Tài sản mã hóa, tiền mã hóa tuy có những rủi ro nhất định chủ yếu liên quan đến việc lạm dụng để thực hiện các hoạt động phi pháp như rửa tiền, tài trợ khủng bố (chủ yếu do tính ẩn danh khi các thông tin cụ thể được mã hóa, và chỉ có người sở hữu khóa cá nhân mới truy cập được vào các thông tin này, nhưng nếu xử lý được vấn đề này (như thông qua việc giải pháp định danh khách hàng - KYC) thì có những ưu điểm vượt trội do tận dụng các ưu điểm của công nghệ dẫn đến việc giảm thiểu sự tham gia của các trung gian. Các ứng dụng của tài sản mã hóa, tiền mã qua các góc độ sau:

1. Dưới góc độ giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa

Các giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa trên hệ thống chuỗi khối đều được lưu lại và không thể thay đổi nhờ các biện pháp lưu trữ, bảo vệ dữ liệu giao dịch của công nghệ này. Do đó, về nguyên tắc, các giao dịch tăng[1] cường tính công khai, minh bạch trong việc quản lý các giao dịch tài sản mã hóa so với các giao dịch sử dụng tiền truyền thống (tiền pháp định) hay tài sản thông thường khác. Ngoài ra, do loại bỏ (giảm) sự tham gia xác nhận giao dịch thông qua các trung gian mà thực hiện kết nối, xử lý trực tiếp giữa các bên liên quan (peer-to-peer), giao dịch bằng tài sản mã hóa trong một số lĩnh vực, trường hợp ứng dụng có thể giảm đáng kể thời gian, giảm chi phí giao dịch so với việc xử lý qua các hệ thống tập trung truyền thống. Trong các giao dịch chuyển tiền quốc tế hiện nay thường phải mất nhiều thời gian, có thể tới 1-2 ngày mới xác nhận thành công, do liên quan tới nhiều ngân hàng trung gian trong quá trình chuyển tiền; trong khi một số ngân hàng ứng dụng công nghệ blockchain, tài sản mã hóa, tiền mã hóa trong chuyển tiền quốc tế đã rút ngắn thời gian xử lý giao dịch xuống chỉ còn 10 phút và chi phí cũng giảm đáng kể.

Mặt khác, tài sản mã hóa bảo đảm tính bảo mật, khi đã được tạo lập thì cơ bản không bị làm giả, sao chép hay bị chiếm quyền kiểm soát, lấy cắp (hack). Một số trường hợp tài sản mã hóa bị chiếm đoạt trái phép trên thực tế hiện nay là do sàn giao dịch hoặc ví lưu trữ điện tử (tức các “vật” trung gian) bị hack, từ đó khiến cho tài sản mã hóa từ các bàn hoặc ví này thất thoát ngoài mong muốn của chủ sở hữu các Bàn giao dịch hoặc ví điện tử này không được xây dựng dựa trên công nghệ blockchain mà vẫn theo phương pháp thông qua một máy chủ tập trung (centralized), do đó vẫn có khả năng bị hack nếu máy chủ này bị tấn công.

Vì vậy, hệ thống tài sản mã hóa, tiên mã hóa có tiềm năng thay thế hệ thống thanh toán bán lẻ truyền thống nếu các vấn đề liên quan đến công nghệ được xử lý[2]. Bên cạnh các ưu điểm, lợi ích nêu trên, bản thân công nghệ blockchain nói riêng và các công nghệ liên quan đến tài sản mã hóa, tiền mã hóa cũng còn chưa hoàn thiện và có thể có những rủi ro nhất định. Ví dụ, mạng lưới tài sản mã hóa, tiền mã hóa vẫn có thể bị tấn công vào một số điểm yếu, như: các ứng dụng ví lưu trữ tiền mã hóa, tài sản mã hóa; các sàn giao dịch tài sản mã hóa; việc sử dụng tài sản mã hóa đã có những biến tướng, bị lợi dụng cho những mục đích bất hợp pháp. Chẳng hạn, xuất phát từ tính ẩn danh tương đối cao và khả năng giao dịch xuyên biên giới nên tài sản mã hóa, tiền mã hóa có thể bị tổ chức, cá nhân lạm dụng, sử dụng cho các mục đích trái pháp luật, như: rửa tiền, tẩu tán tài sản, chuyển tiền trái phép, tài trợ khủng bố xuyên quốc gia... Đồng thời, mặc dù hiện nay chưa xảy ra, nhưng nếu việc sử dụng tiền mã hóa với tần suất thường xuyên với quy mô, mà quy mô, mức độ lớn đến một lúc nào đó có thể ảnh hưởng tới sự ổn định tài chính, tiền tệ, ảnh hưởng vai trò của đồng tiền pháp định[3].

Để phòng, chống nguy cơ này, các quốc gia cũng đang tích cực đưa ra nhiều biện pháp để đảm bảo quản lý hiệu quả, phù hợp đối với các hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa, tiền mã hóa. Chẳng hạn, sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các công ty cung cấp phần mềm ví cá nhân hoặc các giải pháp công nghệ; việc quản lý, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước đối với các sàn giao dịch tài sản mã hóa; nghiên cứu, thử nghiệm hoặc đã đưa vào thực tế các khung pháp lý phù hợp với điều kiện thực tế của từng quốc gia; đề xuất liên kết giữa các quốc gia thông qua các hiệp định song phương, đa phương nhằm ngăn chặn các tội phạm mang tính quốc tế lợi dụng tài sản mã hóa, tiền mã hóa; yêu cầu định danh khách hàng (KYC), đảm bảo tuân thủ quy định về phòng chống rửa tiền (AML) và tài trợ khủng bố (CTF).

2. Dưới góc độ là công cụ huy động vốn, phát triển hệ sinh thái của doanh nghiệp khởi nghiệp

Lấy ý tưởng từ cơ chế chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), giải pháp chào bán tài sản mã hóa lần đầu ra công chúng ICO/ITO) giúp các doanh nghiệp huy động vốn dựa trên nền tảng công nghệ blockchain để đầu tư vào các sản phẩm và dịch vụ. Quá trình ICO giúp cho các doanh nghiệp huy động được nguồn vốn tại thời điểm khá sớm trong quy trình triển khai dự án kinh doanh. Nhờ đó, các doanh nghiệp này có nguồn lực tài chính để phát triển các dịch vụ và sản phẩm có tính sáng tạo cao.

Khi một công ty tiến hành huy động vốn thông qua hoạt động ICO, họ thường cung cấp các tài liệu đi kèm, trong đó có sách trắng (white paper). Sách trắng là văn bản giới thiệu các vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của dự án ICO, như lĩnh vực của dự án đó, hiệu quả hoặc ích lợi mang lại từ dự án, quy mô thực hiện, nhu cầu vốn cần thiết, số lượng tài sản mã hóa, tiền mã hóa mới được phát hành, phương thức phát hành, số lượng và các loại tài sản mã hóa, tiền mã hóa đã lưu hành (hay tiền pháp định) được chấp nhận thanh toán,.. Trong đợt mở bán ICO, nhà đầu tư sẽ dùng tài sản mã hóa (hay tiền pháp định) của mình để mua tài sản mã hóa được phát hành, thường là các xu (token) mã hóa (hay còn gọi là xu kỹ thuật số).

Về lý thuyết, các nhà đầu tư có thể dùng tiền pháp định để mua các tài sản mã hóa, tiền mã hóa được phát hành này. Tuy nhiên, trong ICO thì tổ chức phát hành thường yêu cầu nhà đầu tư thanh toán bằng tiền mã hóa chủ chốt, có thanh khoản cao như Ethereum, Bitcoin chứ không nhận tiền pháp định với lý do chủ yếu là để tránh rủi ro, trách nhiệm pháp lý khi quy định pháp luật về tiền mã hóa, tài sản mã hóa ở nhiều nước còn khoảng trống.

Như đã nêu ở trên, các xu kỹ thuật số này có thể tương tự như: (i) Chứng khoán của một công ty được bán cho các nhà đầu tư trong hoạt động chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO); (ii) Một tiện ích để tiếp cận dịch vụ trong dự án, hệ sinh thái; hay (iii) Một dạng tương tự như phương tiện, công cụ thanh toán tùy từng dự án, mục đích của người phát hành.

Về nguyên tắc, ICO có thể được tiến hành bởi những nhà khởi nghiệp sáng tạo với quy mô và số vốn hạn chế để hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình, ICO có thg coi là cầu nối ngắn nhất giữa người có ý tưởng đột phá và nhà đầu tư mong muốn đầu tư vào dự án mới, có triển. vọng sinh lời cao. Tuy nhiên, hoạt động ICO tiềm ẩn hai nguy cơ.

Thứ nhất, biến động về giá: tài sản mã hóa mới có thể sụt giảm giá đột ngột hoặc thậm chí trở nên vô giá trị;

Thứ hai, nguy cơ lừa đảo: thông tin trong sách trắng đưa ra không chính xác hoặc hoàn toàn mang tính lừa đảo, sau khi ICO thì không triển khai dự án như đã cam kết, tức dịch vụ (hay hàng hóa) được dự kiến đầu tư từ hoạt động ICO sẽ không được sản xuất hoặc triển khai trên thực tế.

Thực tế cho thấy, nhiều dự án ICO đã và đang mang mục đích lừa đảo[4]. Theo một nghiên cứu của Satis Group LLC (một tập đoàn chuyên tư vấn cho các dự án ICO , khoảng 80% số lượng các ICO là các dự án lừa đảo, 6% số ICO thất bại, 5 % không thể hiện thực hóa ngay từ giai đoạn đầu, và chỉ khoảng 8% trong số các ICO sau khi gọi vốn thành công có thể đưa lên niêm yết tại các sàn giao dịch tiền mã hóa. Cụ thể hơn, trong số 8% các ICO đã được đưa lên sàn giao dịch, có 1,6% được đánh giá là hứa hẹn, 3,8% thực sự đã thành công và 2,8% còn lại bắt đầu suy yếu. Người huy động vốn, sau khi phát hành ra tài sản mã hóa mới, hứa hẹn với các nhà đầu tư về quy mô, tầm cỡ, khả năng phát triển của dự án, khả năng thu hồi vốn nhanh, mức lãi được hưởng cao gấp nhiều lần số vốn đầu tư... Tuy nhiên, thông tin cần thiết về những dự án này (như thông tin về nhà phát hành, địa chỉ công ty...) lại rất hạn chế. Nhiều dự án thậm chí chỉ cung cấp địa chỉ trang web, mạng xã hội của công ty và đăng tải các tài liệu về dự án ICO qua các kênh này. Do đó, khi các nhà đầu tư hoặc cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra thủ đoạn lừa đảo của dự án ICO thì thông thường, chủ của những dự án này đã biến mất cùng số tiền huy động được.

Tóm lại, tài sản mã hóa nói chung hay tiền mã hóa nói riêng là ứng dụng của công nghệ trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư, được kỳ vọng là phương tiện để thúc đẩy việc ứng dụng của các thành tựu công nghệ khác; chứa đựng nhiều tiềm năng mang tính đột phá nhưng cũng không ít rủi ro.

Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế là phải tạo lập khung pháp lý để kiểm soát các rủi ro phát sinh từ tài sản mã hóa, tiên mã hóa nhưng phải thúc đẩy phát minh sáng tạo[5].

Tài liệu tham khảo

1. FINMA Guidelines for Enquiries Regarding the Regulatory Framework for Initial Coin Offerings (ICOs), 16/2/2018

2. Jonathan Chiu, Thorsten V Koeppl: "The Economics of Cryptocurrencies - Bitcoin and Beyond", 09/2017, SSRN, https://ssrn.com/abstract=3048124

3. Yorick de Mombynes: “Quy định pháp luật của Pháp đối với đồng tiền mã hóa và chuỗi khối (blockchain)". Bài tham luận tại Tọa đàm “Một số vấn đề pháp lý về tiền mã hóa" tại Bộ Tư pháp, Hà Nội, ngày 25/10/2018.

4. Nouriel Roubini: "Crypto is the Mother of All Scams and (Now Busted) Bubbles While Blockchain Is The Most Over - Hyped Technology Ever, No Better than a Spreadsheet/Database", https://www.banking.senate.gov/imo/media/doc/Roubini%20Testimony% 2010-11-18.pdf

5. Christine Lagarde: "A Regulatory Approach to Fintech", Finance & Development, Vol. 55 (2), 6/2018

 


[1] FINMA Guidelines for Enquiries Regarding the Regulatory Framework for Initial Coin Offerings (ICOs), 16/2/2018, 43.

[2] Jonathan Chiu, Thorsten V Koeppl: "The Economics of Cryptocurrencies - Bitcoin and Beyond", 09/2017, SSRN, https://ssrn.com/abstract=3048124.

[3] Yorick de Mombynes: “Quy định pháp luật của Pháp đối với đồng tiền mã hóa và chuỗi khối (blockchain)". Bài tham luận tại Tọa đàm “Một số vấn đề pháp lý về tiền mã hóa" tại Bộ Tư pháp, Hà Nội, ngày 25/10/2018.

[4] Xem: Nouriel Roubini: "Crypto is the Mother of All Scams and (Now Busted) Bubbles While Blockchain Is The Most Over - Hyped Technology Ever, No Better than a Spreadsheet/Database", https://www.banking.senate.gov/imo/media/doc/Roubini%20Testimony% 2010-11-18.pdf

[5] Christine Lagarde: "A Regulatory Approach to Fintech", Finance & Development, Vol. 55 (2), 6/2018, tr. 9-10

Thanh niên là một lực lượng đông đảo, chiếm phần lớn trong tổng dân số Việt Nam, do đó việc xây dựng chính sách nhằm phát triển thanh niên là việc rất quan trọng. Trên bình diện xã hội, chính sách phát triển thanh niên được hiểu là chính sách công bao gồm các quan điểm chỉ đạo, tư tưởng hệ thống, các giải pháp và phương tiện mà Nhà nước dùng để tác động trực tiếp hay gián tiếp tới các đối tượng trong độ tuổi thanh niên nhằm giải quyết hoặc thực hiện các mục tiêu nhất định trong một giai đoạn nhất định.

Đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, do vậy, việc tham gia của lực lượng thanh niên đối với quy trình xây dựng cũng như thực hiện các chính sách công là điều rất cần thiết nhằm bảo đảm rằng các chính sách này được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu xuất phát từ thực tế của nhóm đối tượng này. Ở một số nước như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản… thanh niên được tham gia ngay từ quy trình đầu tiên của quá trình hoạch định chính sách đó là xây dựng ý tưởng để hình thành chính sách, tham gia vào quá trình soạn thảo, ban hành chính sách của cơ quan lập pháp, tham gia vào quy trình triển khai việc thực hiện chính sách cũng như việc kiểm tra, giám sát quy trình thực hiện chính sách.

Lực lượng thanh niên tham gia vào quá trình xây dựng chính sách với mục đích nhằm thể hiện tiếng nói của mình trong những vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi, cuộc sống của họ. Luật Thanh niên 2005 quy định rõ quyền và trách nhiệm của thanh niên trong việc tham gia xây dựng và thực thi các chính sách có liên quan một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, mức độ hiểu biết về các chính sách công liên quan trực tiếp tới quyền lợi của thanh niên còn hạn chế. Theo Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, khi điều tra về mức độ hiểu biết chính sách công của thanh niên trong 10 chính sách thì mức độ hiểu biết nhiều nhất là về chính sách tín dụng đối với sinh viên, học sinh chiếm 54,8%; hiểu biết về Luật Thanh niên chiếm 51,4%, hiểu biết về chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam chiếm 44,7%... Tuy nhiên, chỉ có chưa đến 50,0% thanh niên biết đến “Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020”[1]

Cũng theo kết quả điều tra, mỗi thanh niên trung bình có nghe biết đến khoảng gần 4 chính sách liên quan đến thanh niên trên tỷ lệ 10 chính sách được đề cập. Thêm vào đó, nhóm sinh viên lại là nhóm biết nhiều nhất và thanh niên lao động trong các khu công nghiệp hầu như không biết các chính sách liên quan tới thanh niên[2].

Quy trình xây dựng chính sách gồm các khâu như xác định vấn đề; xây dựng dự thảo chính sách; xem xét thông qua, ban hành chính sách, thực hiện chính sách; giám sát việc chính sách; đánh giá hiệu quả của chính sách; điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi chính sách. Trong quy trình này, thanh niên biết đến nhiều nhất là khâu thực hiện chính sách chiếm khoảng gần 80%; khâu xây dựng và soạn thảo dự thảo chính sách có khoảng gần 70% thanh niên biết tới. Tuy nhiên có tới gần 6% số thanh niên được hỏi không biết một quy trình nào trong quá trình xây dựng chính sách và có gần 49% thanh niên được hỏi chỉ biết 1 hoặc 2 khâu trong toàn bộ quy trình xây dựng chính sách. Bên cạnh đó đa số thanh niên cho rằng tuyên truyền, phổ biến chính sách là khâu phù hợp với thanh niên về việc thanh niên tham gia xây dựng chính sách. Các khâu còn lại như góp ý chính sách, kiến nghị xây dựng chính sách công không được nhóm đối tượng này quan tâm cũng như hình thức tư vấn chính sách hay phản biện chính sách cũng không được nhiều thanh niên lựa chọn là hình thức tham gia xây dựng và thực thi chính sách.

Đa số thanh niên quan tâm nhiều nhất tới chính sách việc làm, ngược lại các chính sách về y tế hầu như ít nhận được sự quan tâm.

Trong thời gian qua, Nhà nước rất quan tâm tới việc ban hành các quy định pháp luật nhằm khuyến khích thanh niên tham gia vào việc xây dựng chính sách, nhưng trên thực tế tỷ lệ thanh niên tham gia vào một trong những bước trong tổng thể quy trình xây dựng chính sách công là rất thấp. Trong đó, có thể nói sinh viên là bộ phận có sự tham gia xây dựng chính sách công cao nhất so với thanh niên lao động trong khu công nghiệp và thanh niên ở nông thôn.

Như vậy, có thể nói rằng, thực tế thanh niên không tham gia nhiều vào việc ây dựng chính sách công nói chung và xây dựng chính sách liên quan đến mình, chính sách mà lấy thanh niên làm trọng tâm và họ là người được hưởng lợi chính. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có thể do quy trình xây dựng chính sách chưa kịp thời huy động được sự tham gia của thanh niên, lực lượng thanh niên chưa tích cực, chủ động tham gia vào quy trình xây dựng chính sách hoặc các tổ chức như Đoàn, Hội thanh niên chưa thực sự thực hiện sự phối hợp hay chủ động huy động sự tham gia của thanh niên vào quá trình xây dựng chính sách. Một điều quan trọng là những ý kiến đóng góp của thanh niên vào quy trình xây dựng và triển khai chính sách chưa được quan tâm, chưa được ghi nhận do đó dẫn tới việc thanh niên không còn quan tâm và chủ động tham gia vào quy trình xây dựng chính sách nữa.

Bên cạnh việc tham gia vào hoạt động xây dựng chính sách công, thời gian qua thanh niên Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động xã hội như tổ chức đội tình nguyện, tổ chức khám chữa bệnh, tham gia tổ chức và thực hiện hoạt động thăm hỏi người nghèo, giúp đỡ các trẻ em, người già, người có hoàn cảnh khó khăn, gia đình liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng… Hơn nữa, một hoạt động xã hội có ý nghĩa lớn cho thanh niên mà cụ thể là tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện đó là việc huy động hiến máu tình nguyện đã từng bước phát triển, nhân rộng thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Từ năm 2010 đến 2018 đã có khoảng 5 nghìn lượt thanh niên tham gia hiến máu tại các bệnh viện[3]

5. Một số hoạt động xã hội huy động sự tham gia của thanh niên

Thanh niên đã tham gia vào 10.371 đội tình nguyện; tổ chức 398.883 lần khám chữa bệnh cho 11.673.342 lượt người; tổ chức 72.305 lần thăm hỏi người nghèo, giúp đỡ, tặng quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tổng trị giá 370.164 triệu đồng; huy động nguồn lực cho chương trình được 5.097,490 triệu đồng.

Ngoài ra, thanh niên còn thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến và trực tiếp thực hiện các phong trào bảo vệ môi trường. Dưới sự phát động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, thanh niên đã tổ chức các chương trình như “Thanh niên khởi nghiệp với nền kinh tế xanh”; “Thanh niên với chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu”… Bên cạnh đó, cũng xây dựng và duy trì mô hình đội hình thanh niên tự quản, thanh niên tình nguyện bảo vệ môi trường; phối hợp tổ chức các lớp tập huấn về phòng, chống thiên tai, dịch bệnh trong hội viên, thanh niên; tổ chức ra quân thực hiện công trình, phần việc thanh niên về lĩnh vực bảo vệ môi trường gắn với thực hiện “Ngày thanh niên hành động vì môi trường”.

Như vậy, có thể thấy rằng, hiện nay sự quan tâm của thanh niên đối với việc xây dựng và thực hiện các chính sách công còn hạn hẹp, đặc biệt đối với nhóm lao động thanh niên ở nông thôn và ở các khu công nghiệp. Sự hiểu biết của thanh niên đối với việc tham gia vào quy trình xây dựng chính sách còn rất hạn chế, do đó, trong thời gian tới rất cần sự quan tâm, phối hợp của các ban, ngành chức năng nhằm vận động thanh niên thực hiện việc tham gia vào quá trình xây dựng chính sách công đặc biệt là các chính sách liên quan tới quyền lợi của thanh niên. Thêm vào đó, các cơ quan, tổ chức cần tuyên truyền, vận động thanh niên nâng cao hiểu biết, nhận thức về vai trò của thanh niên đối với việc tham gia xây dựng chính sách. Để thực hiện được điều đó, Nhà nước cần hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi, hướng dẫn xây dựng những mô hình thí điểm để thanh niên có điều kiện làm quen với công tác tham vấn, vận động chính sách liên quan tới mình. Trong thực tế xây dựng chính sách các đơn vị, cơ quan hữu quan cần thiết phải khảo sát nhu cầu của thanh niên trong mối tương quan với mục tiêu của chính sách. Bên cạnh đó, nhất thiết phải thực hiện hoạt động đánh giá nhu cầu của thanh niên liên quan tới chính sách và lấy ý kiến, tham vấn của thanh niên đối với chính sách đó. Sau cùng, khi triển khai chính sách cần huy động lực lượng thanh niên tham gia thực thi chính sách; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách và lấy ý kiến của lực lượng thanh niên đối với việc đánh giá, bổ sung, sửa đỏi chính sách.

Tài liệu tham khảo

1. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Báo cáo đánh giá thực trạng và nhu cầu tham gia của thanh niên trong xây dựng và thực thi các chính sách công có liên quan về việc làm, giáo dục, y tế năm 2016

2. Luật Thanh niên 2005

3. Báo cáo đánh giá thực trạng và nhu cầu tham gia của thanh góp phần giải quyết tình trạng thiếu máu tại các bệnh viện 2018.

[1] Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Báo cáo đánh giá thực trạng và nhu cầu tham gia của thanh niên trong xây dựng và thực thi các chính sách công có liên quan về việc làm, giáo dục, y tế năm 2016

[2] Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Báo cáo đánh giá thực trạng và nhu cầu tham gia của thanh niên trong xây dựng và thực thi các chính sách công có liên quan về việc làm, giáo dục, y tế năm 2016

[3] Báo cáo đánh giá thực trạng và nhu cầu tham gia của thanh góp phần giải quyết tình trạng thiếu máu tại các bệnh viện 2018

Trong hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, để thực hiện chức năng kinh tế của mình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế vận hành có hiệu quả. Hiến pháp Việt Nam đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, gần đây nhất là Hiến pháp năm 2013 và hàng loạt các bộ luật, luật, văn bản pháp luật được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý và thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chức năng kinh tế của Nhà nước trong từng thời kỳ luôn được đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Chức năng kinh tế của Nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của Nhà nước trong tổ chức, điều tiết và quản lý nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của người dân, Nhà nước và toàn xã hội. Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chức năng tổ chức, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trong đó Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật và các công cụ quản lý kinh tế như xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội..., thực hiện hoạt động quản lý đối với doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Chức năng kinh tế của Nhà nước là một chủ đề quan trọng được bàn luận trong bộ môn kinh tế chính trị học (political economy)[1]. Chẳng hạn, trước thời của Adam Smith (với tác phẩm nổi tiếng về nguồn gốc của cải của các dân tộc)[2] các nhà kinh tế thuộc phải trọng thương (mercantilism) cho rằng, Nhà nước cần trực tiếp tổ chức các công ty thương mại, tham gia vào các hoạt động ngoại thương, dựng hàng rào bảo hộ để tối đa hóa thặng dư thương mại khi tham gia giao dịch trao đổi hàng hóa với các quốc gia khác[3]. Khác với phái trọng thương, Adam Smith, trong tác phẩm kinh điển Nguồn gốc của cải của các dân tộc (1776) cho rằng, sự giàu có của quốc gia bắt nguồn từ phân công lao động, chuyên môn hóa lao động và thương mại tự do. Với thương mại tự do, cùng một cơ chế thị trường hoàn hảo, bàn tay vô hình sẽ điều tiết hành vi của các chủ thể tham gia thị trường theo hướng tuy các chủ thể chỉ đeo đuổi lợi ích của riêng mình, không có ý định mang lại lợi ích chung cho xã hội nhưng chính sự đeo đuổi lợi ích cá nhân dưới áp lực của cạnh tranh, các chủ thể kinh tế đã mang lại lợi ích cho xã hội. Nhà nước, vì thế, không có vai trò gì đáng kể trong việc can thiệp vào quan hệ thị trường. Trong nền kinh tế thị trường tự do, Nhà nước chỉ cần làm ba việc:

Thứ nhất, duy trì quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội như ngăn chặn sự xâm lược từ các quốc gia khác, ngăn chặn các hành vi tội phạm.

Thứ hai, thực thi công lý, chống lại các biểu hiện áp bức của người này đối với người khác nhằm bảo đảm nguyên tắc tự do, tự nguyện trong các giao dịch thị trường.

Thứ ba, thiết lập và duy trì một số thiết chế công cộng hoặc một số công trình công cộng tuy rất cần thiết cho cộng đồng nhưng khu vực tư nhân không có động lực thiết lập, duy trì những thứ mà hiện nay kinh tế học hiện đại gọi là hàng hóa, dịch vụ công cộng[4]. Sang những năm 30 của thế kỷ XX, các nhà kinh tế, đi tiên phong là John Maynard Keynes với tác phẩm kinh điển Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1936), cho rằng: để bảo đảm sự vận hành ổn định của nền kinh tế thị trường tránh hoặc làm giảm tác hại của các cơn khủng hoảng, suy trầm kinh tế, Nhà nước cần làm nhiều hơn những gì mà Adam Smith đã chỉ ra.

Theo đó, Nhà nước cần sử dụng hai công cụ quan trọng là chi tiêu chính phủ trong chính sách tài khóa và điều chỉnh lãi suất trong chính sách tiền tệ để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô[5]. Quay trở lại với khái niệm “chức năng kinh tế của Nhà nước”, có thể hiểu một cách khái quát, chức năng kinh tế của Nhà nước chính là những phương diện hay những mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế[6]. Đây là cách hiểu được nhiều nhà nghiên cứu ở.

Việt Nam chia sẻ: Trong một số nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về lĩnh vực này ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng chức năng kinh tế của Nhà nước là các mặt hoạt động của Nhà nước thể hiện vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế. Trên cơ sở quan niệm chung này, chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiểu là các mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế ở Việt Nam[7].

Xuất phát từ mục đích cơ bản của việc hình thành nên Nhà nước là để thiết lập ra bộ máy quyền lực giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng quốc gia, dân tộc, có thể thấy rằng, chức năng kinh tế của Nhà nước chính là các mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước, qua đó Nhà nước xử lý các vấn đề trong quá trình phát triển kinh tế của quốc gia. Trong lịch sử phát triển Nhà nước và pháp luật, các nhà nước ở các mức độ khác nhau đều tham gia tiến hành các hoạt động kinh tế cụ thể như tham gia cung ứng những hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu trong nền kinh tế như xây dựng trường học, bệnh viện, đường xá, bến cảng…, đồng thời là chủ thể quản lý vĩ mô nền kinh tế, bảo đảm nền kinh tế vận hành theo đúng định hướng mà xã hội (hoặc Nhà nước) mong muốn.

Như vậy, nói tới chức năng kinh tế của Nhà nước là nói tới các mặt hoạt động cơ bản của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức, quản lý nền kinh tế. Vai trò tổ chức, quản lý nền kinh tế của Nhà nước thường thể hiện ở hai tư cách của Nhà nước:

Thứ nhất, về tư cách là chủ thể quản lý nền kinh tế (thực thi chức năng kiến tạo thể chế: bao gồm xây dựng và bảo đảm thực thi thể chế, giám sát việc tuân thủ thể chế kinh tế.

Thứ hai, về tư cách là một chủ thể hoạt động kinh tế (một “người chơi” trong nền kinh tế: thông qua hoạt động mua sắm công, thiết lập các doanh nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị sự nghiệp để cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng).

Nội dung chức năng kinh tế của Nhà nước ở một quốc gia cụ thể, ở một thời điểm lịch sử cụ thể không phải là sản phẩm của sự gán ghép chủ quan mà thường do những đòi hỏi cụ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước quy định. Chức năng kinh tế của một nhà nước ở quốc gia công nghiệp phát triển có thể không hoàn toàn giống với chức năng kinh tế của một nhà nước ở các quốc gia đang phát triển.

Ở các quốc gia đang phát triển, khi tình trạng nghèo đói là phổ biến, khả năng chống chịu với các rủi ro của mỗi cá nhân, hộ gia đình khá hạn chế, cùng với khát vọng vươn lên của mỗi dân tộc, Nhà nước thường phải thể hiện vai trò chủ động, tích cực hơn trong việc tham gia vào quá trình xóa đói, giảm nghèo, kiến tạo phát triển, gia tốc tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu thực tiễn thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ở các quốc gia trên thế giới hiện nay, có thể thấy, chức năng kinh tế của Nhà nước hiện đại thường bao gồm hai nội dung cơ bản sau:

Một là thiết lập và thực thi khung khổ thể chế phục vụ phát triển kinh tế.

Hai là khắc phục một số khuyết tật của cơ chế thị trường.

Trước hết, chức năng trung tâm của một nhà nước hiện đại là thiết lập khung khổ thể chế và tạo lập năng lực tổ chức để thúc đẩy, quản lý và duy trì quá trình chuyển đổi, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chức năng này bao gồm việc xây dựng hệ thống pháp luật, quy hoạch và các quy tắc có liên quan khác, bảo đảm sự tuân thủ của các cá nhân, tổ chức trong xã hội đối với hệ thống thể chế này.

Đối với các quốc gia đang phát triển, kinh nghiệm phát triển của các quốc gia này cho thấy, để chuyển đổi từ quốc gia đang phát triển thành quốc gia phát triển với thu nhập cao, Nhà nước phải thiết lập và duy trì hệ thống thể chế có chất lượng cao, giải quyết được những thách thức rất lớn trên bước đường phát triển. Những thách thức cần giải quyết chính là phải kiểm soát được tình trạng lợi ích nhóm lũng đoạn việc xây dựng và thực thi thể chế, ngăn ngừa và kiểm soát được tham nhũng từ trong cơ cấu quyền lực của quốc gia: phân định rõ ranh giới và lợi ích công - tư, duy trì được một bộ máy quản trị quốc gia có năng lực, chuyên nghiệp và bất thiên vị đảm bảo công bằng[8]. Trong quá trình ấy, Nhà nước cũng phải đối mặt với áp lực dân chủ hóa quá trình ra quyết định và thực thi chính sách quốc gia, nhu cầu bảo đảm công bằng trong tiếp cận nguồn lực, tiếp cận cơ hội phát triển như đất đai, công ăn việc làm, thu nhập, hệ thống trợ cấp/phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục và phân bổ thành quả phát triển[9]. Chức năng thiết lập và duy trì khung khổ thể chế để quản lý nền kinh tế này được thực hiện thông qua việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế. Các chính sách này sẽ tác động trực tiếp vào phía cung (supply side), nhất là tác động tới tổng cung hoặc phía cầu (demand side), nhất là tác động tới tổng cầu trong nền kinh tế. Các chính sách này cũng tác động tới tốc độ, hình thái vận động của nền kinh tế bảo đảm tăng trưởng ổn định hay làm cho nền kinh tế rơi vào trạng thái suy trầm, sụt giảm sản lượng. Chính sách kinh tế của Nhà nước có quy mô rộng hẹp khác nhau tùy theo quốc gia và tùy thuộc vào trình độ phát triển. Trong chính sách kinh tế của Nhà nước, phải kể tới trước hết là các chính sách kinh tế vĩ mô, mà ở đó, tác động trực tiếp tới các chỉ số kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, sự công bằng trong phân bổ thu nhập (income equalization), chi tiêu của Nhà nước được ước tính trên quy mô chi tiêu của Nhà nước, đi kèm với đó là quy mô của ngân sách nhà nước, cán cân xuất, nhập khẩu. Chính sách kinh tế của Nhà nước còn phải kể đến các chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư hoặc hạn chế, kiểm soát đầu tư đối với một số ngành, lĩnh vực nhất định. Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm tình trạng toàn dụng lao động[10] thể hiện ở tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp, bảo đảm an sinh xã hội, cân bằng thu chi ngân sách thông qua việc kiểm soát chặt nợ công, nhất là nợ nước ngoài, gia tăng hoạt động xuất, nhập khẩu, xúc tiến thương mại, đầu tư... là những mục tiêu mà Nhà nước thường hướng tới.

Chức năng thứ hai mà Nhà nước thường thể hiện trong lĩnh vực kinh tế là chức năng khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường (market failure) nhằm bảo đảm công bằng xã hội và bảo đảm hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xã hội. Những trục trặc, bất cập của cơ chế thị trường mà Nhà nước cần can thiệp bao gồm: bất ổn kinh tế vĩ mô do nền kinh tế thị trường vận hành theo các chu kỳ kinh doanh và các nguyên nhân khác, tình trạng độc quyền hóa, tình trạng ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo dẫn tới phân cực xã hội, thông tin bất cân xứng, thiếu hụt hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu do khu vực kinh tế tư nhân thiếu động lực hoặc năng lực trong việc cung ứng các loại hàng hóa, dịch vụ công này. Chẳng hạn, Nhà nước thường phải bảo đảm cung ứng cho xã hội hệ thống kết cấu hạ tầng “cứng” như đường sá, cầu cống, đường truyền tải điện, đường sắt, ga hàng không, bến cảng, hệ thống đê điều..., cung cấp một số dịch vụ công cộng quan trọng như vận tải công cộng, chiếu sáng đường phố, nghiên cứu khoa học cơ bản, y tế phòng ngừa dịch bệnh, giáo dục cơ bản và các dịch vụ công khác như phòng, chống tội phạm, bảo vệ tài sản của công dân, doanh nghiệp, dịch vụ giải quyết tranh chấp.

Ngoài ra, Nhà nước còn tổ chức hệ thống an sinh xã hội để góp phần trợ giúp các cá nhân, các hộ gia đình khắc phục những rủi ro từ quá trình lao động, cuộc sống, tuổi già hoặc thiên tai, dịch bệnh. Như vậy, chức năng khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường gồm các nội dung như: bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô[11], thiết lập và duy trì hệ thống an sinh xã hội, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng, bảo đảm cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, v.v... Ở chức năng kinh tế thứ hai này, trong không ít trường hợp, Nhà nước có thể trực tiếp tổ chức ra những doanh nghiệp công hoặc các tổ chức sự nghiệp để cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng, khắc phục tình trạng thiếu hụt loại hàng hóa, dịch vụ mà khu vực tư nhân không có động lực hoặc năng lực đầu tư.

Ngoài ra, ở một số nhà nước, đặc biệt là các nhà nước đã từng có mô hình kinh tế tập trung, Nhà nước trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh tế bằng việc tổ chức các doanh nghiệp thuộc sở hữu của mình hoặc do mình chi phối để tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Nói cách khác, ở các quốc gia này, Nhà nước còn đảm nhận thêm chức năng đầu tư, kinh doanh. Cụ thể, Nhà nước trực tiếp đầu tư, kinh doanh một số mặt hàng, ngành, nghề mà Nhà nước thấy cần nắm giữ, ngay cả khi các mặt hàng ấy không được xem là hàng hóa, dịch vụ công cộng. Ở các nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung như ở Trung Quốc, trong một thời gian dài sau khi từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước vẫn trực tiếp tham gia đầu tư kinh doanh trong nhiều ngành, nghề, lĩnh vực mà ở các quốc gia công nghiệp phát triển có thể chỉ do khu vực kinh tế tư nhân đảm nhận.

Tài liệu tham khảo:

1. Anne Wren: Comparative Perspectives on the Role of the State in the Economy in Barry R. Weingast & Donald A. Wittman: The Oxford Handbook of Political Economy, Oxford: Oxford University Press, 2006

2. The Wealth of Nations (xuất bản lần đầu năm 1776).

3. Bo Sandelin, Hans - Michael Trautwein and Richard Wundrak: A Short History of Economic Thought, 3rd ed, London & New York: Routledge, 2014

4. TS, Trần Thái Dương: Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ năm 2002 (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật)


[1] Xem Anne Wren: Comparative Perspectives on the Role of the State in the Economy in Barry R. Weingast & Donald A. Wittman: The Oxford Handbook of Political Economy, Oxford: Oxford University Press, 2006, at 642.

[2] The Wealth of Nations (xuất bản lần đầu năm 1776).

[3] Xem Bo Sandelin, Hans - Michael Trautwein and Richard Wundrak: A Short History of Economic Thought, 3rd ed, London & New York: Routledge, 2014, at 9. 12

[4] . Xem Bo Sandelin, Hans - Michael Trautwein and Richard Wundrak: A Short History of Economic Thought, Sởd, at 22: 89-90.

[5] Xem Bo Sandelin, Hans - Michael Trautwein and Richard Wundrak: A Short History of Economic Thought, Sởd, at 22: 89-90.

[6] Theo Từ điển Luật học, chức năng là: “phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của một thiết chế cơ quan, tổ chức), “hoạt động chủ yếu của một cơ quan, tổ chức” (xem Viện Khoa học pháp lý: Từ điển Luật học, Nxb, Từ điển bách khoa - Nxb, Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.162 ): GS.TS. Lê Minh Tâm (chủ biên): Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội cũng cho rằng: “ chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của Nhà nước, thể hiện bản chất... ý nghĩa, mục đích và nhiệm vụ của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ”. Trước đó, tại trang 53 Giáo trình này cũng giải thích: “ chức năng của Nhà nước là những phương diện ( mặt ) hoạt động chủ yếu của Nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước ” ( Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr.229 ).

[7] Xem TS, Trần Thái Dương: Chức năng kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ năm 2002 ( Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật ), tr.32.

[8] Xem Peter Burnell, Vicky Randall, and Lise Rakner: Politics in the Developing World, Oxford: Oxford University Press, 2011, at 236-237, 237

[9] Xem Peter Burnell, Vicky Randall, and Lise Rakner: Politics in the Developing World, Oxford: Oxford University Press, 2011, at 236-237, 237

[10] Toàn dụng lao động (hay toàn dụng nhân công) là trạng thái của nền kinh tế mà tất cả mọi người ( trong độ tuổi lao động, có khả năng và nhu cầu lao động, với mức lương hiện hành trên thị trường lao động) đều có việc làm, ở trạng thái toàn dụng lao động, nguồn nhân lực trong nền kinh tế được sử dụng đạt hiệu quả tối ưu, (BT)

[11] Đây là vấn đề kinh tế vĩ mô phức tạp, vượt ra ngoài khuôn khổ của cuốn sách này. Do vậy, các nội dung của cuốn sách này về cơ bản sẽ không đề cập sâu đến chức năng khắc phục bất ổn kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của Nhà nước.

1. Quan niệm về luật thương mại

Có những quan điểm khác nhau nhưng nói chung đều hướng vào phân biệt Luật thương mại và Luật dân sự, Luật thương mại và Luật kinh doanh hiện đại. Trong thực tế ở một số nước (như Ý, Hà Lan) không còn thấy sự phân tách này nữa, Luật thương mại bị nhập vào Luật dân sự; còn ở một số nước khác (như Pháp) lại có xu hướng mở rộng đối tượng điều chình của Luật thương mại để thay vào đó khái niệm Luật kinh doanh. Bên cạnh những xu hướng này cũng tồn tại một thực tế khác là ở nhiều nước áp dụng song hành hai hệ thống luật: Luật dân sự và Luật thương mại với phạm vi và đối tượng điều chình khác nhau.

Để giúp hiểu bản chất Luật thương mại của Đức, cần xem xét bốn nhân tố sau:

Thứ nhất, về điều kiện lịch sử.

Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, ở các nước châu Âu xuất hiện một tầng lớp xã hội mới: các thương gia. Lực lượng các thương gia phát triển ngày cầng đông đảo dẫn đến việc Nhà nước cần thiết phải ban hành các luật lệ để điều chình các hoạt động của họ và quan hệ giữa họ với nhau. Do vậy, Luật thương mại ra đời được coi là luật của các thương gia. Một điều cần chú ý là, trước khi có các bộ luật thương mại hoàn chình, giữa các thương gia đã tồn tại các tập quán thương mại; các tập quán đó tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.

Về cơ bản, Luật thương mại được hình thành trên nền tảng của Luật dân sự. Tuy nhiên, ở Đức, hai Bộ luật lớn là Bộ dân luật (BGB) năm 1896 và Bộ luật thương mại (HGB) năm 1897 được ban hành gần như đồng thời.

Thứ hai, về điều kiện về khách thể.

Các thương gia trong hoạt động của mình thực hiện một nghề nghiệp nhất định - nghề thương mại. Đó là một nghề chuyên biệt gắn với những điều kiện và những kết quả pháp lý riêng biệt.

Thứ ba, về điều kiện về tổ chức.

Hoạt động thương mại được tiến hành trong những mô hình về tổ chức nhất định, trong đó thương gia đóng vai trò trung tâm trong các mối quan hệ hợp đồng. Mối quan hệ này cũng gắn với kết quả pháp lý riêng biệt của nó.

Thứ tư, về hành vi pháp lý.

Các hành vi của thương gia phải có tính kinh doanh và không ở trong khuôn khổ Luật dân sự. Do tính chất đặc biệt này của nó, nên pháp luật quy định đó là hành vi thương mại (để phân biệt với hành vi dân sự). Điểm đặc trưng nhất cho hành vi thương mại là các tác nghiệp ngân hàng.

2. Hoạt động thương mại gắn với kết quả pháp lý

Hoạt động nói chung của công dân, tổ chức luôn gắn với kết quả pháp lý nhất định. Các kết quả pháp lý theo quy định của Luật thương mại Đức cũng gắn với 5 kết quả pháp lý cụ thể, trong đó bốn kết quả đầu được coi là đặc biệt quan trọng.

Thứ nhất, Luật thương mại Đức coi thương gia là một chủ thể pháp luật dưới tên một hãng nào đó. Tuy nhiên đó chưa phải là dấu hiệu pháp lý quyết định để phân biệt tổ chức thương mại này với các chế định khác của tư pháp, vì trong đó thương gia vẫn đứng danh của mình. Trường hợp khác, đó là các công ty đối vốn, ví dụ công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Đối với các công ty này luật đòi hỏi phải có tên riêng của nó.

Trường hợp thứ nhất, hãng vẫn mang tên gọi của cá nhân thương gia. Tuy nhiên qua quá trình hoạt động thương mại, tên hãng có được một ý nghĩa khác, gắn với uy tín của thương gia và tên hãng có một giá trị kinh tế nhất định. Luật thương mại cho phép thừa kế hoặc mua bán quyền sở hữu đối với tên gọi các cửa hiệu hoặc hãng của thương gia. Hiện tượng này đã trở thành phổ biến đối với các hãng nổi tiếng lâu đời của tư nhân.

Thứ hai, phải đăng ký tên doanh nghiệp vào danh bạ thương mại, đây là một trong những chế định đặc biệt của Luật thương mại Đức so với các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Việc đăng ký vào danh bạ thương mại đối với các thương gia xuất hiện ở Pháp từ thế kỷ 17 (1673), sau đó phổ biến rộng rãi ở các nước châu Âu. Ở Đức, các Tòa án bang đều có danh bạ này. Ở Mỹ không có danh bạ thương mại chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp mà chỉ có danh bạ thương mại riêng cho công ty đối vốn.

Việc đăng ký vào danh bạ thương mại có hai ý nghĩa chính:

Một về ý nghĩa thông tin. Thông qua việc đăng ký, các doanh nghiệp công bố rộng rãi trong công chúng về việc thành lập, mục đích, tình hình tài chính và mọi mặt hoạt động của mình. Mọi người đều có quyền xem danh bạ thương mại để tìm hiểu các thông tin về một doanh nghiệp nào đó. Trong điều kiện hiện nay, các công ty lớn còn sử dụng hệ thống quảng cáo và các hình thứcthông tin khác để công bố về tình hình hoạt động của mình.

Hai về ý nghĩa pháp lý. Việc đăng ký tên doanh nghiệp vào danh bạ thương mại là một bước quan trọng để thực hiện việc bảo đảm pháp lý đối với doanh nghiệp tại các cơ quan tài phán. Tòa án Đức, trước khi đăng ký một doanh nghiệp vào danh bạ thương mại, phải tiến hành các thủ tục kiểm tra chặt chẽ về mặt pháp lý đối với việc thành lập doanh nghiệp đó. Việc đăng ký vào danh bạ thương mại đối với một số loại hình công ty (ví dụ các công ty đối vốn) là điều kiện pháp lý cần thiết để công nhận doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.

Thứ ba, chế độ kế toán thống kê và báo cáo tài chính.

Mọi thương gia có nghĩa vụ ghi chép liên tục quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Hàng năm các doanh nghiệp phải tổng kết hoạt động trong một bảng cân đối và các báo cáo tài chính. Bảng cân đối bao gồm hai phần: phần có và phần nợ. Thông qua bảng này thương gia có thể đánh giá được kết quả kinh doanh của mình. Đối với công ty cổ phần, đó cũng là một nguồn thông tin cho việc mua bán cổ phần tại thị trường chứng khoán.

Ngoài ra, các báo cáo tài chính còn là một căn cứ cho việc kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước.

Thứ tư, tuân theo những quy định pháp lý chuyên biệt của luật thương mại.

Ở đây có thể thấy sự khác nhau giữa Luật dân sự và Luật thương mại. Chẳng hạn trong lĩnh vực hợp đồng, thương gia phải tuân theo các quy định chung của luật hợp đồng dân sự, đồng thời còn phải thực hiện những điều kiện riêng của luật thương mại. Trong hợp đồng mua bán dân sự, thời hiệu khiếu nại vi phạm hợp đồng là sáu tháng, còn trong hợp đồng thương mại thời hiệu này dài hơn. Trong hợp đồng mua bán ngoài nghĩa vụ dân sự các thương gia còn phải thực hiện các quy định riêng về bảo hộ quyền lợi của người tiêu dùng.

Ở các lĩnh vực khác pháp luật đều có những chế định riêng dành cho thương gia.

Thứ năm, được áp dụng các hình thức ủy quyền đặc biệt.

Chế định ủy quyền theo luật thương mại rộng hơn, tổng quát hơn ủy quyền theo luật dân sự. Điều đó xuất phát từ thực tiễn các thương gia ngày cầng ít có điều kiện trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh, mà thường ủy quyền cho người khác tiến hành hoạt động đó. Ngày nay người ta áp dụng phổ biến hình thức ủy nhiệm toàn quyền hoặc ở mức cao hơn là đại diện thương mại.

3. Tiêu chuẩn thương gia

Bộ luật thương mại Đức định nghĩa cụ thể thế nào là một thương gia và quy định những trường hợp nào được coi là có tư cách thương gia. Nói chung, pháp luật Đức quy định chi tiết về sáu nhóm thương gia và các tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm đó.

Đối với những người làm dịch vụ cho người khác, các dịch vụ này do họ đặt ra hoặc hoạt động nghề nghiệp thường xuyên, hoặc các dịch vụ thanh toán phải có tiền thì được Luật thương mại quy định thuộc diện thương gia đương nhiên. Như vậy, nếu có một người thường xuyên mua - bán để thu lợi nhuận thì đó là những người hành nghề thương mại. Luật quy định các nghề như sau được coi là nghề thương mại: sản xuất mua hàng để bán lại; dịch vụ chế biến, bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng và hối đoái; dịch vụ vận chuyển, đại lý, kho tàng; đại diện và môi giới thương mại; dịch vụ in ấn, xuất bản...

Đặc điểm chung là những người này phải hành nghề thương mại như một nghề nghiệp chính và gắn với mục đích thu lợi nhuận, Tuy nhiên, có một số hoạt động dịch vụ thu tiền không được coi là thương mại mà phải coi là các nghề tự do, như luật sư, bác sĩ, kiểm toán.... Có thể giải thích lý do ở tính chất đặc biệt của các nghề này.

Đối với những người hành nghề thương mại, họ luôn luôn là thương gia (thương gia đương nhiên) không phụ thuộc vào việc có đăng ký vào danh bạ thương mại hay không.

Trường hợp các thương gia là những người làm các nghề giống với các nghề thương mại. Theo định nghĩa của luật, họ không phải là thương gia đương nhiên. Tuy nhiên, phụ thuộc vào tính chất và quy mô của hoạt động, họ phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Một, hoạt động phải có cơ sở nhất định (trụ sở giao dịch, cửa hiệu);

Hai, hoạt động phải được đăng ký vào danh bạ thương mại. Và do vậy họ cũng được coi là thương gia.

Hoặc đối với những người kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp (ví dụ trồng trọt, chăn nuôi có bán sản phẩm, khai thác gỗ để bán) cũng có thể trở thành thương gia nếu họ đăng ký hoạt động của mình vào danh bạ thương mại.

Ngoài ra, Luật Thương mại của Đức còn quy định tiêu chuẩn thương gia đối với những trường hợp khuyết tư cách, thương gia đăng ký hoặc thương gia hình thức.

Đối với thương gia khuyết tư cách, thường là những thương gia nhỏ (tiểu thương), do tính chất và quy mô hoạt động, họ không bắt buộc phải thực hiện mọi nghĩa vụ của một thương gia; chẳng hạn không đăng ký tên vào danh bạ thương mại, không buộc phải ghi chép sổ sách kế toán, không phải có cửa hiệu riêng... nhưng phải tuân theo các quy định của Luật thương mại.

Đối với thương gia đăng ký, cần được hiểu theo quy định của Luật thương mại Đức thì họ không phải là thương gia, tuy nhiên do có đăng ký doanh nghiệp vào danh bạ thương mại, họ được đối xử như thương gia.

Theo giải thích của Tòa án, trường hợp này áp dụng cả đối với những thương gia, tuy đã chấm dứt hành nghề nhưng chưa xóa tên khỏi danh bạ thương mại. Họ vẫn phải chịu trách nhiệm như một thương gia.

Đối với thương gia hình thức theo quy định của Luật thương mại, thường áp dụng đối với các công ty thương mại. Theo luật định, mọi doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty thương mại nhất định được coi là "thương gia". Chẳng hạn, Bộ luật thương mại Đức quy định các công ty hợp doanh, công ty hợp vốn, công ty vô danh... là công ty thương mại.

Nhận xét chung: Luật của Đức quy định về cơ cấu thương gia khá cụ thể, chi tiết. Quy định như vậy có phần nào quá phức tạp so với Luật các nước khác. Tuy vậy, trong thực tế "thương gia" ở Đức thực chất chỉ là những doanh nghiệp tương đối lớn. Các doanh nghiệp nhỏ nói chung được tự do hoạt động, ít bị ràng buộc bởi các quy định của quy chế thương gia.

Có thể khái quát những ý đã trình bày bằng bảng tóm tắt sau:

           Quy mô doanh nghiệp

Đốitượng

hoạt động

Cơ sở kinh doanh lớn

Cơ sở kinh doanh nhỏ
Kinh doanh thương mại Thương gia đương nhiên Tiểu thương
Các loại kinh doanh khác Thương giacó điều kiên Không phải thương gia

Các tài liệu tham khảo:

1. Luật Thương mại, Luật Dân sự các nước Ý, Hà Lan, Pháp.

2. Bộ Dân luật (BGB), Bộ luật thương mại (HGB) Đức.

Phương thức PPP đã có lịch sử phát triển lâu dài trên thế giới và phổ biến từ những năm 1990, tuy nhiên mỗi quốc gia đều có những chiến lược về PPP riêng tùy thuộc vào bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất dự án. Các Quốc gia có thể chế Nhà nước mạnh với khung pháp lý đầy đủ, minh bạch thường thành công với PPP.

Mô hình PPP đã được áp dụng trong việc xây dựng các kênh đào ở Pháp vào thế kỷ XVIII, các cây cầu ở London vào thế kỷ XIX hay cây cầu Brooklyn nổi tiếng ở New York cũng vào thế kỷ XIX. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thực sự bắt đầu phổ biến trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và nó đã đóng một vai trò nhất định trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước phát triển.

Những năm đầu thế kỷ XX, Vương Quốc Anh đã là một trong những quốc gia triển khai xây dựng thành công dự án PPP với những bước đi đầu tiên cho việc hình thành cơ chế PPP đối với các dự án cung cấp dịch vụ công. Vương Quốc Anh đã xây dựng cơ chế PPP xuất phát từ nhu cầu cải cách và hiện đại hóa dịch vụ công, đồng thời cải thiện mua sắm các dịch vụ công cũng như tăng khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực này một cách hiệu quả nhất. Việc áp dụng dự án PPP đã giúp cải thiệt tính minh bạch về chi phí của dịch vụ công của cả hai khu vực công và tư.

Ban đầu mô hình PPP tại Vương quốc Anh rất đơn giản theo hình thức những yêu cầu dịch vụ được cung cấp đáp ứng đầy đủ điều kiện sẽ được khu vực công trả tiền và trả theo từng năm. Mô hình này được đánh giá là rất hiệu quả, chỉ chiếm 11% trong tổng đầu tư công ở Anh. Hiện nay, Vương Quốc Anh đã có 667 hợp đồng PPP đã được ký kết với giá trị vốn 56,6 tỷ bảng Anh và 590 dự án đang thực hiện và chủ yếu là lĩnh vực môi trường và giao thông vận tải.

Đối với vấn đề bảo đảm tài chính cho một dự án PPP hoặc nền tảng cấu trúc tài chính với giá trị tối thiểu là 20 triệu bảng Anh đã được Vương Quốc Anh áp dụng cơ chế tái cấp vốn, bởi thực tế các ngân hàng không có chính sách ưu đãi cho các dự án PPP có thời hạn thực hiện kéo dài trên 5 năm, nên Chính phủ Anh đã phải thiết lập cơ chế liên minh giữa các ngân hàng nhằm thu hút nhiều ngân hàng tham gia vào các dự án có thời hạn thực hiện kéo dài. Đây là kinh nghiệm cho Việt Nam khi triển khai các dự án PPP có thời hạn thực hiện dại.

Đối với các dự án đầu tư của Nhật Bản cho hệ thống cơ sở hạ tầng của bất kỳ quốc gia nào cũng cần có sự hỗ trợ của các nhà đầu tư tư nhân, vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro, cần có một nguồn vốn lớn và Nhật Bản cũng không phải là ngoại lệ. Việc áp dụng mô hình PPP của Nhật Bản được tiến hành trong bối cảnh Châu Á phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ công cộng cũng như cơ sở hạ tầng rất lớn đem lại nhiều thành công. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, đối với dự án không thể áp dụng phương pháp cổ phần hóa và Nhà nước cũng không thể trực tiếp tham gia như các dự án về sản xuất và phân phối điện, đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng sẽ áp dụng mô hình PPP và hiệu quả thu được là giảm chi phí, giảm rủi ro trong môi trường cạnh tranh cao.

Đối với các nước đang phát triển ở khu vực Mỹ Latinh, mô hình PPP bắt đầu phổ biến từ đầu thập niên 1990, đã mang lại hiệu quả đáng kể trong 20 năm qua kể từ năm 1990 -2009 với tổng số vốn cam kết đầu tư là 1.515 tỷ đô la Mỹ cho 4.569 dự án được thực hiện ở các nước đang phát triển và tương đương với 1% GDP của các nước đang phát triển. Như vậy, với phương thức PPP thì mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng chỉ chiếm 20% so với 5-6% tổng GDP trong hơn hai thập kỷ qua. Hiện nay các nước này vẫn đang dẫn đầu thế giới, nhưng mô hình đầu tư PPP lại không có nhiều tiến triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương.

Ở các nước đang phát triển do hạn chế của cơ sở pháp lý và khả năng chế tài của các cơ quan nhà nước nên mô hình nhượng quyền hay thuê vận hành chưa phổ biến. Các dự án đầu tư theo phương thức xây dựng sở hữu vận hành (BOO) chiếm hơn một nửa, phần còn lại là các dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng và viễn thông.

Xét về cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực, năng lượng và viễn thông là hai ngành có tỷ trọng cao nhất. Tỷ phần của ngành giao thông vận tải có xu hướng tăng trong thời gian gần đây, nhưng vẫn thấp hơn khá nhiều so với hai ngành trên. Loại trừ phần tư nhân hóa, các dự án đầu tư theo phương thức xây dựng sở hữu vận hành (BOO) chiếm hơn một nửa, phần còn lại là các dự án xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT). Ở các nước đang phát triển, mô hình nhượng quyền hay thuê vận hành chưa phổ biến, chủ yếu do hạn chế của các cơ sở pháp lý và khẳ năng chế tài của các cơ quan nhà nước.

Mô hình PPP tại Việt Nam được thực hiện theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư thì “đầu tư theo hình thức công tư là việc nhà nước và các đơn vị tư nhân cùng phối hợp thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án”. Phí Nhà nước có lợi thế về chính sách, cơ chế quản lý, ưu đãi thuế, đất đai của Nhà nước. Còn phía tư nhân có lợi thế về nguồn vốn, kỹ thuật, nhân lực. Vì thế hợp tác công tư có nghĩa bên Nhà nước và tư nhân cùng bổ sung những điểm mạnh, yếu cho nhau để tạo nên các dự án phục vụ tốt nhất lợi ích của nền kinh tế, của xã hội một cách hiệu quả.

Nếu hiểu theo các khía cạnh này, các hình thức đầu tư BTO, BOT, BT theo Nghị định số 108/2009/NĐ-CP nằm trong hình thức hợp tác PPP theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg. Sự khác biệt về văn bản có thể làm cho các nhà đầu tư hiểu lầm đây là các hình thức hoàn toàn khác nhau. Vì thế, để hình thức hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân hiệu quả, yêu cầu đầu tiên là phải thống nhất các quy định thành một luật hay quy định duy nhất.

Theo thống kê của ngân hàng thế giới, từ năm 1994 -2009 các dự án được thực hiện theo mô hình PPP chủ yếu tập trung ở hình thức BOT và BOO với các lĩnh vực điện, viễn thông chiếm đa số thị phần bên cạnh các dự án hợp tác công - tư khác đã và đang được triển khai từ thập niên 90 của thế kỷ XX[1].

Riêng năm 2010, tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới[2], chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11 dự án, chiếm % cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư, so với năm 2009 không có dự án mới nào đầu tư theo hình thức BOT, BT, BTO đó là một sự khởi sắc tốt.

Có thể thấy rằng, sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế Thí điểm đầu tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 15/1/2011 đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và ngoài nước đang dồn vào mô hình PPP, đặc biệt là hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BT, BTO đang phát triển theo chiều hướng tích cực dưới sự giám sát và hỗ trợ của nhà nước.

Bên cạnh đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm 8% trên tổng số dự án, số dự án cấp mới chỉ có 799 dự án trong khi tổng số dự án đăng ký là 9.599 (tính hết ngày 21/12/2010). Hình thức liên doanh chỉ chiếm 7% trên tổng số dự án cấp mới đăng ký, hình thức cổ phần và hợp đồng hợp tác vốn đầu tư chiếm lần lượt là 4% và 1% trên tổng số dự án cấp mới.

Tóm lại, để mô hình PPP phát triển ở Việt Nam cần có những điều kiện về pháp lý minh bạch, rõ ràng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tận dụng tốt nguồn vốn của các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài một cách hiệu quả, có lợi cho hai bên tham gia đầu tư phát triển.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg về ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư;

2. Nghị định số 108/2009/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao.


[1] Từ năm 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO. Về mô hình BOT, tổng cộng có 26 dự án với tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng.

[2] Theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài.

Tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực nhờ triển khai thực hiện tốt các nghị quyết của Chính phủ về các giải pháp, chính sách hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất - kinh doanh. Từ năm 2002 đến năm 2018 GDP/đầu người tăng gần 2,7 lần đạt khoảng 2.700 đô la, đạt chỉ tiêu hơn 45 triệu người thoát nghèo. GDP năm 2019 đạt gần 7%. Ảnh hưởng của Covid-19 cũng làm kinh tế Việt Nam giảm sút, ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Kết quả là, số lượng doanh nghiệp khó khăn và giải thể, phá sản không có dấu hiệu giảm ở một số ngành như bán buôn, bán lẻ, sản xuất ô tô và xe máy, thông tin và truyền thông… Trái lại, ở một số ngành như nông nghiệp - lâm nghiệp và thủy sản, kinh doanh bất động sản, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm... quá trình tái cơ cấu diễn ra mạnh mẽ thể hiện ở sự biến động tích cực của cả số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới cũng như số doanh nghiệp khó khăn và giải thể, phá sản.

1. Tình hình doanh nghiệp khó khăn và giải thể, phá sản

          Tới đầu năm 2010 số doanh nghiệp dừng hoạt động gồm những doanh nghiệp gặp khó khăn (đăng ký hoặc không đăng ký dừng hoạt động) và giải thể, phá sản. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, tới tháng 2 năm 2020 hiện có gần 35.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tăng 2,0% so với thời điểm 2019), trong đó có hơn 18.000 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (tăng 26,0%), bên cạnh đó có hơn 12.000 doanh nghiệp chờ giải thể (giảm khoảng 20,6%), hơn 4.000 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (giảm 0,02%). Trung bình mỗi tháng có gần 12.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Đây là mức tăng cao nhất về số lượng đăng ký tạm ngừng kinh doanh trong giai đoạn 2015 – 2020.

Trên thực tế, các doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh tăng ở 15 trên tổng số 17 lĩnh vực. Các lĩnh vực mà doanh nghiệp gặp khó khăn có số lượng doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh cao nhất đó là: bất động sản có gần 500 doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh; vui chơi giải trí, nghệ thuật có hơn 130 doanh nghiệp tăng gần 40%; dịch vụ du lịch - lữ hành có hơn 1.000 doanh nghiệp tăng 94% so với năm 2019; giáo dục (có hơn 300 doanh nghiệp tăng gần 25%), kho bãi và vận tải (hơn 1000 doanh nghiệp)… Do tình hình dịch bệnh nên các lĩnh vực hoạt động này của doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề nhất[1].

Tuy nhiên, điểm qua 2 tháng đầu năm 2020, cả nước có khoảng hơn 28.000 doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn điều lệ đăng kí khoảng hơn 300.000 tỷ đồng, tăng so với cuối năm 2019 khoảng trên 4% về số doanh nghiệp thành lập mới và giảm khoảng 6% đối với vốn đăng kí hoạt động. Với những biến động do tình hình dịch bệnh, sự giảm sút của kinh tế thế giới, có thể nói, thời điểm này mức gia tăng số doanh nghiệp thành lập mới thấp nhất đoạn từ 2015 - 2019, so với mức tăng trung bình là 10,9%. Mặt khác, về tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt khoảng gần 12 tỷ đồng, giảm 10,4% so với năm 2019[2].

          2. Doanh nghiệp khó khăn và giải thể, phá sản là tất yếu của thị trường

          Mặc dù số doanh nghiệp giải thể, phá sản là khá lớn so với số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tuy nhiên trong bối cảnh dịch bệnh, sự giảm sút của kinh tế thế giới cũng như tình hình tái cơ cấu trong nước đang diễn ra thì những con số này không đáng quan ngại.

          Thứ nhất, trong số các doanh nghiệp giải thể, phá sản, số doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm phần lớn với quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Đây là nhóm doanh nghiệp dễ bị tác động bởi những thay đổi của tình hình kinh tế trong nước và thế giới vì quy mô kinh doanh nhỏ hẹp. Thêm vào đó, yếu tố ngành hoạt động và “tuổi đời hoạt động" của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tác động đến số lượng doanh nghiệp phá sản, giải thể.

          Thứ hai, với tình hình dịch bệnh, sự suy giảm của kinh tế thế giới, đóng biên đi lại giữa các nước, các doanh nghiệp giải thể, phá sản là những doanh nghiệp thiên về làm nghề dịch vụ du lịch, lữ hành, kho bãi…. là những ngành gặp khó khăn trong giai đoạn này.

          Thứ ba, tỷ lệ doanh nghiệp khó khăn và giải thể, phá sản so với doanh nghiệp đăng ký thành lập của Việt Nam cũng khá tương đồng với một số quốc gia trên thế giới trong thời điểm hiện tại. Tỷ lệ này ở Việt Nam. Tình hình các doanh nghiệp giải thể, phá sản có liên quan chặt chẽ với tình hình kinh tế trong nước, về cơ bản khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống thì số doanh nghiệp giải thể, phá sản sẽ tăng.

          Như vậy, có thể thấy rằng, tình hình biến động của số doanh nghiệp gặp khó khăn và giải thể, phá sản của Việt Nam là phù hợp với điều kiện khách quan còn nhiều khó khăn cũng như phù hợp với diễn biến của quá trình thực hiện tái cơ cấu ở một số ngành hiện nay. Mặt khác, đây cũng là dấu hiệu của quá trình đào thải tự nhiên để chọn lọc những doanh nghiệp ưu tú cho nền kinh tế, góp phần tạo lập một cộng đồng doanh nghiệp vững mạnh, chung tay phát triển kinh tế bền vững.

          Mặc dù việc giải thể, phá sản của doanh nghiệp tập trung nhiều vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa là tất yếu do quy luật thanh lọc tự nhiên của thị trường, nhưng cũng cần xem xét các nguyên nhân sâu xa từ phía tổng cung và tổng cầu dẫn đến thực trạng trên.

          Mặc dù hiện tượng các doanh nghiệp khó khăn và giải thể, phá sản trong lúc kinh tế khó khăn là rất bình thường, nhưng cũng không thể không nhắc tới một số hệ lụy của nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các thành phần kinh tế khác trong xã hội như: Tình trạng lao động thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn ở mức cao lần lượt là 2,08% và 2,45% tổng số lao động trong độ tuổi lao động; Doanh nghiệp gặp khó khăn và giải thể, phá sản không có khả năng thanh toán làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách, làm gia tăng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng; và những đánh giá không tích cực của cộng đồng quốc tế về môi trường kinh doanh của Việt Nam trước thực trạng có nhiều doanh nghiệp phải rời khỏi thị trường vì lý do chủ quan hay khách quan, từ đó ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI trong tương lai.

          Để giảm thiểu những hệ lụy của tình trạng doanh nghiệp giải thể, phá sản, Chính phủ đã và đang tích cực ban hành những chính sách hỗ trợ cần thiết, hiệu quả và thiết thực cho doanh nghiệp, đặc biệt trong năm nay, khi tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra và kinh tế thế giới suy giảm chưa thấy dấu hiệu hồi phục.

          Bên cạnh đó, Chính phủ một mặt tạo môi trường vĩ mô ổn định, hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng phù hợp với thông lệ quốc tế để doanh nghiệp có thể phát huy hết tiềm lực của mình.

          Nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, cần đẩy mạnh tái cơ cấu thị trường tài chính cho dòng vốn lưu thông dễ dàng. Bên cạnh đó, thực hiện đơn giản hóa các thủ tục cho vay, cho phép doanh nghiệp áp dụng hình thức đánh giá tín nhiệm để vay tín chấp, vay vốn bằng hợp đồng khi có phương án khả thi, có hợp đồng kinh doanh hiệu quả. Ngoài ra, khối doanh nghiệp tư nhân nội địa cần phát huy những ưu thế của mình so với khối doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về tính độc lập, sáng tạo, chủ động tìm kiếm các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời nên xác định ngành nghề kinh doanh là thế mạnh để xây dựng và phát triển doanh nghiệp theo hướng bền vững.

          Trong thời gian này, việc cần làm là chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Chính phủ và doanh nghiệp cùng với sự phối hợp của các cơ sở giáo dục đào tạo, các trung tâm lao động việc làm, xây dựng chiến lược về nhân lực trong dài hạn đảm bảo chất lượng… Trong đó, ngoài những hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí phục vụ giảng dạy, các cơ sở giáo dục cần tự đổi mới phương pháp, nắm bắt các cơ hội nghiên cứu thông tin về cung cầu của thị trường lao động để có kế hoạch đào tạo phù hợp. Các doanh nghiệp cũng cần xem xét mức đầu tư phù hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như để đảm bảo nguồn nhân lực trong dài hạn.

Tài liệu tham khảo

1. Tổng cục Thống kê: Tình hình doanh nghiệp đầu năm 2020

2. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh

 


[1] Tổng cục Thống kê: Tình hình doanh nghiệp đầu năm 2020

[2] http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh

1. Bối cảnh kinh tế

Hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới với những chuyển đổi cơ bản trong chức năng kinh tế của Nhà nước và gần 30 năm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng đã đưa nền kinh tế nước ta đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục trong nhiều năm. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng cạnh tranh hơn. Chỉ số Phát triển con người (HDI) đã đạt mức trung bình khá của thế giới. Vị thế kinh tế của nước ta trên trường quốc tế được khẳng định như một thị trường mới nổi lên có nhiều tiềm năng. Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào lao động rẻ, khai thác tài nguyên tự nhiên thô; tăng trưởng theo chiều ngang và hướng vào xuất khẩu,... đã thực hiện tốt sứ mệnh đưa nước ta từ một nền kinh tế kém phát triển trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, tạo được nhiều việc làm cho xã hội, đạt thành tựu ấn tượng về giảm nghèo, bước nhà nước trong nền kinh tế thị trường của nước ta trong Ủy ban kinh tế của Quốc hội: Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa xuân 2014 - Động lực phát đầu cải thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Tuy nhiên, khỏi bẫy “quốc gia thu nhập trung bình vẫn còn khoảng mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, thoát cách lớn[1].

Trong giai đoạn tới, theo dự báo của Đảng ta, quá trình toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và các mối liên kết toàn cầu. Các quốc gia ngày càng phải tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu trước sự gia tăng áp lực cạnh tranh quốc tế chưa từng có.

Cạnh tranh kinh tế, tranh giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, cũng như cạnh tranh ảnh hưởng quốc tế giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, đi kèm với việc xuất hiện nhiều hình thức liên kết mới, các định chế quốc tế và khu vực, các hiệp định kinh tế song phương, đa phương thế hệ mới. Cạnh tranh giữa các quốc gia bằng việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị công và nâng cao chất lượng thể chế.

Ở trong nước, sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra sức mạnh tổng hợp cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhà nước ta đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có những bước phát triển quan trọng. Môi trường đầu tư, kinh doanh được quan tâm cái thiện và đạt nhiều thành tựu đáng kể[2].

Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với hầu hết các nước trong Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tích cực tham gia xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, ký Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình dương (CPTPP). Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Nền kinh tế vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trường chủ yếu dựa trên yếu tố khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, sức cạnh tranh thấp, có nguy cơ mắc kẹt trong nấc thang thấp của chuỗi giá trị toàn cầu. Hệ thống quản trị quốc gia còn cồng kềnh và kém hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm giải trình chưa cao. Nhiều vấn đề xã hội, y tế, giáo dục, môi trường diễn biến phức tạp, làm ảnh hưởng tới tiến trình phát triển bền vững đất nước. Trong khi đó, nhu cầu, đòi hỏi của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp đối với chất lượng thể chế, đối với hiệu lực và hiệu quả hoạt động, đối với tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước ngày càng cao. Việt Nam đang tích cực triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Hiến pháp năm 2013, thực hiện đầy đủ cam kết trong WTO và Cộng đồng ASEAN, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU và Hiệp định CPTPP với tầm mức hội nhập sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Đây cũng là giai đoạn Đảng ta chủ trương xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại... chủ động và tích cực hội nhập quốc tế[3], với các nhiệm vụ cụ thể như: tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; tăng cường hệ thống an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hoàn thiện và phát huy dân chủ, đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cải cách hành chính[4], cải cách tư pháp với đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm nhiệm vụ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội. Thực hiện những định hướng kể trên, Chính phủ đã chủ trương xây dựng một Chính phủ “liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp” mà một trong những ưu tiên hàng đầu là công tác xây dựng thể chế phục vụ phát triển đất nước, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia[5]. Bối cảnh và những yếu tố kể trên đang đặt ra những yêu cầu mới cho việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chức năng kinh tế của Nhà nước.

2. Yêu cầu thực hiện hiệu quả chức năng kinh tế của Nhà nước

Yêu cầu có tính then chốt là phải xác định đúng phạm vi, vai trò, chức năng của Nhà nước trong quản lý, điều hành và can dự, can thiệp vào nền kinh tế đất nước, bảo đảm Nhà nước phát huy đúng vai trò kiến tạo phát triển mà trước hết là kiến tạo thể chế phục vụ phát triển, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường và chỉ tham gia đầu tư, kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân không có động lực tham gia. Bên cạnh đó, cần có bước đột phá để nâng cao chất lượng thể chế (cải thiện căn bản môi trường đầu tư, kinh doanh), nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm Nhà nước cũng là một trong những đầu tàu dẫn dắt xã hội phát triển nhưng không làm thay thị trường, không làm thay khu vực dân doanh. Việc thực hiện hiệu quả đổi mới, hoàn thiện chức năng kinh tế của Nhà nước theo hướng đó cũng cần bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp năm 2013.

Theo đó, Hiến pháp năm 2013 và Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2016) đã xác định rõ hơn chức năng kinh tế của Nhà nước hiện nay ở Việt Nam. Cụ thể Điều 51 Hiến pháp năm 2013 xác định rõ mô hình nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Điều 52 Hiến pháp năm 2013 cũng minh định chức năng kiến tạo thể chế và điều tiết kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu của phát triển kinh tế thị trường, theo đó, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân. Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013, Nhà nước còn có trách nhiệm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân, nhất là “đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý”. Theo khoản 3, 4 Điều 54 Hiến pháp năm 2013, Nhà nước được phép thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật, Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai. Điều 57 Hiến pháp năm 2013 quy định, Nhà nước cũng cam kết “khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động... bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”. “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình” (Điều 58 Hiến pháp năm 2013). “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác. Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” (khoản 2, 3 Điều 59 Hiến pháp năm 2013). “Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” (khoản 2, 3 Điều 61 Hiến pháp năm 2013).

“Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ” (khoản 2, 3 Điều 62 Hiến pháp năm 2013). “Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo” (khoản 1, 2 Điều 63 Hiến pháp nám 2013).

Theo Văn kiện Đại hội lần thứ XII (năm 2016), nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[6].

Tài liệu tham khảo

1. TS. Trần Du Lịch: Nhận thức về vai trò Nhà nước và kinh tế triển mới từ cải cách thể chế, 2014

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.

3. Quyết định số 225/QĐ- Tg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020.

4. Nghị quyết số 19/2016/NQ - CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020.

5. Nghị quyết số 35/NQ - CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

[1] Xem TS. Trần Du Lịch: Nhận thức về vai trò Nhà nước và kinh tế triển mới từ cải cách thể chế, 2014

[2] Theo đánh giá của Diến đàn Kinh tế thế giới, chỉ số cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam năm 2018 đã đạt thứ bậc 67 trong 140 nền kinh tế (biến 10 bậc so với thứ hạng của năm 2016). Xem: WEF, The Global Competitiveness Report 2019-2020

[3] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.76

[4] Quyết định số 225/QĐ- TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020.

[5] Nghị quyết số 19 / 2016 / NQ - CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 35 / NQ - CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.25

Luật kinh tế của Cộng hòa Liên Bang Đức quy định về các điều kiện trong hợp đồng bán doanh nghiệp, công ty một cách chặt chẽ giữa những vấn đề pháp lý và kinh tế. Khi tiến hành bán doanh nghiệp/công ty hợp đồng bán cần phải xác định các điều kiện cụ thể như bạn hàng, đối tượng mua doanh nghiệp/công ty, thời điểm chuyền giao đối tượng mua bán, giải quyết các tuyên bố chấp thuận đề nghị, xác định giá bán, hậu quả pháp lý, thời hiệu tố tụng, các điều cấm cạnh tranh, thời kỳ quá độ trong giao - nhận doanh nghiệp, sự công bố việc mua bán, vấn đề thuế và các quy định về thể thức giải quyết tranh chấp pháp lý qua mua - bán doanh nghiệp/công ty. Đây là vấn đề phức tạp nhất trong luật kinh tế CHLB Đức, cần đi sâu vào nghiên cứu cụ thể từng điều kiện để tìm ra những điểm tương đồng có thể áp trong điều kiện cổ phần hóa và tái cơ cấu doanh nghiệp có phần vốn nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm

Nếu như trước thời điểm đổi mới, Nhà nước được xác định là có vai trò trực tiếp tổ chức các hoạt động kinh tế, chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động kinh tế của đất nước thì khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, Nhà nước đã thiết lập nền tảng pháp lý ngày càng hoàn thiện cho hoạt động đầu tư, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các thành phần kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Điều này thể hiện ở một số điểm như sau: Thứ nhất, từ sự thừa nhận, hợp pháp hóa sự tồn tại của khu vực kinh tế tư nhân, đến nay, Nhà nước ta coi khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Mặc dù thời kỳ này Hiến pháp năm 1980 vẫn còn hiệu lực, nhưng với chủ trương đổi mới được khởi động chính thức từ Đại hội lần thứ VI của Đảng, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 chính thức quy định thừa nhận quyền sở hữu tư liệu sản xuất của các cá nhân công dân trong xã hội. Bên cạnh đó, hai đạo luật này công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Cam kết bảo hộ bình đẳng trước pháp luật đối với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân khi so sánh với các loại hình doanh nghiệp khác (bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) cũng được khẳng định. Lĩnh vực xuất, nhập khẩu (ngoại thương) bắt đầu được hai đạo luật này coi là lĩnh vực có thể được kinh doanh theo sự cho phép của Chính phủ chứ không còn coi là lĩnh vực mà khu vực tư nhân không được phép tham gia như tinh thần “độc quyền ngoại thương” được quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 1980[1]. Trong lần sửa đổi, bổ sung và xây dựng ban hành.

(Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm)


[1] Điều 21 Hiến pháp năm 1980: “Nhà nước giữ độc quyền về ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác với nước ngoài”

Giữa những năm 1950, đầu tư vào máy móc và thiết bị cũng bắt đầu tăng do sự tăng trưởng nhanh và cơ cấu nhu cầu thay đổi và thúc đấy. Máy móc và thiết bị thừa hưởng từ chiến tranh, như các nhà máy thép cũ, đã trở nên lỗi thời và không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu mới. Cơ cấu nhu cầu thay đổi đã tạo ra các ngành mới đòi hỏi được đầu tư mới. Nên nhớ rằng thị trường các hàng hoá chế tạo mở rộng nhanh chóng này đã gây khó khăn cho việc thâm nhập của các công ty nước ngoài ít nhất cũng tới giữa những năm 60. Năm 1959, tỷ lệ tự do hoá thương mại mới chỉ có 26%, tức là chỉ có 26% tổng giá trị hàng nhập khẩu nghiễm nhiên được phép nhập vào trong nước. Tự do hoá thương mại đã tiến triển nhanh và cuối năm 1961 tỷ lệ này đã đạt 80%. Do đó, việc nhập khẩu thép đã được tự do hoá từ năm 1961, ô tô-năm 1965 và máy điện toán - năm 1971. Tuy nhiên, phần hàng nhập khẩu đã không tăng nhanh ở nhiều thị trường hàng hoá chế tạo. Vào cuối những năm 60 và đầu 70, Nhật Bản đã cho phép tự do hoá đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Nhật Bản. Tuy nhiên, phần thị trường của các công ty nước ngoài vẫn còn thấp. Do đó, các công ty Nhật Bản đã phải đương đầu với thị trường nội địa tăng trưởng nhanh và thị trường thế giới cũng tăng, nếu mức tăng thấp hơn mức tăng tương ứng ở Nhật Bản. Sự tăng trưởng nhanh này đã tạo ra nhu cầu mạnh mẽ về máy móc và trang thiết bị, trong khi sự tăng nhanh đầu tư vào máy móc và trang thiết bị đi làm tăng nhanh nhu cầu về công nghệ tiên tiến. Các công ty hiện có và cả những ngành mới ra đời, như thép, đã mở rộng hoạt động, và tất cả các công ty này đã tìm máy móc và trang thiết bị hàng đầu thế giới lúc bấy giờ. Các ngành mới cũng đã xuất hiện như trong lĩnh vực hoá dầu và thiết bị điện. Ngành công nghiệp ô tô, mặc dù đã tồn tại từ trước chiến tranh nhưng lại chủ yếu hạn chế trong lĩnh vực sản xuất xe tắc xi và các xe quân sự, cũng có thể được coi là một ngành mới. Những ngành mới này đòi hỏi có đầu tư mới và công nghệ mới tiên tiến trên một quy mô lớn.

       Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành