Việt Nam là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển trong khu vực Đông Nam Á, có vai trò tăng cường hỗ trợ an ninh lương thực cho các quốc gia khác. Thời gian qua, Chính phủ đã triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực trong thời gian dịch Covid-19 nhưng vẫn là một thách thức lớn đối với an ninh lương thực quốc gia. Do đặc điểm về địa lý và khí hậu của Việt Nam, bên cạnh đặc điểm dân số với hơn 80% sống phụ thuộc vào nông nghiệp cần phải có chiến lược vừa đảm bảo an ninh lương thực dài hạn, vừa đáp ứng các lợi ích về kinh tế xã hội của quốc gia.

Chính phủ đã có những giải pháp kịp thời khôi phục và phát triển sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tình trạng xâm nhập mặn và dịch bệnh kéo dài nhằm đảm bảo các phương án sản xuất phù hợp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho 100 triệu dân.

Căn cứ vào quy hoạch đất lúa và sản xuất lúa gạo nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và chính sách bảo đảm lợi ích cho người trồng lúa, địa phương và vùng trồng lúa; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020[1], theo đó xác định rõ diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ, điều tiết phân bổ nguồn lực để đảm bảo lợi ích giữa các địa phương có điều kiện phát triển công nghiệp với các địa phương giữ đất trồng lúa, tăng đầu tư hạ tầng, xây dựng cơ sở bảo quản chế biến, tiêu thụ hàng hóa tại các địa phương giữ nhiền đất trồng lúa; có chính sách, biện pháp để giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập để người trồng lúa yên tâm sản xuất. Thời gian qua, Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo đánh giá toàn diện về khả năng thích nghi, dự báo về diện tích, năng suất, sản lượng lúa theo các kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) phù hợp với 7 vùng kinh tế - xã hội. Để thích ứng với điều kiện thực tế, Chính phủ đề nghị quốc hội điều chỉnh quy hoạch đất, theo đó tại Nghị quyết số 134/2016/QH13 về “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) cấp Quốc gia” đã điều chỉnh giảm đến năm 2020 còn 3,76 triệu ha, trong đó điều chỉnh giảm diện tích đất canh tác 2 vụ từ 3,2 triệu ha xuống 3,13 triệu ha, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu. Năm 2016, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 là 27,038 triệu ha, trong đó đất trồng lúa cần giữ và bảo vệ là 3,760 triệu ha[2]. Trên thực tế, diện tích đất lúa hiện nay vẫn ở mức 4,12 triệu ha (năm 2018).

Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy hoạch sản xuất lúa theo quy hoạch tổng thể sử dụng đất lúa toàn quốc; Quy hoạch phát triển sản xuất lúa Thu Đông vùng ĐBSCL[3]; Đề án phát triển sản xuất lúa vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu[4]; Quy hoạch hệ thống dự trữ 4 triệu tấn lúa tại vùng ĐBSCL. Các quy hoạch này được xây dựng đảm bảo sự thống nhất và phù hợp về quy mô và địa bàn bố trí diện tích đất trồng lúa với quy hoạch sử dụng đất trên phạm vi toàn quốc. Trên cơ sở đó, đến nay sản xuất lúa vẫn đảm bảo quy mô diện tích và mục tiêu an ninh lương thực quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ đã tính toán các phương án để khi cần có thể tận dụng cơ hội về giá và nhu cầu lương thực trên thế giới để tăng xuất khẩu lương thực ở mức hợp lý, đây có thể coi là cơ hội chuyển mình theo hướng tích cực của nền nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện tại.

Có thể điểm qua các chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện an ninh lương thực trong thời gian qua để thấy được vai trò không thể thay thế của nền nông nghiệp hiện nay. Trong vòng 10 năm từ 2009 -2019 sản lượng lúa của cả nước từ 39,17 triệu tấn lên 43,4 triệu tấn, bình quân lương thực đầu người tăng từ 497kg/năm lên trên 525kg/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 6 nước hàng đầu về chỉ số này và vai trò của Việt Nam trong hỗ trợ an ninh lương thực cho các quốc gia khác ngày càng tăng.

Trong năm 2020 do tình hình về thời tiết khắc nghiệp, hạn mặn nặng nề ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, dịch tả lợn châu Phi trên cả nước, dịch cúm gia cầm chưa kiểm soát, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 trên toàn cầu vẫn diễn biến phức tạp nhưng Việt Nan vẫn duy trì được sản lượng các loại nông sản ổn định và tăng so với năm 2019.

Bên cạnh đó, kế hoạch thực hiện quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa đã đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường và thực tiễn sản xuất; nhằm mục tiêu vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa duy trì quỹ đất trồng lúa, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng đất lúa linh hoạt hơn, cho phép người dân chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa để lựa chọn phương án sản xuất hiệu quả nhất[5] (ngân sách Trung ương hỗ trợ ngân sách địa phương trên 40 tỷ đồng/năm). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa giai đoạn 2014 - 2020 (Quyết định số 3367/QĐ-BNN-TT ngày 31/7/2014), phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa đến năm 2020 (Quyết định số 586/QĐ-BNN-TT ngày 12/02/2018); trong đó, quy hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ, giống phù hợp, thích ứng với BĐKH của các vùng sinh thái. Giai đoạn 2013 - 2019, các địa phương đã chuyển đổi khoảng 405 ngàn ha gieo trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả và các cây màu, cây làm thức ăn chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao hơn, rõ nhất là ở vùng ĐBSCL và vùng ĐBSH (mục tiêu đến năm 2020 cả nước chuyển đổi 700 ngàn ha). Năm 2018, Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Trồng trọt; trong đó luật hóa những quy định làm cơ sở để điều chỉnh, hoàn thiện khung pháp lý đầy đủ hơn cho vấn đề ANLT quốc gia trong tình hình mới.

Từ những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước trong suốt 10 năm qua, có thể đánh giá về kết quả phát triển sản xuất nông nghiệp trong lĩnh vực an ninh lương thực của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu. Đầu tiên phải kể đến các kết quả trong lĩnh vực nông nghiệp đã phát huy các lợi thế nhiệt đới, nguồn nước và từng vùng, miền; sản xuất hàng hóa chuyển dịch theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và bền vững, năng suất và chất lượng ngày càng cao[6]; vận hành theo cơ chế thị trường, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; giảm nghèo bền vững; tiếp tục khẳng định được vị thế quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt khi kinh tế - xã hội có khó khăn. Giai đoạn 2009 - 2019, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành đạt 2,61%/năm[7], tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn ngành đạt 3,64%/năm; giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt tăng 2,9%/năm, lĩnh vực chăn nuôi tăng 5,2%/năm, lĩnh vực thủy sản tăng 3,91%/năm. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện; giá trị và sản lượng nhiều nông sản tăng mạnh, sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, an toàn vệ sinh thực phẩm được ưu tiên.

Từ năm 2013, thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế, phù hợp thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Cơ cấu lương thực thực phẩm xuất khẩu thể hiện rõ kết quả tăng tỷ trọng các ngành, sản phẩm có lợi thế và thị trường như: thủy sản, rau quả, gạo chất lượng cao[8]... So sánh với giai đoạn trước, tốc độ tăng trưởng của các ngành hàng này cao hơn. Đây là kết quả tích cực trong quá trình cơ cấu lại lĩnh vực trồng trọt, thủy sản.

Đối với các ngành sản xuất lương thực thực phẩm tăng trưởng khá ổn định, đặc biệt lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản cũng thu được nhiều thành quả cao, góp phần vào đảm bảo an ninh lương thực và thức đẩy kinh tế xã hội phát triển, tiến kịp với hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là giai đoạn đầu năm 2020, khi dịch bệnh Covid 19 hoành hành ở nhiều nước trên thế giới. Các thành quả cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong lĩnh vực trồng trọt thu được sản lượng lương thực, thực phẩm dồi dào, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Giá trị sản phẩm thu được trên 01 ha đất trồng trọt năm 2018 đạt 91,9 triệu đồng, gấp 2,02 lần năm 2009[9]. Sản lượng lúa gạo tăng từ 39,2 triệu tấn năm 2009 lên 43,45 triệu tấn năm 2019 (tăng 12,2%), sản lượng nhóm rau quả có mức tăng trưởng nhanh: rau các loại tăng từ 9,75 triệu tấn năm 2009 lên 17,6 triệu tấn năm 2019 (tăng 80,5%), trái cây tăng từ 6 triệu tấn[10] năm 2009 lên 12,6 triệu tấn giai đoạn 2009 - 2019[11]. Nhiều mặt hàng còn được xuất khẩu với giá trị cao, đã có 07 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 01 tỷ USD/năm[12]. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu nhóm cây ăn quả và rau đã tăng rất nhanh, từ 0,4 tỷ USD năm 2009 lên 3,7 tỷ USD năm 2019 (tăng 8,7 lần).

Không chỉ đẩy mạnh áp dụng công nghệ nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn đẩy mạnh áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, sử dụng nhà lưới, nhà kính; phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm và đảm bảo an toàn thực phẩm. Kết quả điều tra nông nghiệp, nông thôn 2016 cho thấy tại thời điểm điều tra cả nước có 1.495 đơn vị được cấp chứng nhận VietGAP và tương đương, trong đó trồng trọt có 1.200 đơn vị chiếm 80,2% tổng số đơn vị VietGAP; 5.897,5 ha nhà lưới nhà kính nhà màng, trong đó 2.144,6 ha trồng rau, 2.854,3 ha trồng hoa, 661,1 ha trồng cây giống.

Thứ hai, đối với lĩnh vực chăm nuôi cũng có sự chuyển biến rõ nét khi các sản phẩm chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, góp phần đa dạng dinh dưỡng mà bước đầu đã xuất khẩu được sang các thị trường có yêu cầu cao. Nhờ chuyển đổi sang phát triển chăn nuôi tập trung theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, sản lượng thịt, trứng, sữa tăng mạnh: thịt hơi các loại tăng từ 3,91 triệu tấn năm 2009 lên 5,02 triệu tấn năm 2019; thịt gia cầm tăng 2,1 lần; sữa các loại tăng 3,36 lần; trứng tăng 2,13 lần.

Thứ ba, trong lĩnh vực thủy sản đã chú trọng đến phát triển không chỉ đáp ứng được xu hướng ngày càng cần bổ sung nhiều protein, chất béo omega-3... từ thủy hải sản cho người dân mà còn xuất khẩu sang các nước khác. Giá trị sản xuất tăng 3,91%/năm. Đã phát triển toàn diện cả khai thác, nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi. Trong nuôi trồng, tập trung chủ yếu vào nuôi trồng các sản phẩm có lợi thế và giá trị cao; phát triển nuôi thâm canh, công nghiệp, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến và nuôi theo các tiêu chuẩn chứng nhận (GAPs). Giá trị sản phẩm thu được/ha đất nuôi trồng đạt 226,3 triệu đồng, gấp 2,6 lần năm 2009. Sản lượng thuỷ sản đã tăng từ 4,85 triệu tấn năm 2009 (khai thác 2,28 tấn, nuôi trồng 2,57 triệu tấn) lên 8,2 triệu tấn năm 2019 (khai thác 3,8 triệu tấn, nuôi trồng 4,4 triệu tấn), tăng 69,1%.

 


[1]Nghị quyết số 17/2011/QH13 về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm ( 2011 - 2015) và Nghị quyết số 134/2016/ QH13 ngày 09/4/2016 về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất cuối kì (2016 -2020 ) cấp quốc gia.

[2] Nghị quyết số 134/2016/QH13 ngày 09/4/2016 của Quốc hội về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2016-2020) cấp quốc gia

[3] Quyết định số 101/QĐ/BNN-TT ngày 15/01/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duỵệt Quy hoạch phát triến sản xuất lúa Thu đông vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

[4] Quyết định số 1915/QĐ/BNN-KH ngày 25/5/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt Đề án sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biển đổi khí hậu.

[5]các Nghị định: số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, số 62/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 580/QĐ-TTg ngày 22/4/2014, số 915/QĐ-TTg ngày 27/5/2016;

[6] Nhiều mặt hàng có năng suất cao, chi phí sản xuất thấp, có lợi thế cạnh tranh cao và đang từng bước chiếm lĩnh thị trường thế giới. Năng suất lúa gạo cao nhất trong khu vực Đông Nam Á đạt 5,6 tấn/ha, gần gấp đôi so với Thái Lan và gấp 1,5 lần so với Ấn Độ; năng suất cà phê đạt 2,6 tấn nhân xô/ha, cao gấp 1,5 lần so với Brazil, gấp 3 lần so với Colombia, Indonesia; năng suất hồ tiêu đạt 2,6 tấn/ha, gấp 3 lần so với Indonesia và 1,3 lần của Ấn Độ; năng suất cá tra bình quân đạt 209 tấn/ha, có ao nuôi đạt 300 - 400 tấn/ha, cao nhất thế giới; năng suất tôm sú đạt 0,45 tấn/ha, tôm thẻ chân trắng đạt 3.91 tấn/ha, cao hơn so với Ấn Độ (tôm thẻ chân trắng năng suất 3,5 tấn/ha) và Thái Lan (tôm thẻ chân trắng năng suất 3,6 tấn/ha).

[7] Năm 2008 tốc độ tăng GDP ngành là 4,68%; giai đoạn 5 năm (2009 - 2013) GDP ngành tăng bình quân 2,9%/năm, giai đoạn 4 năm (2014 - 2018) GDP ngành tăng 2,60%/năm, năm 2019 tăng 2,01%.

[8] Các loại cây có lợi thế (rau quả, điều và tiêu) không chỉ tăng diện tích, sản lượng mà kim ngạch xuất khẩu cũng tăng khá cao: rau quả tăng 43,36%/năm, hạt điều tăng 24,36%/năm và hạt tiêu tăng 8,94%/năm.

[9] Giá trị sản phẩm trồng trọt/ha năm 2009 là 45,5 triệu đồng/ha

[10] Một số loại trái cây chính như cam, quýt, dứa, chuối, xoài, nhãn, vải, chôm chôm, dừa, bưởi, thanh long

[11] Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2019 là 10,93 triệu tấn

[12] gồm: rau quả, gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, sắn và sản phẩm từ sắn

Xét từ quan điểm công nghệ, có hai lý do cho thấy Chiến tranh Thế giới thứ II đã góp phần quan trọng tạo ra những điều kiện buộc Nhật Bản phải tích cực nhập khẩu công nghệ nước ngoài. Thứ nhất, Chiến tranh đã để lại khoảng cách công nghệ lớn. Từ cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế Nhật Bản đã tăng trưởng mạnh. Công nghệ nhập khẩu đã đóng vai trò chính trong quá trình này. Với công nghệ sẵn có và một hệ thống giáo dục tốt hỗ trợ, công nghệ nhập khẩu đã được sử dụng một cách có hiệu quả để tạo ra cơ sở công nghệ riêng của Nhật Bản và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Một số hãng trong lĩnh vực chế tạo đã tiếp cận được công nghệ hàng đầu và đã bắt đầu sản xuất những mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Những hãng này nằm trong ngành đóng tàu, thép, máy bay và các ngành công nghệ chế tạo máy điện. Tuy nhiên, ngay cả những ngành mà ở đó khoảng cách về công nghệ của Nhật Bản đã được thu hẹp nhất này vẫn bị phụ thuộc nặng vào công nghệ nhập khẩu. Vì vậy chúng buộc phải tiếp tục nhập khẩu những công nghệ chính yếu ngay cả sau khi chiến tranh Trung-Nhật nổ ra năm 1937.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thứ ba, 10 Tháng 3 2020 07:58

TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đôi khí hậu: biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh lế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người1.

Theo công trình của nhóm tác giả Nguyễn Văn Thắng thì: biến đổi khí hậu (Climate Change) là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được[1][2].

           (Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm)

 


[1] Công ước khung của Liên hợp quốc (1992).

[2] Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục, Phạm Thị Thanh Hương Nguyễn Thị Lan, Vũ Văn Thăng: Biển đồi khí hậu và tác động ở Việt Nam, H.2010, tr.4.

165

Cán cân thanh toán với vai trò là bảng cân đối ghi sổ kép giao dịch hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với phần còn lại của thế giới trong khoảng thời gian nhất định, trong đó cán cân vãng lai là thành phần chính cùng với cán cân vốn phản ánh tình trạng tiết kiệm và đầu tư của một quốc gia trong nền kinh tế mở. Phân tích diễn biến cán cân thanh toán đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra nhận định về rủi ro kinh tế vĩ mô qua đó cùng với các chỉ số kinh tế khác phản ánh sự hiệu quả trong điều hành chính sách tài khóa. Những thay đổi diễn biến về số liệu thống kê trên cán cân thanh toán có thể sử dụng để hình thành cơ chế cảnh báo sớm giúp các nhà hoạch định chính sách có những điều chỉnh kịp thời để giảm thiểu các rủi ro và các cú sốc từ bên ngoài trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đang hội nhập sâu rộng với các đối tác thương mại lớn trên thế giới. Bài viết sử dụng số liệu đã được công bố về cán cân thanh toán của Việt Nam để phân tích rủi ro.

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng huy động và cho vay cao nhất trong khu vực, trong bối cảnh thị trường vốn còn chưa phát triển, tín dụng ngân hàng luôn đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo trên thị trường tài chính (TTTC). Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ với những đóng góp tích cực cho nền kinh tế trong thời gian vừa qua, tình trạng nợ đọng trong nền kinh tế cùng với những yếu kém nội tại đang đặt hệ thống ngân hàng Đứng trước những rủi ro lớn về thanh khoản, nợ xấu, thậm chí một số tổ chức tín dụng (TCTD) còn phải đối mặt trước nguy cơ mất khả năng thanh toán.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm. 

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập và tổ chức hoạt động theo Nghị định 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 34/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC; Quyết định số 843/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, VAMC là công cụ đặc biệt của Nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng (TCTD), doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế. Các hoạt động chính của VAMC là mua nợ xấu của các TCTD; thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ tài sản bảo đảm. Các cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán nợ của VAMC cũng từng bước được hoàn thiện nhằm tạo sơ sở pháp lý cho VAMC thực hiện mua, bán nợ xấu của các TCTD; đồng thời, khuyến khích TCTD bán nợ xấu cho VAMC (Quyết định số 2358/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 18/2015/TT-NHNN về lãi suất tái cấp vốn của NHNN đối với các TCTD trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC; Thông tư số 19/2013/ TT-NHNN ngày 06/9/2013 của NHNN quy định về việc mua bán và xử lý nợ xấu của VAMC; Thông tư 32/2019/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); Thông tư 18/2015/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC); Thông tư 01/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối với Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

          Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch xem xét lại những cách thức đóng góp vào quá trình làm sống lại sự độc lập kinh tế của việc hợp lý hóa các ngành công nghiệp chủ yếu sau chiến tranh. Việc tái thiết công nghiệp được thực hiện dưới sự điều khiển của SCAP (Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng đồng minh) đánh dấu sự khởi đầu thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh và chấm dứt đường lối Dodge. Cùng với đó là sự hợp lý hoá công nghiệp diễn ra sau khi chấm dứt sự kiểm soát của SCAP, cũng như ý nghĩa của các chính sách của chính phủđối với việc hợp lý hoá công nghiệp cũng được xem xét trong chương này.

Nghiên cứu tài liệu về lịch sử kinh tế Nhật Bản thời kỳ này đã cho thấy việc kiểm soát thương mại có tính chất thù địch của SCAP đã bóp méo quá trình tái thiết công nghiệp và nỗi ám ảnh về cán cân đối ngoại của chính phủ Nhật đã cản trở quá trình hợp lý hoá công nghiệp. Tuy nhiên, mặc dù có những cản trở và bóp méo như vậy, người Nhật cuối cùng vẫn có thể tái thiết và hợp lý hoá được toàn bộ các ngành công nghiệp của mình và giành được sự độc lập kinh tế quốc gia.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thời gian gần đây, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2012 đến nay, thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) Việt Nam đã phát triển với tốc độ nhanh trên tất cả các mặt như tổ chức phát hành, thành viên đấu thầu hay quy định pháp lý. Từ năm 2009 đến 2019, phát hành TPCP đã huy động được 1,96 triệu tỷ đồng cho ngân sách, bình quân đạt khoảng 175 nghìn tỷ đồng/năm; TPCP bảo lãnh huy động được 385.151 tỷ đồng, bình quân khoảng 35.014 tỷ đồng/năm; trái phiếu chính quyền địa phương huy động được 36.924 tỷ đồng, bình quân khoảng 4.615 tỷ đồng/năm. Trong những năm gần đây, kênh huy động vốn TPCP chiếm 75% - 80% trong năm.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Vấn đề phát triển đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường đã được Đảng chú trọng từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thể hiện qua các Nghị quyết, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và trong các chiến lược ngành, lĩnh vực có liên quan. Theo đó, tiếp tục khẳng định vai trò của việc phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường, trong đó phát triển thị trường tài chính (TTTC) với cơ cấu hoàn chỉnh, phạm vi hoạt động mở rộng, vận hành an toàn và đảm bảo việc giám sát hiệu quả. Trong những năm gần đây, TTTC bao gồm thị trường tiền tệ (TTTT)- tín dụng, chứng khoán và bảo hiểm phát triển tương đối ổn định. Đối với TTTT - tín dụng, các mức lãi suất chủ đạo được giữ ổn định, lãi suất huy động và cho vay có xu hướng giảm đã có tác động tích cực đến kinh tế vĩ mô. Thị trường chứng khoán (TTCK) phục hồi trở lại trong năm 2013 - 2014 sau giai đoạn suy giảm 2010-2012, đến nay, thị trưởng chứng khoán hoạt động tương đối ổn định, chỉ số Vn-Index năm 2019 đạt 960,99 điểm, tăng trưởng 7,67% so với năm 2018, thị trường trái phiếu đạt được nhiều thành công với khối lượng trúng thầu năm sau cao hơn năm trước.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Thuế bất động sản (BĐS) là một trong những loại thuế xuất hiện sớm nhất và đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển. So với các loại thuế khác, thuế BĐS có những ưu điểm trong việc tạo nguồn thu ngân sách địa phương do đây là một khoản thu ổn định, cơ sở tính thuế ít biến động. Đối với nhiều quốc gia, thu ngân sách từ thuế BĐS đã trở thành một nguồn thu quan trọng cho địa phương. Mức độ động viên ngân sách từ thuế BĐS của các nước đã có xu hướng tăng dần trong những thập niên vừa qua, từ mức bình quân 0,77% GDP những năm 1970 lên 1,04% GDP những năm 2000 và khoảng trên 1,2% GDP từ những năm 2015 trở lại đây[1]. Các quốc gia có thu nhập càng cao thì mức độ động viên từ thuế BĐS có xu hướng càng cao.

 


[1] Jonh Norregard, Taxing Immovable Property: Revenue Potential and Implement Challenges, IMF Working Paper, 2013

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành