Trên thế giới hiện nay có rất nhiều lý thuyết, quan niệm về an ninh phi truyền thống, tuy nhiên do sự phong phú, đa dạng trong cách tiếp cận vấn đề nên chưa thống nhất được một quan niệm về đến vấn đề này. Ngoài quan niệm về an ninh phi truyền thống của Liên hợp quốc, của ASEAN và thách thức an ninh phi truyền thống của EU, chưa xuất hiện một khái niệm nào bao quát, phản ánh đầy đủ nhất nội hàm an ninh phi truyền thống được đông đảo giới khoa học cũng như công dân trên toàn cầu nhất trí.

Ở nước ta, thuật ngữ an ninh phi truyền thống được sử dụng và trở thành chủ đề thu hút giới nghiên cứu khoa học chính trị, an ninh, quốc phòng cùng thời điểm với sự công bố lý thuyết an ninh truyền thống của các nước trên thế giới.

(Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải tệp đính kèm)

Vấn đề bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Việt Nam đã được thể hiện qua thực tiễn hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới - hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; thể hiện tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xóa đói giảm nghèo bền vững Mục tiêu phát triển nông nghiệp trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011 -2020 là: “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiêu quả, bền vững. Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao. Tăng nhanh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản, nâng cao thu nhập và đời sống nông dân, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quc gia”[1].

Cụ thể hóa đường lối của Đảng về đảm bảo an ninh lương thực, Chính phủ và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều chính sách quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực như: chính sách đất trồng lúa; chính sách phát triển kết cấu hạ tàng vùng trồng lúa; chính sách thương mại gạo; chính sách hỗtrợ nông dân sản xuất lúa, v.v.. Ngày 10-6-2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

 


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.l 13-114.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Thứ năm, 05 Tháng 3 2020 09:42

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC

Lương thực luôn là nhu cầu thiết yếu của con người. Việc đảm bảo lương thực cho con người là vấn đề quan trọng nhất mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Bước sang những thập niên đầu của thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và biến đổi khí hậu toàn cầu, nhiều quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề đảm bảo an ninh lương thực nhằm ổn định và phát triển xã hội - một nội dung quan trọng trong an ninh kinh tế quốc gia. An ninh lương thực ngày càng “nóng” lên, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới gần đây nhất diễn ra vào năm 2008, kể từ đó đến nay giá lương thực trên thế giới vẫn đang có xu hướng tăng lên. Năm 2013, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Thế giới (FAO) đã công bố: thế giới hiện đang có trên 1 tỷ người (chiếm 1/5 dân số) thuộc diện đói nghèo, trong đó phần lớn dân số ở các quốc gia đang phát triển do không đáp ứng được nhu cầu lương thực. Vì vậy, an ninh lương thực ở các quốc gia này đang bị đe dọa và là vấn đề lớn của thế giới hiện nay.

Hội nghị khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 33 tổ chức tại Hà nội,  FAO đã công bố báo cáo toàn cầu "Tác động của thiên tai và khủng hoảng đối với nông nghiệp và an ninh lương thực năm 2017." Báo cáo chỉ ra rằng trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015, thiên tai gây ra thiệt hại ước tính 96 tỷ USD trong trồng trọt và chăn nuôi của các nước đang phát triển. Hạn hán là một trong những nguyên nhân hàng đầu chiếm 83% thiệt hại kinh tế, với thiệt hại cho nông nghiệp ước tính khoảng 29 tỷ USD.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Việc dự báo về trữ lượng dầu lửa và khí đốt biển Đông rất khó khăn do có sự hanh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, đã có những dự báo ban đầu. Theo BP Statistical Review, trữ lượng dầu mò biển Đông có thể thỏa mãn nhu cầu dầu mò Trung Quốc trong 60 năm tới ở mức độ sử dụng của nước này như hiện nay1. EIA ước tính có khoảng xấp xỉ 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên đã được xác định và có tiềm năng trong khu vực trải dài từ Xingapo và eo biển Malacca đến eo biển Đài Loan[1][2]. Hầu hết các mỏ hydrocarbon đều nằm ngoài khu vực tranh chấp. EIA dự báo dự trữ khí đốt sẽ có nhiều tiềm năng hơn so với dự trữ dầu mỏ ở biển Đông. Tuy vậy, việc khai thác và vận chuyển có nhiều khó khăn về địa hình, hải văn và bão1.

Chuyên gia tư vấn năng lượng Wood Mackenzie đưa ra dự báo chỉ có khoảng 2,5 tỷ thùng quy dầu ở biển Đông, và vào tháng 11-2012, CNOOC ước tính có khoảng 125 tỷ thùng dầu và 500 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên nằm trong khu vực chưa được phát hiện[3][4].

Về trữ lượng dầu khí của Việt Nam, trữ lượng dầu khí được phát hiện là 1,3 tỷ tấn quy dầu và đã nghiên cứu đánh giá tiềm năng còn lại của Việt Nam ước đạt 2,8 đến 3,6 tỷ tấn quy dầu[5]. Còn BP ước tính trữ lượng dầu khí đã được chứng minh ca Việt Nam là 4,4 tỷ thùng quy dầu, đứng thứ hai Đông Á, chỉ sau Trung Quốc[6].

 


[1] Biển Đông có bao nhiêu dầu mỏ, Tin Biển Đông, ngày 28-3-2014.

[2] Wendy Laursen: Trữ lượng dầu khí ở biến Đông và thực trạng khai thác - III hội hay thách thức?, Tạp chí Nghiên cứu biển Đông, ngày 27-9-2013.

250

[3] Wendy Laursen: Trữ lượng dầu khí ở biển Đông và thực trạng khai thác - cơ hội hay thách thức?, Tạp chí Nghiên cứu biển Đông, ngày 27-9-2013.

[4] Wendy Laursen: Trữ lượng dầu khí ở biến Đông và thực trạng khai thác - cơ hội hay thách thức?, Tạp chí Nghiên cứu biển Đông, ngày 27-9-2013.

[5] Về trữ lượng dầu khí của Việt Nam, the business.vn, ngày 10-12-2013.

[6] Trữ lượng dầu mỏ ở Việt Nam 4,4 tỷ thùng, VnExpress kinh doanh, ngày 02- 12-2013.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Năng lượng là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động của con người, của quốc gia và toàn nhân loại. Việc đáp ứng nhu cầu về năng lượng trong quá trình phát triển của nhân loại luôn là mối quan tâm hàng đầu. Năng lượng là chỗ dựa, là cơ sở đ nền văn minh nhân loại tiếp tục phát triển. Ngay từ buổi sơ khai, con người tìm ra lửa, biểu hiện đầu tiên của năng lượng - tiền đề đầu tiên cho nền văn minh nhân loại phát triển. Nần văn minh nhân loại không thể thiếu năng lượng. Ngày nay, xã hội càng phát triển thì sự lệ thuộc vào năng lượng, chủ yếu là điện năng ngày càng lớn. Năng lượng chi phối mọi hoạt động của nhân loại trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Năng lượng vốn được con người khai thác từ thiên nhiên để phục vụ con người và sẽ tồn tại dưới dạng chất thải, hay nhiệt. Việc khai thác, chuyển hóa, quản lý, sử dụng chủ yếu nhằm phục vụ mục đích của con người, vì con người. Khoảng 45% năng lượng tiêu thụ dưới hình thức ở nhiệt độ thấp (nấu ăn, đun nước, sưởi ấm,...), 10% cho các quá trình sản xuất cây nông nghiệp, 15% cho động cơ, thắp sáng, thiết bịđiện tử, còn 30% cho giao thông vận tải... Trên thế giới hiện nay, chủ yếu ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, có 2,4 tỷ người còn phải dùng than củi, rơm rạ và các chất thải nông nghiệp khác để làm chất đốt, phục vụ sinh hoạt (nấu cơm, nước,...) và 1,6 tỷ người vẫn chưa có điện. Năm 2000, Liên hợp quốc đưa ra Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học và bình đẳng giới, giảm t lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và sản phụ, bảo đảm môi trường bền vững... Năng lượng là yếu tố cơ bản, tiền đề thực hiện phần lớn mục tiêu trên của Liên hợp quốc.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Trong năm 2012-2013, Hoa kỳ đã phát hiện và truy tố một vụ rửa tiền lớn nhất trong lịch sử nước này, tổng số tiền phi pháp lên đến 6 tỷ USD, gồm tiền buôn ma túy, thu nhập từ hoạt động mại dâm trẻ em, ăn cắp thẻ tín dụng và các tội ác khác trên loàn thế giới.

Tâm điểm của vụ việc là Liberty Reserve, một công ty chuyên chuyển ngoại hối và thực hiện dịch vụ thanh toán có trụ sở tại Costa Rica. Công ty này cho phép khách hàng chuyển tiền nặc danh từ một tài khoản sang một tài khoản khác qua đường internet mà không hề đặt câu hỏi về nhân thân người chuyển và nguồn gốc số tiền.

Công ty này có quy mô rất lớn, chỉ trong khoảng 7 năm, Liberty Reserve đã xử lý 55 triệu giao dịch bất hợp pháp trên toàn thế giới cho 1 triệu khách hàng, trong đó có 200.000 người tại Mỹ.

Mạng lưới này “đã trở thành ngân hàng ngầm của giới tội phạm”. Liberty Reserve cho phép người dùng mở nhiều tài khoản sử dụng những tên giả mạo như “Tin tặc người Nga” và “Tài khoản tin tặc”. Một điều tra viên chìm thậm chí còn có thể đăng ký tài khoản dưới tên “Joe Bogus”, địa chỉ “123 phố giả mạo” tại “thành phố hoàn toàn giả, bang New York” và sau đó thực hiện các giao dịch với nội dung “mạng lưới xâm nhập ATM” để thanh toán “mua cocaine”.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Thứ tư, 04 Tháng 3 2020 09:23

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH TÀI CHÍNH

Tháng 01-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Do ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính, các nước phải đối mặt với rủi ro tài chính ngày càng lớn. Khủng hoảng tài chính đã tr thành mối đe dọa chủ yếu đến an ninh kinh tế thế giới và Việt Nam không nằm ngoài dòng chảy đó. Chính vì thế, việc tăng cường an ninh tài chính, hoàn thiện và cải cách thể chế giám sát tài chính, thiết lập cơ chế ứng phó tiền tệ là rất cần thiết. Cơ chế ngăn chặn rủi ro linh hoạt, tăng cường phối hợp và hợp tác với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực tài chính đã trở thành một nội dung chính của an ninh kinh tế. Từ đó có thể thấy, an ninh tài chính là một khái niệm cơ bản, là điều kiện thiết yếu để nền tài chính tồn tại và phát triển bền vững.

Kể từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, thị trường tài chính là công cụ điều hành nền kinh tế quan trọng bậc nhất của Chính phủ, là kênh huy động vốn cho các dự án, cho các chương trình, mục tiêu kinh tế và thực thi chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, hoạt động tài chính cũng đang bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém, mà biểu hiện rõ nét nhất chính là diễn biến phức tạp và hậu quả khôn lường mà hoạt động tội píi o trong lĩnh vực này gây ra những năm gần đây.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Vấn đề đặt ra là từ quy mô thu định hình quy mô chi theo hướng giảm dần từ mức hiện tại 27 - 28% GDP, và tiến tới 21- 23% vào năm 2025, với mức bội chi thực tế là 3% GDP. Trong giai đoạn hiện nay và năm năm tiếp theo, tập trung điều chỉnh mạnh cơ cấu chi theo hướng giảm chi thường xuyên về mức 60%, chi đầu tư ở mức 15% và tổng chi (tính đủ) trảnợ cố định khoảng 25% (cơ cấu chi hiện hành: Chi thường xuyên 69%, chi đầu tư 16%, chi trả nợ trực tiếp 14%) và sau năm 2019, cơ cấu chi NSNN có thể có thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng tổng chi trả nợ.

Giải pháp trước mắt: Tái cấu trúc chi NSNN cần có thời gian nhất định để chuẩn bị thể chế. Nguyên tắc bố trí chi NSNN của Chính phủ đã công bố là phù hợp: Tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN, bố trí chi đầu tư hợp lý; bố trí tăng chi trả nợ, đảm bảo an ninh tài chính. Do NSNN còn nhiều khó khăn, nên hạn chế tối đa ban hành chính sách mới làm giảm thu NSNN, chấp thuận chi đầu tư phát triển không thấp hơn năm 2014.

Phương châm căn bản giải quyết vấn đề tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN: Phát triển sản xuất - quay lại cái gốc của vấn đề, làm được điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tái cấu trúc NSNN. Dưới đây là các giải pháp tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN trong giai đoạn tới.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Giá cả là một trong những phạm trù khách quan trong nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kinh tế quan trọng, là thông tin tin cậy để định hướng sản xuất, đầu tư, phân bổ nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, trong trường hợp thị trường cạnh tranh hạn chế; các quy luật giá trị, cung - cầu và cạnh tranh không còn phát huy đầy đủ giá trị thì vai trò điều tiết của Nhà nước bằng những biện pháp phù hợp, trong đó có quản lý giá là yêu cầu khách quan để đảm bảo lợi ích của các bên tham gia thị trường và phúc lợi của toàn xã hội.

Thị trường là nơi diễn ra sự tương tác giữa cung và cầu, qua đó xác định một mức giá nhất định. Không chỉ có doanh nghiệp độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường, mà các doanh nghiệp cạnh tranh cũng hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Song, khác với các doanh nghiệp cạnh tranh, các doanh nghiệp có sức mạnh thị trường có khả năng kiểm soát, quyết định sản lượng cung ứng và mức giá để tối đa lợi nhuận. Chính vì vậy, trong quá trình sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, quan trọng, các doanh nghiệp này có xu thế để trục lợi từ vị thế, sức mạnh thị trường của mình, gây ra những tác động tiêu cực trước tiên đối với người tiêu dùng, sau đó là đối với kinh tế - xã hội.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là vấn đề thương mại, luôn được các quốc gia quan tâm. Cho tới nay, các tổ chức thương mại tự do thế giới và các tổ chức thương mại cấp vùng đã liên tục ra đời và phát triển. Cùng với các hiệp định đàm phán song phương và đa phương, các nước cam kết dỡ bỏ các biện pháp phi thuế quan cũng như cắt giảm đáng kể thuế quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu (XNK). Hội nhập thuế quan đã tạo ra tác động tích cực, đẩy mạnh việc giao lưu thương mại trên toàn cầu.

Sau khi tiến hành đổi mới, Việt Nam đã mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh tự do hóa thương mại với các nước trên thế giới. Việt Nam chủ động hội nhập, tích cực tham gia các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực, ký kết các hiệp định song phương và đa phương: Ký các hiệp định hợp tác kinh tế - thương mại với EU, gia nhập ASEAN, gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC); ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ; tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và đặc biệt là trở thành thành viên của WTO….

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành