Trong hệ thống giáo dục và kế hoạch giáo dục, cấu trúc các môn[1] thể hiện rõ cách mô hình phân hoá vĩ mô của Cộng hòa Pháp, trong đó giáo dục cơ sở thống nhất, không phân luồng. Riêng lớp cuối trung học cơ sở (THCS), học sinh có thể chọn học lớp 9 "chuẩn bị học nghề" nếu muốn theo luồng nghề ở bậc sau. Ngoài chương trình như các học sinh khác, họ sẽ phải học thêm phần giới thiệu các ngành nghề khác nhau, có thể có thêm đợt thực tập tham quan trong môi trường nghề nghiệp. Tuy nhiên, sự phân hoá vĩ mô muộn thông qua phân luồng lớn và chia nhỏ dần theo hướng kết thúc giáo dục cơ sở, học sinh được phân theo 2 luồng chính: trung học phổ thông (THPT) đại cương và công nghệ theo hướng tiếp tục học lên lộ trình dài (đại học - ĐH) hoặc ngắn (kĩ thuật viên, đại học công nghệ) và THPT nghề.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Xem thêm bài viết về “Giới thiệu về cấu trúc nội dung và hệ thống môn học của giáo dục phổ thông của Cộng hòa Pháp”

Quản lý tiền lương công chức và viên chức là một nhiệm vụ quan trọng về mặt tài chính và tài khoá; môi trường quản lý tiền lương tại mỗi quốc gia có sự khác biệt, đặc thù và thường phức tạp; nhiệm vụ quản lý có lẽ còn phức tạp hơn do sự đa dạng của các hình thức sử dụng lao động và trả lương cho phù hợp với những thay đổi về nhu cầu nhân sự để thực hiện công việc (thậm chí là nhu cầu chính trị), nhu cầu quản lý và tài chính; các phương thức và hệ thống công nghệ thông tin mới đem lại các công cụ có thể giúp chức năng quản lý tiền lương hoạt động đạt hiệu suất và hiệu quả cao hơn so với trước đây với điều kiện phải phát triển và áp dụng một cách thận trọng và chuyên nghiệp. Tuy nhiên, cho dù rõ ràng công tác quản lý tiền lương ngày càng phức tạp, và nhiệm vụ đầy thách thức về quản lý các phương thức và hệ thống công nghệ thông tin mới để thích nghi với độ phức tạp ngày càng tăng.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Thứ sáu, 15 Tháng 3 2019 17:14

PHÂN NHÓM DOANH NGHIỆP

Khái niệm doanh nghiệp nhà nước thay đổi rất khác nhau và lặp lại qua các thời kỳ. Trước khi có Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, doanh nghiệp nhà nước được gọi là xí nghiệp nhà nước. Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước được gọi là công ty nhà nước.Trước ngày 01-7-2006, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ[1]. Từ ngày 01-7-2006 đến ngày 30-6-2015, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ[2]. Từ ngày 01-7-2015 trở đi, doanh nghiệp nhà nước lại là doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ[3].

Từ trước đến nay, doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều tên gọi khác nhau. Từ xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp liên hợp (nhà máy liên hợp), xí nghiệp liên hiệp, liên hiệp xí nghiệp cho đến công ty, công ty liên hợp, công ty liên hiệp, liên hiệp công ty, tổng công ty rồi mức độ cao nhất là tập đoàn. Trong tất cả các tên gọi này, đến nay chỉ còn duy nhất một tên đúng với Luật doanh nghiệp năm 2014, đó là “công ty”.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.


[1]Quyết định số 217-HĐBT ngày 14-11-1987 của Hội đồng Bộ trưỏng ban- hành “Các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối vối xí nghiệp quốc doanh”; Điều 1 “Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước”, ban hành kèm theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20- 11-1991 của Hội đồng Bộ trưỏng; Điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995; Điều 1 về “Doanh nghiệp nhà nước”, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003

[2]Điều 1 về “Doanh nghiệp nhà nước”, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003; khoản 22 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật doanh nghiệp năm 2005.

[3]Khoản 8 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Trong số các quyền của công dân và quyền của con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì có 4 quyền tự do gồm 2 quyền tự do của công dân là tự do đi lại và cư trú ở trong nước, ra nước ngoài; tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình và có 2 quyền tự do của con người là tự do tín ngưỡng, tôn giáo và “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”[1].

Như vậy, quyền tự do kinh doanh của con người, bao gồm quyền tự do kinh doanh của cả doanh nghiệp, đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở đó, Luật doanh nghiệp năm 2014 đã quy định, doanh nghiệp được quyền “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm (khoản 1 Điều 7)”. Trước đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đã quy định “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”[2]. Bản chất đây cùng chính là một dạng quy định về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

 


[1] Các điều 23, 24, 25 và 33 Hiến pháp năm 2013.

[2]Khoản 1 Điều 7 về “Ngành, nghề và điều kiện kinh doanh”, Luật doanh nghiệp năm 2005.

Nói tới các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tiên phải kể tới các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tống hợp.

Từ công thức chung để tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là:

Trong đó, Ht là hiệu quả kinh doanh trong thời kỳ t; Kt là kết quả kinh doanh (tùy thuộc vào đặc trưng của sản phẩm mà quá trình kinh doanh tạo ra, có thể được thể hiện thông qua đơn vị đo lường là tấn, tạ, kilôgam, lít, đơn vị sản phẩm hoặc các đơn vị giá trị là đồng, triệu đồng, ngoại tệ,...) trong thời kỳ t; Ctlà toàn bộ chi phí kinh doanh phải bỏ ra để đạt được Kt. Kt có thể được đo lường thông qua các ch tiêu sau: giá trị sản xuất của doanh nghiệp; giá trị gia tăng của doanh nghiệp; giá trị gia tăng thuần của doanh nghiệp; và lợi nhuận hay lãi kinh doanh của doanh nghiệp hoặc có thể đo lường thông qua ch tiêu doanh thu..Ct có thế là tổng chi phí kinh doanh hoặc tổng vốn kinh doanh hoặc tổng vốn tự có.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa có một số đặc điểm cơ bản nhất định trong quá trình hình thành và phát triển, cụ thế như sau:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ khởi nghiệp: So với các loại hình doanh nghiệp khác, các doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ khởi nghiệp hơn vì hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều có thể bắt đầu kinh doanh ngay khi có ý tưởng kinh doanh với những điều kiện giản đơn như vốn ít, số lao động không nhiều, diện tích mặt bằng kinh doanh không lớn và các điều kiện, phương tiện làm việc đơn giản. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu như không đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn ngay trong giai đoạn đầu mới thành lập và hoạt động, và thường phát triển từ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ tiến dần lên quy mô lớn hơn, thể hiện qua thực tiễn phát triển của các nước trên thế giới, có rất nhiều doanh nghiệp lớn và công ty đa quốc gia có xuất phát điểm ban đầu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (tập đoàn Samsung; tập đoàn Wal-Mart; tập đoàn Intel;...).

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Trong chương trình Trung học cơ sở và Trung học phổ thông của Cộng hòa Pháp, các môn học Vật lí - Hoá học (hay Các khoa học Vật lí), môn học tích hợp hai môn Vật lí và Hoá học được giảng dạy tương đối tách rời, trong chương trình có hai phần tách biệt do 2 nhóm tác giả biên soạn, dù rằng chỉ có một giáo viên dạy cả hai. Sách giáo khoa cũng tương tự, có thể có 1 cuốn chung với hai phần hoặc sách giáo khoa riêng cho từng môn, tuỳ thuộc vào nhà xuất bản. Việc tích hợp mạnh Hoá học và Vật lí chỉ thực sự bắt đầu từ những năm 1997 - 2001 với cấp trung học cơ sở. Từ chương trình 2008, mức độ tích hợp mạnh hơn, với một chương trình chung, không chia thành phân môn riêng rẽ ở cả trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Với chương trình năm 2008, chương trình cấp Tiểu học được viết thành văn bản chung cho từng giai đoạn (nhóm lớp): giai đoạn đầu và giai đoạn cuối trung học, cấp trung học cơ sở được viết cho từng môn hoặc nhóm môn, chỉ rõ nội dung và chuẩn theo từng năm học. Năm 2016, chương trình của tiểu học và Trung học cơ sở được viết chung cho từng giai đoạn, đa số các môn không còn nêu chi tiết theo năm học.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Cơ quan tài chính trung ương ở đây đề cập đến các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong đó Bộ tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm hoạch định chính sách và thực hiện những chức năng tài chính cốt lõi của Nhà nước. Tài chính công là xương sống hoạt động của Chính phủ, có ảnh hưởng rất lớn tới các quyết định phân bổ và sử dụng nguồn lực công. Các quyết định liên quan tới tài chính công sẽ định hình mô hình và phương hướng phát triển kinh tế cũng như khả năng tồn tại và hiệu quả hoạt động của tất cả các thể chế, dù là ở khu vực công hay khu vực tư. Ở chuyên đề này xin giới thiệu về mô hình cơ quan tài chính trung ương cũng như quá trình hình thành và phát triển của cơ quan này.

Đầu tiên cần phải phân biệt được các chức năng tài chính cốt lõi của Nhà nước hiện đại và cách thức tổ chức thực hiện chúng, điều này rất quan trọng đối với đại biểu dân cử cũng như cơ quan dân cử từ giai đoạn phân tích chính sách để ra quyết định đến giai đoạn giám sát việc tổ chức thực hiện các quyết định có liên quan đến tài chính công, nhân lực công. Trách nhiệm của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử là giám sát tổng thể các chức năng quản lý tài chính của chính phủ, các thiết chế tài chính và tài sản công; giám sát các mối quan hệ tài chính giữa chính quyền các cấp; và quản lý mối quan hệ với các tổ chức tài chính bên ngoài, như Ngân hàng Thế giới và IMF.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Khái niệm quản lý chi tiêu công đã được mở rộng thành quản lý tài chính công (PFM) với nội dung lý thuyết ngày càng trở nên phong phú. Mặt khác, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã làm nổi bật tầm quan trọng của việc phát triển một hệ thống quản lý tài chính vững vàng, và quan niệm đánh giá thế nào là “thông lệ tốt nhất” hay “thông lệ tốt” trong việc thiết kế một hệ thống như vậy đã có sự thay đổi đáng kể.

Từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2007-2008, các nhà nghiên cứu kinh tế thế giới đã đặt khái niệm quản lý chi tiêu công theo hướng mở rộng thành quản lý tài chính công (PFM) với nội dung lý thuyết ngày càng trở nên phong phú, đây cũng là thời điểm để đánh giá về tầm quan trọng của việc phát triển một hệ thống quản lý tài chính vững vàng, và quan niệm đánh giá về hệ thống tốt trong quá trình thiết kế hệ thống quản lý tài chính công.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò ban thư ký của Hội đồng quốc gia về khoa học và công nghệ. Bộ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp mọi hoạt động khoa học và công nghệ do các bộ khác quản lý; đảm bảo các chính sách,
chương trình, dự án về khoa học và công nghệ phù hợp với các ưu tiên quốc gia. Giúp việc cho Bộ Khoa học và Công nghệ là Viện Kế hoạch và đánh giá khoa học và công nghệ, với các nhiệm vụ chính là lập kế hoạch khoa học và công nghệ quốc gia, phổi hợp các chương trình khoa học và công nghệ, quản lý các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D) do Bộ Khoa học và Công nghệ cấp ngân sách, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ.

Về cơ bản, các chương trình khoa học và công nghệ bao gồm các chương trình nghiên cứu và phát tri (R&D), các chương trình khoa học và công nghệ công nghiệp, các chương trình nhân lực khoa học và công nghệ, các chương trình công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Việc triển khai các chương trình này được thực hiện ở các doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu khoa học.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

 

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành