Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Theo đó, Luật quản lý thuế đã được ban hành và điều chỉnh sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần chặn đứng đà giảm sút của quy mô thu ngân sách so với tổng sản phẩm trong nước (GDP). Bên cạnh đó yêu cầu cải cách thủ tục hành chính nên việc cải cách thủ tục quản lý thuế hướng tới hoạt động quản lý thuế thống nhất, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, công khai minh bạch, tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác thuế để phòng, chống trốn thuế, thất thu và nợ thuế.

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin việc quản lý thuế cũng cần được số hóa và tạo hành lang pháp lý cho quản lý thuế điện tử được rộng rãi phổ biến phù hợp với nền kinh tế hội nhập, đáp ứng với nhu cầu mua bán bằng phương tiện điện tử và hoạt động việc khai thuế, đăng ký nộp thuế điện tử của doanh nghiệp đã được áp dụng phổ biến. 100% doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đều đã thực hiện các thủ tục hải quan điện tử. Hạ tầng công nghệ thông tin của cơ quan thuế đã đảm bảo kết nối từ Tổng cục (cấp trung ương) tới 63 cục thuế và 100% các chi cục thuế trên cả nước. Do đó, Luật quản lý thuế hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến quản lý thuế điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế.

Luật quản lý thuế cần được xây dựng theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công tác quản lý thuế thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện trên cở sở các nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao.

Ở các nước, mục tiêu cơ bản của một cơ quan thuế là “đạt được mức độ tuân thủ cao nhất có thể được đối với các luật thuế”. Theo đó, tổng số thuế thu được mà có thể dùng cho các chương trình của chính phủ sẽ được tối đa hóa. Trong khi khái niệm này là tương đối đơn giản, có nhiều nhân tố làm phức tạp hóa khả năng đạt được trên thực tế, cụ thể là những điều sau:

Thứ nhất, không phải tất cả đối tượng nộp thuế đều tuân thủ nghĩa vụ thuế, do đó có nhiều cách hoặc nhiều lý do để trốn hoặc trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình; việc xác định và sắp xếp thứ tự các rủi ro về tuân thủ thuế, quyết định cách giải quyết những rủi ro này, cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết giữa các thành phần đối tượng nộp thuế và sắc thuế khác nhau lý tưởng nhất là cần có một quy trình thủ tục được hệ thống hóa để nâng cao các kết quả tổng thể.

Thứ hai, các đạo luật về thuế đều phức tạp và đang ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi cơ quan thuế phải dành ra một phần nguồn lực hạn chế của mình để làm rõ cách áp dụng các luật thuế và giáo dục đối tượng nộp thuế cũng như nhân viên của mình về các yêu cầu của những luật thuế đó.

Thứ ba, đối tượng nộp thuế ngày càng mong đợi nhận được các dịch vụ có tiêu chuẩn cao hơn khi làm việc với cơ quan thuế, đòi hỏi cơ quan này phải có các quy trình cung ứng dịch vụ hiệu quả.

Thứ tư, để hỗ trợ tất cả các hoạt động tiền tuyến”, đặc biệt là hoạt động cung ứng dịch vụ và triển khai biện pháp cưỡng chế, một cơ quan thuế phải đầu tư một phần đáng kể nguồn lực hạn chế của mình để xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng cần thiết, ví dụ, công trình, trang thiết bị, hệ thống công nghệ và đào tạo nhân sự để quản lý hiệu suất.

Xét tới các nhân tố trên, một điều rõ ràng là tính hiệu suất của một cơ quan thuế về bản chất gắn với sự hoàn thành mục tiêu cơ bản của mình. Khi cơ quan thuế được giao các trách nhiệm khác, ví dụ, hoạt động hải quan, các thách thức đối mặt sẽ càng lớn hơn vì phải đáp ứng các yêu cầu bổ sung của những nhiệm vụ đó.

Từ hai đến ba thập kỷ gần đây, sự quan tâm tới tính hiệu quả và hiệu suất của cơ quan thuế đã tăng lên đáng kể do bối cảnh ngân sách hạn hẹp, nhiều chính phủ bắt đầu xem xét kĩ càng hơn “giá trị gia tăng/tỷ lệ hoàn vốn” từ các chương trình khu vực công; các cơ quan thuế với trách nhiệm kép phải đảm bảo vừa thu thuế hiệu quả vừa chi tiêu các nguồn vốn chính phủ cẩn trọng là trọng tâm của mối quan tâm này. Tiến trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ đã làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các cơ quan thuế quốc gia (ví dụ, về chia sẻ thông tin đối tượng nộp thuế) để đáp ứng các nhu cầu hoạt động. Các tổ chức quản lý thuế khu vực đã nổi lên, cho phép tăng cường đối thoại về hầu hết các khía cạnh liên quan tới hoạt động và hiệu quả hoạt động của các cơ quan thuế. Hoạt động của các tổ chức quốc tế, ví dụ, IMF, OECD và Ngân hàng Thế giới nhằm hỗ trợ các nước đạt được các mục tiêu huy động thuế ngày càng hướng tới sử dụng các thông lệ và cách tiếp cận của các cơ quan thuế ở những nước phát triển. Mạng Internet tạo điều kiện tiếp cận kịp thời thông tin liên quan, đóng vai trò chất xúc tác cho chia sẻ kiến thức và tăng cường đối thoại giữa cơ quan thuế và các bên quan tâm.

Nhờ có ngày càng nhiều các ấn phẩm chính thức từ nhiều tác giả khác nhau, như tổ chức quốc tế và tổ chức thuế khu vực trình bày về kinh nghiệm quản lý thuế, sự nhìn nhận sâu sắc về các thông lệ và cách tiếp cận có thể đóng góp đáng kể cho tăng cường tính hiệu suất của cơ quan thuế.

Có nhiều nhân tố mà ở một mức độ nhất định cho thấy có tác động tới tính hiệu suất của quản lý thuế. Chương này sẽ tập trung vào sáu lĩnh vực cốt lõi về khuôn khổ thể chế, cơ chế tổ chức, khuôn khổ pháp luật hành chính, hệ thống quản trị, quy trình hoạt động, hệ thống thông tin liên lạc và công nghệ thông tin, quản lý nhân lực, khuôn khổ thể chế.

Nhu cầu thiết lập một hệ thống thuế quốc gia làm nổi lên vấn đề căn bản là những cơ chế thể chế nào là phù hợp nhất để đảm bảo hiệu quả hoạt động tối ưu. Các cân nhắc quan trọng để đạt được tính hiệu quả và hiệu suất của quản lý thuế bao gồm:

Liệu nên có một cơ quan duy nhất để thu tất cả các sắc thuế, hay có các cơ quan riêng biệt để thu các loại thuế trực tiếp và thuế gián tiếp hay áp dụng một cơ chế khác?

Cơ quan nào nên chịu trách nhiệm cho việc thu và cưỡng chế thu các đóng góp an sinh xã hội?

Các lĩnh vực khác thuộc trách nhiệm chính phủ, như hải quan, phúc lợi, thu các khoản nợ không bao gồm thuế có nên được tổ chức phù hợp với các hoạt động quản lý thuế để tận dụng các lợi thể liên quan tới hiệu quả và hiệu suất không?

Cơ quan thuế nên được trao những quyền lực gì và mối quan hệ của cơ quan này với các bộ phận khác của chính phủ, ví dụ, bộ trưởng tài chính và Bộ Tài chính ra sao?

Thứ tư, 29 Tháng 5 2019 04:06

TIÊU CHÍ VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Hoạt động ngân sách Nhà nước là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước mang tính đa dạng, phong phú được tiến hành ở hầu hết các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Các hoạt động thu chi ngân sách luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật lệ nhất định. Bản chất của hoạt động thu chi ngân sách Nhà nước luôn là sự gắn kết giữa kinh tế với chính trị. Trong các quan hệ lợi ích, thì lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể luôn được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nước.

Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu ngân sách Nhà nước nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và là quá trình phân phối và phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước trên các lĩnh vực trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Thu ngân sách Nhà nước hoàn toàn không giống bất kỳ một hình thức thu của một loại quỹ nào. Thu ngân sách Nhà nước phần lớn đều mang tính bắt buộc, điều này xuất phát từ quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước đối với nên kinh tế xã hội nên việc cần phải có dự báo thu ngân sách Nhà nước đều phân phối, và phân phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chắc năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên các lĩnh vực trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Vấn đề cốt lõi trong dự báo thu là cách thức ước tính các chỉ tiêu kế toán về thu. Tất cả các chính phủ đều quyết toán trên cơ sở tiền mặt và có nhu cầu ước tính số thu trên cơ sở tiền mặt, tuy nhiên, ngày càng nhiều quốc gia đang duy trì hệ thống kế toán trên cơ sở dồn tích sửa đổi hoặc dồn tích đầy đủ. Bên cạnh đó, trong quá trình dự báo thu, có trường hợp có những thay đổi về tình hình kinh tế được cho là liên quan trực tiếp đến những thay đổi về nghĩa vụ thuế nhưng những thay đổi đó chỉ diễn ra sau qua những thay đổi về thu thuế đối với những nghĩa vụ đó. Ví dụ, nếu cơ sở thu được mở rộng ra do tăng trưởng kinh tế thực, trước hết, cơ sở thu tăng thêm sẽ phát sinh tăng nghĩa vụ thu từ thuế, sau đó, Cơ quan thuế sẽ nỗ lực thu càng nhiều càng tốt từ nghĩa vụ mới tăng lên này trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể, nhưng bên cạnh đó, biến động về số thu giữa các năm cũng có thể phản ánh cả những thay đổi về tuân thủ thuế và thay đổi về kết quả thu nghĩa vụ thuế chưa thực hiện của các năm trước đó.

Việc xác định nghĩa vụ thuế còn phụ thuộc vào vấn đề ấn định thuế theo luật. Trong trường hợp thuế tự khai, tự nộp, việc kê khai thuế do đối tượng nộp thuế thực hiện vào cuối kỳ thuế hoặc sau đó, thậm chí còn sau đó nữa sau khi nghĩa vụ thuế được Cơ quan thuế kiểm toán lại. Điều này khiến cho công tác dự báo và lập ngân sách đối với nguồn thu từ thuế tự khai, tự nộp trở nên khó hơn; mặc dù, như sẽ được thảo luận ở phần dưới, điều thiết yếu là phải phân biệt rõ giữa mức thuế được ấn định và số thu nộp khi dự báo về số thu từ thuế, đặc biệt khi có những biến động về xu hướng nợ đọng hoặc thanh toán hoàn thuế. Trong trường hợp thu phát sinh từ phí sử dụng dịch vụ hoặc thuế do cơ quan thuế ấn định, cơ quan thuế có thể xác định nghĩa vụ thuế trong kỳ tài chính và xác định được số thu dồn tích cho kỳ đó, tách bạch rõ với số thu nhận được. Một ví dụ có thể đưa ra là thuê bất động sản do cơ quan thuế tính, vì cơ quan thuế thực chất là đơn vị xác định giá trị của bất động sản và nghĩa vụ thuế trước hoặc trong kỳ thuế.

Thay đổi số thu ròng phải thu có thể phát sinh do thay đổi về dư nợ đọng thuế hoặc cũng có thể do thay đổi về dư hoàn thuế phải trả hoặc thay đổi về dư khấu trừ thuế đầu vào hoặc tổn thất thuế hoặc giảm trừ được chuyển nguồn. Số thu từ thuế trong kỳ có thể tăng nếu hiệu lực công tác thu nợ đọng được tăng cường nhưng cũng có thể giảm khi phát sinh chậm trễ thêm do người nộp thuế nhận hoàn thuế hoặc tính khấu trừ thuế đầu vào. Trong thực tế, số thu nộp thuế có thể cao hơn số thu đầy đủ từ nghĩa vụ thuế nếu ANR âm, đó là trường hợp các kỳ bị chậm trễ kéo dài bất thường về hoàn thuế hoặc khấu trừ thuế đầu vào.

Một vấn đề quan trọng cần phân biệt trong các chỉ tiêu đo lường số thu để phục vụ mục đích dự báo thu là phân biệt giữa nghĩa vụ thuế và số thu nộp qua tuân thủ tự nguyện so với nghĩa vụ thuế và số thu nộp qua các biện pháp cưỡng chế hành chính. Các nội dung thu qua tuân thủ tự nguyện thường biến động theo tình hình kinh tế thay đổi, gây ảnh hưởng đến cơ sở thu và mong muốn nộp của đối tượng nộp thuế. Thay đổi về cưỡng chế hành chính có thể độc lập với những thay đổi về điều kiện kinh tế. Nghĩa vụ thu cưỡng chế bao gồm nghĩa vụ thu được tính lại qua kiểm toán cộng thêm cả lãi suất, tiền phạt. Số thu nộp ròng bị cưỡng chế bao gồm cả các hình thức thu nợ, thanh toán hoàn thuế khi thay đổi về số phải thu ròng.

Mặt khác, dự báo thu từ thuế dựa trên dự báo các yếu tố quyết định về kết quả tính thuế. Do vậy, điểm khởi đầu cho một dự báo thu từ thuê bất kỳ là phải hiểu được các yếu tố quyết định về nghĩa vụ thuế trong kỳ thuế. Tăng thu từ thuế giữa kỳ này với kỳ tiếp theo phụ thuộc vào thay đổi trong các yếu tố quyết định đó. Các mô hình dự báo thuế khác nhau giả định rằng nhiều yếu tố quyết định không đổi giữa các kỳ và chỉ tập trung vào các yếu tố chính hoặc cụ thể, như tăng trưởng thực về quy mô nền kinh tế. Việc lựa chọn cách thức đơn giản hoá các giả định tuỳ thuộc vào khả năng áp dụng hoặc ước tính tác động cho các yếu tố khác nhau của mô hình hoặc/và dữ liệu sẵn có về thuế và các yếu tố quyết định.

Trong các cơ cấu thuế đơn giản, nếu thu từ thuế (R) được tính theo thuế suất duy nhất (t) với cơ sở thu là (B), ta có R = tB. Trong trường hợp thuế suất cụ thể hoặc theo đơn vị, cơ sở thu chính là khối lượng, và trong trường hợp thuế theo trị giá, cơ sở thu chính là giá trị danh nghĩa (có nghĩa là giá danh nghĩa, p, nhân với khối lượng, Q hoặc B = opQ). Số lượng trong cơ sở thu về phần mình lại được xác định bởi hàng loạt các yếu tố kinh tế. Nếu cơ sở thu là giá trị bán hàng, số lượng hàng bán ra chịu tác động bởi thu nhập của người mua, giá cả của hàng hoá đó (trong trường hợp này là p) và giá của hàng hoá bổ sung hay thay thế cho hàng hoá chịu thuế. Giá cả của hàng hoá do người tiêu dùng chi trả ảnh hưởng đến số lượng theo nhu cầu nhưng bản thân nó cũng bị ảnh hưởng bởi thuế suất (t) tính trên hàng hoá đó, tuỳ theo điều kiện thị trường. Nếu doanh số bán bia được dùng để tính thuế, khối lượng bia bán ra sẽ bị ảnh hưởng bởi thu nhập của người mua bia, giá bia, và giá của các sản phẩm đồ uống có cồn và không cồn cạnh tranh với mặt hàng bia, cũng như giá cả của các hàng hoá khác. Giá của bia và các đồ uống cạnh tranh cũng sẽ phụ thuộc vào thuế suất đánh trên bia và các loại đồ uống và hàng hoá khác. Do đó, dự báo về thu từ bia còn phụ thuộc vào thay đổi dự kiến về thu nhập, giá bia, giá cả của các đồ uống cạnh tranh khác và các hàng hoá khác, cũng như thay đổi thuế suất đối với bia, và các đồ uống khác để có thể ước tính ra doanh số bán bia và sau đó là cơ sở thu từ thuế đánh trên bia. Nếu đồ uống có cồn phải chịu các loại thuế cụ thể, thì giá cả tương quan của các đồ uống đó dự kiến có thể thay đổi theo thời gian và tạo ra sự dịch chuyển lớn về cơ sở thu từ thuế do thay đổi tương quan về giá cả, và yếu tố đó cần được cân nhắc khi dự báo thu. Nếu toàn bộ đồ uống và các loại hàng hoá khác đều phải chịu cùng một cơ cấu thuế đánh theo giá trị thống nhất, thì tác động về giá không quá quan trọng, mà trọng tâm phải là thu nhập tăng trưởng và tác động của nó đối với cơ sở thu thuế từ bia, các loại đồ uống và hàng hoá khác.

Cơ cấu thuế suất thường khá phức tạp. Thuế suất có thể biến đổi theo quy mô của cơ sở thu, như thuế suất cận biên tăng lên đối với thuế thu nhập cá nhân, hay các mức thuế suất khác nhau được áp dụng theo các cách xác định cơ sở thu khác nhau, ví dụ các loại hàng hoá nhập khẩu khác nhau được áp các mức thuế suất thuế nhập khẩu khác nhau. Cơ cấu thuế suất phức tạp được tổng hợp thành thuế suất hiệu quả, chính là tỷ lệ giữa nghĩa vụ thuế chia cho giá trị của cơ sở thu thuế đó. Thuế suất hiệu quả thường được đo lường bằng cách lấy số thu nộp chia cho giá trị của cơ sở thu từ thuế. Ở đây, điều cần thiết là phải phân biệt được thuế suất hiệu quả theo tính toán tổng nghĩa vụ thuế chia cho cơ sở thu từ thuế) và thuế suất hiệu quả thực thụ tổng thuế thực thu chia cho cơ sở thu từ thuế phản ánh đồng thời kết quả thu và hoàn thuế.

Việc dự báo số thu nộp thuế phụ thuộc vào mức độ chuyển đổi của dự báo nghĩa vụ thuế thành số thu nộp trong kỳ. Điều này phụ thuộc vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế trong việc nộp nghĩa vụ thuế cũng như chất lượng công tác quản lý thu và hoàn thuế. Số thu nộp thuế trong kỳ là tổng tỷ lệ nghĩa vụ thuế mới phát sinh trong kỳ là nghĩa vụ thuế là số phải trả trong kỳ, thực sự thu được cộng với tỷ lệ số dư thuế phải thu ròng đầu kỳ thu được thường qua các cơ chế thu hoặc cưỡng chế thuế. Biểu thức thay thế về mối quan hệ cơ bản giữa số thu nộp và nghĩa vụ thuế hữu ích hơn vì nó thể hiện sự kết hợp giữa dự báo về nghĩa vụ thuế và dự báo số thu nộp.

Mối quan hệ giữa mức tăng của số thu nộp và nghĩa vụ thuế đóng vai trò quan trọng trong các chiến lược dự báo vì nó cho biết trong những trường hợp nào số thu nộp tăng lên tương ứng với tăng nghĩa vụ thu do thay đổi các yếu tố về tuân thủ hoặc kinh tế có ảnh hưởng đến thuế. Chẳng hạn, tốc độ tăng tương ứng diễn ra khi tuân thủ về thu thuế đạt mức độ hoặc xu hướng tuân thủ và thu số phải thu ròng không đổi theo thời gian. Hiểu biết về mối quan hệ thực sự có vai trò hết sức quan trọng đối với yêu cầu về mặt dữ liệu nhằm dự báo thu cho chính xác: nghĩa là hoặc chỉ dữ liệu thực thu, thực nộp là đủ hoặc cần thêm cả dữ liệu nghĩa vụ thuế làm căn cứ, như được trình bày cụ thể hơn dưới đây qua các mô hình dự báo khác nhau.

Thứ tư, 29 Tháng 5 2019 03:49

VỀ TÊN VÀ BIỂN HIỆU CỦA DOANH NGHIỆP

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định tên doanh nghiệp phải được gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Tên doanh nghiệp phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành[1].

Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa đỉểm kinh doanh. Tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành[2].

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định, tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp phát hành[3]. Vì luật không quy định khổ chữ phải nhỏ hơn bao nhiêu, do đó nhiều doanh nghiệp có thể chỉ viết nhỏ hơn một vài phần trăm, tức nhìn bằng mắt thường không thấy khác nhau, nhưng vẫn đúng luật.

Luật quảng cáo năm 2012 thì quy định cụ thể hơn, trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; khi phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, phải đọc tiếng Việt trưốc tiếng nước ngoài[4].

Riêng đối với các sản phẩm thực phẩm chức năng thì nội dung quảng cáo phương tiện thông tin đại chúng, tò rơi, poster, áp phích phải có dòng chữ hoặc lời đọc “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”, chữ viết phải bảo đảm cỡ chữ Times New Roman 14[5].

Đối với các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12. Thứ hai, nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và đỉều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau[6].

Luật quảng cáo năm 2012 cũng quy định biển hiệu của doanh nghiệp hoặc cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh phải có các nội dung sau: Tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có); tên cơ sở sản xuất, kinh doanh theo đúng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ, điện thoại[7]. Riêng số điện thoại thì không phải là yếu tố bắt buộc phải có đối với một doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp thì không có cơ quan chủ quản, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 cũng như các nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đều không có khái niệm cơ quan chủ quản. Riêng công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, trọng đó có doanh nghiệp nhà nước, thì có thể có cơ quan chủ sở hữu (mà bản chất pháp lý là thành viên duy nhất của công ty). Tuy nhiên, nếu ghi tên cơ quan chủ sở hữu trong trường hợp này thì cũng là điều không hợp lý, vì không bao giờ ghi yếu tố tương tự là tên cá nhân, thành viên hay cổ đông trên tên của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ghi tên mình dưới tên cơ quan cấp giấy phép, giấy chứng nhận là ủy ban nhân dân tỉnh, sỏ Kế hoạch đầu tư,... là sai, thậm chí là vi phạm pháp luật, vì gây nhầm lẫn cho người khác. Nhưng cơ quan này không phải là cơ quan chủ quản. Trong khi đó, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP lại quy định, phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng nếu “không thể hiện đầy đủ trên biển hiệu tên cơ quan chủ quản trực tiếp; tên cơ sở sản xuất kinh doanh theo đúng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; địa chỉ, điện thoại”[8].

Chữ viết trên biển hiệu và trong các sản phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ những trường hợp sau: Nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hóa không thể thay thế bằng tiếng Việt; sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài[9].

Kích thước biển hiệu được quy định như sau: Đối với biển hiệu ngang thì chiều cao tối đa là 2 mét, chiều dài không vượt quá chiều ngang mặt tiền nhà; đối với biển hiệu dọc thì chiều ngang tối đa là 1 mét, chiều cao tối đa là 4 mét, nhưng không vượt quá chiều cao của tầng nhà nơi đặt biển hiệu. Biển hiệu không được che chắn không gian thoát hiểm, cứu hoả; không được lấn ra vỉa hè, lòng đưòng, ảnh hưởng đến giao thông công cộng. Việc đặt biển hiệu phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan có thẩm quyền ban hành[10].

Pháp luật không có quy định cấm làm biển hiệu với kích thước nhỏ xíu hay viết vẽ sơ sài, nghệch ngoạc, tạm bợ. Doanh nghiệp tự quyết định làm thế nào cho biển hiệu bền đẹp, trang trọng, miễn là phải có ba nội dung là tên doanh nghiệp, địa chỉ, điện thoại theo quy định của Luật doanh nghiệp và Luật quảng cáo.

Doanh nghiệp có thể bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng nếu sử dụng biển hiệu lớn hơn kích thưc nêu trên. Nếu có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng: Ghi không đúng hoặc ghi không đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu; không viết bằng chữ tiếng Việt mà chỉ viết bằng chữ tiếng nước ngoài trên biển hiệu; thể hiện tên riêng, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài ở phía trên tên bằng chữ tiếng Việt trên biển hiệu; thể hiện tên gọi, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài có khổ chữ quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt trên biển hiệu; kinh doanh mà không có biển hiệu; quảng cáo hàng hóa lẫn với biển hiệu; chiều cao của biển hiệu dọc vượt quá chiều cao của tầng nhà nơi đặt biển hiệu. Doanh nghiệp có một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng: Treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu che chắn không gian thoát hiểm, cứu hỏa; treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu lấn ra vỉa hè, lòng đưng, ảnh hưỏng đến giao thông công cộng; treo, dựng, đặt, gắn biển hiệu làm mất mỹ quan. Ngoài ra, doanh nghiệp buộc phải tháo d biển hiệu đối với các vi phạm nêu trên để khắc phục hậu quả. Nghị định này cũng quy định xử phạt vi phạm của “cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh” giống như đi với doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng như Luật thương mại đều không có quy định về “cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”. Tuy nhiên, có thể hiểu Luật quảng cáo năm 2012 mun nhắc đến các cá nhân có đăng ký kinh doanh dưới hình thức “hộ kinh doanh”. Nếu đúng như vậy, thì hầu hết mấy triệu hộ kinh doanh đều vi phạm quy định về biển hiệu, mà phổ biến và rõ ràng nhất là việc “Ghi không đứng hoặc ghi không đầy đủ tên gọi bằng tiếng Việt trên biển hiệu” (theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh). Đó là chưa kể còn rất nhiều cá nhân kinh doanh nhưng không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.


[1] Khoản 2 Điều 38 v “Tên doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Khoản 2 Điều 41 về “Tên chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh”, Luật doanh nghiệp năm 2014; khoản 3 Điều 29 về “Tên Văn phòng đại diện, Chi nhánh”, Nghị định số 07/2016/NĐ-CP ngày 25-01-2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết Luật thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam”.

[3] Khoản 2 Điều 40 về “Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4] Khoản 2 Điều 18 về “Tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo”, Luật quảng cáo năm 2012.

[5] Điểm e khoản 1 Điều 4 về “Điều kiện đôi với nội dung quảng cáo thực phẩm”, Thông tư số 08/2013/TT-BYT ngày 13-3-2013 của Bộ trưỏng Bộ Y tế “Hướng dẫn về quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tể’.

[6] Điều 7 về Yêu cầu chung đối với hợp đồng theo mẫu và điu kiện giao dịch chung”, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27-10-2011 của Chính phủ “Quy định chi tiết và hưóng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.

[7] Khoản 1 Điều 34 về “Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”, Luật quảng cáo năm 2012.

[8] Điểm a khoản 1 Điều 66 về “Vi phạm quy định về biển hiệu”, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch và quảng cáo” (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 05-5-2017).

[9] Khoản 2 Điều 34 về “Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”; khoản 1 Điều 18 về “Tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo”, Luật quảng cáo năm 2012.

[10] Các khoản 3, 4 và 5 Điều 34 về “Biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh”, Luật quảng cáo năm 2012.

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định, doanh nghiệp có quyền “lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn”[1]. Theo đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng nhiều hình thức như hợp tác kinh doanh, phát hành cổ phần, trái phiếu doanh nghiệp và vay vốn. Ngoài việc vay vốn các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, thì doanh nghiệp còn được phép huy động của cá nhân (kể cả của người lao động), doanh nghiệp khác ở trong và ngoài nước.

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014) quy định, phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay là khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế[2].

Doanh nghiệp vay vốn của các cá nhân, pháp nhân nói chung, của các tổ chức tín dụng nói riêng không bắt buộc phải có tài sản bảo đảm[3]. Mặc dù Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định, trước khi quyết định cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp một trong các đỉều kiện là “biện pháp bảo đảm tiền vay’[4]. Tuy nhiên, có thể hiểu là cho vay không có tài sản bảo đảm (mà điển hình là tín chấp) cũng là một biện pháp bảo đảm tiền vay.

Riêng đối với một số chương trình, lĩnh vực và đối tượng cho vay thì bắt buộc phải có tài sản bảo đảm như cổ đông lớn của ngân hàng, doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại thông qua bảo lãnh của ngân hàng phát triển hay các doanh nghiệp vay theo chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước[5].

Doanh nghiệp cũng không bị giới hạn số vốn vay so với vốn điều lệ hay vốn chủ sỏ hữu, trừ đối với một số trường hợp như doanh nghiệp nhà nước, thì việc huy động vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm tổng số nợ phải trả bao gồm các khoản bảo lãnh đối với công ty con không quá ba lần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểmhuy động vốn. Trường hợp huy động vốn trên mức này và huy động vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài, thì do đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt[6].

Mặt khác, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì cho vay là một trong các hoạt động cấp tín dụng và nghiêm cấm cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động cấp tín dụng, trong đó có hoạt động cho vay, trừ khi được Ngân hàng nhà nước cấp phép. Tuy nhiên, Luật chỉ cấm đối với việc “kinh doanh, cung ứng thường xuyên” hoạt động cho vay[7].

Nếu cứ máy móc bám theo đúng những câu chữ của Luật các tổ chức tín dụng thì có thể hiểu là, việc cho vay dân sự của các cơ sở cho vay cầm đồ nói riêng, của các cá nhân và pháp nhân khác nói chung, đều là một trong những hoạt động cấp tín dụng và đều phạm pháp, bị nghiêm cấm, vì không được “Ngân hàng nhà nước cấp Giấy phép”. Tuy nhiên, hoạt động cho vay thường xuyên, chuyên nghiệp của các tiệm cầm đồ vẫn được phép theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà không cần phải được Ngân hàng nhà nước cấp phép.

Bộ luật dân sự năm 2015 có nhiều điều quy định về hợp đồng vay tài sản nói chung, hợp đồng vay tiền nói riêng của các cá nhân và pháp nhân[8]. Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng có nhiều điều quy định về thẩm quyền trong các giao dịch vay và cho vay của doanh nghiệp[9].

Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014, 2016) còn quy định, ngoài việc cho vay của các tổ chức tín dụng, thì cả “dịch vụ cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng” cũng không phải nộp thuế giá trị gia tăng[10]. Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31-12-2013 của Bộ trưỏng Bộ Tài chính hướng dẫn rõ, đó là “Hoạt động cho vay riêng lẻ, không phải hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng”[11].

Như vậy, các cá nhân và pháp nhân nói chung, doanh nghiệp nói riêng cho nhau vay là hoàn toàn hợp pháp và không cần phải đăng ký kinh doanh hay được phép của Ngân hàng nhà nước, miễn không phải là hoạt động thường xuyên, chủ yếu.

Chỉ có một số quy định của pháp luật xử phạt hành chính đối với một số hành vi cho vay trái pháp luật trong một số lĩnh vực về chứng khoán, ngân hàng và tệ nạn xã hội như: Phạt tiền từ 150 - 200 triệu đồng đối với công ty chứng khoán vi phạm quy định về “hạn chế vay nợ hoặc về hạn chế cho vay”, “sử dụng vốn và tài sản của công ty để cho vay trái quy định pháp luật”[12]; phạt tiền từ 150 - 200 triệu đồng đối với công ty quản lý quỹ vi phạm quy định vể “Thực hiện việc cho vay hoặc giao vôh của công ty cho tổ chức, cá nhân trái quy định pháp luật”[13]; phạt tiền từ 2 - 5 triệu đồng đối với hành vi “Nhận gửi tiền, cầm đồ, chovay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác”[14]; và xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng[15].

Ngoài các trường hợp trên, hoạt động cho vay của các cá nhân và pháp nhân không vi phạm pháp luật và không bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, hoạt động cho vay của các cá nhân và pháp nhân, doanh nghiệp (không phải là “hoạt động ngân hàng”) vẫn hợp pháp mà không cần phải có giấy phép cũng như đăng ký kinh doanh hoạt động cho vay.

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng[16]. Lãi suất cơ bản áp dụng từ ngày 05- 11-2010 và đến hết năm 2016 vẫn là 9%/năm[17]. Như vậy, khoản vay nào vượt mức 13,5%/năm là giao dịch bất hợppháp về lãi suất. Trên thực tế thì đại đa số giao dịch cho vay có mức lãi suất cao hơn, bao gồm cả giao dịch cho vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác. Riêng đối với ngành Ngân hàng thì hoàn toàn đứng ngoài quy định này, với rất nhiều khoản vay của các tổ chức tín dụng đã vượt mức trần lãi suất 13,5%/năm, thậm chí lên tới 50 - 70%/năm.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, từ ngày 01-01-2017 trở đi, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực[18].

Theo quy định của pháp luật, có hai trường hợp cho vay hợp pháp nhưng nếu vi phạm về lãi suất thì bị xử phạt vi phạm hành chính như sau: Phạt tiền từ 5 - 15 triệu đồng đối vối hành vi “Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam cộng bố tại thời điểm cho vay”[19]; phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi của các tổ chức tín dụng “Áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật”[20].

Như vậy, các hành vi cho vay khác, dù có vi phạm pháp luật vượt trần lãi suất 13,5% (hay 20%) bao nhiêu lần, nếu chưa đến mức xử lý hình sự, thì cũng không bị xử phạt vi phạm hành chính (ngoài các trường hợp trên). Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cá nhân cho vay với mức lãi suất cao hơn từ 10 lần lãi suất cao nhất (từ 135%/năm trỏ lên) và có tính chất chuyên bóc lột, thì phạm vào “Tội cho vay lãi nặng”[21]. Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cá nhân cho vay với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, thì phạm vào “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự’[22].

Theo quy đỉnh của Bộ luật dân sự, cá nhân, phápnhân có toàn quyền thực hiện các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của cá nhân, doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp, việc bảo đảm này có nguy cơ rất lớn vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người quản lý và người đại diện theo pháp luật đã được quy định trong nhiều điều khoản của Luật doanh nghiệp. Đó là trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và “sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác”[23].

Vì vậy, nếu Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người đại diện theo pháp luật của công ty cam kết bảo lãnh cho cá nhân, doanh nghiệp khác vay tiền hoặc mang tài sản của doanh nghiệp đi cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ của người khác thì rất dễ bị vô hiệu, dó vi phạm điều cấm của pháp luật.

Ngoại trừ Trường hợp 100% thành viên hay cổ đông công ty có quyền biểu quyết tán thành thì mới bảo đảm an toàn pháp lý đốì với việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh nêu trên. Nếu việc này đã được Hội đồng thành viên hay Đại hội đồng cổ đông biểu quyết tán thành nhưng với tỷ lệ hợp lệ dưới 100%, thì các thành viên hoặc cổ đông không tán thành vẫn có quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết, vì ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của họ. Tương tự là Trường hợp công ty mẹ, nếu sở hữu dưới 100% vốn điều lệ của công ty con thì việc cam kết trả nợ thay cho công ty con cũng không hợp lý.

Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước thì được quyền bảo lãnh cho công ty con vay vốn tại tổ chức tín dụng theo hai nguyên tắc sau đây: tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn đối với một công ty con do doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ không quá giá trị vốn chủ sỏ hữu của công ty con theo báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm gần nhất tại thời điểm bảo lãnh.

Bên cạnh đó, tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn đối vối công ty con do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ không được vượt quá giá trị vốn góp thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm bảo lãnh[24].

 


[1] Khoản 3 Điều 7 về “Quyền của doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Điểm e khoản 2 Điều 9 về “Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuể’, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi, bổ sung năm 2013).

[3] Điều 7 về “Điều kiện vay vốn”, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 của Thống đốc Ngân hàng nhà nưóc “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng”; khoản 2 Điều 5 về “Nguyên tắc cho vay”, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09-6-2015 của Chính phủ về “Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn”.

[4] Khoản 1 Điều 94 vể “Xét duyệt cấp tín dụng, kiểm tra sử dụng tiền vay”, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Điều 127 về “Hạn chế cấp tín dụng”, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sủa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 13 về “Bảo đảm tiền vay”, Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31-3-2017 của Chính phủ về “Tín dụng đầu tư của nhà nước”.

[6]Khoản 3 Điều 23 về “Huy động vôh”, Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014.

[7]Khoản 12 và 14 Điểu 4 về “Giải thích từ ngữ”; khoản 2 Điểu 8 về “Quyền hoạt động ngân hàng”, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8]Các điều từ 471 đến 479 về “Hợp đồng vay tài sản”, Bộ luật dân sự năm 2005; các điều từ 463 đến 470 về “Hợp đồng vay tài sản”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[9]Điều 56 về “Hội đồng thành viên”, Điều 75 về “Quyền của chủ sồ hữu công ty”, Điều 76 vể “Nghĩa vụ của chủ sồ hữu công ty”, Điều 149 về “Hội đồng quản trị”, Điều 177 về “Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[10]Điểm b khoản 8 Điều 5 về “Đối tượng không chịu thuế”, Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014,2016).

[11]Điểm b khoản 8 Điều 4 về “Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng”, Thông tư số 219/2Q13/TT-BTC ngày 31-12-2013 của Bộ trưông Bộ Tài chính “Hướng dẫn thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18-12-2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một s điều của Luật thuế giá trị gia tăng” (sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 193/2015/TT- BTC ngày 24-11-2015).

[12]Điểm c và d khoản 4 Điều 21 về “Vi phạm quy định về hoạt động của công ty chứng khoán”, Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23-9-2013 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán” (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01-11-2016).

[13]Điểm c khoản 4 Điều 22 về “Vi phạm quy định về hoạt động của công ty quản lý quỹ, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam”, Nghị định số 108/2013/NĐ-CP ngày 23-9-2013 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trưng chứng khoán” (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 145/2016/NĐ-CP ngày 01-11-2016).

[14]Điểm a khoản 3 Điều 26 về “Hành vi đánh bạc trái phép”, Nghị định SỐ 167/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chinh phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chng tệ nạn xã hội; phòng chống cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đĩnh”.

[15]Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17-10-2014 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng”.

[16]Khoản 1 Điều 476 về “Lãi suất”, Bộ luật dân sự năm 2005.

[17]Quyết định số 2619/QĐ-NHNN ngày 05-11-2010 và Quyết định số2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Thống đốc Ngân hàng nhà nưốc Việt Nam về “Mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam”.

[18]Khoản 1 Điều 468 về “Lãi suất”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[19]Điểm d khoản 3 Điều 11 về Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chổng tệ nạn xã hội; phòng chống cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình”.

[20]Điểm d khoản 3 Điểu 15 về “Viphạm quy định về cấp tín dụng”, Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17-10-2014 của Chính phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng”.

[21]Điều 163 vể “Tội cho vay lãi nặng”, Bộ luật hình sự năm 1999 (sa đi, b sung năm 2009).

[22]Điều 201 về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự’, Bộ luật hình sự năm 2015.

[23]Khoản 1 Điều 14 về “Trách nhiệm của ngưòi đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”; Điều 71 về “Trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Kiểm soát viên và ngưòi quản lý khác”; Điều 83 về ‘Trách nhiệm của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc, Tổng giám đốc và Kiểm soát viên”; Điều 96 về “Trách nhiệm của Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đng thành viên”; Điều 160 về “Trách nhiệm của người quản lý công ty”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[24] Khoản 4 Điều 23 về “Huy động vốn”, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014.

1. Cơ sở pháp lý

Trên thực tế, những quy định pháp luật nước ta về giải thích điều ước quốc tế thật sự đúng nghĩa mới bắt đầu từ những năm gần đây, tính từ khi Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và ban hành Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005. Vấn để giải thích điều ước quốc tế tại Việt Nam không nằm ngoài phạm vi và khuôn khổ các quy định về giải thích Điều ước quốc tế của Công ước Viên 1969, nó được thể hiện chính thức và chủ yếu trong Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của nước ta.

Hệ thống văn bản pháp luật có chứa đựng nội dung về mặt pháp lý của hoạt động giải thích điều ước quốc tế có thể kể đến: Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế các năm 1989, 1998; Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài năm 1993; Nghị định số 161/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế; Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 24-7-1993 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; Thông tư số 01/1999/TT-BNG ngày 03-6- 1999 của Bộ Ngoại giao quy định thể lệ hợp pháp hóa giấy tờ, tài liệu; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04-02-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao …vv.

Cơ sở pháp lý về giải thích điều ước quốc tế tập trung ở các nội dung sau đây:

Thứ nhất, về nguyên tắc cơ bản của giải thích điều ước quốc tế được xác định nguyên tắc về nội dung, thể thức điều ước quốc tế được giải thích phù hợp với pháp luật quốc tế về giải thích điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế phải được giải thích phù hợp với tinh thần, mục đích và nội dung của điều ước quốc tế và nghĩa thông thường của những thuật ngữ được sử dụng trong điều ước quốc tế đó, không được làm phương hại đến việc thực hiện điều ước quốc tế. Các văn bản điều ước quốc tế mang ngôn ngữ của các quốc gia ký kết có giá trị như nhau, trong trường hợp nảy sinh bất đồng trong việc giải thích điều ước quốc tê đó, thì văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở.

Thứ hai, chủ thể có thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế là y ban thường vụ Quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích điều ước quốc tế do Quốc hội quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập. Trường hợp các Điều ước quốc tế có quy định trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội; điều ước quốc tế để thực hiện cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội sẽ do Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích. Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ giải thích Điều ước quốc tế trong trường hợp cần thiết khác theo quy định tại khoản 1 Điêu 76 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.

Chủ thể thứ hai có thẩm quyền giải thích Điều ước quốc tế là Chính phủ. Chính phủ giải thích Điều ước quốc tế trong các trường hợp Chính phủ quyết định việc giải thích điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước và nhân danh Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này khoản 2 Điều 76 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.

So với Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989 và năm 1998, thì chủ thể có thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế hiện nay có sự thu hẹp hơn, tại Pháp lệnh năm 1998, Điều 29 chủ thể có thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế còn gồm: Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải thích Điều ước quốc tế do Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký kết; Các Bộ, ngành giải thích điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa Bộ, ngành, tức là có thể nói điều ước quốc tế do chủ thể nào ký kết thì chủ thể đó có quyền giải thích.

Trước đây, khi giải thích điều ước quốc tế, các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ theo quy định tại điểm 2 Điều 75 Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 theo hướng văn bản điều ước quốc tế và các phụ lục kèm theo điều ước quốc tế đó. Các thỏa thuận có liên quan đến điều ước quốc tế của toàn bộ thành viên điều ước quốc tế khi ký kết điều ước quốc tế đó.

Văn kiện có liên quan đến Điều ước quốc tế do thành viên điều ước quốc tế đưa ra khi ký kết điều ước quốc tế đó và được các thành viên chấp nhận. Thỏa thuận về việc giải thích hoặc thực hiện các quy định của điều ưồc quốc tế giữa các thành viên điều ước quốc tế sau khi ký kết điều ước quốc tế đó.

Thực tiễn giải thích điều ước quốc tế được các thành viên công nhận và quy định của pháp luật quốc tế được áp dụng trong quan hệ giữa các thành viên Điều ước quốc tế. Ngoài ra, trong trường hợp đã áp dụng những căn cứ nêu trên để giải thích nhưng kết quả vẫn chưa rõ ràng hoặc bất hợp lý thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào việc chuẩn bị điều ước quốc tế, hoàn cảnh ký kết điều ước quốc tế và những căn cứ khác để giải thích.

2. Đánh giá kết quả

Các điều ước quốc tế Việt Nam đã ký kết, gia nhập, ở một góc độ nhất định, đã được giải thích có hiệu quả. Tuy nhiên, chưa thể thống kê những điều ước quốc tế đã được giải thích cũng như diễn biến, nội dung của từng trường hợp điều ước quốc tế được giải thích trong thực tế. Sở dĩ như vậy vì, một mặt, Bộ Ngoại giao được giao: "Tổ chức biên soạn và ấn hành Niên giám Điều ước quc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập" theo quy định tại điểm d Điều 20 Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04-02-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao, nhưng chưa có quy định cụ thể nào về việc báo cáo, phản hồi lại Bộ Ngoại giao các sản phẩm điều ước quốc tế đã được giải thích, các sản phẩm giải thích điều ước quốc tế, mặt khác, chủ thể chính thức có thẩm quyền giải thích điều ước quốc tế quy định trong Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế năm 2005 là ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, nhưng trong thực tế, các Bộ khi thực hiện điều ước quốc tế trong phạm vi thẩm quyền chuyên môn, lĩnh vực của mình, vẫn được ủy quyền tự giải thích các vấn đề, nội dung nhất định, nghĩa là ở nước ta chưa thật sự quan tâm và đề cao việc quản lý nhà nước về nhiệm vụ này.

Việt Nam đã gia nhập tổ chức WTO, trước yêu cầu ngày càng cao và khắc nghiệt của lĩnh vực thương mại này, chất lượng và cường độ của giải thích điều ước quốc tế đều phải chú ý. Việc áp dụng các điều ước quốc tế, các vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài thòi gian qua mà Việt Nam, hoặc các doanh nghiệp của Việt Nam là một bên của tranh chấp, có thể thấy rằng, kỹ năng giải thích điều ước quốc tế của ta còn nhiều bất cập, nhiều vụ việc do thiếu kinh nghiệm giải thích, do trình độ giải thích hạn chế, mà các doanh nghiệp của Việt Nam phải chịu nhiều thiệt thòi. Do vậy, để khắc phục tình trạng non yếu trong việc giải thích điều ước quốc tế, cần phải có một cơ chế về giải thích điều ước quốc tế cụ thể, thiết thực và cần phải tăng cường học hỏi, nâng cao trình độ và ý thức trách nhiệm để bảo đảm chất lượng hoạt động giải thích điều ước quốc tê khi có nhu cầu.

Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển. Năm 2018, quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP danh nghĩa lớn hàng thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua thì lớn thứ tư sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là một nước có truyền thống vay nợ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách.

Nhìn lại lịch sử nền kinh tế của Nhật Bản phát triển nhanh chóng trong thập niên 1960-1970, nhưng đến năm 1990 thì lâm vào suy thoái, đặc biệt là từ năm 1997, khi nền kinh tế "bong bóng" vỡ, chính phủ Nhật Bản đã nỗ lực kéo nền kinh tế ra khỏi trạng thái đình đốn bằng việc tăng chi tiêu công và kích thích tiêu dùng tư nhân. Trong những năm gần đây, rất nhiều công ty bị phá sản - hơn 17.000 công ty. Đây cũng là điều dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp tăng. So với các nước phương Tây thì tỉ lệ thất nghiệp của Nhật ít hơn nhiều, nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn Nhật Bản thì con số đó lại cao - 5,2% vào năm 2003. Trong số những người bị thất nghiệp, rất nhiều người đã phải ngủ ngoài đường vì không có nhà, hay thậm chí là tự tử. Trước tình hình đó, Nhật Bản đang cố khắc phục để xây dựng lại nền kinh tế tốt hơn.

Đến nay, ước tính mỗi năm thâm hụt ngân sách của Nhật Bản tăng thêm 10%, phần lớn là từ các gói kích thích tài khóa của chính phủ. Đầu năm 2013, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã phê duyệt gói kích thích kinh tế trị giá 226,5 tỷ đôla Mỹ, là gói kích thích lớn nhất kể từ năm 2009. Trước đó, tháng 10-2012, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua gói kích thích trị giá 5,3 tỷ đôla Mỹ.

Chính sách tài khóa mờ rộng cùng với chính sách lãi suất thấp được thực hiện ờ Nhật Bản trong thời gian dài, nhưng nhìn chung các chính sách này cũng không thúc đẩy tăng trường kinh tế được nhiều. Trong nhiều năm, Nhật Bản rơi vào tình trạng giảm phát, trong khi chi phí phúc lợi xã hội không ngừng gia tăng, các nguồn thu từ thuế của chính phủ ngày càng giảm do chính sách giảm thuế suất. Không ngạc nhiên khi thấy rằng thâm hụt ngân sách của Nhật Bàn liên tục gia tăng, tất yếu dẫn tới tỷ lệ nợ công tăng cao.

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, ngoài việc tập trung khắc phục những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ Nhật Bản còn phải khắc phục hậu quả của thảm họa động đất và sóng thần xảy ra vào tháng 3- 2011 khiến tình trạng nợ công của nước này càng trầm trọng hơn. Tính đến tháng 9-2012, nợ công của Nhật Bản đã đạt mức kỷ lục là 12,4 nghìn tỷ đôla Mỹ, trong đó một phần do tác động của nhũng can thiệp trên thị trường tiền tệ nhằm ghìm giá đồng nội tệ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Tính từ năm 2015 đến nay nợ công của chính phủ Nhật Bản đã tăng 22,19 nghìn tỷ yên. Trong bối cảnh đó, mục tiêu ổn định kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và giảm tỷ lệ nợ công ở Nhật Bản cùng một lúc đã không đạt được. Có một nghịch lý là, trong khi nợ công của Nhật Bản liên tục gia tăng thì lãi suất luôn duy trì ở mức thấp, chỉ xoay quanh biên độ 0-0,1%. Điều này phản ánh một thực trạng là nguồn tiết kiệm trong nước của Nhật Bản là rất lớn; các nhà đầu tư trái phiếu trong nước vẫn tiếp tục mua vào trái phiếu chính phủ khi việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư có lợi nhuận cao hiện nay là rất khó khăn.

Có thể giải thích cho tình trạng nợ công cao của Nhật Bản hiện nay theo nhiều cách, nhưng chủ yếu vẫn là do kết quả của việc chính phủ Nhật Bản liên tục tung ra các gói kích thích nhằm kéo nền kinh tế ra khỏi tình trạng trì trệ trong suốt hai thập kỷ qua. Rõ ràng, khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 hay khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đều có rinh chất chu kỳ. Tăng chi tiêu công là giải pháp truyền thống của Nhật Bản để đối phó với các cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ này. Điểm tích cực hỗ trợ cho trạng thái nợ công của Nhật Bản hiện nay là 95% tổng số nợ là do các nhà đầu tư trong nước, trong khi hệ số ICOR của Nhật Bản chi khoảng 3,0 nên khả năng trả nợ là rất khả quan. Ngoài ra, Nhật Bản có lượng dự trữ ngoại hối lớn (vào tháng 5-2011 là khoảng 1.047 tỷ đôla Mỹ) và tỷ lệ tiết kiệm của hộ dân cư cao nên khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công trong ngắn hạn là khá thấp.

Một nguyên nhân khác là chi phí an sinh và phúc lợi xã hội ở Nhật Bản khá cao. Dân số trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ 1/4 dân số Nhật Bản là mối bận tâm rất lớn của chính phủ trong việc bào đảm quỹ lương hưu và các dịch vụ chăm sóc y tế cho người già. Trong năm tài khóa 2013-2014, tổng chi phí an sinh xã hội của Nhật Bản chiếm tỷ lệ lớn nhất trong chi ngân sách chính phủ. Giải pháp của Nhật Bản nhằm bảo đảm hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội là phát hành trái phiếu chính phủ, nhưng việc này sẽ làm nợ công của Nhật Bản càng tăng cao.Theo kế hoạch, Nhật Bản đã huy động 46% ngân sách thông qua phát hành công trái trong năm tài khóa 2013. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng nội địa vẫn rất yếu ớt; chỉ số giá tiêu dùng giảm liên tiếp dù có tăng trở lại nhưng đây chưa phải là dấu hiệu cho thấy Nhật Bản đã thoát khỏi tình trạng giảm phát. Thực trạng này cho thấy, nợ công gia tăng càng khiến cho mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng trở nên khó khăn hơn.

Ngoài việc thúc đẩy tăng trưởng thông qua các gói kích thích, chính phủ Nhật Bản còn thông qua chính sách thuế. Giống như Canada, chính phủ Nhật Bản theo đuổi chính sách thuế suất thấp nhằm mục tiêu khuyến khích doanh nghiệpđầu tư và tăng tiêu dùng của người dân đế sau đó tạo ra nguồn thu mới cho ngân sách tốt hơn là áp đặt mức thuế cao. Thuế doanh thu của Nhật Bản là 5%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước châu Âu. Tỷ lệ thu từ thuế nên GDP của Nhật Bản đạt khoảng 17%, là mức thấp nhất trong số các nước thuộc khối OECD. Đặt trong bối cảnh nền kinh tế giảm phát liên tục trong nhiều năm và liên tiếp đối mặt với các cuộc kliủng hoảng cũng như thiên tai, mức thuế suất thấp đã làm tùm trọng hơn tình trạng nợ công của Nhật Bản.

Chưa hết, nợ công của Nhật Bản còn do chính sách nới lỏng tiền tệ của nước này. Như đã đề cập, lãi suất cơ bản của Nhật Bản chỉ xoay quanh mức 0%-0,l% và ổn định trong thời gian dài. Mục tiêu của chính sách lãi suất thấp là tạo nguồn vốn rẻ cho đầu tư và các hoạt động sản xuất kinh doanh và gia tăng nhu cầu tiêu dùng cùa người dân. Tuy nhiên, lãi suất thấp và giảm phát lại khiến người dân muốn nắm giữ tiền mặt hơn là đầu tư vào trái phiếu hay các công cụ đầu tư khác. Chính điều này đã làm chính sách nới lỏng tiền tệ không đạt được hiệu quả mong muốn.

Từ thực tế thực thi chính sách tài khóa của Nhật Bản như phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy đế tình trạng nợ công bớt trầm họng và xa hơn nữa là đạt mục tiêu tăng trường kinh tế, Nhật Bản nên có một kế hoạch bình ổn tài khóa cả ữong ngắn hạn và trung hạn tương ứng với các chu kỳ kinh tế với trọng tâm là làm giảm tỷ lệ nợ công. Nhật Bản có thế cắt giảm chi tiêu công tương tự như Canada thông qua việc tinh giản hệ thống công quyền hay tăng tuổi nghỉ hưu, tuổi hưởng trợ cấp, giảm các khoản trợ cấp xã hội không cần thiết. Ngoài ra, có thê tăng nguồn thu cho ngân sách thông qua tăng thuế suất, cải thiện hiệu quả đầu tư công, tăng các chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Kết quả từ một cuộc điều tra chi ra rằng, có tới 70% người dân Nhật Bản sẵn sàng nộp nhiều thuế hơn để giúp nền kinh tế tăng trưởng trở lại.

Tăng chi tiêu chính phủ và thuế suất thấp đã không tạo ra tăng trưởng cao và ổn định, điều này chỉ có thể được giải thích bởi một trong hai khả năng: các công cụ tài khóa mớ rộng kết hợp với công cụ chính sách tiền tệ nới lỏng không thích hợp với các điều kiện kinh tế thực tế của Nhật Bản; hoặc độ lớn của các công cụ tài khóa này chưa hợp lý để có thế đạt được mục tiêu căn bản của các chính phủ khi áp dụng các công cụ chính sách ngược chu kỳ, đó là làm thay đổi tổng cầu của nền kinh tế.

Bài học rút ra từ chính sách tài khóa thiếu hiệu quả của Nhật Bản là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng đình đốn, để có thể gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, cần phải đặt ra những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Việc thiết lập một cơ quan độc lập chuyên đánh giá hiệu quả của chính sách tài khóa mở rộng hay chính sách tài khóa thắt chặt trong điều hành kinh tế là rất cần thiết. Khi nợ công tăng lên liên tục, các giải pháp nhằm cắt giảm chi tiêu công và tăng nguồn thu cho ngân sách có thể là yếu tố then chốt để ổn định trạng thái nợ chính phủ trong dài hạn.

1. Vai trò của giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của nó, giúp mọi người hiểu và thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất. Chính vì vậy, giải thích pháp luật có một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị của pháp luật.

Pháp luật là sản phẩm của ý thức, có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ chế độ dân chủ, phản ánh sự phát triển, trình độ văn hóa của một quốc gia.

Các giá trị đó chỉ được bảo vệ và phát huy khi pháp luật trỏ thành hiện thực trong đời sống con người. Nếu tôn giáo được bảo vệ chủ yếu bằng niềm tin, đạo đức được bảo vệ chủ yếu bằng dư luận xã hội, thì pháp luật được bảo vệ chủ yếu bằng việc thực hiện các quy tắc xử sự bởi những hành vi hợp pháp một cách có ý thức. Tuy nhiên, nếu cách thức bảo vệ tôn giáo và đạo đức phần nào mang tính thông thoáng hơn, thì cách thức bảo vệ pháp luật không hoàn toàn đơn giản, bởi nó thể hiện ở những đặc tính của pháp luật.

Thứ nhất, pháp luật có tính khái quát cao, không trực tiếp điều chỉnh một quan hệ cụ thể nào mà điều chỉnh quan hệ xã hội cùng loại do các hành vi pháp lý cùng loại thực hiện, đồng thời quy định khái quát nhất vể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật, mà trong thực tế, những quan hệ xã hội pháp luật mong muốn Điều chỉnh lại xảy ra vối những biểu hiện riêng, nhiều sắc thái, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện pháp luật cũng luôn mang màu sắc cá nhân, rất phức tạp.

Thứ hai, pháp luật còn phải chứa đựng các nội dung dự báo, dự liệu, và phải chuyển tải chúng bằng một ngôn ngữ có tính khái quát cao, nghĩa là pháp luật trong sự tồn tại của nó, nó không thể hoàn toàn làm chủ các bối cảnh.

Giải thích pháp luật có khả năng giải quyết tính khái quát của các quy phạm pháp luật bằng cách đặt nó vào đúng những quan hệ xã hội mà pháp luật mong muốn điều chỉnh, dù thực tế biểu hiện của các quan hệ ấy có riêng lẻ, rời rạc. Giải thích pháp luật cũng có khả năng đặt các quy phạm pháp luật có tính dự báo vào những tình huống pháp lý trong những quan hệ xã hội mới nảy sinh với sự hợp lý, khoa học.

Những khả năng ấy của giải thích pháp luật chẳng những giải quyết được các tình huống cần giải thích của các văn bản pháp luật cụ thể, mà còn thực sự đóng góp trí tuệ vào việc giữ gìn tính minh bạch của pháp luật, bảo vệ và phát huy các giá trị của pháp luật.

Bên cạnh đó, giải thích pháp luật có tác dụng nâng cao ý thức pháp luật ở mỗi chủ thể pháp luật. Bởi ý thức pháp luật là một phạm trù rộng, bao gồm những tư tưởng, quan điểm, học thuyết về pháp luật, và thái độ, tình cảm của con người đốỉ với pháp luật, đối với các hành vi pháp lý, nói gọn lại, ý thức pháp luật bao gồm nhận thức và thái độ của con người đối vối pháp luật và hành vi pháp luật.

Giải thích pháp luật trước hết đã đem lại những nhận thức nghiêm túc, đúng đắn cho người dân về pháp luật. Khi người dân thấy được sự hợp lý, đặc biệt thấy được các giá trị dân chủ, nhân văn trong hệ thông pháp luật của quốc gia thì đó chính là khởi nguồn của các hành vi hợp pháp, ngược lại, nếu pháp luật chưa được nhận thức theo đúng chân giá trị của nó, hoặc chưa thấy được những hạn chế lịch sử của nó thì đó chính là nhân tố’ làm người dân giảm niềm tin vào pháp luật, vào công lý.

Giải thích pháp luật góp phần xây dựng được thái độ đúng đắn trước pháp luật, gồm thái độ đúng đắn trong công tác lập pháp, công tác hành pháp, công tác tư pháp và thái độ đúng đắn của mỗi công dân trong hành vi pháp lý của mình.

Giải thích pháp luật còn đóng góp vào việc thể chế hồa quan niệm, quan điểm, tư tưởng pháp luật tiên tiến, khách quan trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật, đáp ứng nhu cầu xã hội đối với một nền pháp luật dân chủ, hiện đại.

Ngòa ra, giải thích pháp luảt có tác dung năng cao chất lượng áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt. Hình thức này là việc dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các quyết định mang tính chất cá biệt, điều chỉnh những trường hợp cụ thể đối với những đối tượng cụ thể. Đây là một hoạt động đặc thù và cũng là một đặc quyền của Nhà nước, nhằm bảo đảm cho các quy định của pháp luật được thực hiện một cách triệt để trong thực tế. Hoạt động điều chỉnh cá biệt này đòi hỏi tính tích cực, chủ động, linh hoạt của các chủ thể áp dụng pháp luật. Các văn bản áp dụng pháp luật, kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật có ảnh hưởng sâu sắc đối với chủ thể bị áp dụng và đối với xã hội. Nó có thể mang lại những lợi ích, những niềm vui, cũng có thể đem đến những tác hại, thậm chí là oan khiên cho con ngưòi. Nếu pháp luật được nhận thức và thực hiện một cách thống nhất nhờ hoạt động giải thích pháp luật thì chắc chắn chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật được nâng cao hơn, các quyết định áp dụng pháp luật được bảo đảm tính đúng đắn hơn.

Sở dĩ, giải thích pháp luật có tác dụng nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật vì nó có khả năng thực hiện được khâu then chốt, đó là việc giải thích các quy phạm pháp luật được lựa chọn để áp dụng cho vụ việc mang tính chất pháp lý tương ứng. Giai đoạn giải thích quy phạm cụ thể này được xem là giai đoạn chủ đạo của quá trình áp dụng pháp luật, các giai đoạn trước và sau đó được thực hiện và thực hiện như thê nào là chịu sự chi phối của giai đoạn này. Các chủ thể có thẩm quyền khi tiến hành lựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể để áp dụng, một mặt, phải giải thích, phải làm sáng tỏ được quy phạm đó, mặt khác, phải lý giải được tại sao lại phải áp dụng quy phạm đó mà lại không áp dụng quy phạm khác. Hoạt động này chứng tỏ nhiệm vụ giải thích pháp luật khi áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền là một đòi hỏi bất khả kháng.

2. Mục đích của giải thích pháp luật

Mục đích là cái cốt lõi, cái hướng tới của mọi vấn đề, là cái quy định, chi phối, xác định giá trị, bản chất của hành động. Mục đích của giải thích pháp luật là cái mà giải thích pháp luật vạch ra nhằm đạt cho được thông qua việc cân nhắc một cách toàn diện các yếu tố cho phép. Mỗi tiến trình giải thích pháp luật, mỗi phạm vi và yêu cầu giải thích pháp luật có thể khác nhau nhưng rút cục vẫn nhằm đạt hai mục đích cơ bản sau:

Thứ nhất, giải thích pháp luât nhằm bảo đảm cho pháp luật được nhận thức, thưc hiện đúng đắn, thống nhất, đây là mục đích vô cùng quan trọng, bởi trình độ nhận thức của mỗi người, mỗi tầng lớp người trong xã hội có sự khác nhau, trình độ xây dựng pháp luật ở mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau là không giống nhau, và quan hệ xã hội, chính sách xã hội, tâm lý xã hội, v.v. cũng không bất biến.

Nhận thức pháp luật thông nhất là một biểu hiện ở mức độ cao của ý thức pháp luật. Pháp luật được nhận thức đúng đắn, thống nhất sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho người dân tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng sẽ giúp cho ngưòi dân định hình rõ hơn về cơ chế điều chỉnh pháp luật của Nhà nước, từ đó, chủ động hơn trong việc giám sát và hạn chế sự lạm quyền của Nhà nước.

Thực hiện pháp luật đúng đắn, thống nhất không chỉ là một yêu cầu trong việc quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước mà còn là yêu cầu của bản thân hệ thông pháp luật quốc gia, của nển pháp quyền. Thực hiện pháp luật thống nhất là một minh chứng'cho chất lượng pháp luật, trình độ dân trí, trình độ áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền, tất cả những điều này phụ thuộc không nhỏ vào hoạt động giải thích pháp luật.

Thứ hai, giải thích pháp luât nhằm mục đích dần xóa bỏ những khoảng cách giữa pháp luật thành văn và thực tế, góp phần hoàn thiện sản phẩm lập pháp. Nếu mục đích trên nghiêng về tính tư tưởng, quan tâm đến ý chí của lập pháp, bảo đảm sự công bằng trong pháp luật, thì mục đích này hướng tối tính chân thực, chính xác, khoa học của pháp luật, mong muốn pháp luật có giá trị hiện thực lâu bền trong cuộc sống.

Như trên đã nói, ngôn ngữ văn bản pháp luật và quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh đều là những yếu tố động. Hai yếu tố này đặt trong ý chí của nhà lập pháp, đặt trong cách tiếp cận khác nhau từ những trình độ, vị trí khác nhau của mỗi chủ thể pháp luật, thì sự hài hòa tuyệt đối giữa chúng là không thể có.

Nói cách khác, giữa pháp luật thành văn và thực tế cuộc sống luôn có khoảng cách nhất định. Khoảng cách này trở thành một đặc điểm cố hữu của pháp luật thành văn. Mục đích của giải thích pháp luật là làm cho khoảng cách này thu hẹp lại đến mức tối đa, mong muốn hỗ trợ đắc lực cho mục đích nhận thức, thực hiện pháp luật và góp phần hoàn thiện lập pháp.

Quy trình Chương trình giáo dục phổ thông ở Trung Quốc thường được xây dựng theo quy trình nghiên cứu, đánh giá hiện trạng giáo dục và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xu thế phát triển chương trình trên thế giới do Hội đồng xây dựng chương trình thực hiện và tổ chức xây dựng và trưng cầu ý kiến của các nhà chuyên môn và của xã hội, Việc hoàn thiện, thẩm định là lập kế hoạch thử nghiệm trình giáo dục phổ thông sẽ được sau khi đã lấy ý kiến.

1. Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục phổ thông

Việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục phổ thông của Trung Quốc được tiến hành với mục đích thử nghiệm khi xác định mức độ khả thi của phương án chương trình mới và chuẩn chương trình các môn học do Bộ Giáo dục xây dựng, thúc đẩy việc hoàn thiện phương án chương trình và tiêu chuẩn chương trình mới; thử nghiệm tính khoa học và tính thiết thực, khả thi của tài liệu dạy học. Đồng thời, tìm biện pháp và phương thức thực hiện chương trình mới, đóng góp kinh nghiệm thực tiễn cho việc phổ biến rộng rãi chương trình mới trên cả nước.

Nội dung thử nghiệm chương trình giáo dục phổ thông được tiến hành theo tiêu chí về tính hợp lí, cân đối giữa các lĩnh vực học tập, môn học, module và hoạt động thực tiễn tổng hợp; phương thức quản lí chương trình và quy mô học sinh theo yêu cầu của chương trình mới. Ví dụ, đối với các môn học tự chọn trong phương án chương trình cao trung (2006), đã xác định từ 25 học sinh trở lên đăng kí học tự chọn, nhà trường bắt buộc phải tổ chức dạy học; từ 11 - 24 học sinh đăng kí học tự chọn, nhà trường phải cố gắng tổ chức dạy học; dưới 10 học sinh (HS) học tự chọn, nhà trường có thể không tổ chức dạy học. Bên cạnh đó, phương thức thi và đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng được tiến hành trong giai đoạn thử nghiệm chương trình giáo dục phổ thông.

Về cách thức tiến hành thử nghiệm chương trình giáo dục phổ thông của Trung Quốc được áp dụng theo nguyên tắc khuyến khích tự nguyện đăng kí tham gia thực nghiệm chương trình mới.

Đối với các tỉnh tự nguyện tham gia thử nghiệm chương trình mới phải tuân thủ nguyên tắc Nhà nước chỉ đạo, địa phương làm chủ; tăng cường các điều kiện đảm bảo cho công tác thử nghiệm: tổ chức lãnh đạo, đầu tư kinh phí, hỗ trợ về chính sách, điều kiện dạy học, xây dựng chế độ, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, tuyên truyền, hướng dẫn dư luận... Trong quá trình thử nghiệm, các cơ quan quản lí giáo dục phải thay đổi tác phong và phương thức làm việc, lấy nhà trường làm cơ sở thử nghiệm, hình thành cơ chế phát hiện, nghiên cứu, giải quyết vấn đề ngay tại cấp trường, giúp nhà trường từng bước xây dựng chế độ quản lí trường học phù hợp với chương trình mới, không ngừng tổng kết kinh nghiệm nhằm phát huy hết vai trò cốt cán, làm mẫu trong việc triển khai chương trình mới trên phạm vi rộng lớn hơn.

Đối với các tỉnh chưa đủ điều kiện tham gia thử nghiệm, phải tiến hành tuyên truyền rộng rãi, tổ chức cho cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục, hiệu trưởng và giáo viên nghiên cứu, học tập, về Chương trình và chuẩn chương trình mới, chú ý theo dõi tiến độ và kết quả thử nghiệm của các tỉnh đang thử nghiệm, căn cứ vào quy hoạch thử nghiệm của Bộ Giáo dục, kết hợp với tình hình thực tế của địa phương nghiên cứu thời gian và công việc thử nghiệm chương trình mới tại địa phương mình, làm tốt công tác định hướng dư luận, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, chuẩn bị các điều kiện đảm bảo...

Các giai đoạn và phạm vi thử nghiệm chương trình giáo dục phổ thông có sự khác nhau tùy cấp học. Ví dụ: việc thử nghiệm chương trình trung học phổ thông mới (2006) được chia làm bốn giai đoạn.

+ Giai đoạn 1: bắt đầu từ mùa Thu năm 2004 tại các tỉnh: Quảng Đông, Sơn Đông, Hải Nam, Ninh Hạ. Số HS đầu cấp tham gia thử nghiệm chiếm 13% tổng số HS đầu cấp của toàn quốc;

+ Giai đoạn 2: từ năm 2005, tổng cộng có 8 - 10 tỉnh tham gia. Số HS đầu cấp tham gia thử nghiệm chiếm 25% - 30% tổng số HS đầu cấp của toàn quốc;

+ Giai đoạn 3: từ năm 2006, tổng cộng có 15 - 18 tỉnh tham gia thử nghiệm. Số HS đầu cấp tham gia thực nghiệm chiếm 50% - 60% tổng số HS đầu cấp của toàn quốc;

+ Giai đoạn 4: từ năm 2007, triển khai thực hiện chương trình mới đối với toàn bộ số HS đầu cấp trên cả nước.

2. Tổ chức và quản lí thực hiện chương trình

Chương trình giáo dục phổ thông của Trung Quốc do ba cấp tổ chức thực hiện và quản lí. Đó là: Nhà nước, địa phương và trường học.

Bộ Giáo dục quy hoạch tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông, xây dựng chính sách quản lí Chương trình giáo dục phổ thông, xác định môn học và thời lượng Chương trình quốc gia, xây dựng chuẩn Chương trình quốc gia, thực hiện thí điểm, đánh giá chương trình mới. Như vậy, trọng điểm của cải cách quản lí chương trình Trung Quốc hiện nay là thay đổi vai trò của người quản lí từ chỗ "lãnh đạo” sang "chỉ đạo" và thực hiện thể chế quản lí chương trình hai chiều: từ trên xuống và từ dưới lên, trong đó từ trên xuống là chính, nhằm đạt tới sự kết hợp hữu cơ giữa trung ương tập quyền và phân quyền cho địa phương.

Cơ quan quản lí giáo dục cấp tỉnh căn cứ vào chính sách quản lí chương trình của quốc gia và tình hình thực tế của địa phương để xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia ở tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, quy hoạch chương trình địa phương, báo cáo Bộ Giáo dục và tổ chức thực hiện. Sau khi được Bộ Giáo dục phê chuẩn, cơ quan quản lí giáo dục cấp tỉnh có thể độc lập xây dựng kế hoạch chương trình và chuẩn chương trình sử dụng trong phạm vi của tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương. Như vậy, quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lí chương trình cấp địa phương thể hiện ở chỗ chấp hành nghiêm túc kế hoạch chương trình và chuẩn Chương trình quốc gia, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế và nhu cầu phát triển của địa phương để phát triển chương trình địa phương, chỉ đạo các trường thực hiện sáng tạo chương trình do quốc gia và địa phương xây dựng.

Trường học, đồng thời với việc chấp hành Chương trình quốc gia và chương trình địa phương, phải căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương, kết hợp với truyền thống và ưu thế của nhà trường, hứng thú và nhu cầu của học sinh để xây dựng hoặc lựa chọn chương trình thích hợp với nhà trường. Như vậy, trường học vừa là cơ sở chấp hành kế hoạch chương trình, vừa là nơi thực sự tiến hành giáo dục, biến chương trình lí tưởng thành chương trình hiện thực, cấp trường có quyền và trách nhiệm phản ánh những vấn đề gặp phải trong khi thực hiện Chương trình quốc gia và địa phương, đồng thời, trên cơ sở bảo đảm chương trình nhà trường nhất trí với mục tiêu Chương trình quốc gia và chương trình địa phương. Khuyến khích, động viên giáo viên, cha mẹ học sinh, nhân sỹ trong cộng đồng và học sinh tham gia vào việc quyết định chương trình, phát triển chương trình nhà trường phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. Nhà trường phải báo cáo định kì với cơ quan cấp trên để tổ chức thẩm định chương trình nhà trường, tạo nên sự kết hợp hữu cơ giữa Chương trình quốc gia, chương trình địa phương và chương trình nhà trường, thực hiện việc tối ưu hoá cơ cấu Chương trình giáo dục phổ thông.

Hệ thống quản lí chương trình mới này có mục đích thay đổi cách quản lí chương trình quá tập trung của Nhà nước trước đây, nhấn mạnh việc dành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ làm giáo dục và tự chủ về chương trình nhiều hơn nữa; tạo điều kiện để các địa phương và nhà trường phát triển chương trình mang bản sắc riêng của mình.

3. Đánh giá kết quả thử nghiệm chương trình

Đối tượng của việc đánh giá chương trình bao gồm việc lập chương trình, thực hiện chương trình, kết quả thực hiện chương trình...

Như vậy, cùng với việc đánh giá các thành tố thuộc cấu trúc của chương trình như: mục tiêu, nguyên tắc xây dựng chương trình, nội dung... còn phải đánh giá tác động của chương trình đối với các đối tượng tham gia vào việc thực hiện chương trình, như: giáo viên, học sinh, nhà trường cũng như phải đánh giá kết quả của hoạt động thực hiện chương trình, tức là sự phát triển của học sinh, của giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường.

Để có thể tiến hành đánh giá chương trình, Bộ Giáo dục Trung Quốc đã chỉ đạo các cơ quan quản lí, viện nghiên cứu, các trường đại học..., xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chương trình bao gồm:

- Tiêu chí đánh giá việc xây dựng chương trình, bao gồm: Bối cảnh, mục tiêu, nguyên tắc xây dựng chương trình, cấu trúc nội dung, tính khả thi...

Xuất phát từ quan niệm “Chương trình chính là nội dung dạy học”, nên việc đánh giá chương trình tập trung vào: Chương trình tổng thể, chương trình môn học và tài liệu dạy học.

- Tiêu chí đánh giá quá trình thực hiện chương trình.

Do giáo viên là người thực hiện chương trình thông qua việc dạy học, nên tiêu chí đánh giá việc thực hiện chương trình chủ yếu tập trung vào việc dạy học của giáo viên.

- Tiêu chí đánh giá thành quả của chương trình, bao gồm: tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực của học sinh, tiêu chí đánh giá việc phát triển chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên và tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lí của nhà trường.

Theo quy định của Bộ luật dân sự, người ký hợp đồng phải là người đại diện theo pháp luật hoặc người được người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ủy quyển[1].

Việc ủy quyền có thể được thể hiện bằng các hình thức văn bản khác nhau như quyết định ủy quyền, giấy ủy quyền, biên bản ủy quyền hoặc văn bản ủy quyền khác, kể cả thể hiện thông qua việc ghi trong Điều lệ doanh nghiệp, quy chế, quy định nội bộ hay biên bản, nghị quyết họp, văn bản giao, phân công nhiệm vụ. Nếu doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, thì người ký phải phù hợp với ý chí của người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền theo quy định của Điều lệ công ty. Đồng thời hợp đồng được ký phải được cơ quan có thẩm quyền của doanh nghiệp như Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hay chủ sở hữu thông qua, nếu như phải thông qua các cơ quan này theo quy định của Luật doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty.

Nếu như hợp đồng, giao dịch được ký trước khi có văn bản, bằng chứng pháp lý thể hiện ý chí đồng ý của người đại diện theo pháp luật, tức là ký kết không đúng thẩm quyền, nhưng vẫn được thừa nhận là hợp pháp nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng, người mà theo quy định của pháp luật có thẩm quyền ký kết hợp đồng đó chấp thuận. Ở đây, việc được coi là chấp thuận khi người đó đã biết hợp đồng đã được ký kết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý thuộc một trong các trường hợp sau đây[2]:

Thứ nhất, người được đại diện đã công nhận giao dịch;

Thứ hai, sau khi hợp đồng đã được ký kết, có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người ký kết hợp đồng đã báo cáo với người có thẩm quyền biết hợp đồng đã được ký kết (việc báo cáo đó được thể hiện trong biên bản họp giao ban của Ban Giám đốc, biên bản cuộc họp của Hội đồng thành viên hay Hội đồng quản trị, có nhiều người khai thông nhất về việc báo cáo là có thật,...);

Thứ ba, người có thẩm quyến thông qua các chứng từ, tài liệu về kế toán, thông kê biết được hợp đồng đó đã được ký kết và đang được thực hiện (đã ký trên hóa đơn, phiếu xuất kho, các khoản thu, chi của việc thực hiện hợp đồng hoặc trên sổ sấch kế toán của doanh nghiệp,...);

Thứ tư, người có thẩm quyền có những hành vi chứng minh có tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng (ký các văn bản xin gia hạn thời gian thanh toán, cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, ký các văn bản duyệt thu, chi hay quyết toán đối chiếu công nợ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng,...);

Thứ năm, người có thẩm quyền đã trực tiếp sử dụng các tài sản, lợi nhuận có được do việc ký kết, thực hiện hợp đồng mà có (sử dụng xe ô tô để đi lại, để kinh doanh mà biết do việc ký kết, thực hiện hợp đồng đó mà có; sử dụng trụ sở làm việc do việc ký kết, thực hiện hợp đồng thuê tài sản,...);

Thứ sáu, người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.

Luật doanh nghiệp có một số quy định trực tiếp hoặc gián tiếp cho phép người ký các hợp đồng, giao dịch không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty mà không cần phải có sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty. Chẳng hạn như các quy định dưới đây:

Quy định về việc người quản lý doanh nghiệp bao gồm các chức danh quản trị, điều hành và “cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”[3].

Quy định về việc “người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp”[4].

Quy định về một trong các quyền và nghĩa vụ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của các công ty trách nhiệm hữu hạn là được nhân danh công ty ký kết các hợp đồng, thỏa thuận nhân danh công ty, trừ khi việc kí kết thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty[5].

Quy định về một trong các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị công ty cổ phần là ký hợp đồng lao động đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác của công ty[6]. Quy định này không chính xác ở chỗ, ký hợp đồng thì phải là Chủ tịch Hội đồng quản trị, còn Hội đồng quản trị thì chỉ có quyền thông qua, quyết định,... chứ không có quyền ký hợp đồng.

Như vậy, các quyền ký hợp đồng trong các trường hợp kể trên của người thành lập doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị là do luật định, mà không cần phải là người đại diện theo pháp luật của công ty cũng đương nhiên được quyền ký hợp đồng.

Trên thực tế cũng xảy ra một số trường hợp, một người có hai chức danh là Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc, nhưng chỉ có một chức danh gắn với vai trò là người đại diện theo pháp luật. Người này đã ký hợp đồng, nhưng lại ghi và ký, đóng dấu với chức danh Giám đốc (không phải là người đại diện theo pháp luật). Sau đó viện cớ không do người đại diện theo pháp luật ký hoặc ủy quyền.

Trường hợp trên không thể thoái thác trách nhiệm vì hai lý do. Thứ nhất, một người đồng thời đóng hai vai trò, khi ký hợp đồng thì đương nhiên phải được xác định là người đại diện theo pháp luật, không cần thiết và không thể thực hiện việc mình ủy quyền cho chính mình. Thứ hai, hoàn toàn có thể căn cứ vào nội dung phân tích nêu trên.

Thực tế cũng xảy ra nhiều Trường hợp, người ký hợp đồng không có văn bản ủy quyền riêng của người đại diện theo pháp luật, mà chỉ có biên bản, nghị quyết hoặc văn bản khác ủy quyền hoặc giao nhiệm vụ của các cơ quan của công ty như Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị.

Đối với trường hợp này, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty cũng tham gia ký nghị quyết hoặc biểu quyết đồng ý với việc phân công đó thì thực chất cũng tương đương với việc đồng ý ủy quyền của người đại diện theo pháp luật.

Nếu người đại diện theo pháp luật biết nhưng không đồng ý hoặc không có sự tham gia của người đại diện pháp luật thì coi như chưa có sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, khi đó vẫn có thể căn cứ vào nội dung phân tích tại các mục trên để khẳng định việc ký hợp đồng là hợp pháp hay không.

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng sẽ bị vô hiệu khi và chỉ khi vi phạm vào một hoặc một số trường hợp sau: Thứ nhất, chủ thể tham gia giao dịch không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Thứ hai, mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Thứ ba, người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện. Thứ tư, giao dịch không đáp ứng được về hình thức, trong Trường hợp pháp luật có quy định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch[7].

Hợp đồng có thể bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ. Vô hiệu một phần trong trường hợp khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưỏng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch[8]. Ví dụ giao dịch vô hiệu một phần trong Trường hợp lãi suất cho vay vượt quá mức 13,5% theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 hay quá mức 20% theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 hoặc mức phạt vi phạm hợp đồng vượt quá mức 8% phần giá trị bị vi phạm theo quy định của Luật thương mại năm 2005. Khi đó chỉ phần lãi phạt vượt quá mức pháp luật quy định thì mới bị vô hiệu.

Trường hợp chủ thể ký hợp đồng không đúng thẩm quyền hoặc giao dịch mua bán hàng hóa bị cấm giao dịch thì sẽ bị vô hiệu toàn phần. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch được tuyên là vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường[9].

Tuy nhiên, việc vồ hiệu hợp đồng chỉ xảy ra khi một trong hoặc tất cả các bên đểu có yêu cầu khi xảy ra tranh chấp và theo phán quyết của Toà án hoặc Trọng tài. Nếu không có yêu cầu và phán quyết tuyên vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên vẫn có hiệu lực pháp lý đối với các bên.

Bộ luật dân sự quy định, phụ lục hợp đồng là tài liệu kèm theo hợp đồng, để quy định chi tiết một số đỉều khoản của hợp đồng và có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng. Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi[10].

Theo như quy định trên, cần hiểu rằng, phụ lục hợp đồng là một tài liệu kèm theo ngay tại thời điểm ký hợp đồng, chứ không phải là văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng.

Trên thực tế, đang phổ biến hai Trường hợp. Thứ nhất, phụ lục là một bộ phận kèm theo hợp đồng ngay tại thời điểm ký đúng như quy định của Bộ luật dân sự. Thứ hai, phụ lục là văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng, giống với quy định của Bộ luật lao động. Trường hợp thứ nhất thường được gọi là văn bản hay biên bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Trong trường hợp thứ hai thì nội dung của phụ lục gần như luôn luôn trái với hợp đồng, vì đó chính là lý do phải sửa đổi, bổ sung.

 


[1] Khoản 3 Điều 86 về “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân” và Điều 91 về “Đại diện của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 85 về “Đại diện của pháp nhân”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Tham khảo nội dung quy định tại khoản 1 Mục I Nghị quyết s 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27-5-2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế”; Điều 154 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện, Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 145 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 142 về hậu quả của giao dịch dân sự do ngưòi không có quyền đại diện xác lập, thực hiện, Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Khoản 18 Điểu 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[4] Khoản 1 Điều 19 về “Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[5] Điểm e khoản 2 Điều 64 về “Giám đốc, Tổng giám đốc”; điểm e khoản 2 Điều 81 về “Giám đổc, Tổng giám đốc”; điểm đ khoản 2 Điều 99 “Giám đốc, Tổng giám đốc”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[6] Điểm i khoản 2 Điều 149 về “Hội đồng quản trị”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

409

[7] Điều 117 về “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự”, Điều 122 về “Giao dịch dân sự vô hiệu”, Điều 407 về “Hợp đồng vô hiệu”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[8] Điều 130 về ’’Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[9] Điều 137 vể “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, Bộ luật dân sự năm 2005; Điểu 131 về “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, Bộ luật dân sự năm 2015.

[10] Điều 410 về “Phụ lục hợp đồng”, Bộ luật dân sự năm 2005; Điểu 403 về “Phụ lục hợp đồng”, Bộ luật dân sự năm 2015.

1. Ban kiểm soát trong công ty

Theo quy định tại Điểu 55 và khoản 1 Điều 134 về Luật doanh nghiệp năm 2014 thì công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có từ 11 thành viên trở lên và công ty cổ phần có từ 11 cổ đông trỏ lên hoặc có dưới 11 cổ đông, nhưng các cổ đông là tổ chức sở hữu từ 50% tổng số cổ phần của công ty trở lên thì phải thành lập Ban kiểm soát; Trường hợp công ty TNHH có ít hơn 11 thành viên hoặc çông ty cổ phần có dưới 11 cổ đồng và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưói 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Việc thành lập Ban kiểm soát trong Trường hợp này do công ty tự quyết định phù hợp với yêu cầu quản trị công ty.

Ban kiểm soát giám sát các hoạt động quản lý và điều hành của các cơ quan quản trị điều hành công ty; kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điểu hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính. Ban kiểm soát các loại hình công ty khác nhau cũng có các quyền và nghĩa vụ khác nhau[1].

Luật doanh nghiệp năm 2014 không quy định về Ban kiểm soát đối với ba loại hình doanh nghiệp là: Công ty TNHH một thành viên chủ sở hữu là cá nhân, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Như vậy, với quy định bắt buộc phải có Ban kiểm soát như đã nêu trên, thì đa số các công ty cổ phần hiện nay là không bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Ngay đối với trường hợp công ty cổ phần phải có Ban kiểm soát, nếu như Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định duy nhất một mô hình là Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi nhiệm, thì Luật doanh nghiệp năm 2014 cho phép doanh nghiệp lựa chọn một trong hai mô hình khác nhau, có và không có Ban kiểm soát.

Mô hình thứ nhất, bắt buộc phải có Ban kiểm soát thuộc Đại hội đồng cổ đông giông như quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005.

Mô hình thứ hai, không bắt buộc phải có Ban kiểm soát thuộc Đại hội đồng cổ đông. Cơ chế Ban kiểm soát được thay thế bằng quy định thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Trong trường hợp này, các thành viên độc lập Hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty[2].

Đối với Trường hợp có Ban kiểm soát thì “Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ Trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn” (Khoản 2 Điều 163 Luật doanh nghiệp năm 2014).

Trưởng Ban kiểm soát của doanh nghiệp nhà nước phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc liên quan đến chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh được đào tạo; không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác; không được đồng thời là Kiểm soát viên, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước[3].

Việc quy định đỉều kiện của Trưỏng Ban kiểm soát đối với cồng ty nhà nước hoặc công ty đại chúng thì còn có sự hợp lý nhất định. Nhưng việc quy định hai điều kiện này đối với Trưỏng Ban kiểm soát của tất cả các công ty cổ phần là không hợp lý và không cần thiết. Quy định này không có trong Luật doanh nghiệp năm 1999 và năm 2005.

Về điều kiện chuyên môn “là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp” thì buộc Trưởng Ban kiểm soát phải bảo đảm điều kiện tối thiểu theo đúng câu chữ luật định. Còn đối với yêu cầu “làm việc chuyên trách” thì không có nghĩa là phải làm việc 8 tiếng mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần… Hơn thế nữa, trong Trường hợp này, Trưởng Ban kiểm soát làm việc cho công ty với tư cách như một người lao động, mà Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) cho phép người lao động được làm việc đồng thời cho nhiều doanh nghiệp, miễn là “bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết”[4].

Trong Trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Kế toán trưởng trong công ty

Tất cả các doanh nghiệp (gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), trừ doanh nghiệp siêu nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế; chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, đều phải có kế toán trưởng. Trường hợp chưa bổ nhiệm được ngay kế toán trưỏng thì phải bố trí người phụ trách kế toán hoặc thuê dịch vụ làm kế toán trưởng. Thời gian bố trí người phụ trách kế toán tối đa là 12 tháng, sau thời gian này doanh nghiệp phải bố trí người làm kế toán trưởng[5].

Riêng các doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được bố trí phụ trách kế toán mà không bắt buộc phải bố trí kế toán trưởng[6].

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định kế toán trưỏng có phải là người quản lý công ty hay không là theo quy định của Điều lệ công ty[7]. Riêng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định, kế toán trưởng là người điều hành tổ chức tín dụng[8].

Luật doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định, việc miễn nhiệm, cách chức Kế toán trưởng do Điểu lệ công ty quy định[9]. Quy định này có thể hiểu theo hai cách khác nhau. Thứ nhất, các trường hợp và thẩm quyền miễn nhiệm, cách chức Kế toán trưỏng phải được quy định cụ thể trong Điều lệ công ty giống như đốỉ với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Thứ hai, việc miễn nhiệm, cách chức Kế toán trưỏng cũng như các chức danh quản lý khác chỉ cần Điều lệ chỉ ra là thuộc thẩm quyền của cơ quan, chức danh nào trong công ty. Ở đây có thể thấy rằng hiểu theo cách thứ hai là hợp lý hơn.

Việc thay đổi Kế toán trưởng, trưỏng phòng tài chính kế toán của doanh nghiệp nhà nước thì phải công bố trên trang thông tin điện tử và ấn phẩm (nếu có) và niêm yết công khai tại trụ sở chính và địa điểm kinh doanh của công ty trong thời hạn 36 giờ[10].

Kế toán trưởng phải ký tên trong các văn bản tài liệu như Sổ kế toán, Báo cáo tài chính của công ty.

Kế toán trưỏng có quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ kế toán; có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán trong doanh nghiệp. Kế toán trưởng của doanh nghiệp nhà nước còn có thêm nhiệm vụ giúp người đại diện theo pháp luật của công ty giám sát tài chính tại công ty.

Kế toán trưởng là người đứng đầu bộ máy kế toán của doanh nghiệp và chịu sự lãnh đạo của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; trường hợp có đơn vị kế toán cấp trên thì đồng thời chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của kế toán trưởng cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ[11].

Vì vậy, ở một số công ty, Kế toán trưởng có thể kiêm hoặc không kiêm nhiệm Trưỏng phòng kế toán.

Bên cạnh đó, Luật kế toán năm 2015 quy định một trong các trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là bố trí người làm kế toán trưởng hoặc quyết định thuê dịch vụ làm kế toán trưỏng[12]. Trong khi đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng như năm 2014 lại quy định một trong các trách nhiệm Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên là “quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với kế toán trưởng[13].

Như vậy, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty không biểu quyết thông qua việc bổ nhiệm hoặc thuê người làm kế toán trưởng, thì việc quyết định của Hội đồng thành viên là trái với Luật kế toán năm 2015. Ngược lại, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty thực hiện việc bổ nhiệm Kế toán trưởng mà không thông qua Hội đồng thành viên thì trái với Luật doanh nghiệp năm 2014. Ngoài ra, đối với những công ty có từ hai người đại diện theo pháp luật trở lên, thì người nào hay tất cả cùng có thẩm quyền bổ nhiệm hay tham gia bổ nhiệm kế toán trưởng? Nếu Điều lệ công ty không quy định rõ điểu này, thì lại thêm một vướng mắc khi phải thực hiện theo Luật kế toán. Việc bố trí nhân sự theo quy định của Luật kế toán cũng như Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) chỉ là một khái niệm khái quát, trên thực tế phải được thực hiện bằng các thủ tục pháp lý cụ thể như bổ nhiệm, ký hợp đồng, ủy quyền, giao nhiệm vụ.

Vì vậy, để bảo đảm tuân thủ đúng quy định của cả hai đạo luật về việc “bố trí” và “bổ nhiệm” kế toán trưởng thì cần thực hiện theo một trong hai cách. Thứ nhâ't, quyết định bổ nhiệm kế toán trưỏng của người đại diện theo pháp luật công ty phải căn cứ vào nghị quyết bổ nhiệm của Hội đồng thành viên. Thứ hai, Hội đồng thành viên có thể bổ nhiệm kế toán trưdng, nếu người đại diện theo pháp luật cũng là một thành viên biểu quyết tán thành với việc bổ nhiệm. Đối với công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, nếu Điều lệ không quy định cụ thể người nào có thẩm quyền liên quan đến việc bổ nhiệm Kế toán trưởng, thì nên để cho tất cả đều tham gia và giao cho một người ký quyết định bổ nhiệm.

 


[1] Điều 82 về “Kiểm soát viên”, Điều 102 vể “Ban kiểm soát”, Điều 104 vế “Quyển của Ban kiểm soát và Kiểm soát viền”, Điều 163 về “Ban kiểm soát” và Điều 165 về “Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[2] Khoản 1 Điều 134 về “Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cể phần”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[3] Điều 103 về "Tiêu chuẩn và điều kiện đối với Kiểm soát viên”, Luật doanh nghiệp nảm 2014.

[4] Điều 21 về “Giao kết hợp đồng lao động với nhiều ngưòi sử dụng lao động”, Bộ luật lao động năm 2012 (sửa đổi, bổ sung theo Bộ luật tấ tụng dân sự năm 2015).

[5] Điều 49 về “Tổ chức bộ máy kế toán”, Luật kế toán năm 2015; khoản 1 Điều 20 về “Kế toán trưởng, phụ trách kế toán”, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30-12-2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật kế toán”.

[6] Điểm b khoản 2 Điều 20 về “Kế toán trưởng, phụ trách kế toán”, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30-12-2016 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật kế toán”.

[7] Khoản 3 Điều 56 về “Hội đồng thành viên”; Điều 101 về “Miễn nhiệm, cách chức đối với Giám đốc, Tổng giám đốc và ngưòi quản lý công ty khác”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[8] Khoản 32 Điều 4 về “Giải thích từ ngữ”, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[9] Khoản 3 Điều 101 vể “Miễn nhiệm, cách chức đối với Giám đốc, Tổng giám đốc và ngưòi quản lý công ty khác”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[10] Khoản 1 Điều 109 về “Công bố thông tin bất thưòng”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

[11] Khoản 3 Điều 53 về “Kế toán trưỏng”, Luật kế toán năm 2015.

[12] Khoản 2 Điều 50 về “Trách nhiệm của ngưòi đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán”, Luật kế toán năm 2015.

[13] Điểm đ khoản 2 Điều 56 về “Hội đồng thành viên”, Luật doanh nghiệp năm 2014.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành