Vận tải liên vận đa phương tiện trong nước và quốc tế vốn đã tiến bộ cùng với sự phát triển của vận chuyển hàng hoá bằng công-ten-nơ, đã trở thành phương thức phân phối hàng hoá quốc tế chủ chốt vào đầu thập kỷ 80. Để việc vận chuyển liên vận này hoạt động được thuận lợi, cần phải có một hệ thống phân phối tổng thể, bao gồm mọi yếu tố tạo nên hệ thống phân phối: đóng gói, kho hàng, gửi hàng (cảng và kiểm tra hải quan), vận chuyển xe tải, xếp hàng và vận chuyển bằng tàu,... Bộ luật mới mang tính cách mạng ở chỗ nó tạo ra nền tảng pháp lý cho việc vận chuyển hàng hoá liên vận đa phương tiện trong nước và quốc tế - nói cách khác là một hệ thống phân phối toàn bộ - và qua đó, thúc đẩy nó phát triển hơn nữa.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng thể các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia, nguồn nhân lực và các yếu tố phi vật thể, bao gồm cả trong và ngoài nước, có khả năng khai thác nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, nguồn lực là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước, đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, cải biến xã hội của một quốc gia.

Nguồn lực phát triển rất đa dạng về chủng loại, tính chất, có xuất xứ trong hoặc ngoài nước, đây là những yếu tố có thể huy động cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Như vậy, khi nói đến nguồn lực phát triển kinh tế, người ta tính đến nhng yếu tố “không phải của mình” nhưng có thể huy động được thông qua hoạt động mua bán, chuyển giao hoặc vay mượn.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, có truyền thống lịch sử lâu đời (hơn 5000 năm) và nhiều thăng trầm. Trung Quốc cũng là quốc gia có địa hình lãnh thổ phức tạp, tiếp giáp với nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Tuy thời phong kiến, Trung Quốc là một cường quốc về kinh tế, văn hóa và quân sự, nhưng từ khi chế độ phong kiến đi vào suy tàn, trong một thời gian dài từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, quốc gia này rơi vào giai đoạn suy vị với nhiều thăng trầm của lịch sử (từ nạn ngoại xâm bởi lực lượng thực dân phương Tây và phương Đông, v.v…) Trung Quốc hiện đại được coi là bắt đầu kể từ khi Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền vào năm 1949. Tuy nhiên, trong những năm đầu cầm quyền của Đảng Cộng sản, dưới sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao[1] và tư tưởng giáo điều, tả khuynh, duy ý chí, muốn tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa cộng sản, Trung Quốc đã trải qua một thời kỳ lịch sử rất nặng nề (nhất là giai đoạn đại cách mạng văn hóa trong thập niên 1960 của thế kỷ XX). Theo chủ nghĩ Mao, về mặt kinh tế - xã hội có một số nội dung cơ bản như sau: giá cả phải do Nhà nước ấn định, hình thức chủ yếu nhất của việc sở hữu tư liệu sản xuất trong xã hội là sở hữu nhà nước hoặc sở hữu cộng đồng, thực hiện chế độ tự cung - tự cấp, đóng cửa với thế giới bên ngoài (nhất là thế giới phương Tây), lấy khuyến khích đạo đức làm nền tảng của các chính sách khuyến khích lao động (dựa trên các phong trào thi đua với các loại khẩu hiệu vì cộng đồng, vì xã hội chứ không vì cá nhân), duy trì sự thống trị của chính trị đối với kinh tế và xã hội, duy trì sự bình đẳng về hưởng thụ của dân chúng, đoàn ngũ hóa dân chúng trong các phong trào, hội đoàn do Nhà nước tổ chức, giáo dục dân chúng để tẩy trừ tính ích kỷ - vị lợi, thực hiện cách mạng không ngừng (bằng các phong trào cách mạng), quyết tâm xây dựng con người mới - con người cộng sản chủ nghĩa.  

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.


[1] Xem E. Wayne Natziger: Economic Development, 4th ed., Cambridge: Cambridge University Press, 2006, at 719.

Thanh niên được coi là một bộ phận dân số đặc biệt có mặt trong tất cả dân tộc, giai tầng, thành phần trong xã hội. Về mặt cơ bản, thanh niên nước ta được chia theo cơ cấu như thanh niên ở thành phố, thanh niên tại vùng nông thôn, thanh niên trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, học sinh, sinh viên, bộ đội, công an. Ngoài ra theo đặc thù, dân số thanh niên của nước ta được chia thành cơ cấu thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên theo đạo, thanh niên là du học sinh… thanh niên khuyết tật, thanh niên sau giáo dưỡng, cải tạo, thanh niên nhiễm AIDS….

  1. 1.Về cơ cấu dân số thanh niên hiện nay

Dân số thanh niên nước ta nước ta ước tính năm 2018 là 23,3 triệu người, chiếm 24,6% dân số cả nước, giảm 0,6% so với năm 2017[1].

Mặt khác, về cơ cấu dân số thanh niên theo giới tính có sự thay đổi rõ nét so với những giai đoạn trước, theo đó tỷ lệ nam thanh niên luôn cao hơn nữ thanh niên suốt trong giai đoạn 2010 - 2018, tỷ lệ chênh lệch dao động từ 1,2% đến 1,8%.

Một điều đáng lo ngại là sự chênh lệch về tỷ số giới tính dân số thanh niên ngày càng có xu hướng tăng lên trong suốt thời gian qua và tăng theo tỷ lệ rất đều, từ mức 102,4 nam/100 nữ trong năm 2010 lên 114 nam/100 nữ vào năm 2018.

2. Về cơ cấu dân số thanh niên dưới góc độ phân chia nông thôn và thành thị

Tính đến năm 2017 số lượng thanh niên tại khu vực nông thôn là gần 18 triệu người, thanh niên thành thị giảm xuống còn khoảng 8 triệu. Như vậy, xét trên cơ cấu này, thì tỷ lệ chênh lệch giữa nhóm thanh niên nông thôn với thanh niên thành thị luôn ở mức dao động trên dưới ngưỡng 40% một năm[2].

3. Phân bổ theo vùng

Xét trên thống kê dân số năm 2019, giữa các vùng có sự khác biệt trong tỷ trọng dân số trong độ tuổi từ 16-30 tuổi. Ví dụ như ở khu vực Đông Nam Bộ, tỷ trọng dân số thanh niên trong độ tuổi này là cao nhất trên toàn quốc, mặt khác đây là khu vực có tỷ lệ dân số nữ thanh niên cao nhất cả nước. Xem xét trên cơ sở địa lý, việc làm, lý giải cho điều này, thực tế cho thấy, khu vực Đông Nam Bộ tập trung nhiều khu công nghiệp với các nhà máy sản xuất may mặc, da giày do đó thu hút lực lượng lao động nữ thanh niên làm việc rất lớn.

4. Về phân bố dân số thanh niên theo nhóm tuổi

Trên cơ sở này cho thấy, đối với lực lượng thanh niên trong độ tuổi từ 25-29 là lực lượng dân số thanh niên đông nhất trong tổng thể dân số thanh niên. Bên cạnh đó, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi từ 15-20, đặc biệt là đối với nữ thanh niên kết hôn cao hơn so với nam thanh niên trong nhóm tuổi đó. Khu vực có thanh niên trong độ tuổi này kết hôn cao là miền núi phía bắc và ở vùng trung du lần lượt là 21,5%, 18,1%[3]. Bên cạnh đó, ở độ tuổi này, tỷ lệ nữ thanh niên kết hôn cao hơn so với nam. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu năm 2019 là 23,1 đối với nữ và 27,2 với nam.

Mặt khác, tình trạng sinh con trong độ tuổi vị thành niên ở Việt Nam vẫn còn tồn tại. Thanh niên nữ sinh con trong độ tuổi này chiếm tỷ trọng 3,3‰; cao nhất ở vùng Trung du và vùng núi phía Bắc (chiếm 9,7‰) và Tây Nguyên (chiếm 6,8‰). Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ phụ nữ sinh con khi chưa thành niên thấp nhất chiếm 1,1‰)[4].

Thời gian qua, thực tế cho thấy tỷ suất sinh của nhóm dân số ở độ tuổi 15-24 đã giảm xuống đáng kể qua thời gian. Độ tuổi sinh con của nữ thanh niên cũng tăng lên, tỷ suất sinh cũng giảm.

Như vậy, có thể thấy, dân số thanh niên đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dân số Việt Nam, mặt khác trong cơ cấu dân số thanh niên cũng có sự khác biệt về sự phân bổ về cơ cấu giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi. Do đó, cần phải có những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo sự công bằng cho nhóm dân số này ở các địa bàn cũng như ở các lứa tuổi khác nhau, đảm bảo sự phát triển hài hòa, ổn định.

5. Các chính sách quản lý nhà nước về thanh niên

Thanh niên luôn là một bộ phận nhận được sự quan tâm của mọi cơ quan, tổ chức trong xã hội. Đặc biệt, trong các văn kiện qua các đại hội của Đảng đều đề cao vai trò và những đóng góp của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Theo đó, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 25 trong đó nêu rõ; “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc…”. Trong thời gian qua, Đảng đã trực tiếp chỉ đạo về công tác thanh niên, cụ thể như là đối với tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Nhằm thể chế hóa các Nghị quyết, văn kiện của Đảng trong công tác thanh niên, nhà nước đã thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách, chương trình hành động, chiến lược nhằm phát triển lực lượng thanh niên Việt Nam. Xây dựng, khuyến khích các chương trình xã hội hóa công tác thanh niên, thực hiện việc thúc đẩy toàn xã hội chăm lo giáo dục và đào tạo thanh niên trở thành công dân tốt và nguồn nhân lực dồi dào, kiến thứ cao. Bên cạnh đó, Đảng và nhà nước ta đã kêu gọi, tranh thủ mọi nguồn lực trong và ngoài nước nhằm phát triển công tác thanh niên. Đẩy mạnh việc phát huy phong trào thanh niên sống và làm việc theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhà nước ta lấy mục tiêu quan trọng song song với phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội đó là xây dựng và phát triển một thế hiện thanh niên toàn diện, vừa hồng vừa chyên, kiên định, đạo đức, có năng lực, bản lĩnh, kĩ năng, chuyên nghiệp, tri thức, trở thành công dân tốt của đất nước và đủ tiêu chuẩn hội nhập quốc tế.

Xác định tầm quan trọng của lực lượng thanh niên, Bộ Chính trị đã phê duyệt Đề án “Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên ở các địa phương”. Triển khai thực thi Đề án, Quyết định số 1471/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký thành lập Vụ Công tác thanh niên trực thuộc Bộ Nội vụ. Theo đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 1386/QĐ-BNV quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Vụ Công tác thanh niên. Song song với đó, Bộ Nội vụ cũng ban hành thông tư 04/2011/TT-BNV hướng dẫn bổ sung về nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của Sở Nội Vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phòng nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác thanh niên.

Như vậy, về tổ chức quản lý nhà nước, Bộ Nội vụ có nhiệm vụ là đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thanh niên, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như: Soạn thảo, ban hành hoặc trình các cơ quan có thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về thanh niên; Đề xuất với Đảng và Nhà nước về chính sách đối với thanh niên; Xây dựng chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam theo các giai đoạn; Thực hiện công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực nhà nước về công tác thanh niên; Thực hiện các công tác đối ngoại về thanh niên; Phối hợp hoặc chủ trì với các cơ quan hữu quan thực hiện tổ chức quản lý nhà nước về công tác thanh niên; kiểm tra, hướng dẫn hoạt động quản lý nhà nước về thanh niên….

Nhà nước thống nhất quản lý nhà nước về thanh niên thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thanh niên; tuyên truyền, phổ biến, bồi dưỡng chính sách pháp luật tới thanh niên; xây dựng và thực hiện chính sách đối với thanh niên, các chiến lược phát triển thanh niên trung hạn và dài hạn. Bên cạnh đó, nhà nước cũng chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đôi ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh niên. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước đối với thanh niên cũng là một trong những nội dung quản lý nhà nước quan trọng đối với thanh niên.

Thanh niên chiếm một phần lớn dân số Việt Nam, là lực lượng lao động nóng cốt hiện nay, Chính phủ đã xây dựng nhiều chính sách, chiến lược phát triển thanh niên với các mục tiêu như nâng cao giáo dục cho thanh niên cụ thể là nâng cao trình độ văn hóa, ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp. Một trong những yêu cầu của thị trường lao động đối với nguồn lao động trẻ đó là chất lượng lao động, theo đó, nhà nước ta đã chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao; đào tạo bồi dưỡng và sử dụng hợp lý tài năng trẻ, xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ giỏi chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp tốt, kĩ năng thuần thục,

NNhư vậy, có thể thấy, thanh niên là lực lượng quan trọng luôn dành được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Tập trung phát triển lực lượng này hiện nay đang là mục tiêu quan trọng cùng với những sách lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời gian tới.

 


[1] Bộ Nội vụ: Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam, 2019.

[2] Bộ Nội vụ: Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam, 2019.

[3] Tổng cục dân số: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2019

[4] Tổng cục dân số: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 2019

Hiện nay tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa trên cả nước và nước dưới đất ở nhiều vùng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng nhất là trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ, sâu sắc của biến đổi khí hậu (BĐKH). Theo các chuyên gia, Việt Nam có tài nguyên nước thuộc loại trung bình và kém bền vững. Một số khu vực như Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên thuộc loại khan hiếm nước vào mua khô lượng nước trên các lưu vực sông luôn trong tình trạng khan hiếm nước. Tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó khoảng 63% lượng nước là từ nước ngoài chảy vào nước ta. Tình trạng suy kiệt nguồn nước ngày càng nghiêm trọng trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa trên cả nước và nước dưới đất ở nhiều vùng. Ngoài nguyên nhân khách quan do diễn biến theo quy luật tự nhiên của tài nguyên nước, do điều kiện khí hậu, thủy văn, do tác động của biến đổi khí hậu, còn do tác động của con người, như khai thác quá mức, sử dụng lãng phí, gây ô nhiễm... Nước sạch đang ngày một khan hiếm, ảnh hưởng tới đời sống và phát triển kinh tế xã hội. Bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách hiện nay, trong đó yêu cầu về đảm bảo an ninh nguồn nước chưa được quan tâm và bảo đảm thực hiện ở nhiều nơi ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển bền vững.

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước cùng với sự gia tăng về dân số, quá trình đô thị hóa những năm qua đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng đã tạo ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và trữ lượng nguồn nước. Trên thực tế, lượng lước phục vụ dân sinh và sản xuất sẽ lên đến 130-150 tỷ m3/năm chiếm tới gần 50% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ nước ta, gần 90% nguồn nước mùa khô (khoảng 170 tỷ m3).

Điều đó cho thấy, nguy cơ thiếu nước là rõ ràng và ở mức nghiêm trọng. Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến hơn. Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thủy điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp ở hạ du một số lưu vực sông lớn đã xảy ra trong những năm gần đây, nhất là trong mùa khô. Chất lượng môi trường nước đang kém dần đã ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, đặc biệt là những cộng đồng nghèo sống phụ thuộc nhiều vào môi trường tự nhiên... Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn về bảo đảm an ninh nguồn nước cho phát triển và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Sẽ khó khăn hơn nếu chúng ta không có những cơ chế, chính sách để chia sẻ nguồn nước một cách hợp lý và thay đổi cơ bản trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước.

Việc khai thác, sử dụng nước tại các quốc gia ở thượng nguồn các sông đã có tác động lớn đến Việt Nam. Gần đây, ở thượng nguồn sông Đà, sông Thao, sông Lô phần lưu vực thuộc Trung Quốc, việc xây dựng nhiều hồ chứa thủy điện (7 hồ chứa trên thượng nguồn sông Đà, 8 hồ chứa trên sông Lô - sông Gâm và một số hồ chứa lớn ở sông Thao) đã gây những biến động phi tự nhiên, làm suy giảm, cạn kiệt nguồn nước, ảnh hưởng bất lợi tới nguồn nước chảy về Việt Nam. Tình hình tương tự cũng đang diễn ra trên dòng chính sông Mekong, gây những quan ngại lớn cho các nước ở hạ du.

Các lưu vực sông ở miền Trung, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã và đang khai thác trên 30-50% lượng dòng chảy, ở Ninh Thuận còn khai thác tới 70-80% nguồn nước, trong khi đó mức khai tác không được vượt quá 30% nguồn nước, điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến bảo đảm sự bền vững về tài nguyên nước. Việc khai thác quá mức nguồn nước, đặc biệt là việc xây dựng các công trình hồ chứa thủy lợi, nhất là thủy điện kiểu đường dẫn, kiểu các công trình đập chặn hoàn toàn dòng chảy sông với việc quy hoạch, xây dựng và quản lý vận hành bất hợp lý cũng là nguyên nhân làm suy giảm rõ rệt số lượng và chất lượng nước trên các lưu vực sông lớn như: sông Hồng, sông Đồng Nai - sông Sài Gòn, sông Vu Gia - sông Thu Bồn, sông Ba, sông Sêrêpok... và trên nhiều sông vừa và nhỏ khác. Do tập quán, thói quen sản xuất, canh tác nông nghiệp sử dụng nhiều nước, lại thiếu các biện pháp hợp lý giữ, trữ nước trong mùa mưa lũ để dùng dần trong mùa khô nên thường xuyên phải đối phó với tình trạng thiếu nước vào mùa khô nhiều nơi, có khi trên phạm vi cả nước. Việc sử dụng nước thiếu quy hoạch, chưa hiệu quả, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm trong khi nhu cầu dùng nước ngày một tăng nhanh do phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời với việc xả nước thải, chất thải gây ô nhiễm các nguồn nước càng làm giảm rõ rệt khả năng đáp ứng nhu cầu nước sạch vào mùa khô.

Chưa bao giờ tài nguyên nước lại trở nên quý hiếm như những năm gần đây khi nhiều dòng sông bị suy thoái, nước trong các ao, hồ cạn kiệt vào mùa khô; nhiều con sông, đoạn sông đang “chết” dần vì ô nhiễm, cạn kiệt ở hạ lưu do các công trình thủy điện, thủy lợi, trong khi nguồn nước ngầm ngày càng suy giảm do khai thác quá mức, buông lỏng quản lý.

Do phụ thuộc vào nguồn nước ở các nước thượng nguồn nên để bảo đảm an ninh nước cho Việt Nam và phát triển bền vững, giải pháp hợp tác quản lý tài nguyên nước các lưu vực sông quốc tế, nguồn nước xuyên quốc gia là đặc biệt quan trọng và cấp bách. Việt Nam cần chủ động và có biện pháp cụ thể hợp tác tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng với Trung Quốc và hợp tác khai thác các con sông khác có chung nguồn nước với Thái Lan, Lào, Campuchia, tiến tới xây dựng các hiệp định, quy chế quản lý, chia sẻ và bảo vệ tài nguyên nước đối với các sông quốc tế, nguồn nước xuyên quốc gia.

Tăng trưởng nhanh dẫn đến gia tăng nhu cầu về nước, lại không chú ý đúng mức đến bảo vệ môi trường, xử lý nước thải (chỉ trong chục năm gần đây, lượng nước thải tăng lên gấp hơn 3 lần ở các khu đô thị, khu công nghiệp, song lại không được xử lý mà xả trực tiếp vào nguồn nước), chất thải các loại tạo nên các nguồn ô nhiễm lớn, thưng xuyên, làm suy thoái nghiêm trọng các nguồn nước, làm cạn kiệt nguồn nước sạch.

Ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước đang là vấn đề cấp bách ở khắp nơi và ngày một nghiêm trọng, lan rộng hơn, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và sản xuất. “Thủ phạm” gây ô nhiễm chính là nguồn nước thải khổng lồ chưa được xừ lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu không ngừng đổ vào các sông, hồ từ các đô thị, cơ s công nghiệp, khu công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, làng nghề, bệnh viện, từ khai thác khoáng sản, v.v..

Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các nguồn nước bị suy giảm và cạn kiệt. Mùa mưa và lượng mưa thất thường dẫn đến tình trạng hạn hán kéo dài trên diện rộng, lượng nước ngọt bị xâm nhập mặn, ô nhiễm gia tăng do dòng chảy không còn khả năng tự làm sạch, khả năng chống chọi với thiên tai sẽ tạo ra thách thức lớn đối với bảo đảm an ninh về nước và phát triển xanh, bền vững. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong quản lý tài nguyên nước là yêu cầu cấp bách hiện nay, nhưng việc triển khai lại chậm chạp, thiếu cụ thể, chưa tập trung vào những khâu chính, nội dung chính của nguồn nước và các yểu tố ảnh hưởng.

Hạn hán, thiếu nước trong mùa khô xảy ra liên tục, tuy ở mức độ khác nhau trong 10 năm gần đây, ngoài nguyên nhân do diễn biến tài nguyên nước theo tự nhiên và tác động của biến đổi khí hậu, còn do tác động trực tiếp của con người trên lưu vực. Nguồn nước trên các lưu vực sông nước ta từ năm 2006 đến nay đều ở mức trung bình hoặc thấp hơn trung bình năm, nhưng nhìn chung, vẫn có thể xem là đủ nước cho các nhu cầu kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, sinh thái. Song trong thực tế, nhiều nơi xảy ra tình trạng thiếu nước gay gắt, trong thời gian dài, có khi rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến phát triển. Tình trạng khan hiếm nước có nguyên nhân trước hết là do nạn phá rừng, hủy hoại vùng sinh thủy; chưa có biện pháp tích trữ nước trong mạng lưới sông ngòi, chưa tích đủ nước vào hệ thống công trình như thiết kế; phân phối nguồn nước cho các nhu cầu sử dụng chưa hợp lý; nước chưa được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu; việc vận hành và quản lý tổng hợp các hồ chứa đa mục tiêu chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc, thậm chí ở một số hồ, trong những thời kỳ dài, vi phạm nghiêm trọng việc vận hành bảo đảm nguồn nước tối thiểu cho hạ lưu, cho đời sống bình thường của dòng sông. Hạ lưu đa số các hồ chứa thường cạn kiệt dòng chảy trong nhiều tháng liên tục vào cuối năm, thậm chí cạn kiệt chưa từng thấy trong nhiều năm qua. Từ những dòng sông trù phú, nguồn nước dồi dào, tiềm tàng nhiều nguồn lợi đang rơi vào tình trạng cạn kiệt đến mức không thể khôi phục được. Trong điều kiện tài nguyên nước về các hồ nhìn chung, ở mức bình thường hoặc thấp hơn bình thường không nhiều (14-15%) mà để xảy ra tình trạng cạn kiệt nguồn nước hạ lưu các dòng sông có các công trình hồ chứa thủy điện (thấp hơn trung bình nhiều năm đến 50-70%, có khi “đứt” dòng chảy), ch yếu là do việc quản lý vận hành hồ chứa và liên hồ chứa. Đây là vấn đề nhạy cảm và phức tạp, cần được đánh giá một cách đầy đú và toàn diện để có giải pháp thích hợp.

Trong điều kiện thiếu nước hoặc tài nguyên nước trở nên khan hiếm thì mỗi chúng ta và toàn xã hội phải nâng cao trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ, bảo tồn. Mọi nguồn nước đều quý giá, việc khai thác, sử dụng phải tiết kiệm, đa mục tiêu, hài hòa các lợi ích và luôn nhằm ti hiệu quả tổng họp cao nhất có thể cho xã hội. Từ ngàn năm nay, con người đã biết tích trữ, giữ nước vào mùa mưa lũ để phòng khi khô hạn, thiếu nước. Nhưng rồi “thói quen” cứ cần nước là có ngay, tất cả là có sẵn trong sông, trong hồ, tất cả đều được Nhà nước “lo toan” đủ cho mọi người, mi nhà, cho sản xuất... được hình thành trong thời “bao cấp” đã làm mất dần thói quen tiết kiệm, tích nước phòng hạn... Do vậy, dần dần, thái độ ứng xử với nước, “văn hóa nước” trong nhân dân vốn đã có từ lâu đời nay bị thay đổi theo hướng bất lợi. Trong thực tế, chúng ta thường phải chứng kiến những tình trạng rất phi lý, nhiều giếng khoan khai thác nước dưới đất được đầu tư lớn nhưng phải ngừng hoạt động do nước bị ô nhiễm, các trạm cấp nước xây xong hoạt động một thời gian rồi cạn khô, để đó; nước bị sử dụng lãng phí hoặc chỉ dùng để... tưới cây trong khi không đủ nước sạch cho đời sống hàng ngày.

Thiếu nước, khan hiếm nước ngày càng nghiêm trọng, nhưng nhiều người vẫn chưa nhận thức được vấn đề. Một kết quả điều tra xã hội học trong nhân dân sinh sống trên các lưu vực sông đã gây ngạc nhiên lớn bởi chỉ có 30% số người được hỏi tỏ ra bức xúc về tình trạng suy thoái sông ngòi, trong khi trên 30% số người được hỏi tỏ ra thờ ơ với thực trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, mặc dù tình trạng này thường xuyên tác động trực tiếp đến sản xuất và đời sống của họ.

Mặc dù tài nguyên nước mưa dao động ở mức trung bình, nhưng tài nguyên nước mặt ở hạ du các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi trên những lưu vực sông chính nước ta, như sông Hồng, sông Đồng Nai - sông Sài Gòn, sông Sêrêpok, sông Sê San, sông Ba, sông Vu Gia - sông Thu Bồn và một số sông khác, phổ biến thấp hơn trung bình, có nơi thấp hơn khá nhiều. Hiện trạng suy giảm nguồn nước mặt trong mùa khô những năm qua đã diễn ra ở hạ lưu nhiều hồ chứa khá phổ biến ở đa số các lưu vực sông. Khan hiếm nước do nguồn nước ở hạ lưu các sông suy giảm lại bị tác động mạnh của nước thải ô nhiễm, của xâm nhập mặn làm cho việc cấp nước sinh hoạt cho sản xuất gặp những bất trắc lớn ở hạ du các lưu vực sông trong mấy năm gần đây.

Thực tế hiện nay, tình hình suy kiệt nguồn nước, hạn hán thường xuyên ở hạ du nơi có các các công trình thủy điện, hồ chứa nước phát triển mạnh xảy ra rất nghiêm trọng. Đa số các công trình hồ chứa thủy lợi và thủy điện chưa có quy trình vận hành hoặc có nhưng chưa hợp lý, chậm được cập nhật sau hàng chục năm, có khi sau 20-30 năm hoạt động, trong khi điều kiện tài nguyên nước và mục tiêu hoạt động, của công trình cùng một số đặc trưng đã có những thay đổi. Ở nhiều hồ chứa, việc tích nước, xả nước vào những thời kỳ nhấl định thường chưa tuân thủ đúng quy trình vận hành, thậm chí một số hồ đã có tình trạng vi phạm nghiêm trọng việc vận hành bảo đảm nguồn nước tối thiểu cho hạ lưu trong một thời gian dài. Nguyên nhân chính là do chưa có quy trình vận hành liên hồ chứa phân bổ nguồn nước cho các nhu cầu trong mùa khô.

Hậu quả của suy giảm dòng chảy, thiếu nước là rất nghiêm trọng đối với con người, với tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và đời sống dòng sông; gia tăng nguy cơ kém bền vững trong tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Việc khai thác, sử dụng chưa hợp lý, thậm chí là khai thác quá mức lại chưa đi đôi với bảo vệ trong điều kiện kinh tế - xă hội phát triển mạnh đang làm nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm, có nơi trở nên nghiêm trọng và đang có xu hướng ngày một nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và sản xuất. Sự suy giảm nguồn nước trở thành thách thức lớn trong bảo đảm an ninh nguồn nước cho phát triển bền vững. Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi phải có những biện pháp đồng bộ, có tính hệ thống và thực hiện kiên trì trên toàn lưu vực sông với quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên nước, quản lý suy giảm nguồn nước, khan hiếm nước.

Chúng ta chưa có một công cụ pháp lý với những chế tài đù mạnh để bảo vệ và bảo đảm an ninh nguồn nước, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái ở nước ta. Luật Tài nguyên nước có hiệu lực từ ngày 01-01-2013 và nhiều văn bản khác đánh dấu sự thay đổi cơ bản về quản lý tài nguyên nước, nhưng tất cả đều chưa phát huy hiệu quả cụ thể trong thực tiễn.

Khai thác, sử dụng nước phải hiệu quả, tiết kiệm, đa mục tiêu, hài hòa các lợi ích trong bối cảnh nguồn nước suy giảm do biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh an ninh nguồn nước đang bị đe dọa, tình trạng suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước đang ngày càng trầm trọng ở nhiều lưu vực sông.

Như vậy, theo dự báo của cơ quan chức năng, tình trạng suy giảm nguồn nước, hạn hán, thiếu nước có thể xảy ra trêndiện rộng ở nhiều vùng trên cả nước, nhất là các tháng cuối mùa kiệt. Thiếu nước, suy giảm nguồn nước có thể căng thẳng hơn ở hầu khắp các khu vực làm ảnh hưởng lớn tới cấp nước sinh hoạt và sản xuất ở vùng hạ du nhiều lưu vực sông chính nước ta.

Về thực chất, đây là vấn đề bán - mua các dự phần góp vốn, bán tiếp các doanh nghiệp đã được bán. Với việc bán - mua các dự phần góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH), các tài sản được bán - mua sẽ thay đổi sở hữu chủ, các khoản nợ cũng đồng thời được chuyển giao, việc chuyển nhượng các cổ phần thông qua việc bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán không được bàn đến ở bài này, trong khuôn khổ bài này chỉ tập trung giải quyết các vấn đề thuộc công ty TNHH.

Việc chuyển nhượng tài sản liên doanh đến doanh nghiệp bị bán và chuyển nhượng các khoản nợ của doanh nghiệp bị bán cũng như các dự phầncủa doanh nghiệp (công ty TNHH) phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng cụ thể về vấn đề nêu trên. Hợp đồng chuyển nhượng loại đó thường có các mục sau:

Đối tượng của hợp đồng - Phải ghi rõ trong hợp đồng cái gì ở đây được bán. Các tài sản, thiết bị, máy móc... được bán phải ghi rõ, cụ thể số lượng, mẫu mã, mô tả chi tiết v.v... Ví dụ, A và B thỏa thuận bán và mua một nhà máy sản xuất nước giải khát. Họ phải thỏa thuận A bán và chuyển giao đối tượng mà B thỏa thuận mua và nhận ở đây cần khái niệm bán chuyển giao v.v .. có phức tạp và cần phân biệt rõ ràng. Trên thực tế có khác nhau về việc bán, chuyển giao vật được bán và chuyển quyền sở hữu vật được bán. Sách báo có giải thích và bình luận về những vấn đó này ở đây có các quá trình khác nhau. Căn cứ pháp luật hiện hành, người mua và người bán phải thỏa thuận với nhau (bằng văn bản) về tài sản được mua và bán đó, người bán có nghĩa vụ chuyển giao tài sản đã bán cho người mua và sau đó phải chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho người mua theo quy định của pháp luật. Đây là hợp đồng mua - bán có quy mô lớn do đó thời điểm bán (ký hợp đồng mua - bán) và thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản có khác nhau. Ở đây có hai vấn đề quan trọng đặt ra đối với người bán là nghĩa vụ chuyển giao tài sản đã bán và nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu tài sản đã bán.

Về nguyên tắc, có sự thống nhất ý chí của các bên hợp đồng chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản. Tuy vậy hai quá trình này (chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản) trên thực tế không trùng hợp nhau mà có khoảng cách nhất định. Vấn đề này đặc biệt quan trọng khi thực hiện hợp đồng mua - bán các thiết bị toàn bộ trong một thời hạn tương đối dài. Hoạt động kinh doanh rất năng động, do đó trong quá trình thực hiện hợp đồng có thể phát sinh các vấn đề buộc các bên phải đàm phán để đi đến thỏa thuận tiếp trước khi chuyển quyền sở hữu.

Người mua phải tuyên bố rõ ràng, là sẽ tiếp nhận các nghĩa vụ, công việc mà người bán đã thực hiện cho người mua. Các đối tượng mua - bán theo hợp đồng phải định rõ và có cách thức rõ ràng để phân biệt với các đối tượng, tài sản, đồ vật khác đang được sử dụng trong doanh nghiệp, kể cả những vật có giá trị rất nhỏ. Vậy tài sản nào nhất thiết phải nêu ra ở đây? Trước tiên là các máy móc, thiết bị tương tự. Người bán sẽ thỏa thuận là bán cho người mua những máy móc, thiết bị đang được sử dụng pho đến thời điểm mua và cả những phụ kiện rời, những chi tiết máy v.v... Phải ghi rõ những thiết bị, phụ kiện nào không được bán, hoặc những cái nào thì không bán mặc dù có liên quan đến máy móc phải bán. Danh mục những tài sản có trong doanh nghiệp mới là đối tượng xem xét để mua bán theo hợp đồng loại này. Đối với hợp đồng leasing thì những vật ở ngoài doanh nghiệp cũng có thể được ghi vào danh mục những vật được bán. nếu chúng thuộc quyền sở hữu của người bán (hoặc chủ doanh nghiệp). Đối với các tài sản thuộc quyền sở hữu của người thứ ba nhưng chủ doanh nghiệp đang sử dụng tại doanh nghiệp thì không phải là đối tượng của hợp đồng mua - bán này nếu chủ sở hữu vật đó không chấp thuận hoặc không yêu cầu bán. Các tài sản không phải là đối tượng mua bán của hợp đồng phải được đưa vào danh mục những tài sản không bán đính kèm hợp đồng chính.

Đối với vấn đề xác đnh giả trị những vật được bán: Đương nhiên là các bên tìm mọi cách để thống nhất giá cả những vật được bán. Tuy nhiên, các bên có thể ghi vào hợp đồng các trường hợp cần phải trưng cầu giám định viên hoặc chuyên gia kiểm toán đến định giá tài sản sẽ bán. Những tài sản khác cần chuyển giao cũng có thể được định giá trị theo những thể thức nhất định.

Đối với các hàng hóa, đồ dùng dự trữ: Theo quy định chung, vào ngày hợp đồng bắt đầu được thực hiện thì người bán phải chuyển giao (trong một thời hạn do hai bên thỏa thuận) các tài sản, sản phẩm, đồ vật v.v... theo hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận bán và chuyên gia các đồ vật. hàng hóa dự trữ của doanh nghiệp. Muốn vậy, người mua phải biết đến một thời điểm nào đó thì có những tài sản dự trữ gì, chúng ở đâu và vào trạng thái ra sao? v.v... Nếu các vật đó đang ở người khác thì hợp đồng phải ghi rõ người bán có nghĩa vụ đòi lại những vật này từ người đang giữ để chuyển giao chúng cho người mua hoặc ghi rõ giao quyền này cho người mua thực hiện. Phải lập danh sách các hàng hóa, đồ vật dự trữ này và người bán phải giao danh sách đó cho người mua vào ngày giao tài sản được bán (chỉ ghi các động sản). Danh sách này sẽ trở thành phụ lục của hợp đồng chính. Tài sản được đưa vào danh sách phải được định giá vào thời điểm lập danh sách (phải ghi rõ ngày định giá, lập danh sách) theo kết luận của giám định viên hoặc chuyên gia kiểm toán. Người mua hoặc người đại diện của người mua phải được xem xét các cơ sở của doanh nghiệp, kho tàng giữ tài sản được bán, sổ sách kế toán và các tài liệu cần thiết liên quan đến vật bán. Hai bên phải cùng nhau kiểm kê đồ vật này và lập biên bản kiểm kê cụ thể để khỏi phiền toái về sau (kiện tụng).

Đối với các quyền sở hữu công nghiệp: Nếu người bán có bí quyết kinh doanh, bí mật công nghệ, phát minh sáng chế v.v... (được coi là các tài sản phi vật chất) thì các quyền sở hữu những tài sản này cũng phải chuyển giao và ghi rõ vào hợp đồng, vì chúng cũng là một phần trong tài sản của doanh nghiệp được bán. Nói chung, vấn đề này phải giải quyết theo nguyên tắc bào vệ quyền sở hữu công nghiệp.

Về chương trình (kế hoạch) sản xuất: Các quy trình sản xuất, kế hoạch công tác, sản xuất của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và cần phải chuyển giao cho người mua. Các sổ sách, tài liệu về bí mật kinh doanh, danh mục giá cả, địa chỉ liên lạc với các bạn hàng v.v... đều phải chuyển giao cho người mua. Điều này phải ghi vào hợp đồng mua bán doanh nghiệp.

Trong quan hệ với bạn hàng: Người mua có nghĩa vụ tiếp nhận các đơn đặt hàng mà người bán đã chấp thuận với bạn hàng trước khi bán doanh nghiệp, tiếp nhận các công việc đang làm cho bạn hàng. Tuy vậy, việc tiếp nhận này phải là đối tượng của một bản thỏa thuận giữa người mua và bạn hàng. Việc chuyển giao các vấn đề liên quan với bạn hàng từ người bán hàng sang người mua hàng chỉ được thực hiện khi bạn hàng chấp thuận bằng một văn bản rõ ràng hợp pháp.

Về vấn đề các yêu cầu, các khoản nợ và những vấn đề liên quan: Người bán có nghĩa vụ thanh toán mọi khoản nợ còn tồn đọng của doanh nghiệp trước khi bán doanh nghiệp. Ví dụ: hàng đã bán nhưng chưa thanh toán. Xử lý vấn đề này ra sao? Cần phải biết rõ ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này Về nguyên tắc, người bán muốn nhận khoản thanh toán này. Vấn đề là các bên đương sự phải thỏa thuận với nhau về việc đó. Nếu cần thì ghi rõ vào hợp đồng.

Vấn đề chuyển giao đất đai: trong hợp đồng phải ghi rõ người bán vào thời điểm ký kết hợp đồng sẽ chuyển giao mảnh đất có doanh nghiệp như đã yêu cầu. Đất đai là đối tượng mua - bán phức tạp nên cần chú ý thỏa thuận cụ thể và mua - bán phải theo những hình thức pháp lý nhất định. Công việc này thường được tiến hành với sự giúp đỡ hoặc chứng giám của công chứng viên. Phải có một bản phụ lục về đất đai và các biện pháp chuyển giao quyền sở hữu đất đai. Trong bản phụ lục đó cần chú ý ghi rõ các mốc địa giới, các bản sơ đồ hiện trường, các giấy tờ liên quan và các nghĩa vụ các bên liên quan đến đất đai và bảo vệ môi trường.

Vấn đề giấy tờ bảo đảm việc mua - bán đất đai: Điều quan trọng ở đây là phải có văn bản bảo đảm người bán chính là chủ sở hữu mảnh đất được đưa ra bán theo pháp luật và người bán bảo đảm chịu mọi trách nhiệm phát sinh từ những sai sót do mình gây nên trong cách tính chuyển quyền sở hữu đất đai.

Đối với người làm thuê: Trước đây, vào thời phong kiến, không ai chu ý đến các quyền và lợi ich của giới thợ khi có vấn đề mua báo doanh nghiệp. Từ khi chuyển sang chế độ TBCN vấn đề này dù thay đổi cơ bản. Điều 613 BLDS có quy định rõ nếu doanh nghiệp bị bán thì các hợp đồng của chủ doanh nghiêp với người làm công phải được chú ý đến. Các quy định ở đây có nội dung tương tự như trường hợp thuê nhà, tức khi chuyển chủ sở hữu nhà thì phải chú ý đến các quyền của người thuê nhà và chủ mới phải thừa kế các hợp đồng thuê nhà. Do vậy, đối với chủ mới của doanh nghiệp, người mua phải kế thừa các quyền và nghĩa vụ theo các hợp đồng thuê lao động. Phải có một bản phụ lục các hợp đồng lao động nói rõ các quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng thuê lao động. Bên mua và bên bán cần thỏa thuận thông báo cho người làm công việc chuyển giao doanh nghiệp cho chủ mới và quyền của người làm công được thể hiện bàng văn bản sự chấp thuận (hoặc không chấp thuận) duy trì quan hệ lao động tiếp tục với chủ mới.

Vấn đề xử lý đối với các hợp đồng lao động tập thể. Các hợp đồng lao động tập thể cũng được chuyển giao. Ví dụ: hợp đồng ký giữa Hội đồng xí nghiệp với giới làm công. Trong số các hợp đồng của doanh nghiệp có thể có hợp đồng liên quan đến các vấn đề phúc lợi xã hội, đến bảo hiếm lao động v.v... Các hợp đồng, thỏa thuận đó phải được quan tâm đúng mức và phải được chuyển giao đúng quy cách.

Đối với vấn đề cạnh tranh và bảo đảm bí mật kinh doanh: Về nguyên tắc, người bán không được mở một doanh nghiệp tương tự doanh nghiệp đã bán ngay sau khi ký hợp đồng mua - bán doanh nghiệp hoặc không được tiết lộ các bí mật kinh doanh của doanh nghiệp đã bán để cạnh tranh với chủ mới của doanh nghiệp v.v.. Tất cả những vấn đề này phải được hai bên thỏa thuận chi tiết và đưa vào văn bản hợp đồng để sau này đỡ phát sịnh các tranh chấp phiền toái trong hoạt động kinh doanh.

Vấn đề giá cả và thanh toán: Giá cả bán mua doanh nghiệp phải được thỏa thuận và quy định rõ trong hợp đồng bằng con sổ cụ thể. Nếu bên mua trả tiền từng phần trong một thời gian nhất định, thi phải trả thêm lợi tức là bao nhiêu? Theo nguyên tắc như thế nào? Nếu cần thiết thì ghi cả vấn đề thuế lợi tức phải trả. Cách thức tính giá cả thanh toán và các vấn đề tài chính khác cũng tương tự như hợp đồng đã trình bày trên.

Vấn đề phí tổn: Phải định rõ ai chịu phí tổn liên quan đến hợp đồng. Đăng ký tại đâu và ra sao.

Cuối cùng là vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Cũng theo các quy tắc chung đối với các hợp đồng mua - bán lớn. Một quy định của hợp đồng không có hiệu lực thì các quy định khác vẫn có hiệu lực thi hành, hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý của nó.

Sau chiến tranh, hệ thống tài chính của Nhật Bản đã mất một thời gian dài để chuyển từ hệ thống thời chiến sang hệ thống dựa vào thị trường, đây là một bước điều chỉnh mạnh mẽ. Hệ thống tài chính trong kỷ nguyên tăng trưởng cao (HGE), được hình thành dần dần trong sự hỗn loạn, tàn phá của chiến tranh và được xác lập vững chắc trong thời kỳ 1950-1955, cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ. Chỉ sau những năm 70 mới thực sự diễn ra việc chuyển sang hệ thống hướng vào thị trường thực sự[1].

Các hệ thống tài chính trong thời chiến và trong HGE có những điểm rất giống nhau như:

Thứ nhất, luồng quỹ cháy từ các đơn vị thiếu hụt sang các đơn vị dư thừa chủ yếu mang hình thức tài trợ gián tiếp khác, trung gian tài chính thông qua tiền gửi và tiếp hàng là điểm chủ chốt của hoạt động tài chính trong kỳ này.

Thứ hai, việc phân bổ các quỹ cho các ngành khác nhau ít nhiều cũng được điều chỉnh. Chính phủ can thiệp và phân bổ các khoản cho vay của ngân hàng và sự can thiệp đó có ảnh hưởng mạnh nhất trong thị trường phát hành trái phiếu công ty.

Thứ ba, hệ thống ngân hàng chủ yếu đôi lúc được xem là đặc trưng cơ cấu chủ yếu của hệ thống tài chính Nhật Bản, cũng nguồn gốc từ trong chiến tranh. Hệ thống Ngân hàng chỉ định do chính phủ lập ra vào năm 1944, có nguồn gốc từ một công - xoóc- xium cho vay xuất hiện vào khoảng năm 1936 và nó có rất nhiều nét tương đồng với hệ thống ngân hàng chủ yếu ngày nay.

Mặc dù có các nét tương đồng này, song hai hệ thống này vẫn khác nhau ở những khía cạnh quan trọng và đáng kể, dù trong cả hai thời kỳ, chính phủ đều kiểm soát việc cho vay của ngân hàng, nhưng biện pháp kiểm soát có khác nhau. Hệ thống trong thời kỳ chiến tranh dựa vào những kiểm soát trực tiếp trong khi hệ thống HGE lại áp dụng những kiểm soát gián tiếp, như hạn chế hoạt động của mỗi tổ chức tài chính vào những lĩnh vực cụ thể nào đó, sự đối xử thiên vị của Ngân hàng Nhật - (BOS) hoặc sự báo hiệu của các tổ chức tài chính thuộc khu vực công cộng. Tức là, trái với hệ thống phân bổ tín dụng tập trung trong chiến tranh, hệ thống HGE được đặc trưng bằng việc và quyết định một cách phi tập trung của mỗi tổ chức tài chính trong phạm vi một khuôn khổ đã được chính phủ quyết định là đi theohệ thống khuyến khích và báo hiệu chính thức. Một khác biệt quan trọng nữa là giữa hai hệ thống là mức độ sử dụng cơ chế giá cả của mỗi hệ thống. Ở hệ thống thời chiến, trong khi việc phân bổ tín dụng cho mỗi khu vực và công ty bị kiểm soát nghiêm ngặt, thì lãi suất (giá cả của tín dụng) về cơ bản được quyết định trên thị trường mà không chịu sự can thiệp của chính phủ. Tuy vậy, trong hệ thống HGE, chính phủ đã cố gắng kiểm soát giá cả, tức là, lãi suất. Không chỉ lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay bị kiểm soát mà cả tốc độ phát hành trái phiếu cũng bị điều chỉnh một cách chặt chẽ. Quan trọng hơn, trong hệ thống HGE, những kiểm soát đối với hành vi của mỗi tổ chức tài chính đã được tăng cường đáng kể. Ngoài những quy định về bảng cân đối thông thường, về việc lập chi nhánh và việc tham gia kinh doanh, sự can thiệp của giới quan liêu còn được mở rộng sang cả cơ cấu chi tiêu và thu nhập của mỗi tổ chức.

Ví dụ, ngân hàng phải tường trình về lương của nhân viên cho các cơ quan có thẩm quyền và sự hướng dẫn hành chính cũng được thực hiện để ảnh hưởng đến việc quyết định lãi cổ phần của mỗi ngân hàng.

Những nhân tố nào nằm đằng sau những điểm giống nhau và khác nhau này? Tại sao chiến tranh chấm dứt lại không dẫn đến việc phi điều chỉnh hoàn toàn hệ thống tài chính? Đôi khi người ta cho rằng bản chất được điều chỉnh của hệ thống tài chính HGE bắt nguồn từ tính liên tục của giới quan liêu. Các quan chức thời chiến vẫn giữ nguyên trong nhiệm sở của mình các kỹ thuật điều chỉnh. Tính liên tục này, cộng với tư duy kinh tế đề cao vai trò can thiệp của chính phủ, chắc chắn là một nhân tố quan trọng và chúng ta sẽ nói đến khía cạnh này ở phần sau của chương này. Tuy nhiên, muốn hiểu đúng những điểm giống nhau đại thể trong hai hệ thống này cần phải xem xét một cách kỹ càng hơn những đặc trưng cơ bản của bộ mặt thật của nền kinh tế. Có thể thấy rằng, chính phủ vẫn tiếp tục điều chỉnh hệ thống tài chính HGE giống như trong chiến tranh vì nền kinh tế Nhật Bản về căn bản vẫn ở một trình độ phát triển như cũ; đẩy mạnh công nghiệp hoá trên cơ sở các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất thay thế nhập khẩu - xuất khẩu khu vực hai. Có quan điểm cho rằng, nhu cầu quá mức về các nguồn quỹ dài hạn và tình trạng khan hiếm tương đối thông tin về các công ty mới, đặc trưng cho giai đoạn phát triển này, buộc chính phủ phải can dự đáng kể vào hệ thống tài chính. Vậy tại sao phương pháp kiểm soát trong hai giai đoạn lại khác nhau? Dân chủ hoá và đa dạng hoá các mục tiêu kinh tế có thể đủ để lý giải việc chuyển sang những kiếm soát gián tiếp trong hệ thống HGE. Sự thay đổi mục tiêu kiểm soát kinh tế, từ mục tiêu duy nhất là thu mua hàng quân sự sang mục tiêu đa dạng là ổn định hoá và chuyển đổi cơ cấu để phát triển, dường như đòi hỏi phải có sự thay đổi trong phương pháp phân bổ tín dụng từ sự câu kết độc đoán đến các phương pháp dân chủ hơn dựa trên sáng kiến tư nhân. Việc giải thích sự cần thiết phải kiểm soát cơ chế giá hoặc thực hiện kiểm soát chặt chẽ hơn đối với cách ứng xử của mỗi tổ chức tài chính cần được tìm trong cú sốc do thất bại trong chiến tranh. Những mất mát lớn nảy sinh từ việc đình chỉ bồi thường chiến tranh và việc cải tổ cơ cấu các tổ chức tài chính đã làm suy yếu sự kiểm soát của các cổ đông của các ngân hàng. Kinh nghiệm kiểm soát của giới quan liệu kế thừa từ trong chiến tranh và tâm lý mạnh mẽ chống lại các doanh nghiệp lớn của SCAP, và phổ biến trong xã hội đã có tác dụng đấy mạnh xu hướng thay thế một phần sự kiểm soát của các cổ đông bằng sự kiểm soát của giới quan liêu đối với các tổ chức tài chính.

Nguồn: Ngân hàng Nhật Bản, Keizai Tokei Nenpo (thống kê kinh tế hàng năm).

Chú thích và nguồn tài liệu tham khảo: Tiền gửi có thời hạn và tổng số tiền gửi là đối với tất cả các ngân hàng (Zenhoku ginko) có được từ Ngân hàng Nhật Bản, Keizai Tokei Nenpo (thống kê kinh tế hàng năm). Giá trị thuần và tổng tài sản của các hãng kinh doanh lớn có được từ Shupo Kigyo Jiguo Seiseki Bunsenki của Viện nghiên cứu kinh tế Mitsubishi trừ năm 1945, 1946, 1965, 1975. Các số liệu của các năm 1945 và 1946 là từ Okura-sho (Bộ tài chính) ShowaZaisei-shi lịch sử tài chính thời kỳ Chiêu hóa tập 13, trang 754-755 và các số liệu của các năm 1965 và 1975 là từ Ngân hàng Nhật Bản, suya Kigyo Keiei Bulseki TSPQD là từ Kazushi OhkaWà và Miyokei shinohara (1979), Các mô hình phát triển kinh tế Nhật Bản (New Haven: Nxb Đại học Yale) và chỉ số giảm phát TSPQD từ Lịch sử 100 năm Ngân hàng Nhật Bản (thống kê). Các số liệu là của cuối năm hoặc mức trung bình hàng năm trừ cột thứ hai là số liệu vào cuối nửa đầu của năm tài chính.

 

        (Để xem toàn bộ bảng biểu số liệu, xin tải tệp đính kèm)


[1] Teranishi, 1993

Chiến tranh lạnh với sự phát triển của các lý thuyết triết học cùng với hoàn cảnh cụ thể về sự chuyển biến của khu vực cũng như thế giới như học thuyết về quyền lực mềm, quyền lực cứng, quyền lực thông minh được vận dụng để phát triển chính thức thành học thuyết cho an ninh quốc gia và lúc này an ninh phi truyền thống cũng xuất hiện. Các học giả nghiên cứu về khoa học chính trị, an ninh quốc gia cho rằng, an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện. An ninh phi truyền thống mang tính xuyên quốc gia do những mối uy hiếp, đe dọa của các nhân tố bên trong và bên ngoài đối với môi trường sinh tồn và phát triển của cộng đồng xã hội mỗi quốc gia trong mối quan hệ chặt chẽ với khu vực và thế giới

Trong bối cảnh tranh chấp quốc tế, chủ nghĩa khủng bố diễn biến phức tạp, thiên tai và các sự kiện gây thiệt hại môi trường nghiêm trọng diễn ra trên phạm vi toàn cầu, chính sách an ninh của Nga bắt đầu chuyển từ mở rộng sang thu hẹp dần phạm vi ảnh hưởng, từ đó dần hình thành nên các quan niệm an ninh mới, kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh. Quan niệm an ninh quốc gia mới của Liên bang Nga chủ yếu thể hiện trong các văn kiện quan trọng như “Chiến lược an ninh quốc gia Liên bang Nga”, “Chiến lược chính sách ngoại giao Liên bang Nga”, “Học thuyết quân sự Liên bang Nga”... Thừa hưởng thành quả của hệ thống lý thuyết an ninh trước khi Liên Xô giải thể, các quan điểm an ninh mới của Nga có xu hướng đi sâu hệ thống hóa, quay trở lại đi sâu tìm hiểu, xác định nội hàm các khái niệm an ninh và an ninh quốc gia. Trong đó, nhấn mạnh một số nội dung chủ yếu sau[1]:

Thứ nhất, an ninh xã hội có vai trò quan trọng trong hệ thống các quan niệm an ninh mới của Nga, cho rằng các thành phần xã hội là nhân tố chủ yếu đảm bảo sự vận hành ổn định và phát triển của Nhà nước. Luật An ninh Liên bang Nga năm 1992 đã định nghĩa an ninh như sau: An ninh là trạng thái các lợi ích quan trọng của cá nhân, xã hội và quốc gia được bảo hộ tránh khỏi các uy hiệp từ bên trong và bên ngoài. An ninh quốc gia là một loại trạng thái của xã hội (nhà nước); trong trạng thái này, xã hội là một hệ thống phức tạp, có đầy đủ năng lực duy trì tính hoàn chỉnh và tính ổn định của nó, và có thể phát huy hiệu quả chức năng và năng lực duy trì sự phát triển, có năng lực đáng tin cậy bảo vệ bản thân và các lợi ích thiết thân của nó, khiến cho nó tránh được các tổn hại đến từ bất kỳ nhân tố bên trong và bên ngoài nào. Từ đây có thể thấy, để bảo vệ an ninh quốc gia, đầu tiên cần phải bảo đảm xã hội và các hình thức, phương thức hoạt động của nó, không ngừng được hoàn thiện, thông qua hàng loạt các cuộc cải cách kịp thời và liên tục, sẽ khiến cho nó đáp ứng được sự phát triển của sức sản xuất xã hội và yêu cầu của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Chỉ có trên cơ sở đó, mới có thể bảo đảm tính hoàn chỉnh, tính ổn định của xã hội, cũng như bảo đảm sự vận hành hiệu quả và năng lực phát triển. Nếu như không bảo đảm được các điều trên, xã hội và quốc gia không chỉ rất khó đấu tranh với các nguy cơ phát sinh, mà thậm chí có thể gây ra hàng loạt các nguy cơ tiềm ẩn khác.

Thứ hai, quan niệm an ninh mới của Nga thừa nhận tính đa dạng của chủ thể an ninh. Quan niệm này chỉ rõ chủ thể của an ninh là cá nhân, xã hội và quốc gia, nhưng Nhà nước vẫn là chủ thể an ninh lớn nhất và hoàn thiện nhất; công dân, tổ chức xã hội và các đoàn thể xã hội khác cũng là chủ thể của an ninh. “Chiến lược an ninh Liên bang Nga” phê chuẩn năm 1997 chỉ ra: “Tổng hòa lợi ích căn bản của các cá nhân, xã hội và quốc gia tạo thành hệ thống lợi ích quốc gia của Nga, cần bảo đảm an ninh của cá nhân, xã hội và quốc gia tránh khỏi các uy hiếp bên trong và bên ngoài”; “Chiến lược chính sách đối ngoại của Liên bang Nga” năm 2000 đã nhấn mạnh, trên phương diện đối ngoại, ưu tiên cao nhất trong phương châm ngoại giao của Liên bang Nga là bảo vệ lợi ích của cá nhân, xã hội và quốc gia. Đồng thời, giữa các chủ thể an ninh này luôn duy trì mối liên hệ mật thiết, hữu cơ với nhau, trong đó an ninh của một chủ thể bị phá vỡ, thì không thể không ảnh hưởng đến an ninh của các chủ thể khác. Bởi vì cá nhân là bộ phận cấu thành của các quần thể xã hội, quần thể xã hội lại là bộ phận cấu thành của hệ thống xã hội hết sức phức tạp. Hơn nữa, trong thời đại toàn cầu hóa, bản thân quốc gia và toàn bộ xã hội lại là bộ phận cấu thành của các khu vực và tập đoàn rộng lớn hơn, các sự kiện phát sinh trong khu vực và quan hệ của các quốc gia trong khu vực đều ảnh hưởng đến an ninh quốc gia khu vực này. Mà khu vực và các tập đoàn nhà nước lại liên hệ với nhau và có vai trò tác động lẫn nhau trong phạm vi của xã hội quốc tế. Chính vì vậy, tất yếu phải nghiên cứu vấn đề an ninh khu vực, tập đoàn và toàn cầu.

Thứ ba, quan niệm an ninh mới của Nga cho rng, nội hàm lĩnh vực an ninh là hết sức rộng lớn, trong đó các lĩnh vực an ninh chủ yếu được xác định cụ thể trong một số văn kiện quan trọng. Đó là: an ninh chủ quyền, an ninh lãnh thổ, an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh tài nguyên dân sổ, an ninh khoa học kỹ thuật và thông tin, an ninh môi trường... Đồng thời, cho rằng an ninh trên các phương diện này có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, đều gắn liền với lợi ích quốc gia và cá nhân, là những lĩnh vực an ninh tất yếu phải bảo đảm. Chính vì vậy, quan niệm mới này cho rằng các vấn đề an ninh mới mà nước Nga sẽ phải đối diện trong tương lai đó là ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn nguyên liệu, vấn đề dân số và di dân quy mô lớn, phân tầng và bạo lực xã hội, buôn lậu, chủ nghĩa khủng bố...[2] Nhưng hiện nay, những uy hiếp đối với an ninh nước Nga lại đến từ các giai tầng xã hội và các hoạt động của đoàn thể, tập đoàn xã hội; họ mong muốn bằng các hành động phi pháp và hợp pháp nhằm làm thay đổi hệ thống pháp luật và chế độ hiện hành, thay đổi cơ chế vận hành của Nhà nước và toàn bộ xã hội; cùng với đó là những uy hiếp đến từ các thế lực bên ngoài phi đối địch và phi quân sự.

Như vậy, có thể thấy rằng, quan niệm an ninh mới của Nga xác định các lĩnh vực an ninh truyền thống như quân sự, lãnh thổ, chủ quyền... và các lĩnh vực an ninh phi truyên thông như chính trị, kinh tế, xã hội sinh thái và thông tin... đều thuộc về lĩnh vực an ninh quốc gia. Đồng thời, nếu một quốc gia phát sinh các vấn đề an ninh phi truyền thống sẽ tạo ra hoặc làm gia tăng các uy hiếp của an ninh truyền thống. Bên cạnh đó, sự tồn tại của những uy hiếp an ninh truyền thống cũng sẽ làm giảm đi năng lực đối phó của nhà nước với các vấn đề an ninh phi truyền thống.

 


[1] Phó Dũng, An ninh phi truyền thông và Trung Quốc, Nxb.Nhân dân Thượng Hải, Thượng Hải, 2007, tr.l 16.

[2]Phó Dũng, “An ninh phi truyền thống và Trung Quốc, Nxb.Nhân dân Thuợng Hải, Thượng Hải, 2007, tr.l 17.

1. Quan hệ giữa các công ty

Hệ thống kinh tế thị trường luôn lấy cạnh tranh là nhân tố cơ bản thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển trên cơ sở của Luật thương mại, trong đó có các quy định về Luật chống cartel. Bản chất của cartel (cácten) là sự thỏa thuận hợp tác giữa các công ty trong thị trường tiểu quyền về những điều kiện liên quan đến giá cả, sản lượng .v.v… nhằm đạt được những mục tiêu như tối đa hoá lợi nhuận hay gây khó khăn cho sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới. Đây là yếu tố chủ yếu làm giảm cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Các thành viên Cartel phải trả một khoản phụ phí để đảm bảo rằng họ quyết tâm thực hiện những mục tiêu nêu ra trong cartel.

Các doanh nghiệp trong cartel hành động thống nhất và tối đa hoá lợi nhuận như một nhà độc quyền khi liên kết với nhau, vì vậy người ta còn gọi cartel là độc quyền nhóm hay tập đoàn độc quyền. Khi phân tích cartel, các nhà kinh tế quan tâm đến những điều kiện dẫn tới sự mất ổn định của nhóm tức các nguyên nhân phá vỡ cartel. Đặc biệt, vấn đề gian lận trong cartel được các nhà kinh tế quan tâm nhiều nhất. Ngoài cartel của các doanh nghiệp, trên thế giới còn có Cartel của các nước, tức hiệp định giữa các quốc gia nhằm ổn định giá cả và sản lượng hoặc một số phương diện khác của thị trường. OPEC (tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ) là ví dụ điển hình về loại cartel này.

Ví dụ, có ba công ty A - B – C cùng sản xuất và bán xe đạp. Mỗi công ty đều tìm cách sản xuất xe đẹp hơn và bán ngày cầng rẻ hơn. Mỗi công ty luôn tìm ra những phương pháp để sản xuất tốt và giảm giá thành. Phong trào này tạo cơ hội cho mỗi công ty mở rộng thị trường tiêu thụ. Song phong trào này cũng là sự may rủi cho từng công ty và có vấn đề phá sản công ty với rủi ro này công ty nào cũng phải tính đến để đối phó. Làm sao để giảm rủi ro này? Ba công ty A B, C có thể thỏa thuận: cam kết cùng bán xe đạp không hạ hơn 100 USD đồng loại. Như vậy, đó là những cácten về giá. Họ cũng có thể thỏa thuận (A) chiếm thị trường Bắc Việt Nam, (B) thị trường miền Trung và (C) thị trường miền Nam. Như vậy A, B, C phân chia thị trường theo lãnh thổ. Hậu quả của thỏa thuận này là không có ganh đua nữa và sẽ có những xe đạp tồi và giá cao, làm người tiêu dùng bị thiệt hại. Do vậy, Nhà nước phải làm sao để không xảy ra trường hợp này. Muốn làm thế phải có luật và cơ quan chuyên về vấn đề này. Các quy định cơ bản của luật này phức tạp, nhưng có vấn đề cấm định giá trước và cấm quy định vùng ảnh hưởng của thị trường. Có những chế tài khác nhau như: a) Tuyên bố các thỏa thuận cácten là không có giá trị pháp lý/ b) Phạt những công ty định ra những cácten. Phạt tiền là thường dùng. Nhưng ở Mỹ có cả quy định về việc phạt tù người đứng đầu công ty; c) Cho phép người bị hại do lập cácten đòi bồi thường thiệt hại. Ở Mỹ quy định người tiêu dùng có thể đòi bồi thường gấp ba lần số tiền bị thiệt hại. Nếu A, B, C bị cấm cácten, nhưng họ lại muốn tránh thất bại trong cạnh tranh thì A, B, C có thể liên kết với nhau thành một công ty nhất định (đối vốn).

Mỗi công ty trong A, B, C đưa cơ sở sản xuất của mình vào công ty đối vốn mới này. Do vậy chỉ còn một công ty và rõ ràng là chỉ có một nhà tư bản độc quyền. Có hệ thống pháp luật quy định rằng sự liên kết dẫn đến độc quyền phải được Nhà nước cho phép. Để kiểm tra việc liên kết này phải có thủ tục phức tạp. Trong những điều kiện nhất định các công ty lớn sản xuất tốt hơn và chất lượng cao so với công ty nhỏ và không cần kiểm tra. Vấn đề là phải kiểm tra các công ty lớn của nước ngoài. vấn đề cạnh tranh với công ty nước ngoài cùng sản xuất loại hàng đó. Việc liên kết nói trên nói chung ít gây hại hơn so với việc lập cácten. Việc định giá ở đây thường theo giá công ty sản xuất ít hiệu quả nhất. Ví dụ công ty (C) sản xuất ít hiệu quả, nên A, B lấy giá (C) và như vậy A, B càng lợi. Nếu (A) mạnh thì B, C có thể dựa vào (A) để cạnh tranh với công ty khác của nước ngoài. Nhưng làm như vậy thì các công ty này lại tự kiềm tỏa nhau. Nói cách khác, cácten giá và lãnh thổ ít có lợi cho người tiêu dùngnên ở Đức pháp luật cấm hai loại đó. Việc kiểm soát chúng cực kỳ khó ngay tại cả các nước sản xuất công nghiệp lớn như Mỹ, Nhật.

+ Ví dụ (A) hoạt động mạnh ở Hng Kông. Đa số thương nhân mua - bán xe đạp của (A). Sau đó (A) đến các đại lý với điều kiện là chỉ được bán xe đạp của (A) chứ không bán xe đạp của B, C. Phần trên đã nói sự ràng buộc theo chiều ngang giữa A, B, C. Nhưng ràng buộc giữa (A) và đại lý là ràng buộc theo chiều dọc. Sự ràng buộc này cũng làm cho cạnh tranh không còn nữa, vì người tiêu dùng chỉ thấy có một loại xe đạp của (A). Các nước phát triển công nghiệp cấm loại quan hệ ràng buộc theo chiều dọc này.

+ Ví dụ (A) có vị trí mạnh ở khắp Việt Nam, (B) và (C) là công ty nhỏ hơn có bán xe đạp ở những vùng lãnh thổ nhất định hẹp của Việt Nam. Như vậy (A) đòi giá một xe đạp là 80 USD ở vùng có cạnh tranh với B, C, còn những vùng khác thì giá 150 USD. (A) biết rng B,C sản xuất xe đạp phải chi đến 90 USD nên (A) mới định giá xe đạp của mình là 80 USD. Ở Mỹ và các nước EEC coi việc làm này là không được phép. Nhà đương cục có quyền ngăn cản (A) tùy tiện định giá như vậy, mà buộc (A) phải định giá thống nhất, Ở đây Bộ Tư pháp liên bang Đức có Cục cartel liên bang. EEC có UB thi đua (cạnh tranh), là cơ quan hành pháp của EEC, có chức năng tương ứng như chính phủ các nước cộng đồng.

2. Quan hệ giữa công ty với tư nhân

Đối vi công ty bán hàng cho cá nhân (nhân dân) và những người làm dịch vụ trong nhân dân, trước hết cần chú ý các quy định đặc biệt về vấn đề này. Phải chú ý rằng thị trường có tính chất quyết định. Ví dụ xe đạp của (B) tốt thì người ta mua của (B). Nhiều trường hợp dùng luật dân sự. Nếu ông (X) mua xe đạp của (A) và thấy chất lượng không tốt nên yêu cầu trả lại tiền thì (X) khiếu tố tại Tòa án để đòi (A) trả lại tiền.

Người tiêu dùng có thể được bảo vệ quyền lợi qua luật Carten và các quy định về bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Đức, cách đây 100 năm đã có những vấn đề này.

Cách đây hơn 100 năm đã thấy những mặt hàng được bán cho những người tiêu dùng, đặc biệt là người nghèo, thông qua việc bán nợ, trả dần. Để làm việc đó các công ty đã ký hợp đồng với người tiêu dùng về việc thanh toán. Có trường hợp người mua hàng không trả được tiền theo quy định vì bị thất nghiệp v.v... Đối với trường hợp không trả đủ tiền theo hợp đồng, người mua hàng phải trả lại hàng đã mua, nhưng không có quyền đòi lại tiền đã trả. Đến năm 1894 trong luật của Đức có quy định, trong trường hợp đó hợp đồng bị hủy, người bán đòi lại hàng với nguyên tắc trừ đi số tiền đã làm hao mòn hàng và trả lại người mua số tiền còn lại. Như vậy, quyền tự do mua bán, tự do hợp đồng được bảo vệ.

Trong thời gian qua một số hợp đồng loại đó đã gây hại cho người tiêu dùng. Các lập luận về tự do mua bán, tự do hợp đồng không còn phù hợp nữa vì đa số người mua không có trình độ pháp lý hoặc kỹ thuật cần thiết nên khi mua hàng vẫn bị các rủi ro. Đó là chưa nói đến trường hợp người tiêu dùng phải tuân theo các quy định của chủ hàng. Ngoài ra vẫn còn một số quy định về dịch vụ công cộng thường ngày không bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng. Có thể có những rủi ro xảy ra ở đây, nhưng rất ít. Pháp luật có các quy định để điều chình các quan hệ này. Nhưng trên thực tế người ta cố tìm cách để chứng minh người tiêu dùng đã có lỗi.

Từ năm 1894 có luật cấm các nhà buôn thỏa thuận với nhau những biện pháp trái với tập quán trong nước về buôn bán và gây hại cho người tiêu dùng. Hiện nay đạo luật này gây nhiều tranh luận, vì luật cấm nhà buôn thỏa thuận với nhau những điều gây hại cho người cạnh tranh mình. Từ những năm 20 và 50, các Tòa án ngày càng ít vận dụng luật này và coi nó như biện pháp bảo hộ người tiêu dùng trong một hội nhất định. Các hội loại này thường mang tính gia đình. Ngoài ra, các quảng cáo gây nhiễu cho khách hàng cũng bị cấm (ví dụ thông qua điện thoại gọi quảng cáo bán sản phẩm).

Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định trách nhiệm của người sản xuất hàng không được gây hại cho người tiêu dùng. Ví dụ: công ty (A) sản xuất xe máy. Ông (H) mua tại cửa hàng một xe máy của (A) nhưng khi sử dụng phầnh bị hỏng, (H) bị thương. Khi rnua xe (H) đã ký hợp đồng với cửa hàng, nhưng cửa hàng vốn nhỏ, không đủ bồi thường thiệt hại. Liệu (H) có quyền đòi (A) bồi thường không? Theo luật dân sự (H) chỉ kiện cửa hàng về việc cửa hàng làm việc thiếu trách nhiệm. Vấn đề là (H) không biết tình hình nội bộ của công ty (A) không biết ai gây ra sai sót đó. Hiện nay EEC có chủ trương buộc những người sản xuất ra các nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu trách nhiệm do sản phẩm không bảo đảm chất lượng. (A) chỉ được miễn trách nhiệm khi chứng minh được tai nạn gây ra do bất khả kháng. Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng được bảo hộ.

1. Bối cảnh quốc tế

Quá trình độ thị hóa ở các quốc gia ngày một tăng cao sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ các loại thực phẩm giày dinh dưỡng, an toàn cho sức khỏe và thân thiện với môi trường tăng lên. Bên cạnh đó dân số thế giới được dự đoán sẽ tăng lên 1,1-1,2%/năm khiến cho nhu cầu sản xuất lương thực, thực phẩm trên thế giới tăng lên mỗi năm. Tuy nhiên, theo dự báo của FAO, ước tính trong bốn thập niên tới, số dân thế giới sẽ tăng thêm khoảng 2,3 tỷ người, lượng lương thực sẽ cần nhiều hơn 70% so với sản lượng hiện nay, trong khi sản lượng có thể giảm từ 20 - 30% do tình trạng biến đổi khí hậu và dịch bệnh gây nên sẽ là một trong những khó khăn của các quốc gia.

Bên cạnh đó, toàn cầu hóa vẫn là xu thế tất yếu với mức độ ngày càng sâu rộng hơn nên các quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu là nông nghiệp sẽ có cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục cho thị trường nông sản xuất khẩu, thu hút đầu tư, tiếp thu công nghệ, kỹ năng quản lý, để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp. Vì vậy, thương mại toàn cầu tăng chậm hơn dự báo do những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ; căng thẳng thương mại giữa các nước lớn cùng với xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ thông qua những rào cản kỹ thuật ngày càng cao và tinh vi hơn sẽ là trở ngại lớn đối với các nước đang phát triển dựa vào nông nghiệp và xuất khẩu nông sản.

Theo dự báo, kinh tế thế giới phục hồi trong năm 2019, sau đó sẽ giảm dần, đến năm 2022 tăng trưởng sẽ đạt khoảng 3,7% với việc tăng chậm lại của các nền kinh tế chủ chốt. Việc nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất sẽ giúp tăng năng suất và chất lượng nông sản; nhưng các quốc gia xuất khẩu lớn về nông lâm thủy sản như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan với thế mạnh về khoa học công nghệ sẽ gia tăng áp lực đến sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

Các yếu tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực còn phải kể đến tình hình chính trị bất ổn và bạo lực, xung đột vũ trang ở một số nơi trên thế giới là một trong những động lực chính của nạn đói và mất an ninh lương thực. 

Biến đổi khí hậu cũng có tác động trực tiếp và mạnh nhất đến nguồn cung lương thực, đang làm suy yếu tất cả các khía cạnh của an ninh lương thực: (i) Sự sẵn có của thực phẩm (làm giảm năng suất, suy yếu sản xuất thực phẩm và tăng nhập khẩu thực phẩm); (ii) Tiếp cận thực phẩm (gây ra đột biến về giá lương thực và giảm thu nhập cho người phụ thuộc vào nông nghiệp). Các thảm họa do biến đổi khí hậu tạo ra và duy trì nghèo đói, góp phần làm tăng tình trạng mất an ninh lương thực và suy dinh dưỡng cũng như tính dễ bị tổn thương hiện tại và tương lai đối với các thái cực khí hậu, đồng thời tác động đến sinh kế, góp phần làm tăng nguy cơ mất an ninh lương thực và suy dinh dưỡng. 

- Về đa dạng dinh dưỡng và An toàn thực phẩm (ATTP): Theo FAO, do điều kiện phát triển kinh tế, khoa học công nghệ và vị trí khác nhau, nên tình trạng đói nghèo, suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới vẫn là một vấn đề nóng. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 821 triệu người thiếu đói và hơn 160 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, lâm vào tình trạng chậm phát triển. Vấn đề ATTP cũng góp phần vào tình trạng thiếu dinh dưỡng, cũng như thừa cân và béo phì; nó làm tăng nguy cơ nhẹ cân, thấp còi ở trẻ em và thiếu máu ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.

2. Bối cảnh trong nước

Ở Việt Nam, hiện nay an ninh lương thực và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cần được đặt trong bởi bối cảnh mới có tác động đa chiều tới vấn đề này. Tài nguyên đất đai hạn chế với địa hình ¾ là núi và đặc biệt Việt Nam là 1 trong 5 nước bị tổn thương lớn nhất do tác động của biến đổi khí hậu. Điều này thể hiện rõ qua tần suất, cường độ hạn hán, ngập úng, dịch bệnh… gia tăng trong thời gian qua. Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập, Việt Nam cần cân nhắc, điều chỉnh hoạt động sản xuất, xuất khẩu lương thực từ quy mô đến chất lượng; xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân… Nhà nước cần đảm bảo an ninh lương thực, nhưng vẫn phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường, thu nhập và đời sống của nông dân cũng như các doanh nghiệp kinh doanh lương thực.

Sự ổn định về chính trị, nền kinh tế tiếp tục phát triển với tốc độ cao đem lại môi trường thuận lợi cho phát triển nông nghiêp, nông thôn. Tới năm 2030, tuy tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong GDP dự báo còn dưới 10%, nhưng nông nghiệp vẫn là thế mạnh của nước ta. Nông nghiệp vẫn tạo việc làm và thu nhập cho số lượng lớn lao động. Mặt khác nông nghiệp vẫn phải đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, góp phần quan trọng bảo đảm tính bền vững của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập mang lại những điều kiện thuận lợi và thời cơ để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; thị trường tự do nên người dân có điều kiện tiếp cận lương thực theo nhu cầu.

Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đó là:

- Những hạn chế, yếu kém nội tại của nền sản xuất nhỏ, chậm được khắc phục, Việt Nam là nước có quỹ đất lúa bình quân đầu người thấp, dân số đông lại tăng nhanh, dẫn đến nguy cơ bùng nổ dân số và mất cân đối lương thực;

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan (bão, lũ lụt, hạn hán, quá nóng hoặc quá lạnh...), dịch bệnh gia tăng, năng suất cây trồng suy giảm. Những dự báo cho thấy, thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra có thể lên tới 3 - 5% GDP/năm trong thời gian tới. Do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, nông nghiệp Việt Nam có nguy cơ giảm 7,2 triệu tấn lúa và ảnh hưởng đến 32,2% diện tích đất nông nghiệp vào cuối thế kỷ XXI. Theo IPPC, nếu nhiệt độ tăng thêm 1°C năng suất lúa sẽ giảm khoảng 10%, ngô giảm 5 - 20% và nhu cầu nước tưới tăng thêm 10%. Điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến sản lượng lương thực và đe dọa đến an ninh lương thực và nhóm người nghèo, cận nghèo. Thiên tai và biến đổi khí hậu gây ra những tác động tiêu cực đến sản xuất lương thực đang là yếu tố cản trở sự phát triển bền vững của ngành. Trong khi đó, năng lực chống chịu và thích ứng điều kiện mới và rủi ro của người nông dân ở khu vực nông thôn còn hạn chế và dễ bị tổn thương.

Về nguồn lực và biến đổi khí hậu: Công nghiệp hóa và đô thị hóa tiếp tục phát triển, đòi hỏi thêm không gian, lương thực, nước sạch và cạnh tranh các nguồn lực, đặc biệt là đất và nước đang dành nhiều cho nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất lúa. Dự báo tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 50% năm 2030. Các quá trình này thúc đẩy cạnh tranh các tài nguyên tự nhiên (đất, rừng, nước, biển), sức ép ô nhiễm môi trường, tăng phát thải khí nhà kính, tăng chất thải rắn và nước thải và tăng áp lực khai thác tài nguyên đang trên đà bị cạn kiệt; làm tăng rủi ro thiên tai và phát sinh loại hình thiên tai mới, ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia. Đồng thời, lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển dịch sang các khu vực kinh tế khác, dẫn đến tình trạng thiếu lao động có trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu của sản xut lương thực hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao.

Áp lực cạnh tranh từ Hội nhập quốc tế; tình hình chính trị bất ổn và bạo lực, xung đột vũ trang ở một số nơi trên thế giới là một trong những động lực chính của nạn đói và mất an ninh lương thực.

Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hướng hiện thời trong việc tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất. Nếu Việt Nam kịp thời nắm bắt các công nghệ mới thì có thể đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nền kinh tế khác nói chung và đẩy mạnh sự phát triển của ngành nông nghiệp, ngành sản xuất lương thực thực phẩm nói riêng. Nhưng sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đa phần sử dụng lao động phổ thông. Vậy khi phát triển nông nghiệp công nghệ 4.0 sẽ dư thừa nguồn lao động nông nghiệp, tạo ra bất bình đẳng giữa nông dân công nghệ thấp với nông dân công nghệ cao, xu hướng sẽ gia tăng sau khi công nghệ thay thế dần con người, tác động đến sự ổn định kinh tế-xã hội. Khi phát triển nông nghiệp công nghệ 4.0, lợi thế sản xuất nông nghiệp truyền thống dựa vào điều kiện sẵn có về đất đai, về lao động chân tay không còn, các nước phát triển có thể tự sản xuất lương thực, thực phẩm không sử dụng diện tích đất đai nhiều, với năng suất cao hơn nhiều lần, có thể giảm nhập khẩu hàng nông sản từ Việt Nam, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.

Đối với lĩnh vực phát triển hệ thống an ninh lương thực, dinh dưỡng cần kiện toàn và tăng cường hệ thống giám sát, theo dõi diễn biến sản xuất, dự báo sản lượng lương thực đối với từng địa phương, cảnh báo diễn biến bất lợi thời tiết tác động tới an ninh lương thực để có các giải pháp ứng phó kịp thời có hiệu quả; hoàn thiện hệ thống thông tin và dự báo thị trường lương thực trong và ngoài tỉnh; xây dựng cơ sở dữ liệu về an ninh lương thực. Bên cạnh đó, cung cấp kịp thời, chính xác các thông tin về nhu cầu, thị trường lương thực, thực phẩm trong nước và quốc tế phục vụ chỉ đạo và điều hành sản xuất nông nghiệp để các chủ thể tiếp thu và chấp hành các khuyến cáo một cách kịp thời, hạn chế tình trạng dư thừa sản phẩm khó tiêu thụ. Nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành hàng trong việc cung cấp thông tin thị trường, sản phẩm lương thực thực phẩm.

Phát triển mạng thông tin an ninh lương thực quốc gia để cung cấp cho Chính phủ những số liệu chính xác trong và ngoài nước về sản xuất, thu hoạch, dự trữ, thị trường và xuất khẩu gạo, lương thực thực phẩm.

Đầu tư, xây dựng mạng lưới cảnh báo, dự báo thiên tai, khí tượng thủy văn, theo dõi chặt chẽ quá trình biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi..., đồng thời xây dựng các phương án tổ chức ứng phó kịp thời. Các Bộ, ngành chức năng, các địa phương tăng cường phối hợp chặt chẽ trong quản lý, cung cấp kịp thời, chính xác các thông tin về nhu cầu, thị trường lương thực, thực phẩm ở trong nước và quốc tế.

Xây dựng hệ thống thông tin dự báo về sản xuất, an ninh lương thực, nhu cầu lương thực, thực phẩm, tiêu thụ nông sản ở địa phương, định hướng về chỉ đạo sản xuất. Quan tâm huy động các nguồn lực; tăng cường liên kết, hợp tác với các đơn vị, trung tâm... hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin (Gis, Radar...), hướng đến xây dựng hệ thống thông tin an ninh lương thực chất lượng cao cho nền nông nghiệp.

Để phát triển nền nông nghiệp phát triển vững mạnh cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh lương thực, trong đó tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt đối với các lĩnh vực mang tính khu vực và toàn cầu, xuyên quốc gia ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia, như: biến đổi khí hậu; sử dụng nguồn nước, kiểm soát dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, đào tạo nguồn nhân lực; phát triển khoa học công nghệ; thương mại tiêu thụ sản phẩm...

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong sản xuất, chế biến lúa gạo; tăng cường hợp tác, kết nối thông tin, thiết lập quan hệ với các đối tác trong việc đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến, bảo quản lúa nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng thị trường. Thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác thương mại gạo theo kênh Chính phủ và doanh nghiệp; tăng cường cơ chế hợp tác với hệ thống phân phối lớn ở các thị trường trọng điểm, tiềm năng.

Đồng thời, tập trung tháo gỡ rào cản kỹ thuật, đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu lương thực thực phẩm. Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam sang các thị trường Việt Nam đã ký kết, tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs), nhất là các Hiệp định CPTPP và EVFTA.

Hài hòa hóa tiêu chuẩn, quy chuẩn với khu vực và quốc trong lĩnh vực an ninh lương thực. Chủ động thực hiện các giải pháp phát triển thị trường lúa gạo trong nước và quốc tế; trọng tâm là tháo gỡ các rào cản thương mại, tuyên truyền, quảng bá sản phẩm lúa gạo.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành