1. Kinh nghiệm của một số nước

Kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy việc cải cách thể chế là hành động cần thiết để phát triển toàn diện quốc gia.

Ở Đài Loan sau khi Quốc Dân Đảng bị đánh bại rút quân và sau chiến tranh với Triều Tiên kết thúc ở Hàn Quốc, cả 2 quốc gia này đều bước vào giai đoạn chuyển giao chế độ từ một chế độ độc tài sang chế độ dân chủ hơn, người dân có quyền bầu cử ra người đứng đầu đất nước là tổng thống, trực tiếp tham gia vào công cuộc đổi mới và hưởng thụ thành quả từ công cuộc cải cách thể chế chính trị. Đối với những đất nước không có thế mạnh về tài nguyên khoảng sản như 2 quốc gia nói trên việc thu nhập bình quân đầu người tăng từ 79 USD/1 người trong năm 1960 đến 22.670 USD/1 người năm 2012 là một bước tiến vô cùng mạnh mẽ.

Trong khu vực ASEAN, Myanmar từ một quốc gia bé nhỏ đã thực hiện những bước tiến đáng kể trong công cuộc cải cách thể chế chính trị tạo ra những đột phá ngoạn mục trong phát triển kinh tế - xã hội. Điều đặc biệt đáng nói ở quốc gia này là việc xây dựng thể chế kinh tế, chính trị mới lại diễn ra trong hoà bình và không để lại hệ luỵ của chiến tranh.

Tóm lại cải cách thể chế về cả kinh tế và chính trị là rất cần thiết đối với Việt Nam trong thời điểm này, những kinh nghiệm trước mắt của bạn bè quốc tế ít nhiều cần được vận dụng vào thực tế Việt Nam.

2. Tình hình cải cách thể chế kinh tế và chính trị ở Việt Nam:

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020, theo đó chiến lược này cũng đã khẳng định: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như vậy có thể nhận thấy khâu đột phá chiến lược đầu tiên mà chiến lược này nhắc đến là cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài ra thực hiện cải cách hành chính và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chiến lược còn nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế” “Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế”.

Có thể nhận thấy những định hướng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 - 2020 là hoàn toàn đúng đắn và có lợi cho nền kinh tế nước nhà nhưng đáng tiếc trong thời gian dài những định hướng đúng đắn đó chưa được thực hiện một cách nghiêm túc hoặc nếu có thực hiện thì vẫn còn rất trì trạc. Về phân tích đánh giá các điểm mạnh và yếu của thể chế kinh tế và chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể nào, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có một bản báo cáo về đánh giá thể chế nhưng chỉ đề cập đến những vấn đề bất cập trong cơ cấu hành chính nhà nước chứ chưa đề cập rõ đến Đảng hay các tổ chức chính trị - xã hội.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới thì thể chế chính trị không có những đổi mới xứng tầm với thời đại để giải quyết các khiếm khuyết của nền kinh tế và phát huy các thế mạnh của dân tộc. Phản ứng của bộ máy lãnh đạo không đủ tính nhanh nhạy để đáp ứng các yêu cầu biến đổi của thời đại, điều này có phần là do sự song hành của hệ thống Đảng và Nhà nước. Một số vấn đề cần giải quyết nhanh như việc ban hành hay thông qua các quyết định, văn bản pháp lý… phải chờ bàn bạc, thảo luận qua nhiều cấp mới đi đến quyết định. Vấn xây dựng kỷ luật, kỷ cương trong Đảng còn nhiều hạn chế một phần là do việc giám sát quyền lực trong hệ thống Đảng của Ban Kiểm tra, thanh tra Đảng còn chưa được thực hiện nghiêm túc.

Việc xây dựng một lộ trình thích hợp cho đổi mới thể chế chính trị nhằm đồng bộ với đổi mới thể chế kinh tế không được chỉ đạo thực hiện cụ thể. Lãnh đạo Đảng đã nhiều lần cảnh báo nguy cơ của tham nhũng đối với nền kinh tế cũng như chính trị quốc gia nhưng vẫn chưa có một giải pháp cụ thể nào để thực hiện xã hội hoá chống tham nhũng, tất cả chỉ dừng lại ở phê bình và tự phê bình, chỉnh đốn tổ chức Đảng một cách chung chung… Tất cả những biện pháp này chỉ mang tính khẩu hiệu, không có định hướng cụ thể để giải quyết và cũng không đáp ứng được các yêu cầu của thời đại.

Nhìn chung, sự yếu kém của một bộ phận lớn bộ máy nhà nước đã gây ra những hệ luỵ không hề nhỏ, một số lĩnh vực đã nhiều lần phát hiện sai phạm lớn nhưng đâu lại vào đấy như các vụ việc tiêu cực trong ngành giáo dục và y tế được phát hiện trong thời gian vừa qua cũng chỉ dừng lại ở những mức phạt nhẹ chưa có tính răn đe cao, kể cả những vụ lương khủng của lãnh đạo doanh nghiệp công ích ở TP. Hồ Chí Minh cũng chưa có biện pháp xử lý thích đáng.

Không thể phủ nhận từ khi được thông qua và có hiệu lực Bộ Luật Cạnh Tranh đã tạo ra tác động lớn và mang lại những hiệu quả nhất định trong việc làm cán cân trên thị trường nhưng xét về tiềm năng thì vẫn còn nhiều hạn chế. Vai trò của Cục Quản lý cạnh tranh chưa thực sự được phát huy hết tác dụng khi còn chịu sự kiểm soát của Bộ Công Thương, qua đó công cuộc chống độc quyền trong nền kinh tế vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối. Một số ngành kinh tế còn tồn tại hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, độc quyền sản phẩm, dịch vụ gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Tuy nhiên, bất cập là vậy nhưng nhiều doanh nghiệp cũng chưa biết cách tự bảo vệ quyền lợi của mình và khách hàng khi không nghiên cứu kỹ hoặc không biết về Luật Cạnh Tranh. Một số khác biết rõ luật nhưng ngại khiếu kiện.

Những vấn đề nhức nhối trên đây phản ánh một phần nào đó sự bất cập trong thể chế hiện tại, qua đó muốn hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần có những thay đổi chiến lược mang tính đột phá. Một khi chưa thực hiện được tiến trình đổi mới thể chế kinh tế và chính trị thì đừng mong nghĩ đến một môi trường kinh tế cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và mang lại lợi ích cho người dân.     

3. Giải pháp, kiến nghị:

Đã đến lúc Quốc hội thực hiện quyền và vai trò của mình một cách mạnh mẽ hơn nữa trong cải cách thể chế. Các Nghị quyết về cải cách thể chế cần được ban hành và thông qua sớm, thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc trong hệ thống hàn chính nhà nước như giải trình, công khai, minh bạch, nhiệm vụ chức năng phải được quy định rõ ràng. Các vị trí và chức danh chủ chốt cần phải được giám định, xét duyệt công khai từ Uỷ Ban Quốc Hội cũng như Hội đồng nhân dân cấp Trung Ương.

Đề hiệu quả hơn trong công tác quản lý kinh tế, chống độc quyền, lợi dụng địa vị chức vụ mà thống lĩnh thị trường cần phải thay đổi cơ cấu cũng như nâng cấp Cục Quản lý cạnh tranh, cho phép cơ quan này có đủ thẩm quyền quyết định một số vấn đề và chịu sự quản lý trực tiếp của Chính Phủ hoặc Quốc Hội thay vì chịu sự kiểm soát của Bộ Công Thương như hiện nay.

Chức năng của các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, tiếng nói của báo chí và vai trò của các tổ chức xã hội cần được nâng cao qua đó lấy lợi ích của nhân dân và người tiêu dùng làm phương châm hoạt động.

Hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia trong những năm vừa qua được chú trọng và quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như sự đóng góp xây dựng của toàn dân. Nhờ đó hệ thống cơ sở hạ tầng nước ta dần được cải thiện, quy mô được mở rộng và hình thức ngày càng đa dạng. Theo ước tính trong 10 năm của giai đoạn vừa qua có hơn 24% tổng đầu tư xã hội là dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn vốn này tương đương 9% GDP của cả nước, trong đó chiếm đến 65% là nguồn ngân sách nhà nước. Điều thành công hơn nữa là ngoài nguồn lực của nhà nước, cơ cấu của nguồn đầu tư này còn được đa dạng hoá bởi các nguồn đầu tư, đóng góp tự nguyện của nhân dân.

Về hệ thống giao thông đường bộ từ năm 2000 đến 2010, tổng chiều dài hệ thống đường bộ trên cả nước đã tăng từ 217 ngìn km lên hơn 256 ngìn km, theo tính toán sơ bộ đã tăng hơn 39 ngìn km. Hệ thống đường cao tốc trong vòng 10 năm cũng đã có những bước tiến vượt bậc khi năm 2000 chỉ có 24 km đường cao tốc, đến năm 2010 đã tăng gấp hơn 7 lần khi đạt 150 km. Các tuyến quốc lộ cũng đã được chỉnh trang và mở rộng, bảo đảm giao thông thông suốt trên cả nước, đến năm 2010 tổng chiều dài các tuyến quốc lộ đã đạt 17 nghìn km so với chỉ hơn 15 nghìn km của năm 2000. Các công trình giao thông liên xã, liên huyện cũng được mở rộng và cải tiến, nhiều công trình giao thông huyết mạch được khởi công và hoàn thành giúp thay đổi bộ mặt giao thông của đất nước.

Hệ thống giao thông đường sắt của Việt Nam cũng được cải thiện và mở rộng quy mô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân cũng như giao thương giữa các vùng trên cả nước, ua đó giúp giảm bớt thời gian di chuyển giữa các tỉnh thành phố với nhau.

Hệ thống giao thông đường biển có những thay đổi và bước tiến quan trọng để góp phần đưa đất nước hội nhập nhanh hơn với quốc tế. Đặc biệt các cửa ngõ giao thương then chốt như Hải Phòng, Cái Lân, Cửa Lò, Sài Gòn, Vũng Áng, Tiên Sa, Quy Nhơn… từng bước được nâng cấp hiện đại để có thể đón những chuyến tàu lớn vào Việt Nam một cách thuận lợi nhất. Tính đến năm 2010 cả nước có tổng cộng 166 bến cảng, trong đó có 49 cảng lơn phân bố khắp chiều dài đất nước, hệ thống cầu bến đạt số lượng khoảng 332 với tổng chiều dài gần 40 km. Số lượng hàng hoá thông thương qua các cảng cũng tăng nhanh từ 82,4 triệu tấn của năm 2000 lên đến gần 255 triệu tấn năm 2010, ước tính bình quân mỗi năm tăng 11,2%. Ngoài ra còn có một số cảng biển quốc tế quan trọng đang được đầu tư xây dựng như cảng Cái Mép - Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và cảng Lạch Huyện thuộc thành phố Hải Phòng.

Hệ thống sân bay, cảng hàng không đang hoạt động trên cả nước là 22 cảng, số sân bay quốc tế là 8, nhiều sân bay quân dụng cũng đã được chuyển đổi mục đích sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại cũng như nhu cầu thông thương ra quốc tế. Về hệ thống đường thuỷ nội địa cũng như giao thông nông thông cũng từng bước được chú trọng, đó là nhờ sự quan tâm đầu tư đúng mức của Nhà nước và xã hội vào lĩnh vực này, giúp cho khoảng cách từ các thành phố lớn về các đô thị địa phương được tiết kiệm thời gian và thuận tiện hơn rất nhiều.

Cơ sở hạ tầng năng lượng từng bước được đa dạng hoá nguồn cung cấp, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ vì không còn phải phụ thuộc vào một nguồn cung cấp chủ yếu nào nữa. Nhiều nguồn nguồn cung cấp khác được tận dụng và khai tác để tạo ra năng lượng giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và ổn định sản xuất kinh doanh.

Hệ thống thuỷ lợi, trạm bơm được phát triển theo hướng hiện đại hoá, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu cho nông dân, đáp ứng nhu cầu sản xuất quy mô lớn để xuất khẩu. Ngoài ra các hệ thống công trình phòng chống lũ và thiên tai cũng được đầu tư đúng mức qua đó ứng phó được với một số hiện tượng biến đổi khí hậu một cách kịp thời, giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất.

Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông trong những năm vừa qua được mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng. Người dân tiếp xúc với công nghệ ngày càng nhiều, điện thoại, máy tính kết nối internet có mặt ở mọi nơi. Bước tiến mới là đã thực hiện khác thành công chính sách xã hội hoá công nghệ thông tin, góp phần nâng cao trình độ công nghệ trong tất cả các lĩnh vực đời sống.

Các hạ tầng về y tế, giáo dục, thương mại, văn hoá - du lịch trong thời gian qua đều được đầu tư phát triển đúng mức mang lại nhiều thành quả kinh tế - xã hội, giúp cho mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước của Đảng ta ngày càng được thực hiện. Nhìn chung, nhờ những thành quả trên, bộ mặt của các vùng nông thôn hay các đô thị mới đã được thay đổi, lột xác, chất lượng và quy mô cơ sở hạ tầng được mở rộng và nâng cao, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu góp phần thay đổi diện mạo và vị thế của đất nước trong quá trình hội nhập với quốc tế.

Tuy hệ thống cơ sở hạ tầng nước ta thời gian qua có những thay đổi, cải tiến đột phá nhưng không tránh khỏi những hạn chế còn tồn tại. Cụ thể tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng so với mặt bằng chung là còn quá chậm, so với một số nước trong khu vực thì hệ thống cơ sở hạ tầng của nước ta vẫn còn quá lạc hậu và thiếu đồng bộ.

Hình thức vận tải đa phương thức ở nước ta vẫn chưa được chú trọng khi mà các loại giao thông như đường bộ với đường biển vẫn chưa được kết nối đồng bộ với nhau. Hệ thống đường bộ kém chất lượng về kỹ thuật, tuổi thọ thấp, công tác quản lý và bảo trì vẫn chưa được triển khai đồng bộ. Hệ thống quốc lộ đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế chỉ chiếm 47%, các tuyến cao tốc chỉ đạt 0,1%.

Hệ thống đường sắt còn quá lạc hậu cả về kỹ thuật lẫn quy mô, chủ yếu là đường đơn khổ 1.000 mm, dẫn đến tốc độ chạy của tàu thấp và độ an toàn cũng không đạt tiêu chuẩn. Trong khi ở các nước trong khu vực đã khai tác được 40-45 đôi tàu/1 ngày-đêm thì ở nước ta năng lực khai thác chỉ mới đạt 25 đôi tàu/1 ngày-đêm tức là mới chỉ đạt 60-70% năng lực. Ngoài ra còn một số vùng mà đường tàu chưa đến được như Tây Nguyên hoặc Đồng bằng Sông Cửu Long.

Nói đến quy mô và công nghệ thì chắc chắn phải nhắc đến nhược điểm của hệ thống cảng biển hiện nay, chỉ có 1,4% số cầu cảng có thể tiếp nhận được tàu 50 ngìn DWT. Trong thời buổi hội nhập quốc tế, nhu cầu thông thương ra quốc tế là rất lớn nhưng số bến chuyên dùng cho hàng container còn rất thấp, chưa có một cảng biển nào được đầu tư hiện đại thật sự để đạt tiêu chuẩn trung chuyển quốc tế. Mặc dù cũng có những hải cảng quốc tế như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn có thể đón nhận các chuyến tàu lớn nhưng việc quản lý khai thác, quy hoạch bến bãi, không gian bến còn nhiều bất cập, thiếu chuyên nghiệp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Hệ thống cảng hàng không cũng còn nhiều tồn tại hạn chế, nhiều sân bay chưa đủ khả năng và cơ sở vật chất hiện đại để đón máy bay hạ cánh vào ban đêm hoặc khi thời tiết xấu. So với một số nước trong khu vực thì năng lực khai thác các cảng hàng không của nước ta còn kém, có đếm 40% số cảng chỉ có khả năng khai thác máy bay nhỏ.

Cơ sở hạ tầng mạng lưới điện quốc gia chỉ đạt trình độ trung bình so với khu vực và thế giới, chất lượng hệ thống lưới điện còn thấp gây tốn thất điện năng lớn. Trong khi tỷ lệ tổn thất điện năng bình quân của thế giới là 8,4% thì ở Việt Nam tổn thất lên đến 9,6%, nghĩa là còn chưa đạt được mức trung bình của thế giới.

Hệ thống hạ tầng thuỷ lợi xuống cấp nghiêm trọng nhưng ít được chú trọng tu bổ, bảo trì gây ra nhiều tình trạng bất cập, thiếu đồng bộ và hiệu quả thấp. Tính đến nay số kênh mương phục vụ tưới tiêu và thuỷ lợi được kiên cố hoá chỉ đạt 19%.

Cơ sở vật chất hạ tầng truyền thông và công nghệ thông tin chưa thật sự đáp ứng tốt yêu cầu của người sử dụng, chất lượng và độ phủ sóng chưa đồng đều, hạ tầng phát triển nhanh về quy mô nhưng thiếu tính bền vững. Việc ứng dụng và xã hội hoá công nghệ thông tin vào đời sống cũng như sản xuất, kinh doanh còn nhiều hạn chế, năng lực cạnh tranh và quy mô của ngành công nghệ nước ta còn quá thấp.

Chất lượng của các công trình hạ tầng đô thị còn kém, thiếu đồng bộ, diện tích dành cho giao thông đô thị quá thấp không đáp ứng được nhu cầu đi lại và làm việc của người dân dẫn đến quá tải. Ngoài ra, hệ thống giao thông công cộng chưa thật sự phát huy vai trò để giải quyết các thực trạng trên.

Các cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giáo dục, an sinh xã hội thiếu về số lượng và kém về chất lượng. Hệ thống bệnh viện, trạm y tế phục vụ khám chữa bệnh cho người dân phân bố không đồng đều và cả dịch vụ cũng còn nhiều hạn chế, điều này do cả yếu tố con người lẫn yếu tố trang thiết bị, cơ sở vật chất.

Nhìn chung nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng về mọi mặt ở nước ta là vô cùng bức thiết nhưng nguồn lực đầu tư từ cả Nhà nước lẫn xã hội còn hạn chế gây ra nhiều bất cập. Nếu không khắc phục sớm thì khó mà thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và ổn định an sinh xã hội.

Để khắc phục những vấn đề nêu trên cần có những giải pháp cụ thể và đồng bộ, cụ thể như sau:

- Các công trình trọng điểm, có tính chất quan trọng giải quyết được nhiều thực trạng xã hội cần đầu tư và hoàn thành sớm chứ không nên đầu tư dàn trải gây lãng phí mà không mang lại nhiều hiệu quả. Để thực hiện tốt mục tiêu này cần sớm ban hành Luật đầu tư công nhằm tăng hiệu quả sử dụng nguồn Ngân sách cũng như tránh thất thoát nguồn quỹ quốc gia trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

- Đa dạng hoá các hình thức đầu tư nhằm thu hút đầu tư từ nhiều thành phần kinh tế. Các công trình giao thông lớn cũng như các hạ tầng phúc lợi xã hội có liên kết với nước ngoài cần triển khai sớm và tận dụng triệt để nguồn viện trợ ODA.

- Ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới, tiến hành chính sách đi tắt đón đầu nhằm rút ngắn trình độ so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cần học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển bên cạnh việc áp dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và vận hành.

- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành để đảm bảo sự đồng bộ trong việc đầu tư và khai thác cơ sở hạ tầng. Hệ thống giao thông nông thôn cần đẩy mạnh huy động nguồn lực từ trong dân để kiên cố và phát triển.

Bên cạnh đó, việc tăng cường kêu gọi ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản công cộng từ người dân nhằm nâng cao hiệu quả vận hành cũng như tăng tuổi thọ cho các công trình hạ tầng cơ sở.

Trong năm 2013 chính sách thu Ngân sách với mục tiêu trọng tâm là tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp được tiến hành khá hiệu quả, với các hoạt động giảm thuế, giãn thời hạn nộp thuế làm giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp thông qua giảm bớt nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Nhờ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mới sản xuất, thúc đẩy kinh doanh tạo ra nguồn cung dồi dào giúp hạ giá thành sản phẩm và tăng sức mua của người dân.

Bên cạnh đó để bù đắp vào khoản thất thoát, công tác chống thất thu Ngân sách Nhà nước cũng được chú trọng như tập trung thu các đối tượng, nhóm ngành nghề có tốc độ tăng trưởng cao, các ngành nghề có khả năng tăng thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ các khoản thuế, lệ phí bù đắp cho Ngân sách Nhà nước. Thành quả thể hiện sự chủ động và nỗ lực của Chính phủ là việc kịp thời ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 thể hiện quyết thâm giải quyết khó khăn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính phủ, việc điều chỉnh chính sách tài khoá theo hướng tích cực để giải quyết những khó khăn, vướng mắc còn tồn đọng trong thời gian dài khủng hoảng kinh tế là rất kịp thời và phù hợp với bối cảnh kinh tế trong nước.

Chính sách chi Ngân sách Nhà nước trong năm 2013 để phù hợp với tình hình chung cũng đã có một số điều chỉnh, các khoản chi không thực sự quan trọng đã được cắt giảm, thực hành tiết kiệm ở một số lĩnh vực được tiến hành khá hiệu quả. Rà soát, sắp xếp lại các khoản chi thường xuyên, tiết kiệm được 10% dự toán chi thường xuyên còn lại của 7 tháng cuối năm 2013, tối thiểu 20% chi phí điện nước, văn phòng phẩm… được tiết kiệm, chi phí cho các dịp lễ hội, tiếp khách, hội nghị, công tác phí… cũng được tiết kiệm 30%. Việc kiểm soát các hoạt động sử dụng đầu tư nguồn vốn Ngân sách nhà nước cũng được thực hiện chặt chẽ, mục tiêu giảm tối đa nợ đọng xây dựng cơ bản. Cụ thể:

+ Rà soát tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản và xác đinh trách nhiệm của từng cấp, cơ quan.

+ Cân đối nguồn xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản.

+ Không yêu cầu doanh nghiệp ứng vốn thực hiện dự án khi chưa được bố trí vốn, dẫn đến hậu quả phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.

+ Không sử dụng vốn vay ngân sách địa phương để bố trí cho ác dự án khởi công mới khi chưa xác định hoặc thẩm định được nguồn vốn để hoàn trả.

Năm 2013 vừa qua, quá trình tái cơ cấu kinh tế được tiến hành mạnh mẽ thông qua việc rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp lý tạo điều kiện phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước. Thành quả của các doanh nghiệp nhà nước, các cấp, ngành cho thấy tái cơ cấu đầu tư công được triển khai về cơ bản là đúng hướng, để khắc phục vấn đề của phương thức giao kế hoạch vốn trước đây là dễ phân bổ nguồn vốn sai đối tượng việc chuyển đổi sang phương thức giao kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2012-2015 cho từng dự án được triển khai khá kịp thời.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, việc hỗ trợ doanh nghiệp thông qua cắt giảm nguồn thu Ngân sách Nhà nước cũng gây ra một số hệ luỵ nhất định, dẫn đến chính sách chi cũng bị ảnh hưởng. Các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cần nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước mặc dù vẫn được đảm bảo nhưng gây áp lực lớn cho Ngân sách. Kết quả thu thấp và chậm so với tiến độ đề ra so với cùng kỳ các năm trước.

Tính đến tháng 8 năm 2013 so với cùng kỳ các năm trước, tổng số thu của Ngân sách Nhà nước vẫn dạt con số cao hơn nhưng tốc độ tăng thu có xu hướng giảm rõ rệt. Các hạng ngạch đều thu chưa đúng năng lực và chưa đạt kế hoạch. Đến hết tháng 8 năm 2013 có đến 40 địa phương trong cả nước chưa đạt yêu cầu về tiến độ thu, chỉ có 23 địa phương là thu đạt tiến độ đề ra ban đầu. Mặc dù so với cùng kỳ 2012 có đến 57 địa phương thu vượt nhưng mức tăng không đáng kể. Nguyên nhân chính là do:

+ Thực hiện các biện pháp giảm, giãn thuế theo Nghị quyết 02/NQ-CP ban hành ngày 07/01/2013 của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

+ Tăng trưởng kinh tế đạt thấp so với kế hoạch đề ra cũng tác động ảnh hưởng tới số thu ngân sách.

+ Tình hình doanh nghiệp mặc dù đã được cải thiện hơn nhưng mức độ cải thiện chưa đáng kể.

+ Diễn biến thị trường bất động sản những tháng đầu năm con trầm lắng đã ảnh hưởng tới số thu từ đất.

Những vấn đề yếu kém trong nội bộ nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết triệt để, tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao gây những gây cản trở nền kinh tế. Chính sách chi Ngân sách Nhà nước chưa được triển khai đúng hướng, đúng đối tượng. Quá trình tái cơ cấu đầu tư công tuy có gặt hái được thành quả nhưng nhìn chung diễn ra còn chậm, các thể chế liên quan đến tái cơ cấu đầu tư công như Luật Quy Hoạch, Luật Đô thị, Luật Quản lý, sửa dụng Ngân sách và sản xuất kinh doanh, Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi, Luật Đầu tư công... còn chậm được ban hành.

Các dự án lớn đặc biệt là các dự án thuộc khu vực địa phương quản lý hiện nay vẫn chưa xử lý xong nguyên nhân chính là do các dự án này trước đây được phê duyệt vượt quá khả năng cân đối vốn, một nhân tố nữa ảnh hưởng đến tái cơ cấu đầu tư công là việc giảm mạnh tỷ lệ đầu tư Nhà nước trong thời gian gần đây.

Để nâng cao, thức đẩy hiệu quả huy động Ngân sách nhà nước cần giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, cần có những giải pháp mang tính dài hơi và cả những giải pháp tình thế. Trước mắt cần điều chỉnh chính sách tài khoá làm mở rộng không gian huy động nhằm tăng hiệu quả huy động và sử dụng nguồn Ngân sách Nhà nước.

Giải pháp tình thế trước mắt cần triển khai khẩn trương chỉ đạo, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc chỉ thị 09/CT-TTg ngày 24/05/2013 về tăng cường chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tài chính và chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/06/2013 về tăng cường quản lý đầu tư, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn Ngân sách và trái phiếu chính phủ. Tiếp tục tiến hành các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp theo các Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng tổng cầu nền kinh tế. Tiến hành nhanh gọn các biện pháp nhằm giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đặt biệt đối với các dự án cấp bách có thể giải quyết nhanh đưa vào sử dụng.

Khu vực nông nghiệp, nông thôn cần được đầu tư đúng mức để tác động thúc đẩy tăng trưởng. Giải quyết nhu cầu nhà ở, nhà tái định cư thông qua ứng trước một phần ngân sách cho các địa phương. Quán triệt triệt để, thực hiện kế hoạch chi tiêu Ngân sách chặt chẽ, hiệu quả, tránh lãng phí cùng với giảm các chính sách làm tăng chi Ngân sách mà không có nguồn đảm bảo. Tăng cường trách nhiệm và tính tự chủ của người trực tiếp chỉ đạo sử dụng nguồn vốn Ngân sách nhưng đồng thời phải tăng cường công tác giám sát.

Đảm bảo hài hoà các mục tiêu và lợi ích, tính toán chu toàn cho các lợi ích đầu tư công, cần tiến hành khẩn trương ban hành bộ Luật đầu tư công cũng như bộ tiêu thức chuẩn hoá nhằm làm căn cứ pháp lý và cơ sở chung thực hiện phối hợp chính sách trong quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Đa dạng hoá phương thức và nguồn huy động vốn đầu tư công nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội, giảm quy mô đầu tư công cho phù hợp với nền kinh tế, từ bỏ mô hình tăng trưởng nóng chuyển sang phát triển theo chiều sâu và có tính dài hơi cao.

Sở hữu chéo là hiện tượng kinh tế mà doanh nghiệp này nắm giữ cổ phần ở một doanh nghiệp khác. Hiện tượng kinh tế này tồn tại khá phổ biến trong nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Thuỵ Điển… Hình thức kinh tế sở hữu chéo cũng có những ưu điểm và nhược điểm của riêng nó.

Mục đích của doanh nghiệp sở hữu chéo một doanh nghiệp khác không chỉ có lợi nhuận mà còn muốn kiểm soát quyền lực thông qua cổ phần sở hữu nhằm vào các lợi ích giảm chi phí giao dịch cho các hoạt động hợp tác giữa các bên liên quan hoặc thao túng thị trường. Việc giảm chi phí giao dịch nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo mang lại lợi ích phúc lợi xã hội nhưng hành động thao túng thị trường lại gây hại cho phúc lợi xã hội.

Ở các quốc gia như Đức có truyền thống tôn trọng kỷ luật, Nhật Bản có truyền thống coi trong danh dự cá nhân thì sở hữu chéo đem lại hiệu quả cao hơn. Khi thực hiện các giao dịch ứng dụng hình thức sở hữu chéo tại các quốc gia này làm giảm chi phí liên quan đến hành vi cơ hội chủ nghĩa. Lợi dụng lợi ích này các tổ chức kinh tế đã áp dụng để hình thành các tập đoàn có các công ty thành viên sở hữu cổ phần lẫn nhau mà đặc biệt là các công ty trong các ngành liên kết dọc.

Sở hữu chéo giúp các bên tin cậy nhau hơn, sẵn sàng dành thời gian hợp tác để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều này giúp các bên giảm thiểu được các tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài, góp phần ổn định kinh doanh. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp trong nhóm ngành tài chính tín dụng, Sở hữu chéo giúp các doanh nghiệp này đảm bảo nguồn vốn với lãi suất hợp lý, điều này giúp ích rất nhiều cho các thị trường mới nổi khó tiếp cận và huy động nguồn vốn trên thị trường chứng khoán.

Nếu các ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác với nhau có tồn tại hình thức sở hữu chéo có thể tạo ra những lợi ích nhất định trong việc hợp tác tài trợ vốn, giải quyết được những vấn đề của các dự án lớn đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Mối liên hệ giữa các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp với các ngân hàng thông qua hình thức sở hữu chéo cũng giúp cho doanh nghiệp dễ tiếp cận nguồn vốn hơn với lãi suất hợp lý, từ đó các doanh nghiệp sẵn sàng mạnh dạn đầu tư vào các dự án dài hạn như nghiên cứu phát triển sản phẩm và thị trường.

Như đã nói phần trên, hình thức sở hữu chéo tuy có nhiều ưu điểm cho nền kinh tế song không thể phủ định hình thức này vẫn còn tồn tại một số bất cập cần phải loại bỏ.

Hình thức hợp tác sở hữu chéo theo một số nghiên cứu gần đây luôn tồn tại cấu kết ngầm, từ đó dẫn đến khả năng thao túng thị trường cao. Khi một doanh nghiệp nắm giữ cổ phầm của doanh nghiệp khác thì doanh nghiệp nắm giữ cổ phần luôn muốn kiểm soát triệt để các dự án hoặc hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp kia và doanh nghiệp nắm giữ cổ phần luôn làm tốt việc kiểm soát này, thậm chí doanh nghiệp này còn có thể tác động đến cả việc định giá hay sản lượng cung ứng ra thị trường của doanh nghiệp kia. Nếu 2 doanh nghiệp này cùng hoạt động trong một ngành nghề thì doanh nghiệp nắm giữ cổ phần có thể linh động về việc định giá và sản lượng cung ứng ra thị trường của doanh nghiệp mình để tránh ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của doanh nghiệp kia. Từ đó có thể nhận thấy khi các mối quan hệ hợp tác có tồn tại hình thức sở hữu chéo dễ dàng dẫn đến sự cấu kết giữa các doanh nghiệp để hưởng lợi từ việc thao túng thị trường.

Hạn chế sự giám sát của cổ đông cũng là một nhược điểm mà sở hữu chéo mang lại, khi các doanh nghiệp sở hữu cổ phần của nhau thì bên nắm giữ cổ phần lại không nắm quyền quản lý trực tiếp. Từ đó dẫn đến người quản lý trực tiếp lại thiếu động lực hoạt động tích cực mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp cũng như cho cổ đông, ngược lại để duy trì lợi nhuận và lợi ích nhà quản lý các doanh nghiệp sở hữu chéo lại càng cấu kết ngầm thao túng thị trường gây tác hại cho phúc lợi xã hội. Thêm vào đó, các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho nhau nhưng không kèm theo thanh toán bằng tiền gây ra hiện tượng vốn ảo, số lượng cổ phiếu thì tăng nhưng thực chất nguồn vốn lại không có dẫn đến cổ phiếu bị mất dần giá trị, các cổ đông nhỏ lẻ dần dần cũng bị thiệt hại nặng nề.

  Đối với hệ thống ngân hàng, sở hữu chéo dễ mang lại rủi ro đổ vỡ hệ thống tài chính. Cũng giống như các ngành khác, hình thức sở hữu chéo trong ngành ngân hàng và tín dụng cũng tồn tại những mối quan hệ cấu kết ngầm để khống chế lãi suất và tỉ giá trên thị trường. Các ngân hàng có liên hệ sở hữu chéo nếu một đối tác bị thua lỗ, cổ phiếu bị mất giá hoặc phá sản sẽ dễ dẫn đến mất an toàn vốn và giảm năng lực tín dụng cuối cùng là rơi vào tình trạng mất thanh khoản. Điều này là vô cùng tai hại đối với ngành tín dụng nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.

Không phủ nhận hình thức kinh tế sở hữu chéo mang lại những lợi ích nhất định cho thị trường trong một giai đoạn ngắn nhưng sự tồn tại của nó cũng mang lại tác hại không hề nhỏ cho nền kinh tế. Nếu ứng dụng hình thức này trong một thời gian ngắn hạn thì nó sẽ mang lại lợi ích không hề nhỏ nhưng về dài hạn, sở hữu chéo không mang lại một sự bền vững cho nền kinh tế.

Như vậy, về lâu về dài cần phải dần loại bỏ sở hữu chéo ra khỏi nền kinh tế nói chung và khu vực ngân hàng nói riêng. Tuy nhiên, để giải quyết dứt điểm sở hữu chéo trong ngành ngân hàng cần phải xử lý thận trọng, có lộ trình. Trước tiên phải hoàn thiện các cơ chế, chính sách hạn chế dần sở hữu chéo ở từng tổ chức tín dụng, xử lý đồng bộ nhưng cũng phải linh động theo đặc tính riêng của từng tổ chức tín dụng.

Tăng cường thanh tra, giám sát, thực hiện dần dần theo lộ trình tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng tiến hành rút vốn dần khỏi các công ty con, các đối tác liên kết hoạt động không hiệu quả. Xác định nguồn vốn và nguồn lực tài chính của tổ chức tín dụng là nguồn huy động từ cá nhân, tổ chức đầu tư vào một cách hợp pháp. Giám sát chặt chẽ quan hệ tín dụng của các bên có sở hữu chéo, ngăn chặn và xử lý kịp thời tình trạng thao túng và chi phối thị trường. Ngân hàng nhà nước phải có biện pháp cụ thể xử lý các vi phạm về quy định sở hữu chéo của các tổ chức tín dụng trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng.

  Áp dụng kinh nghiệm quốc tế vào thực tế thị trường Việt Nam. Ở Nhật Bản tiến hành thay đổi hệ thống pháp lý, Chính phủ cùng Uỷ ban giám sát tài chính Nhật Bản ban hành quy định về an toàn vốn, buộc các ngân hàng bán bớt số lượng cổ phiếu đang sở hữu, đảm bảo tổng giá trị cổ phiếu trong danh mục đầu tư không vượt quá vốn tự có cấp 1 của Ngân hàng. Thành lập các quỹ phúc lợi và hưu trí cho người lao động, khuyến khích các doanh nghiệp có sở hữu chéo chuyển cổ phiếu sở hữu chéo vào các quỹ này. Hỗ trợ cho khung pháp lý mới cùng với hoàn thiện thể chế nhằm hướng tới giảm dần tỉ lệ sở hữu chéo, các thể chế mới sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp giảm bớt các tác động tiêu cực trong quá trình rút vốn từ các công ty con, các đối tác liên kết.

 

Để phục vụ việc giám sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005-2012, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử xin gửi tới các vị đại biểu Quốc hội một số thông tin về tình hình thực hiện chính sách nông nghiệp, phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua. Qua đó các đại biểu có nhiều thông tin hơn, trong việc nghiên cứu báo cáo giám sát về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII một cách khách quan nhất.

  1. Những kết quả đạt được.

Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn góp phần tích cực thực hiện Mục tiêu của chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của tỉnh đề ra: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 31,08% năm 2005 hết năm 2012 (theo chuẩn nghèo 2012) tỉnh Phú Thọ còn 14,12%; Năm 2013 còn 12,52% bình quân mỗi năm giảm 4,2% (11.755 hộ) góp phần đưa Phú Thọ cơ bản ra khỏi tỉnh nghèo. Nâng cao nhận thức, kiến thức cho người nghèo, hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội một cách cơ bản và bình đẳng, giúp họ cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất. Giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các vùng. Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng nghèo, xã có tỷ lệ nghèo cao.

Chương trình giảm nghèo đã tạo thành sức mạnh tổng hợp: nâng cao năng lực sản xuất, kiến thức làm kinh tế cho người nghèo; hướng dẫn người nghèo cách làm ăn; nông dân và các hộ đói nghèo có vốn sản xuất, lao động có việc làm, sản xuất nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển, trình độ dân trí, kinh nghiệm sản xuất được nâng lên, tạo điều kiện cho người nghèo tự vươn lên giảm nghèo, đời sống nhân dân được cải thiện và được thể hiện dưới các con số của từng dự án như sau:

- Công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật: Đã tổ chức tập huấn 125 lớp cho 5.850 lượt nông dân nghèo. Đối tượng tập huấn là các hộ nghèo tại địa phương theo tiêu chí tại Quyết định 170/QĐ-TTg. Nội dung gồm: kỹ thuật trồng, thâm canh lúa lai, ngô lai, chăn nuôi lợn, chăn nuôi gà, đại gia súc, trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế trang trại Kinh phí triển khai thực hiện trong 5 năm là: 350,22 triệu đồng.

- Xây dựng mô hình điếm: Tổ chức xây dựng các mô hình điếm với 3 nội dung trồng trọt, chăn nuôi, khuyến lâm tại các xã miền núi, xã ĐBKK và ATK, nội dung chủ yếu tập trung vào các mô hình trồng, thâm canh 995 ha lúa lai, 97 ha ngô lai; trồng, thâm canh cây tre chuyên măng bát độ, trồng mây nếp nguyên liệu, cây sơn, phát triển sản xuất, phục vụ cho phát triển ngành nghề nông thôn. Trong 5 năm đó triển khai hỗ trợ cho trên 4.639 hộ với tổng kinh phí trên 2.480 triệu đồng thực hiện các mô hình.

- Phát triển ngành nghề nông thôn:

Hỗ trợ truyền nghề đan mây, tre, giang cho 172 hộ, kinh phí triển khai 300 triệu đồng; Hỗ trợ phát triển nghề mộc gia dụng: 550 triệu đồng; nghề thủ công khâu nón lá: 230 triệu đồng (tại cẩm Khê). Khôi phục làng nghề dệt mành cọ, dệt chiếu trúc tại Đoan Hùng, làng nghề nuôi ong lấy mật (tại Hạ Hoà) . Hỗ trợ máy đốn hái chè, quy trình vận hành máy móc, kỹ thuật hái, đốn chè. Kinh phí 550 triệu đồng;

Dự án Hỗ trợ Phát triến sản xuất thuộc chương trình 135 với tổngnguồn vốn: 83.100 triệu đồng, 275.599 hộ thụ hưởng, đã thu được những kết quả sau: Giống cây trồng: số hộ được thụ hưởng là 70.624 hộ, kinh phí là 17.132 triệu đồng, trong đó: Giống lúa 340,4 tấn với kinh phí là 5.195 triệu đồng; giống ngô lai 222,4 tấn, kinh phí là 5.517 triệu đồng; giống khoai tây 48 tấn, kinh phí là 1.080 triệu đồng; giống đậu tương 15 tấn, kinh phí là 684 triệu đồng; giống lạc 18 tấn, kinh phí là 572 triệu đồng; một số loại cây trồng khác (chè, sơn, mây nếp, cây lâm nghiệp) 3.136.200 cây giống, kinh phí là 4.086 triệu đồng.

Giống vật nuôi: số hộ được thụ hưởng là 8898 hộ, kinh phí là 15.291 triệu đồng, trong đó: Giống trâu, bò, dê 1.559 con, kinh phí là 6.348 triệu đồng; Lợn (lợn giống sinh sản và lợn thịt) 6.258 con, kinh phí là 4.776 triệu đồng; giống Gia cầm 110.516 con, kinh phí là 2.916 triệu đồng; thủy sản 1.991.750 con, kinh phí 1.927 triệu đồng; ong mật 400 đàn, kinh phí 200 triệu đồng.

Vật tư sản xuất: số hộ được thụ hưởng là 47.525 hộ, kinh phí là 16.561 triệu đồng, trong đó: Phân đạm Urê 664 tấn, kinh phí là 2.948 triệu đồng; phân tổng hợp NPK 1471 tấn, kinh phí là 4297 triệu đồng; phân Kali 255 tấn, kinh phí 1619 triệu đồng; phân Supe lân 328 tấn, kinh phí là 921 triệu đồng; các loại vật tư khác (Cám công nghiệp, Nilon che phủ, thuốc bảo vệ thực vật) 642 tấn, kinh phí là 4.866 triệu đồng.

Hỗ trợ máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất: số hộ được thụ hưởng là 14.571 hộ, kinh phí là 17.682 triệu đồng, tổng số máy móc, thiết bị được hỗ trợ là 2.938 máy (máy cày, bừa, máy bơm nước, máy hái chè, đốn chè, chế biến gỗ).

Xây dựng mô hình sản xuất: số hộ được thụ hưởng là 7.059 hộ, tổng số 144 mô hình, kinh phí là 8.154 triệu đồng.

Bồi dưỡng, tập huấn: Trong 5 năm đã tố chức được 1106 lớp, với 30.833lượt người tham gia, kinh phí là 4.011 triệu đồng.

Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất được triến khai đồng bộ đã giúp các xã, thôn bản ĐBKK có điều kiện xây dựng và trình diễn các mô hình sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp có năng suất, chất lượng cao, giúp đồng bào miền núi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thay đổi cách nghĩ, cách làm, tập quán sản xuất, canh tác đạt năng xuất và hiệu quả hơn; nhiều ngành nghề mới được phát triển và nhân rộng. Hỗ trợ kinh phí cho các hộ nghèo có điều kiện mua sắm vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, máy móc thiết bị phục vụ cho công tác chế biến bảo quản nông lâm sản... góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện nâng cao đời sống nhân dân.

- Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững 30a với tổng số vốn được hỗ trợphát triển sản xuất: 38.722 triệu đồng.

Kết quả thực hiện năm 2009:Hỗ trợ là 6.002 triệu đồng.

Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập gồm: khoán chăm sóc bảo vệ rừng, giao đất trồng rừng sản xuất tạo việc làm tăng thu nhập;

Hỗ trợ về trồng trọt đảm bảo an ninh lương thực xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện gồm các hạng mục hỗ trợ như phân bón, công tác bảo vệ thực vật, trồng các loại cây trồng có năng suất, chất lượng, sản lượng cao với 105ha lúa, ngô, đậu đỗ các loại, số hộ hưởng lợi 1.389 hộ. Sản lượng lương thực cây có hạt tăng 630 tấn, năng suất lúa tăng bình quân 2,5 tạ/ha.

Hỗ trợ các giống đặc sản địa phương như Lợn rừng lai, gà nhiều cựa theo hướng sản xuất hàng hóa đã góp phần tăng thu nhập xóa đói giảm nghèo cho nhân dân địa phương.

Chương trình đã hỗ trợ vay vốn cho 3.456 hộ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc gia, cầm và xóa nhà tạm đã được nhân dân sử dụng hiệu quả.

Kết quả thực hiện năm 2010/ Hỗ trợ là 8.480 triệu đồng.

Các hạng mục hỗ trợ gồm:

Hỗ trợ xây dựng quy hoạch nông, lâm, thủy sản cho 520 ha lúa giống, ngô lai 286 ha, đậu tương 150 ha cho 8.045 lượt hộ gia đình.

Hỗ trợ phát triển chăn nuôi 146 con bò laisind; 5.500 con gà giống nhiều cựa cho 1.600 hộ.

Hỗ trợ tập huấn kỹ thuật về trồng trọt chăn nuôi kinh tế trang trại cho 1400 hộ tham gia học tập

Kết quả thực hiện năm 2011:Hỗtrợ là 10.660 triệu đồng.

Gồm hỗ trợ giao khoán, chăm sóc, bảo vệ rừng 1.439,8ha cho 1.192 hộ; hỗ trợ 52,2 tấn gạo cho 480 hộ nghèo thiếu lương thực, hỗ trợ trồng lúa lai với diện tích 270ha, ngô lai 226ha, Đậu tương 33 ha, khoai tây hà lan 50ha, trồng mới 10 ha chè Phúc Vân Tiên, 174 con bò laisind 72 con lợn cái giống, 32ha nuôi trồng thủy sản, 16,7 nghìn liều vắc sin dịch tả lọn, 13,73 nghìn liều vắc sin lở mồm long móng

Hỗ trợ cơ giới hóa gồm 96 máy bơm nước, máy hái chè, máy cày bừa, máy vò lúa.

Hỗ trợ tập hấn kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi.. ..4.250 hộ

Kết quả thực hiện năm 2012:lỉề trợ là 13.580 triệu đồng gồm:

Trồng trọt: Cây chè với diện tích 60ha, 30 ha trồng cây Sơn, 140 ha trồng lúa, 25 ha khoai tây.

Chăn nuôi: 190 con bò, 150 con trâu sinh sản, 530 con lợn và và các lớp tập huấn xúc tiến thương mại.

          2. Tồn tại, hạn chế trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, thay đổi nhận thức, sự tham gia của người nghèo, xây dựng cơ chế điều hành, lồng ghép trong chính sách giảm nghèo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách giảm nghèo trên địa bản tỉnh Phú Thọ cũng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục:

-         Một số chương trình, dự án triển khai chậm, quá trình thực hiện còn lúng túng. Năng lực quản lý và tổ chức thực hiện của một số chủ đầu tư, chủ dự án còn hạn chế, nhất là cấp xã, do đó việc triển khai thực hiện dự án chậm và còn sai sót, nhất là khâu hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư, giải ngân, thanh quyết toán. Việc huy động nguồn lực của địa phương đạt thấp, tư tưởng trông chờ, ỷ nại vào ngân sách cấp trên khá phố biến. Công tác xã hội hoá các hoạt động của chương trình, dự án hạn chế.

-         Chế độ báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện chưa đầy đủ, kịp thời; xác định danh mục, quy mô đầu tư thiếu chính xác, vẫn xảy ra tình trạng đề nghị xin điều chỉnh, bổ sung thay đổi danh mục, quy mô công trình.

-         Công tác kiểm tra, giám sát của một số sở ngành quản lý các dự án chương trình chưa thường xuyên; tổng hợp, đánh giá thiếu cụ thể; giải quyết hoặc đề xuất xử lý những phát sinh vướng mắc chưa kịp thời. Sự phối kết hợp trong Ban chỉ đạo, giữa các sở, ngành và UBND các huyện chưa chặt chẽ.

-         Tính bền vững của việc giảm nghèo chưa cao, đặc biệt đối với các vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những nơi thường xảy ra hạn hán, thiên tai, lũ lụt...tỷ lệ hộ nghèo, tái nghèo còn cao.

-         Công tác rà soát, khảo sát nắm tình hình đói nghèo, xác định hộ nghèo hạn chế, vai trò của cấp uỷ đảng, chính quyền cơ sở chưa được phát huy; kết quả phản ánh có địa phương, cơ sở chưa chính xác; không đạt mục tiêu đề ra.

3 Nguyên nhân của những tồn tại.

- Về khách quan: Sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh, hiệu quả đầu tư sản xuất nông nghiệp thấp, rủi ro cao; tình trạng suy giảm kinh tế thế giới và trong nước đã hạn chế các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Văn bản hướng dẫn của một số Bộ, ngành chủ quản chương trình, dự án chậm; có nội dung chương trình 135, dự án đến tháng 9/2008 mới có hướng dẫn triển khai thực hiện, ảnh hưởng trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chính sách nhiều, phân tán, chồng chéo...

-    Về chủ quan: Phú Thọ là tỉnh miền núi còn nghèo, điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh cho các chương trình mục tiêu quốc gia rất hạn hẹp. Mức sống dân cư chưa cao, khả năng huy động các nguồn lực từ cơ sở thấp.

Đặc biệt, do nhận thức của một số cấp uỷ đảng, chính quyền, của bản thân người nghèo còn hạn chế, bên cạnh đó vùng nghèo được hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, người nghèo ngày càng được thụ hưởng nhiều chính sách quan tâm hỗ trợ trực tiếp của Đảng, Nhà nước nên một số địa phương, một bộ phận người nghèo đã xuất hiện tư tưởng trông chờ, ỷ nại...có nơi mất đoàn kết ở cơ sở.

4. Một số kinh nghiệm trong thực hiện chương trình.

Một là, cần có sự chuyển biến nhận thức: Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân đây là một chủ trương, chính sách an sinh xã hội lớn, nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên trong chiến lược phát triến kinh tế - xã hội, lấy phát triển kinh tế xã hội để giảm nghèo, để từ đó hoạch định các chương trình cụ thể từng năm bằng việc Nhà nước trợ giúp một phần và huy động cộng đồng, gia đình, dòng họ hỗ trợ để chính người nghèo tự vươn lên. Thực tế chứng minh, nơi nào nhận thức của cấp uỷ Đảng, chính quyền cụ thể sâu sắc, bám sát vào chương trình, coi chương trình Giảm nghèo là nhiệm vụ trọng yếu thì mới tạo ra sự phát triển đồng bộ và đạt kết quả tốt.

Hai là, cần điều tra nắm vững số lượng, nguyên nhân hộ đói nghèo để đề ra các giải pháp cụ thể, phù hợp để việc tác động đúng địa chỉ và đề xuất của người dân và người dân chính thức là chủ thể trong ý tưởng cho đến tổ chức thực hiện thì mới tạo nên sự thành công.

Ba là, phát huy mạnh mẽ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; phải công khai, công bằng trong việc thực hiện các chính sách.

Bốn là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính; đề cao trách nhiệm người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Các cấp ủy Đảng phải lãnh đạo toàn diện; chính quyền điều hành cụ thể, sáng tạo, phù hợp, phát huy sức mạnh của các tổ chức chính trị xã hội về quyền làm chủ của nhân dân; khơi dậy nội lực, ý chí vươn lên thoát nghèo của chính người nghèo. Tăng cường kiểm tra, giám sát, lồng ghép các nguồn lực thực hiện chương trình.

Năm là, Tập trung hỗ trợ phát trien sản xuất, thực hiện chuyến giao đúng kỹ thuật tuyên truyền nâng cao ý thức của các hộ tham gia thực hiện chương trình, khuyến nghị cho người dân về các quy trình kỹ thuật mới, những cách làm hay, tiến bộ từ đó có tác dụng lan tỏa trong cộng đồng; coi trọng phát huy nội lực, không ngừng tranh thủ mọi nguồn lực qua các chương trình, dự án, doanh nghiệp và xã hội hóa. Đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội vùng nghèo có giá trị giảm nghèo bền vững.

Sáu là, Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tích cực tham gia chương trình; đẩy mạnh hoạt động truyền thông, tổ chức lấy ý kiến của nhân dân xây dựng các mô hình theo đề xuất của người dân đảm bảo đúng hướng, áp dụng tiến bộ khoa học tiến bộ vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; Tận dụng kiến thức khoa học trong liên kết 4 nhà vào hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó có thị trường đầu ra ổn định. Phối họp với Đài phát thanh truyền hình thực hiện phóng sự trên truyền hình tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật.

5. Giải pháp.

-        Nhóm giải pháp về chính sách:

Về nguyên tắc Nhà Nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Hoạt động Hỗ trợ người nghèo cũng phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, được điều chỉnh bằng các văn bản qui phạm pháp luật, hoạt động Hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ưu tiên hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách Nhà Nước. Ưu tiên đầu tư thực hiện các dự án phục vụ nhiều người ở những vùng đời sống quá khó khăn;

Có chính sách trợ giá đầu vào, tiêu thụ nông sản phù hợp cho các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn tham gia sản xuất trong chương trình xuất khẩu hoặc xây dựng vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến.

Tuyên truyền hỗ trợ thông tin, hỗ trợ khắc phục rủi ro trong sản xuất, có chính sách thu hút nhân tài về các xã để thúc đẩy phát triển sản xuất giảm nghèo bền vững.

-        Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện:

Trong khi yêu cầu của người dân được hỗ trợ cả về lực lượng lao động, vốn, cán bộ lãnh đạo, y tế và giáo dục. Bởi vì các vùng đặc biệt khó khăn, vùng nghèo hầu hết là những vùng điều kiện để tiếp cận cuộc sống còn nhiều khó khăn, các điều kiện phục vụ y tế, giáo dục, văn hoá v.v. còn thiếu thốn rất. Đặc biệt giữa chính quyền phải có sự phối họp chặt chẽ trong công tác khuyến Nông-Lâm-Ngư để giúp người dân có thể vượt qua được những khó khăn ổn định sản xuất và đời sống. Giải pháp về hỗ trợ sản xuất hỗ trợ công tác khuyến nông, lâm, ngư

+ Hỗ trợ nông dân Chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, vật tư phân bón vào sản xuất.

+ Hỗ trợ vốn cho việc ứng dụng kỹ thuật mới, thử nghiệm giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất.

+ Ưu tiên vốn vay cho các hộ có mô hình trang trại nông, lâm, ngư nghiệp sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa. Cho vay ưu đãi, lãi xuất thấp đối với các hộ trồng cây ăn quả theo mô hình trang trại từ 2 ha trở lên, thời hạn vay 10-15 năm. Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với người sản xuất và các cơ sở chế biến tiêu thụ sản phẩm.

+ Quy hoạch bố trí lại hệ thống lưới chợ nông thôn. Nhanh chóng xây dựng các chợ thu mua sản phẩm có tính chất là đầu mối về rau xanh, cá, tôm, hoa... phục vụ bán buôn, nhằm tạo điều kiện tiêu thụ sản phẩm cho người nông dân và thúc đẩy thị trường ở nông thôn phát triển.

-       Giải pháp về nguồn lực:

Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện chương trình; làm tốt công tác huy động, lồng ghép các nguồn lực đầu tư cho chương trình, khuyến khích nhân dân cùng tham gia đầu tư xâý dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm

-       Tăng cường nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, bảo đảm đủ theo quy định đế các xã có khả năng thực hiện chương trình theo đề án,dự án; nhà nước có nhiều hình thức hỗ trợ, có thể cả bằng hiện vật. Đầu tư mạnh nguồn lực cho phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập cho nông dân.

Thực hiện chương trình công tác năm 2013 từ ngày 01 – 04 tháng 10 năm 2013, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức 03 hội nghị bồi dưỡng kỹ năng hoạt động cho đại biểu hội đồng nhân dân các cấp của tỉnh Lạng Sơn. Hội nghị bồi dưỡng cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh với 150 đại biểu tham dự diễn ra trong 2 ngày 01 , 02 tháng 10,  và trong 2 ngày 03, 04 tháng 10, hội nghị dành cho đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện đã được tổ chức song song.

Tham dự và chủ trì hội nghị có đồng chí Trương Hùng Anh, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Lạng Sơn, đồng chí Đoàn Thị Hậu, Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và đồng chí Trịnh Ngọc Thắng, Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử.

               
                                                                  Toàn cảnh Hội nghị

Với mục đích tăng cường năng lực cho đại biểu HĐND các cấp, thành phần tham gia 3 lớp tập huấn là 400 đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh và đai biểu hội đồng nhân dân của các huyện trên địa bàn tỉnh.

Phát biểu tại buổi khai mạc, bà Đoàn Thị Hậu đã khẳng định chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của từng đại biểu HĐND, tuy nhiên do đặc điểm đa phần đại biểu hội đồng nhân dân hiện nay đều là đại biểu kiêm nhiệm, việc bồi dưỡng kỹ năng cho cho đại biểu thông qua các lớp tập huấn với các chuyên gia là rất cần thiết thông qua việc cung cấp các kiến thức kỹ năng và chia sẻ kinh nghiệm của các chuyên gia của Trung tâm cũng như của chính các đại biểu.

Hội nghị đã tập trung chia sẻ 4 chuyên đề: Kỹ năng giám sát, Kỹ năng tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo, Kỹ năng phát biểu thảo luận và chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân, Kỹ năng giữ mối liên hệ cử tri.  

   Trong hai ngày15-16/10/2013, tại tỉnh Hậu GiangTrung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử thuộc Ban Công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hộiphối hợp với Thường trực HĐND tỉnh Hậu Giang tổ chức hội nghị tập huấn "Kỹ năng hoạt động dành cho đại biểu HĐND".

            Đồng chí Nguyễn Quốc Ca-PhóChủ tịch HĐND tỉnh phát biểu khai mạc và chủ trì hội nghị.Đến tham dựHội nghị có gần 150 đại biểu là Hội đồng nhân dân tỉnh và huyện.
                             
                           Đồng chí Nguyễn Quốc Ca - Phó Chủ tịch HĐND phát biểu khai mạc và chủ trì Hội nghị

            Từ khi chia tách tỉnh đến nay, hoạt động HĐND của Hậu Giang đã có nhiều tiến bộ, thể hiện rõ hơn vai trò hơn vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, khẳng định vị trí quan trọng của mình trong hệ thống chính quyền các cấp. Hoạt động HĐND ngày càng được các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tin tưởng, gửi gắm niềm tin và nguyện vọng. Tuy nhiên đứng trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đòi hỏi hoạt động HĐND phải đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn để giả quyết những vấn đề quan trọng của địa phương. Chính vì vậy việc Thường trực HĐND tỉnh phối hợp với Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử tổ chức Hội nghị tập huấn Kỹ năng hoạt động dành cho đại biểu HĐND là vô cùng thiết thực và cần thiết. Tại hội nghị, các đại biểu sẽ được các báo cáo viên của Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử truyền đạt và chia sẻ những kinh nghiệm trong hoạt động của đại biểu dân cử qua các chuyên đề như: Kỹ năng thẩm tra quyết toán NS NN tại địa phương; Kỹ năng tiếp xúc cử tri; Kỹ năng tiếp công dân, theo dõi xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kỹ năng giám sát (cả chất vấn) của đại biểu HĐND...
                               
                                  Đ/c Nguyễn Ngọc Thành - Ủy viên TT HĐND tỉnh Bình Thuận (Báo cáo viên)
                                                                                          Đại biểu HĐND phát biểu tại Hội nghị
                                 
                                                        Toàn cảnh Hội nghị

            Tại hội nghị, các đại biểu tham ra phát biểu rất sôi nổi với tinh thần trách nhiệm cao. Đây cũng là yếu tốkhích lệ Trung tâm rất nhiều trong việc cố gắng nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động thiết thực hữu ích phục vụ cho việc nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu dân cử.

Đồng chí Tòng Thị Phóng, Phó chủ tịch Quốc hội, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề ánĐồng chí Tòng Thị Phóng, Phó chủ tịch Quốc hội, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề án

Vào ngày 16/10/2013, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, được sự chỉ đạo của Đề án, Ban Công tác đại biểu đã tiếp tục tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo “Đề án tiếp tục đổi mới các cơ quan của Quốc hội”. Đồng chí Tòng Thị Phóng, Phó chủ tịch Quốc hội, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề án và đồng chí Nguyễn Thị Nương, Trưởng Ban Công tác đại biểu đã chủ trì hội nghị.

Tham dự Hội nghị có hơn 80 đại biểu là đại diện của các Ủy ban của Quốc hội, các đại biểu nguyên là Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, lãnh đạo các Ủy ban, Ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội, các đại biểu nguyên là đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa XIII cũng như đại diện các vụ, đơn vị của Văn phòng Quốc hội.

Những hoạt động của Quốc hội trong thực tế đang diễn ra ngày một dân chủ, thực chất và hiệu quả hơn. Nội dung, phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức của Quốc hội cũng đã có nhiều đổi mới. Nhưng từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội từ 3 khóa trở lại đây, dễ dàng nhận thấy rằng việc thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa thực sự đáp ứng được những kỳ vọng của cử tri cả nước. Một trong nhiều lý do là cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội còn một số tồn tại cần được khắc phục, từ đó góp phần nâng cao hơn nữa vai trò, chất lượng hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Trước những yêu cầu khách quan và bức thiết này, Đảng Đoàn Quốc hội đã chỉ đạo Ban Công tác đại biểu phối hợp với các cơ quan của Quốc hội xây dựng Đề án tiếp tục đổi mới các cơ quan của Quốc hội. Đề án sẽ góp phần tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức các cơ quan của Quốc hội và cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cũng như bộ máy giúp việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong khóa XIII và các khóa tiếp theo.                           
                                                                Các đại biểu tham dự Hội thảo

Tại Hội nghị, các đại biểu đã tích cực đóng góp những ý kiến tâm huyết bổ sung vào dự thảo Đề án. Những ý kiến của các đại biểu tham dự Hội nghị sẽ góp một phần quan trọng vào việc kiện toàn Đề án, nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới.

         Trong 04 ngày, từ ngày29/10 đến ngày 01/11/2013, tại tỉnh Hải DươngTrung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử thuộc Ban Công tác đại biểu của Ủy ban Thường vụ Quốc hộiphối hợp với Thường trực HĐND tỉnh tổ chức hội nghị tập huấn "Kỹ năng hoạt động dành cho đại biểu HĐND". Tại hội nghị lần này, các đại biểu sẽ được đi thực tế tại tỉnh Quảng Ninh từ ngày 31/10 - 01/11.

            Đồng chí Ngô Tự Nam - Phó Trưởng Ban Công tác đại biểu và Đồng chí Nguyễn Văn Hợp-PhóChủ tịch HĐND tỉnh phát biểu khai mạc và đồng chủ trì hội nghị.Đến tham dựHội nghị có gần 100 đại biểu là Hội đồng nhân dân tỉnh và huyện.

            "Hiệu quả hoạt động của HĐND được đảm bảo bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND; của Thường trực, các Ban, Tổ và các Đại biểu HĐND. Để đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động cảu HĐND cần phải giả quyết nhều vấn đề đồng bộ, trong đó vấn đề trước hết mang tính quyết định đó là chất lượng hoạt động của đại biểu để có bản lĩnh thực hiện trọng trách với cử tri và hoàn thành tốt nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân".                     Đồng chí Nguyễn Văn Hợp - Phó Chủ tích HĐND tỉnh Hải Dương, phát biểu khai mạc và đồng chủ trì hội nghị

            Hội nghị diễn rarất sôi nổi với tinh thần trách nhiệm cao, các vị đại biểu sẽ được nghe các báo cáo viên giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực dân cử của Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử truyền đạt và chia sẻ kinh nghiệm trong hoạt động của đại biểu dân cử qua các chuyên đề như: Tổng quan về kinh tế vùng, kinh tế ngành và kinh tế của tỉnh; Kỹ năng giám sát và quyết định ngân sách; Kỹ năng phát biểu, thảo luận và chất vấn của đại biểu tại kỳ họp HĐND; Kỹ năng giao tiếp báo chí...                    
Đồng chí Nguyễn Minh Thuyết - Nguyên PCN, Ủy ban VH, GD, TN, TN và NĐ - Báo cáo viên tại hội nghị
                    
                                                                           Toàn cảnh Hội nghị

                Những chuyên đề trên sẽ giúp các đại biểu nâng cao kỹ năng hoạt động, phát huy tốt vai trò người đại biểu nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ nhân dân giao phó. Đồng thời, hội nghị cũng là dịp để đại biểu trao đổi, chia sẻ những khó khăn, vướng mắc, đúc kết những kinh nghiệm hay trong hoạt động của HĐND, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của từng đại biểu, góp phần nâng cao hiểu quả của hoạt động HĐND tỉnh Hải Dương trong thời gian tới.

Ngày 19/12, tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử đã tổ chức Hội nghị tập huấn Đại biểu dân cử với chính sách phát triển vùng dân tộc miền núi. Đại biểu tham dự là các đại biểu Quốc hội, đại diện thường trực HĐND, văn phòng đoàn ĐBQH và HĐND của 16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đại diện một số Bộ, ngành Trung ương. Đồng chí Vũ Công Tiến, Phó bí thư Tỉnh ủy – Trưởng Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Lâm Đồng cùng đồng chí Ngô Tự Nam, Phó Trưởng ban Công tác đại biểu chủ trì hội nghị.

Hội nghị đã nghe 3 chuyên đề về các chủ đề: (1) Tổng quan một số vấn đề vùng dân tộc, miền núi và vai trò của đại biểu dân cử; (2) Đại biểu dân cử với xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc, miền núi; (3) Vai trò của đại biểu dân cử trong việc phát triển nông – lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc miền núi.

                 
            Ngoài 3 chuyên đề, các đại biểu tham dự còn được cung cấp 9 tài liệu tham khảo liên quan đến chủ đề Hội nghị.  

Tại Hội nghị, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận, trao đổi những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra với tinh thần nghiêm túc và trách nhiệm của người đại biểu dân cử.

Theo nhiều ý kiến, để việc hoạch định phát triển kinh tế - quốc phòng – an ninh được chủ động và chính xác hơn, thì địa phương phải được phân cấp, làm chủ đầu tư cho những chương trình, dự án liên quan đến đời sống của bà con dân tộc miền núi. Cần có cơ chế kiểm soát, đánh giá cho được hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho vùng dân tộc miền núi, làm sao để tránh nhiều tầng nấc, nhiều đơn vị cùng quản lý, hạn chế thất thoát, để đồng tiền đầu tư thực sự hiệu quả.

Với những chính sách được ban hành, với nguồn vốn mà địa phương được phân bổ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tránh những bất cập hiện đang tồn tại do sự thiếu đồng bộ. Ví dụ khi đầu tư xây dựng phòng học, lớp học mà lại thiếu công trình phụ trợ đi kèm.

Nên nghiên cứu chính sách cho đại biểu dân tộc miền núi theo khu vực, theo đặc thù vùng miền bằng những chương trình cụ thể, lựa chọn những chính sách mang tính đòn bẩy, vì sự dàn trải hiện nay không mang lại hiệu quả nhiều trong giảm nghèo và phát triển nông thôn mới.

Đề nghị Quốc hội lấy ý kiến từ dân trước khi quyết định những chính sách liên quan đến thực tiễn. Có như vậy, việc ban hành và thực hiện chính sách mới sát nhu cầu người dân, để người dân được hưởng thành quả của những chính sách, chương trình, dự án một cách đầy đủ.

                  
            Hiện nay, cả 63 địa phương đều có người dân tộc. Song chọn điểm vùng miền nào để khảo sát thực tế trước khi ban hành chính sách là điều rất quan trọng. Có nhiều chính sách đã được ban hành, song cũng còn nhiều bất cập. Vậy nên chúng ta cần tìm ra những nguyên nhân gây nên những hạn chế đó. Muốn vậy, đại biểu cần sâu sát, làm hết trách nhiệm của người đại biểu, phải biết vùng miền nào cần gì? Vùng miền nào cần ưu tiên vấn đề gì nhất? Lộ trình triển khai các đề án, chương trình, dự án với từng vùng miền như thế nào? Các Bộ, ban ngành, địa phương cần phối hợp như thế nào trong quá trình thực hiện  chính sách. Cần nâng cao nhận thức của các cấp, đi đôi với việc xác định trách nhiệm cụ thể của từng cấp khi triển khai thực hiện đúng quy trình. Cơ chế, điều kiện để kiểm tra, giám sát, đánh giá, từ đó có biện pháp phát huy hiệu quả cũng như tháo gỡ khó khăn cho cơ sở, cho cộng đồng khi thực hiện chính sách phát triển vùng dân tộc, miền núi.

Phát biểu tại Hội nghị, các đại biểu đều khẳng định các chuyên đề tập huấn cũng như các thông tin tại Hội nghị rất thiết thực, phù hợp đòi hỏi của thực tiễn hôm nay. Những thông tin từ hội nghị tập huấn này giúp các đại biểu Quốc hội có thêm nội dung trong hoạt động, nhất là đối với giám sát thực hiện việc xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc, miền núi.

Thay mặt Ban Công tác đại biểu, đồng chí Ngô Tự Nam chân thành cám ơn sự tham gia đầy đủ, nghiêm túc, trách nhiệm và nhiệt tình của các đại biểu Quốc hội, thường trực HĐND, đại diện Văn phòng Đoàn ĐBQH & HĐND, đại diện lãnh đạo Bộ, ngành, cục, vụ, Viện. Chính tinh thần tích cực của các đại biểu đã làm nên thành công của hội nghị. Đồng chí Ngô Tự Nam khẳng định, dù ba chuyên đề chưa phải là nhiều, song đã mang lại một cái nhìn khái quát, gợi ý cho các đại biểu những thông tin cần thiết, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đại biểu dân cử khi bấm nút ban hành những chính sách nói chung và chính sách đối với vùng dân tộc miền núi nói riêng.

Hy vọng việc cập nhật những thông tin từ Hội nghị cũng như nghiên cứu những tư liệu liên quan cũng có thể giúp ích phần nào cho đại biểu Quốc hội khi bổ sung thông tin, kiến thức phục vụ cho việc bàn thảo, quyết định những chính sách xóa đói giảm nghèo được đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII tới đây.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành