 04:34

CÁC HÌNH THỨC GỌI VỐN CỦA DOANH NGHIỆP

Cổ phần của công ty là số vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau. Trong cả 3 loại hình công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và hợp danh, chỉ duy nhất công ty cổ phần mới có quyền phát hành cổ phần. Tất cả các công ty khác không được quyền bán, phát hành cổ phần.

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phần thể hiện một phần giá trị của vn điều lệ, còn cổ phiếu là bằng chứng ghi nhận giá trị cổ phần.

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định có hai loại cổ phần là cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Riêng cổ phần ưu đãi có thể gồm các loại: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định[1], cổ phần ưu đãi khác có thể là sự kết hợp như cổ phần ưu đãi cổ tức vi cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi tăng vn, cổ phần ưu đãi cung ứng, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ,... Tuy nhiên, rất ít thấy xuất hiện cổ phần ưu đãi khác trên thực tế, vì ba loại cổ phần ưu đãi luật định đã bao quát hết các trường hợp cần thiết.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Điều 113 về “Các loại cổ phần”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 quy định ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất, tập trung dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch, công bằng có phân công và phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp. Như vậy, phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước là sự chuyển giao trách nhiệm và quền hạn từ cấp trung ương xuống các cấp chính quyền bên dưới trong việc quyết định và quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm cho các cấp chính quyền có sự tự chủ nhất định về tài chính để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Việc phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Nhà nước đối với trách nhiệm và quyền hạn trong việc quyết định và quản lý hoạt động thu, chi ngân sách nhà nước ở cấp mình một cách hiệu quả nhất.

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước tạo ra nguồn lực tài chính mang tính độc lập tương đối cho mỗi cấp chính quyền chủ động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, đây cũng là động lực khuyến khích mỗi cấp chính quyền và dân cư ở địa phương tích cực khai thác các tiềm năng của mình để phát triển địa phương. Bên cạnh đó, phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước tạo cho mỗi cấp chính quyền địa phương sự chủ động trong việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính cho các hoạt động quản lý Nhà nước được phân cấp.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 kế hoạch tài chính 5 năm là kế hoạch tài chính được lập trong thời hạn 5 năm cùng với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm. Kế hoạch tài chính 5 năm xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể về tài chính ngân sách Nhà nước; các định hướng lớn về tài chính, ngân sách Nhà nước; số thu và cơ cấu thu nội địa, thu dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; số chi và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chi thường xuyên; định hướng về bội chi ngân sách; giới hạn nợ nước ngoài của quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ, các giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch.

Kế hoạch tài chính 5 năm để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, địa phương trong giai đoạn 5 năm kế hoạch; đưa ra các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản về tài chính - ngân sách nhà nước trong thời gian 5 năm kế hoạch; giữ vai trò định hướng cho kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Chu trình ngân sách là hoạt động ngân sách trong năm của Nhà nước đối với các hoạt động thu chi ngân sách. Trong bối cảnh bội chi ngân sách hiện nay của Việt Nam, đặt mục tiêu phát triển nền quản trị tài chính công hiện đại, minh bạch, công khai và tăng cường trách nhiệm giải trình với sự tham gia giám sát của cộng đồng vào chu trình ngân sách thì việc tạo ra hành lang pháp lý hoàn chỉnh trong quy trình ngân sách là rất cần thiết.

Trong chuyên đề này xin phân tích một số bước trong chu trình ngân sách của các trên thế giới và thực trạng chu trình ngân sách ở Việt Nam để các đại biểu, các nhà nghiên cứu có thêm thông tin và một số cách nhìn khác về các khâu trong chu trình ngân sách giúp ích cho việc xây dựng hành lang pháp lý và giám sát thực hiện ngân sách Nhà nước.

Về lý luận, chu trình chấp hành ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo tuân thủ với dự toán ngân sách được Quốc hội phê duyệt hàng năm, trong đó năm ngân sách được xác định từ ngày mùng 1/1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng nằm. Việc chấp hành ngân sách phải thích ứng với những thay đổi về môi trường kinh tế, giải quyết được các vấn đề gặp phải trong triển khai chương trình; mua sắm hàng hóa và dịch vụ, quản lý các hoạt động một cách hiệu quả; và phòng tránh rủi ro xảy ra lạm dụng và tham nhũng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Có thể nói, có rất nhiều thước đo khác nhau để xác định hiệu quả của doanh nghiệp, tuy nhiên, mỗi thước đo có những điểm mạnh, điểm yếu riêng. Cách xác định hiệu quả thông thường là ly đầu ra chia cho một đầu vào nào đó (như lao động hay vốn) thì nó có tính gộp, nghĩa là kết quả hoạt động của doanh nghiệp được tạo ra do nhiều yếu tố, nhưng khi tính năng suất hay hiệu quả thì chỉ tính cho một yếu tố đầu vào, ví dụ giá trị gia tăng bình quân trên một lao động được xác định bằng tổng giá trị gia tăng chia cho tổng số lao động, song trên thực tế, lao động chỉ đóng góp một phn vào giá trị gia tăng đó. Do vậy, ngoài việc tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo các ch tiêu truyền thng, thông thường còn sử dụng cách tiếp cận thông qua ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên để xác định hiệu quả kỹ thuật cho từng doanh nghiệp trong từng ngành (giả định các doanh nghiệp trong cùng một ngành sẽ có cùng một công nghệ sản xuất), từ đó xác định hiệu quả trung bình của các doanh nghiệp theo ngành và xem xét ảnh hưởng của một số yếu tố đến hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp trong từng ngành.

Việc sử dụng phương pháp tiếp cận này sẽ giúp nghiên cứu chỉ ra được hiện trạng hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp trong các ngành như thế nào và những yếu tố nào đang có tác động tích cực, tiêu cực đến mức hiệu quả này, từ đó đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp cải thiện được hoạt động sản xuất kinh doanh, đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Cách tiếp cận này đã được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới và được áp dụng trong một số lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành