Thuật ngữ “trí thức” được sử dụng rộng rãi trên thế giới, có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia nghĩa là sự thông minh, sự hiểu biết, sự thông thái, trí tuệ... Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức, song những định nghĩa này đều dựa vào các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, trí thức là những người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo;

Thứ hai, sản phẩm lao động của trí thức là tri thức khoa học mới;

Thứ ba, trí thức là người có trình độ học vấn, chuyên môn cao;

Thứ tư, trí thức tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Như vậy, có thể khái quát trí thức những người lao động trí óc; có trình độ học vấn cao (nói chung có trình độ từ cử nhân trở lên) về lĩnh vực chuyên môn nhất định; có tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có ích cho xã hội.

Các nước có nền giáo dục hiện đại đã thúc đẩy trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển nhanh tạo ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu như Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức. Bên cạnh đó, nền giáo dục của Hàn Quốc, Singapore có nhiều đổi mới nên những nước này cũng là những nước có nền công nghiệp phát triển do Chính phủ đã có những chính sách phát triển đột phá và vươn lên mạnh mẽ, trở thành những nước có tiềm lực kinh và to lớn. Trung Quốc cũng đã thay đổi và cải cách giáo dục đặc biệt là cải cách chương trình giáo dục phổ thông phù hợp với các đặc điểm về kinh tế xã hội nên cũng thu được những thành tựu nhất định trong xây dựng đội ngũ tri thức gắn với giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ góp phầm thúc đẩy kinh tế. Hiện nay Trung Quốc là nước đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và có triển vọng trở thành cường quốc kinh tế của thế giới. Đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể nghiên cứu học hỏi bởi Trung Quốc có nhiều đặc điểm kinh tế xã hội tương đồng với Việt Nam.

Mặc dù các nước đều coi trọng việc phát triển đội ngũ trí thức, nhưng nhiều nước (trừ Trung Quốc) không đưa ra các chiến lược, chính sách riêng trong xây dựng đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ, có thể thấy tất cả các chính sách phát triển từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ đều tập trung tạo dựng môi trường tự do tư duy, tự do sáng tạo, khuyến khích và thu hút trí thức tài năng trong nước và nước ngoài, và đương nhiên đội ngũ trí thức tài năng sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước. Vì vậy, các tác giả sẽ tập trung lựa chọn, phân tích những chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tác động tới phát triển quy mô và chất lượng đội ngũ trí thức (chủ yếu là đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ) của từng nước.

Từ sự mô tả trên đây có thể rút ra một số kinh nghiệm phát triển giáo dục và đào tạo có thể gắn với việc xây dựng đội ngũ tri thức, trong đó có chú trọng đến phát triển khoa học công nghệ như sau:

1. Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc phát triển đội ngũ trí thức

Vai trò quyết định của Nhà nước trong việc phát triển đội ngũ trí thức thể hiện ở chỗ Nhà nước cầm trịch quá trình phát triển, xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách và huy động nguồn lực phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ.

Kinh nghiệm các nước Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc cho thấy Chính phủ các nước này, với bộ máy hành chính đủ năng lực đã tạo được những bước đi mang tính đột phá của quốc gia trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ. Thông qua tầm nhìn và quyết tâm của người lãnh đạo, các nước này đã có các chính sách tạo ra môi trường hoàn hảo cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; thiết lập môi trường lý tưởng để mọi trí thức trong tất cả các lĩnh vực lao động sáng tạo phát triển tài năng, có cơ hội cống hiến tài năng của mình cho xã hội. Nhà nước có vai trò to lớn, quyết định đến phát triển giáo dục và đào tạo, đảm bảo chất lượng và tính bền vững của nền giáo dục.

Với tầm nhìn sáng suốt, có chiến lược phát triển thích hợp, thực thi các biện pháp mạnh mẽ, các chính phủ Hàn Quốc và Singapore đã có vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và tập trung nguồn lực để phát triển khoa học - công nghệ, phát triển đội ngũ trí thức ở các ngành mũi nhọn, giúp cho các ngành này phát triển với tốc độ nhanh, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Kết quả là các nước này đã rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước đi từ tình trạng kinh tế lạc hậu lên trình độ phát triển hiện đại trong một giai đoạn ngắn.

Trong kinh tế tri thức, nguồn nhân lực trình độ cao ngày càng có ý nghĩa quan trọng quyết định tới sự phát triển đất nước. Nhà nước cần hoạch định việc phát triển đội ngũ trí thức phù hợp yêu cầu kinh tế - xã hội, có các chính sách và biện pháp để thực thi thành công chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức trong từng giai đoạn cụ thể.

2. Bồi dưỡng, thu hút nhân tài là một chiến lược hết sức quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày nay, nhiều nước có chính sách bồi dưỡng, đào tạo nhân tài. Singapore đã có chương trình đào tạo nhân tài nhằm tăng cường việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo học sinh năng khiếu thành nhân tài cho đất nước. Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản không những phát hiện và sử dụng nhân tài trong nước, mà còn có chính sách nhằm thu hút các trí thức tài năng từ các nước khác phục vụ cho các chương trình giáo dục, khoa học và công nghệ trong nước (thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, qua ký kết thực hiện hiệp định khoa học và công nghệ, qua thuê chuyên gia thực hiện các nhiệm giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ).

Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần có bước đi và các phương thức đào tạo nhân tài riêng của mình, nhằm phát hiện học sinh, sinh viên có năng khiếu, tìm được nhiều học sinh năng khiếu - mầm mống của tài năng, đào tạo thành công những tài năng trẻ này. Việt Nam cần có chương trình quy mô lớn để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, chương trình này phải được thực hiện ở tất cả các cấp từ phổ thông tới đại học và sau đại học. Có phương thức đào tạo chất lượng cao để sớm có được nhiều thế hệ trí thức tài năng của Việt Nam. Có chế độ sử dụng hiệu quả trí thức nói chung và nhân tài nói riêng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bài học kinh nghiệm của các nước Đông Á cho thấy, để tạo ra được các bước phát triển nhảy vọt cần coi trọng ý kiến của các nhà khoa học lớn, có cơ chế tham vấn các trí thức có uy tín trong quá trình xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược, quyết sách của quốc gia.

Như vậy, cần nhanh chóng xây dựng và triển khai một Đề án quy mô về phát triển nhân tài Việt Nam. Mục tiêu chính của đề án này là góp phần quan trọng để biến Việt Nam trở thành quốc gia có nguồn nhân lực trình độ cao đủ năng lực cạnh tranh quốc tế.

3. Cần thiết lập môi trường khoa học thuận lợi cho việc phát hiện, đào tạo, phát triển và trọng dụng nhân tài, tạo thuận lợi cho tự do tư duy, tự do học thuật, tự do sáng tạo của trí thức

Hệ thống đào tạo của các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc, Singapore đều đảm bảo phát huy tự do học thuật, tự do sáng tạo trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học và công nghệ. Trong môi trường khoa học có cơ chế cạnh tranh, nó sẽ tạo động lực phát triển khoa học: cạnh tranh lành mạnh giữa các chuyên gia, giữa các tổ chức nghiên cứu, cạnh tranh trong nước và quốc tế. Môi trường khoa học này còn bao gồm cả các chính sách nhằm tạo điều kiện cho việc phát hiện, đào tạo, phát triển và trọng dụng trí thức nói chung và nhân tài nói riêng. Nhà nước tạo điều kiện về cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị thí nghiệm có trình độ công nghệ cao... cải thiện điều kiện làm việc của các nhà khoa học, có chính sách khuyến khích về tiền lương, chế độ đãi ngộ,... Môi trường khoa học yêu cầu cao đối với các nhà khoa học, các nhà khoa học không chỉ đóng góp cho xã hội thông qua các hoạt động khoa học và công nghệ mà còn phải truyền tải các kiến thức khoa học mới được phát hiện cho các thế hệ trí thức mới và giúp các doanh nghiệp sớm chuyển các tri thức khoa học thành các sản phẩm công nghệ cụ thể. Thị trường khoa học và công nghệ ở các nước cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên một môi trường năng động và có sức sống.

4. Phát triển đội ngũ trí thức ở khu vực kinh tế tư nhân cũng như ở các khu vực kinh tế khác là một vấn đề cần quan tâm như một giải pháp chiến lược lâu dài

Trong thế giới hiện đại, mọi nền kinh tế đều phải dựa vào nhiều thành phần. Mỗi khu vực kinh tế ứng với từng thành phần cần có lực lượng lao động trí thức trình độ cao của mình. Các lực lượng trí thức này sẽ có những sản phẩm trí tuệ có giá trị, đóng góp cho sự phát triển khoa học và công nghệ chung của đất nước.

Các nước Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc đều chú ý tới phát triển khoa học và công nghệ ở khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, các công ty, các tập đoàn công nghiệp xây dựng những cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ trên cơ sở liên kết với các cơ quan nghiên cứu công lập và các trường đại học. Gắn hoạt động khoa học và công nghệ với việc giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở này.

Ở Việt Nam, đội ngũ trí thức ở khu vực kinh tế tư nhân còn mỏng và yếu, mặc dù tỷ lệ đóng góp cho tổng sản phẩm quốc dân từ khu vực này ngày càng tăng. Nhà nước cần sớm ban hành các chính sách nhằm khuyến khích nghiên cứu khoa học và công nghệ ở khu vực này như đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu khoa học ở các công ty, các tập đoàn công nghiệp. Nhà nước cũng cần hỗ trợ cho việc đào tạo nhân lực trình độ cao thuộc khu vực này. Cần có một cách nhìn nhận và đối xử công bằng hơn đối với sự đóng góp của trí thức trong các khu vực kinh tế khác nhau.

5. Bảo đảm tính đồng bộ của việc phát triển đội ngũ trí thức ở các ngành khoa học và công nghệ ưu tiên

Sự lựa chọn các ngành khoa học mũi nhọn phải cân đối giữa tiềm năng nghiên cứu và khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Khi đầu tư cho phát triển một ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn nào đó, cần lưu ý tới tính đồng bộ của việc phát triển đội ngũ trí thức thuộc ngành khoa học này: cần có chiến lược xây dựng đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, từ các nhà khoa học đầu đàn có trình độ quốc tế tới các thế hệ trí thức kế cận. Đội ngũ trí thức này gồm cả các thành phân thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước,... Đội ngũ này được huy động từ nguồn chất xám ở cả nước ngoài lẫn trong nước, đảm bảo quy mô của đội ngũ trong từng lĩnh vực đạt ngưỡng cần thiết. Tính đồng bộ cũng cần được thể hiện ở chỗ phải tạo cơ sở hạ tầng cho công tác khoa học: phòng thí nghiệm hiện đại, kết nối Internet, điều kiện nghiên cứu kèm theo, cơ hội trao đổi khoa học quốc tế.

Ở Hàn Quốc, để chuẩn bị phát triển một ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn nào đó, trước hết phải có hoạch định về đội ngũ: cử hàng trăm chuyên gia có năng lực đi đào tạo ở các cơ sở khoa học và công nghệ tiên tiến ở nước ngoài; thiết lập cơ sở hạ tầng hiện đại cho ngành khoa học công nghệ này như xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ cao, đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, Internet, viễn thông hiện đại,.... Cộng hòa Liên bang Đức có hẳn chính sách cụ thể về phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kế cận trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học chủ chốt nhằm đảm bảo duy trì và phát huy tiềm lực khoa học trên các lĩnh vực là thế mạnh của đất nước. Mạnh dạn mới hoặc thuê các nhà khoa học tài năng ở nước ngoài tham gia chủ trì những chương trình nghiên cứu quan trọng, cùng với các chuyên gia trong nước (đã được đào tạo ở nước ngoài) tạo thành êkíp nghiên cứu khoa học có trình độ cao, các êkíp này sẽ sớm có những sản phẩm khoa học đặc thù của quốc gia, cạnh tranh được trên thị trường khoa học và công nghệ quốc tế. Nhờ hoạt động trong tập thểnghiên cứu có trình độ cao như vậy, đội ngũ chuyên gia trong nước sẽ trưởng thành nhanh chóng.

Ở Việt Nam, chúng ta chưa bảo đảm tính đồng bộ trong phát triển các ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn: nhiều phòng thí nghiệm chất lượng cao được xây dựng với kinh phí lớn, nhưng chưa có êkíp chuyên gia nghiên cứu xứng tầm với nó, chưa tạo ra các sản phẩm nghiên cứu có tính cạnh tranh cao trên thị trường khoa học và công nghệ quốc tế.

Ở Việt Nam, chúng ta đã sử dụng chính sách tài khóa như một công cụ quan trọng để ổn định chu kỳ kinh tế từ khi bắt đầu mở cửa nền kinh tế. Trong từng giai đoạn khác nhau, vối mức độ và liều lượng khác nhau, việc sử dụng chính sách tài khóa đã thu được nhũng kết quả nhất định trong việc ổn định chu kỳ kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với việc nợ công ngày càng tăng cao, mức bội chi ngân sách ngày càng lớn, chính sách thuế có những hạn chế nhất định..., trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô không đạt yêu cầu để ra, đã đặt ra câu hỏi về vai trò của chính sách tài khóa đối với ổn định chu kỳ kinh tế ở nước ta.

Mục tiêu ổn định chu kỳ kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững có nhiều khả năng đạt được khi một chính sách tài khóa ngược chu kỳ kinh tế được thực hiện kịp thời và đúng liều lượng, nhất là khi nền kinh tế rơi vào suy thoái.

Đối với các nước phát triển có tích lũy tài sản lớn, hệ thống tài chính được tổ chức tốt cũng như khả năng quản trị tốt hay thặng dư ngân sách thì việc thực hiện chính sách tài khóa ngược chu kỳ kinh tế không quá khó khăn. Nhưng với những nước đang phát triển, nơi có nhu cầu về vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng kinh tế, xã hội lớn và chính phủ thường phải đi vay để tài trợ cho đầu tư công thì việc đưa ra một chính sách tài khóa ngược chu kỳ kinh tế là không đơn giản.

Tiền đề để các nước đang phát triển có thể tính đến các giải pháp chính sách tài khóa cùng chiều với chu kỳ kinh tế khi đối phó với khủng hoàng kinh tế là thiết lập các nguyên tắc tài khóa và nỗ lực tuân thủ các nguyên tắc đó. Các nguyên tắc tài khóa cơ bản đã được thực thi trên thực tế ở nhiều quốc gia hướng mục tiêu vào ổn định chu kỳ kinh tế và sự bền vững của tăng trưởng đó là:

Thứ nhất, khi đề cập đến nguyên tắc vàng trong quản lý và sử dụng ngân sách người ta thường đề cập đến thành quả của Vương Quốc Anh. Từ năm 1998 Chính phủ Anh đã áp dụng nguyên tắc vàng trong quản lý ngân sách và thu được thành quả quan trọng góp phần quan trọng trong việc ổn định các khuôn khổ tài khóa của nước này. Bản chất của nguyên tắc vàng thể hiện chi tiêu hiện tại của Chính phủ phái được tài trợ bởi nguồn thu của ngân sách mà chủ yếu là từ thu thuế, trong khi đó các khoản chính phủ đi vay chỉ nên dùng làm nguồn vốn đầu tư cho các dự án kích thích kinh tế. Điều này không đồng nghĩa đầu tư công sẽ mang lại hiệu quả cao hơn chi tiêu công mà đơn giản để ngân sách nhà nước tránh rơi vào "bẫy" thâm hụt. Cụ thế hơn, nguyên tắc này đòi hỏi ngân sách quốc gia bình quân trong một chu kỳ kinh tế (được xem xét cả trong trường hợp tăng trưởng hoặc thoái trào) phải cân bằng hoặc có vị thế thặng dư.

Hàm ý sâu xa của nguyên tắc vàng là Chính phủ chỉ nên vay khi xác định được nguồn có thể trả nợ được trong tương lai. Tính xác đáng của nguyên tắc này có thể được giải thích như sau: Chính phủ vay nhiều sẽ làm lãi suất thực trên thị trường tài chính - tiền tệ tăng lên và gây ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân có nghĩa là đầu tư suy giảm, bởi khi đó các nhà đầu tư đòi hỏi các dự án phải có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Nếu chính phủ thay vì sử dụng nguồn vốn vay vào đầu tư lại dùng cho chi tiêu thường xuyên, thì tích lũy tư bản trong nền kinh tế sẽ giảm và hậu quả sẽ tác động tiêu cực tới mục tiêu tăng trướng ở giai đoạn kế tiếp. Hơn nữa, chi tiêu hiện tại không đóng góp vào tích lũy tư bản và không tạo ra nguồn thu trong tương lai, nên nếu chính phủ đi vay để tài trợ cho chi tiêu hiện tại sẽ làm gánh nặng trả nợ, bao gồm cả nợ gốc và lãi trong tương lai, tăng nhiều hơn. Do đó, Chính phủ chỉ nên sử dụng nguồn vốn vay để tài trợ cho các dự án đầu tư có tỷ suất lợi nhuận tương đương với tỷ suất lợi nhuận của đầu tư tư nhân.

Một khi nguyên tắc này được tuân thủ một cách nghiêm túc, các chính phủ có khả năng trả nợ cao hơn, áp lực trả nợ giảm xuống và sau đó có nhiều khả năng hơn sẽ tiếp tục vay được vốn để đầu tư những dự án mới. Ở các nước công nghiệp phát triển giàu có, chính sách này rất thực tế và khả thi. Tuy nhiên, nguyên tắc này không dễ dàng đối với những nước đang phát triển, bởi ngay cả trong điều kiện kinh tế bình thường, các nước đang phát triển có nhu cầu lớn về vốn để đầu tư vào phát triển hạ tầng kinh tế, thặng dư ngân sách (nếu có) cũng không đáng kể (vì tổng GDP không cao).

Ngoài Vương Quốc Anh, đến nay nguyên tắc vàng đã được nhiều nước phát triển khác ở khu vực châu Âu áp dụng như Pháp, Italia, Đức và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, nguyên tắc vàng có ba nhược điểm: một là, các công cụ ổn định tự động có thể sẽ không vận hành hết công suất do các yêu cầu về thắt chặt tài khóa theo hướng thuận chu kỳ cho tới giai đoạn cuối cùa mỗi chu kỳ kinh tế để bảo đàm mục tiêu của nguyên tắc được thực hiện; hai là, đế đánh giá hiệu quà tài khóa sau khi các công cụ được thực hiện, phải xác định chính xác thời đoạn của chu kỳ kinh tế, bởi vì các phương pháp luận giải khác nhau có thể đưa ra những lý giải về chu kỳ kinh tế khác nhau; ba là, nếu không được giám sát chặt chẽ, nguyên tắc này có thể gợi ý cho chính phủ đổi tên một số khoản chi tiêu thành các dự án đầu tư, dần dần gánh nặng nợ nần sẽ trở nên nghiêm trọng hơn cho thế hệ kế tiếp và có tác động tiêu cực tới mục tiêu ổn định chu kỳ kinh tế cũng như hướng tới mục tiêu tăng trường bền vững.

Nguyến tắc quan trọng thứ hai trong chính sách tài khóa là nguyên tắc các quỹ bình ổn. Trên thế giới đã có nhiều quỹ bình ổn được hình thành ở nhiều quốc gia, chẳng hạn như quỹ bình ổn đâu của Na Uy, Nga, Veneduela hay quỹ bình ổn kim loại của Chilê (được đổi thành Quỹ Bình ổn kinh tế xã hội vào năm 2007, có tài sản ban đầu là 2,58 tỷ đôla). Quỹ bình ổn được hình thành chủ yếu là nhờ vào các nguồn lợi từ khai thác và xuất khẩu các nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng không thể tái tạo lại, phổ biến là dầu mỏ.

Nguyên tắc của các quỹ bình ổn là doanh lợi thu được từ các nguồn tài nguyên như đâu mỏ, khí ga, kim loại có thể được đầu tư vào các loại trái phiếu quốc tế để tạo ra doanh thu về dài hạn và tạo nguồn tài trợ cho chi tiêu của chính phủ cũng như lúc giá cả nguyên nhiên liệu ở mức thấp; và hoạt động của các quỹ này phải được đặt ngoài tầm với của các chính trị gia.

Các quốc gia có các nguồn tài nguyên như dầu mỏ, quặng kim loại dồi dào có thể mang lại nguồn thu ngân sách rất lớn, nhưng nguồn thu từ tài nguyên cũng có thể tạo ra những thách thức trong cân đối tài khóa, bởi các nguồn tài nguyên này là không thế tái tạo, giá cả biến động khó lường và đang dần trớ nên cạn kiệt. Giá dầu mỏ hay kim loại có sự biến động lớn theo thời gian và rất khó dự báo. Do đó, nguồn thu ngân sách từ khai thác các nguồn tài nguyên cũng biến động theo và đòi hỏi các nhà lập chính sách phải tính đến việc tiết kiệm nguồn thu đó để dự phòng cho tưong lai. Mục đích của các quỹ bình ổn là ổn định chi tiêu của chính phủ khi có sự biến động giá cả, sự cạn kiệt tài nguyên và do tính không chắc chắn của các nguồn thu ngân sách, giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến động thị trường nhằm mục tiêu ổn đinh chu kỳ kinh tế. Vào thời kỳ kinh tế suy thoái, một phần quỹ bình ổn có thể được sử dụng để bù đắp vào phần suy giảm của ngân sách nhà nước, qua đó giúp chi tiêu ngân sách chính phủ ít phụ thuộc vào các chu kỳ kinh tế cũng như việc phải đi vay hay phát hành các công cụ nợ.

Trên thực tế, nguyên tắc của các quỹ bình ổn đã được thay đổi theo hướng cho phép chính phủ can thiệp nhằm đem lại hiệu quả hơn cho họ, điều đã phá vỡ luận điểm khi các quỹ được thành lập. Theo nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), hiệu quả của các quỹ trong việc ổn định chu kỳ kinh tế có sự liên hệ với doanh thu từ dầu mỏ: doanh thu từ dầu lớn sẽ cho phép các quỹ bình ổn phát huy vai trò nhiều hơn vào những thời điểm nền kinh tế có những biến động bất thường.

Nguyên tắc thứ ba của chính sách tài khóa là nguyên tắc 1%, nguyên tắc này được áp dụng tại Chilê kể từ năm 2000, một nguyên tắc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện tại Chile đã giúp quốc gia này đạt được nhiều thành tựu trong việc triển khai các chính sách tài khóa ngược chu kỳ kinh tế, hay chính sách tài khóa linh hoạt. Nguyên tắc tài khóa của Chile dựa trên ước tính về xu hướng sản lượng đầu ra của nền kinh tế do các chuyên gia trong lĩnh vực này thực hiện. Nguyên tắc của Chile có thể áp dụng hữu ích ở nhiều nơi, đặc biệt là cho các nước có nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu. Nguyên tắc này yêu cầu chính phủ phải xác định một mục tiêu cho trạng thái ngân sách và ban đầu mục tiêu này được đưa ra là mức thặng dư 1% GDP. Đến năm 2007, mục tiêu được giảm xuống mức thặng dư 0,5% GDP và vào năm 2009 là 0%. Thực tế cho thấy, những năm sau đó xảy ra thâm hụt ngân sách ở Chile do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, mức thâm hụt là thấp và có thể hiếu được khi chính phủ nước này nỗ lực thực hiện các công cụ tài khóa ngược chu kỳ kinh tế nhằm khắc phục hậu quả do tổng cầu suy giảm.

Công tác ước tính xu hướng sản lượng đầu ra ở Chilê được thực hiện một cách độc lập với chính trị, bởi nếu không tách bạch với khía cạnh chính trị, các ước tính chính thức thường lạc quan hơn mức có thể đạt được trong thực tế, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng hơn khi chính phủ bị ràng buộc vào các nguyên tắc quản lý và sử dụng ngân sách (một mẫu gồm 33 quốc gia cho thấy có sự lạc quan quá mức về sản lượng đầu ra ước tính so với thực tế, Jeffrey Frankel(2011)). Điểm sáng tạo quan trọng đã tạo điều kiện để Chile thực thi được chính sách tài khóa ngược chu kỳ kinh tế và đặc biệt là có được trạng thái ngân sách thặng dư thực chất không nằm ở bản thân các nguyên tắc quản lý cấu trúc ngân sách, mà là từ cơ chế giao phó trách nhiệm ước tính xu hướng tăng trưởng GDP và giá đồng nguyên liệu cho nhóm các chuyên gia độc lập, đồng thời đóng góp khoảng 16% vào tổng nguồn thu tài khóa của Chilê.

Trên thực tế, chính phủ Chilê có thế cho phép mức thâm hụt lớn hơn mục tiêu trong trường hợp sản lượng đâu ra suy giảm xuống dưới xu hướng dài hạn trong thời kỳ suy thoái hoặc trong trường hợp giá đồng nguyên liệu thấp hơn mức cân bằng trong trung hạn (10 năm).

Hai nhóm chuyên gia, một nhóm đánh giá về xu hướng GDP và một nhóm đánh giá xu hướng của giá đồng nguyên liệu, vào giữa mỗi năm có nhiệm vụ điều chinh các đánh giá xu hướng trong trung và dài hạn, chuyển các quy trình đánh giá thành các con số gắn với một tập hợp những tham số về thuế suất và chi tiêu, để đưa ra ước tính cán cân ngân sách. Trên cơ sở đó, nếu cán cân ước lượng có khác biệt với mục tiêu đã đặt ra, chính phủ sẽ tiến hành điều chinh kế hoạch chi tiêu cho tới khi đạt được mức cân bằng theo mục tiêu.

Một yếu tố quan trọng trong thành công của Chilê là việc nước này đã kiên trì theo đuổi mục tiêu ổn định ngân sách trong suốt hơn 10 năm dù trong giai đoạn này đã diễn ra ba Tân thay đổi bộ máy chính quyền trung ương. Mức tiết kiệm chính phủ đã tăng từ 2,5% năm 2000 lên 7,9% năm 2005 và đến năm 2007 chính phủ Chilê trở thành tổ chức cho vay. Xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Chilê năm 2010 đạt mức A+ và cao hơn cả một số quốc gia phát triển hơn như Hàn Quốc, Aixơlen. Chính sách tài khóa ở Chilê cho thấy, việc chính phủ một quốc gia xác lập một nguyên tắc quản lý ngân sách, cụ thể là đặt mục tiêu thặng dư ngân sách trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng ổn định là vô cùng quan trọng. Thậm chí điều quan trọng hơn là cơ sở để xác lập ra nguyên tắc đó. Việc các nhóm chuyên gia độc lập tiến hành ước lượng mức sản lượng đầu ra của nền kinh tế trong trung và dài hạn một cách khách quan, loại bỏ những thiên lệch do yếu tố chính trị, đã giúp nước này chuẩn bị tốt hơn khi nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại sinh.

Ngày nay, nguyên tắc 1% của Chilê được nhắc nhiều trong các công trình nghiên cứu về chính sách tài khóa và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này một lần nữa khẳng định nguyên tắc cân bằng ngân sách đóng vai trò quan trọng vào thời kỳ kinh tế suy thoái, làm giảm một cách có hiệu quả nhũng ảnh hưởng tiêu cực do yếu tố thị trường bên ngoài gây ra, tạo tiền lệ cho nền kinh tế hồi phục và gia tăng tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.

Trước hết, Nhà nước có vai trò hoạch định chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn công nghiệp hóa, định hướng các vấn đề ưu tiên, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ của đất nước: thiết lập hệ thống, mạng lưới các cơ sở khoa học và công nghệ, các viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học, các khu công nghệ cao, đầu tư tài chính cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên,... Đồng thời, Nhà nước có các hành động can thiệp, điều tiết hoạt động khoa học và công nghệ ở một số ngành. Một đặc điểm cần lưu ý là định hướng phát triển khoa học và công nghệ luôn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn cụ thể.

Nâng cao chất lương giải thích pháp luật để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo chủ trương "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng", đồng nghĩa với việc xây dựng một nền pháp luật có chất lượng cao, phù hợp với các quy luật vận động, phát triển của xã hội, với các tiến bộ xã hội cũng như các giá trị chung đã được tích lũy trong lịch sử nhân loại. Hệ thống pháp luật đó phải có tính khả thi và chủ yếu được thể hiện trong các đạo luật được xây dựng với kỹ thuật lập pháp cao, trong đó Hiến pháp có vị trí tối thượng. Hệ thống pháp luật đó phải giữ địa vị làm nền tảng trong đời sống nhà nước, xã hội và bản thân nó phải được bảo vệ.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Sự kiểm soát giáo dục của các bang thông qua các Hội đồng giáo dục và các phân khu giáo dục (Hội đồng giáo dục được bầu hay được chỉ định đều thông qua tiến trình lựa chọn cách làm dân chủ). Phân khu giáo dục và các trường học phải chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục. Các bang tạo điều kiện cho mọi gia đình được quyền tự chọn trường học cho con, em gia đình.

Trên đây là trích dẫn của tài liệu. Để xem toàn văn xin quý vị tải tệp đính kèm.

Bước vào thế kỷ XXI trí thức trở thành nguồn lực quan trọng đối với phát triển của một quốc gia. Thành công của những nước công nghiệp phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức trong cạnh tranh quốc tế được đo bởi tốc độ chuyển tải
kiến thức thành sản phẩm và quy trình mới. Hợp tác có hiệu quả giữa các đối tác đại diện cho khu vực nghiên cứu và sản xuất sẽ trở thành yếu tố quyết định đến quá trình đổi mới. Trong phân tích gần đây, OECD đã nhấn mạnh sự thành công
khác nhau về kinh tế và công nghệ của một quốc gia trong những thập kỷ qua phụ thuộc vào mối quan hệ giữa khu vực nghiên cứu tư nhân và Nhà nước với phát triển kinh tế".

Phạm vi và mục đích của việc cơ quan lập pháp phê duyệt thẩm quyền chi tiêu - còn gọi là dự toán được phê duyệt - cần được làm rõ trong khuôn khổ pháp lý và được xác định qua mục lục ngân sách. Các văn bản quy phạm pháp luật
nhằm xác định các quy tắc về quản lý dự toán được giao bao gồm nguyên tắc thường niên và phương thức thực thi hiệu lực; các quy tắc xác định mức độ tự chủ của cơ quan hành pháp trong việc quản lý dự toán được giao; các quy tắc xác định thẩm quyền riêng của Bộ Tài chính, các bộ trưởng bộ chu quản và lãnh đạo đơn vị chi tiêu trong điều chuyển mục chi trong phạm vi thẩm quyền chi tiêu được giao bởi cơ quan lập pháp; và các quy tắc về sử dụng dự trữ dự phòng.

1. Khái niệm và đặc điểm của chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa có thể hiểu là các biện pháp can thiệp của chính phủ đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô như tăng trường kinh tế, tạo công ăn việc làm hoặc ổn định giá cả và lạm phát. Nói cách khác, chính sách tài khóa là những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện thành tựu kinh tế vĩ mô thông qua việc thay đổi chi tiêu chính phủ và thuế (theo Vũ Kim Dũng và Nguyễn Văn Công, 2016). Như vậy, việc thực thi chính sách tài khóa sẽ do chính phủ thực hiện liên quan đến những thay đổi trong các chính sách thuế hoặc/và chi tiêu chính phủ.

Giả sử nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái, các hãng tư nhân không muốn đầu tư thêm, còn người tiêu dùng không muốn chi tiêu thêm cho tiêu dùng, tổng cầu ở mức rất thấp. Để mở rộng tổng cầu chính phủ phải tăng chi tiêu chính phủ để tăng mức chi tiêu của nền kinh tế, hay giảm thuế để kích thích sản xuất của nền kinh tế dần tăng trưởng trở lại.

Chính sách tài khóa có các đặc điểm khó xác định chính xác mức độ cần phải tác động, ví dụ kích cầu thì độ lớn của gói chính sách khó xác định chính xác, bởi có tính chủ quan của người quyết định chính sách do có sự khác nhau về quan điếm, cách đánh giá các sự kiện kinh tế, từ đó đưa ra chính sách tài khóa khác nhau. Bên cạnh đó còn ảnh hưởng bởi các quan hệ kinh tế có thể thay đổi nên hiệu lực chính sách tài khóa khó lường.

Ngoài ra, Chính sách tài khóa còn có đặc điểm về độ trễ khá lớn về mặt thời gian do thời gian thu thập, xử lý thông tin và ra quyết định chính sách thường được gọi là độ trễ bên trong và độ trễ bên ngoài: bao gồm quá trình phổ biến, thực hiện và phát huy tác dụng của chính sách. Cả hai độ trễ này đều phụ thuộc vào các yếu tố như chính trị, th chế, cấu tổ chức bộ máy. Các chính sách đưa ra không đúng lúc sẽ làm bất ổn thêm nền kinh tế thay vì ổn định nó.

2. Vai trò của chính sách tài khóa

Trên cả lý thuyết và thực tế, chính sách tài khóa có vai trò đáng kể đối với phát triển kinh tế. Khái quát nhất, có thể nhận thấy tầm quan trọng của chính sách tài khóa thông qua một số vai trò cơ bản sau đây:

Thứ nhất, chính sách tài khóa trên lý thuyết là một công cụ nhằm khắc phục thất bại của thị trường, phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế thông qua thực thi chính sách chi tiêu của chính phủ và thu ngân sách. Chẳng hạn, chính phủ sử dụng ngân sách để cải thiện các dịch vụ công như: dịch vụ pháp lý; chống độc quyền, tội phạm; nâng cấp hệ thống thông tin, thanh toán... qua đó làm tăng năng suất và hiệu quả của khu vực tư nhân.

Thứ hai, chính sách tài khóa có chức năng như một công cụ phân phối và tái phân phối tổng sản phẩm quốc dân. Mục tiêu của chính sách lúc này là nhằm điều chỉnh phân phối thu nhập, cơ hội, tài sản, hay các rủi ro có nguồn gốc từ thị trường. Hàm ý khi đó là chính sách tài khóa nhằm tạo lập một sự ổn định về mặt xã hội để tạo ra môi trường ổn định cho đầu tư và tăng trưởng. Hiện nay, nhiều quốc gia châu Á đang chuyển sang định hướng chính sách nhằm đạt được tăng trưởng bao trùm (inclusive growth), cụ thế hơn là hướng tới giải quyết vấn đề bất bình đẳng, nghèo đói và hòa nhập xã hội (ADB, 2014).

Thứ ba, chính sách tài khóa hướng tới mục tiêu tăng trường và định hướng phát triển. Tăng trưởng (thu nhập), trực tiếp hay gián tiếp, đều là mục tiêu cuối cùng của chính sách tài khóa. Một cấu phần trong chi tiêu chính phủ là chi cho đầu tư phát triển thường tập trung vào các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Các dự án này có những định hướng ưu tiên vào một số ngành, khu vực hay vùng, qua đó chính sách tài khóa kiến tạo nền tảng và định hướng phát triển. Điều chỉnh tăng hoặc giảm thuế suất hay ban hành thuế mới cũng là công cụ nhằm kích thích hay hạn chế phát triển một ngành hay lĩnh vực kinh tế nào đó.

Thứ tư, chính sách tài khóa có thể được áp dụng nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Vào thời kỳ kinh tế suy thoái, sản xuất đình trệ, thất nghiệp tăng cao thì một chính sách tài khóa mở rộng với liều lượng đủ lớn được thực thi đúng thời điểm có thể giúp sản lượng của nền kinh tế nhanh chóng phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ trong thời kỳ đại suy thoái nhũng năm 1930 luôn ở mức 2 con số dù chính quyền Roosevelt thực hiện vô số chưong trình thúc đẩy kinh tế, và tình trạng này chỉ dừng lại vào năm 1941 khi chi tiêu chính phủ trên quy mô lớn cho hoạt động quân sự được thực hiện (Feldstein, 2009). Đây được coi là bằng chứng rõ ràng ủng hộ lý thuyết về chính sách tài khóa của trường phái kinh tế học Keynes. Tuy nhiên, chính sách tài khóa cũng có thê trở thành nhân tố góp phần làm suy thoái kinh tế trầm trọng hơn, điển hình là Hy Lạp hiện nay. Ngoài ra, mở rộng chi tiêu công thông qua đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước cũng có thê gây tác động lấn át đầu tư tư nhân và sau đó tác động tiêu cực tới tăng trưởng.

3. Công cụ của chính sách tài khóa

Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu chính phủ và thu ngân sách nhà nước.

3.1. Thu ngân sách nhà nước

Ở Việt Nam, theo Luật ngân sách nhà nước năm 2015, thu ngân sách nhà nước bao gồm:

- Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí;

- Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định cùa pháp luật;

- Các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phưong;

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Trong các nguồn thu trên, thuế là một trong những nguồn chủ yếu của thu ngân sách. Thuế là một hình thức dộng viên bắt buộc của nhà nước theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập cùa các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước đế đáp ứng các nhu câu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng"[1]. Thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như:

- Tính bắt buộc: Khác với các hình thức huy động tài chính khác, thuế là một khoản đóng góp thu nhập mang tính bắt buộc của các tầng lớp trong xã hội cho nhà nước.

- Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp.

- Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp.

3.2. Chi tiêu của chính phủ

Chi tiêu của chính phủ gồm 2 khoản lớn:

- Chi mua hàng hóa và dịch vụ (như xây dụng hạ tầng đường sá, công viên, quốc phòng, trả lương cho công chức,...);

- Chi chuyển nhượng, là khoản tiền mà chính phủ tặng không cho dân chúng như: trợ cấp hưu trí, trợ cấp khó khăn,...

Theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, chi ngân sách nhà nước bao gồm: i) Chi đầu tư phát triển; ii) Chi dự trữ quốc gia; iii) Chi thường xuyên; iv) Chi trả nợ lãi; v) Chi viện trợ; vi) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dụng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Chi dự trữ quốc gia là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia. Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Chi trả nợ là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đầu tư của chính phủ chủ yếu cho những ngành nghề, những lĩnh vực có hiệu ứng lớn, có tầm ảnh hưởng lớn, có tác dụng khuyến khích đầu tư của khu vực ngoài nhà nước. Do đó, năng lực đầu tư và định hướng đầu tư của chính phủ có tác dụng then chốt đối với sự điều chỉnh cơ cấu huy động nguồn lực tài chính cùa xã hội đế phát triển kinh tế. Chi tiêu của chính phủ phục vụ phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời góp phần giải quyết thất bại thị trường khi cơ chế thị trường không thể cung cấp đủ hàng hóa công để tối đa hóa phúc lợi xã hội.

4. Chính sách tài khóa chủ động và chế tự ổn định

4.1. Chính sách tài khóa chủ động

Chính sách tài khóa chủ động là chính sách mà chính phù thay đổi mức chi tiêu hoặc thay đổi thuế suất để bình ổn nền kinh tế, giữ cho tổng cầu ổn định gần với mức sản lượng tiêm năng.

Nhà nước chủ động sử dụng các công cụ của chính sách tài khóa đế can thiệp vào nền kinh tế. Chính sách tài khóa chủ động hiệu quả đòi hỏi chính phủ phải ra quyết định kịp thời và chính xác, bao gồm việc xác định độ lớn của mức tàng/giảm trong chi tiêu chính phủ và các mức thuế.

- Chính sách tài khóa mở rộng

Chính sách tài khóa mở rộng là khi chính phủ sử dụng cách giảm thuế hay tăng chi tiêu của chính phủ hoặc vừa tăng chi tiêu chính phủ vừa giảm thuế để gia tăng tổng cầu (AD) và làm sản lượng tăng theo. Chính sách này thường được áp dụng để bình ổn nền kinh tế khi mức sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng.

- Chính sách tài khóa thu hẹp

Chính sách tài khóa thu hẹp là khi chính phủ tăng thuế hay giám chi tiêu hoặc cả hai nhằm hạn chế tổng cầu và chống lạm phát chính sách này thường được áp dụng để bình ổn khi nền kinh tế có sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng dẫn đến lạm phát cao.

- Chính sách tài khóa cùng chiêu

Nếu mục tiêu của chính phủ là luôn đạt được ngân sách cân bằng thì chính sách phục vụ mục tiêu đó gọi là chính sách tài khóa cùng chiều. Nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, ngân sách sẽ thâm hụt, để ngân sách cân bằng lúc này chính phủ giảm chi tiêu hoặc tăng thuế hoặc sử dụng cả hai biện pháp.

- Chính sách tài khóa ngược chiu

Nếu mục tiêu của chính phú là giữ cho nền kinh tế luôn ờ mức sản lượng tiềm năng với mức việc làm đầy đủ thì chính phú phải thực hiện chính sách tài khóa ngược chiều với chu kỳ kinh tế. Do đó, khi nền kinh tế suy thoái, để tăng sản lượng, chính phù phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, hoặc cả hai biện pháp đó.

Việc chính phủ sử dụng chính sách tài khóa cùng chiều hay ngược chiều với chu kỳ kinh tế phụ thuộc vào tình hình kinh tế cụ thế của mỗi nước, ở mỗi giai đoạn khác nhau.

4.2. Cơ chế tự ổn định

Cơ chế tự ổn định đề cập đến những thay đổi trong ngân sách chính phủ có tác dụng kích thích tổng cầu khi nền kinh tế lâm vào suy thoái và cắt giảm tổng cầu khi nền kinh tế phát triển quá nóng mà không cần bất kỳ sự điều chinh nào của các nhà hoạch định chính sách.

Hệ thống tài chính hiện đại có những công cụ ổn định tự động nhanh và mạnh bao gồm:

- Một trong những co chế tụ ổn định quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường hiện đại là hệ thống thuế. Khi thu nhập quốc dân tăng lên, số thu về thuế tăng theo; và ngược lại, khi thu nhập giảm, thu ngân sách cũng giám, mặc dù nhà nước chưa kịp điều chinh thuế suất. Vì vậy hệ thống thuế có vai trò như là một bộ ổn định tự động nhanh và mạnh.

- Hệ thống trợ cấp, bảo hiểm bao gồm bảo hiểm xã hội, trự cấp thất nghiệp và các chuyển nhượng mang tính chất xã hội khác cũng là co chế tự ổn định quan trọng. Khi thất nghiệp thì người dân được nhận trợ cấp theo quy định; ngược lại khi có việc thì họ bị cắt tiền trợ cấp. Như vậy, hệ thống bảo hiểm, trợ cấp điều chỉnh thu nhập quốc dân ngược với chiều hướng của chu kỳ kinh tế, góp phần ổn định hệ thống kinh tế.

Các công cụ ổn định tự động hạn chế các biến động cùa sản lượng đầu ra thông qua việc giảm bớt những tác động tiêu cực của các cú sốc tới nền kinh tế. Tuy nhiên, những công cụ ổn định tự động chì có tác dụng làm giảm một phần dao động của nền kinh tế mà không xóa bỏ hoàn toàn những dao động đó. Do đó vẫn cần vai trò chủ động của chính phủ trong ốn định chu kỳ kinh tế.

 


[1] Học viện Tài chính: Giáo trình Quản lý tài chính công, Nxb. Tài chính, Hà Nội, 2005, tr. 106.

Quản lý tài chính công là hoạt động bao gồm quản lý thu ngân sách, quản lý chi ngân sách, quản lý việc cấp phát và cho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý về kho bạc nhà nước, quản lý tài chính của cơ quan Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công.

Trong quản lý tài chính công (Public finance management - PFM), các hệ thống kiểm soát nội bộ là một loạt các công cụ quản lý nhằm tới các mục tiêu chung khác nhau: thứ nhất và quan trọng nhất là nhằm đảm bảo sự tuân thủ với các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước; thứ hai là nhằm đảm bảo độ tin cậy trong các báo cáo và dữ liệu tài chính của nhà nước; và thứ ba là để hỗ trợ về hiệu suất và hiệu quả trong hoạt động của nhà nước.

Để thực hiện tốt việc giám sát và kiểm soát các hoạt động trong quản lý tài chính công, yêu cầu đặt ra đối với người thực hiện nhiệm vụ giám sát, mà ở đây là đại biểu dân cử và cơ quan dân cử cần có kiến thức, khả năng phân tích chính sách và kỹ năng quản lý tài chính khu vực công ở các cơ quan tài chính phục vụ trực tiếp việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của các cấp chính quyền nhà nước, các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công, các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; cụ thể:

Có kiến thức lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính khu vực công ở Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Có năng lực tổ chức, thực hiện các nghiệp vụ lập, chấp hành, theo dõi, đánh giá và quyết toán ngân sách nhà nước, ngân sách trung ương, ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.

Có năng lực tổ chức, thực hiện các nghiệp vụ quản lý tài chính, ngân sách tại các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công, các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội…

Có năng lực tổ chức, thực hiện các nghiệp vụ quản lý tài chính các quỹ tài chính công ngoài ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước.

Có năng lực tự nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật về quản lý tài chính công và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội và yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công của đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Có đạo đức nghề nghiệp, hiểu biết và tôn trọng pháp luật; có khả năng tư duy khoa học và làm việc nhóm, làm việc độc lập; có khả năng sử dụng tiếng Anh để làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế.

Có khả năng chuyển đổi vị trí việc làm một cách linh hoạt thích ứng với thị trường lao động cạnh tranh.

Việc thực hiện kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo nguyên tắc sử dụng ngân sách nhà nước đúng nguyên tắc, chuẩn mực theo đúng quy định của Luật ngân sách nhằm bảo đám chống lạm dụng, thiếu hiệu suất trong sử dụng các nguồn nhân lực và tài lực; bảo vệ an toàn tài sản của Nhà nước, hoàn thành các mục tiêu về thu chi ngân sách theo nghị quyết phát triển kinh tế xã hội hàng năm của Quốc hội, chống gian lận và sai sót; đảm bảo thoả đáng về hồ sơ chứng từ kế toán sao cho tổ chức có thể cung cấp các báo cáo tài chính và quản trị một cách kịp thời và đáng tin cậy.

Theo nghĩa đó, một khuôn khổ kiểm toán nội bộ được thiết kế nhằm đảm bảo với cử tri các hoạt động của chính phủ đạt được một số chuẩn mực cơ bản về uy tín, sử dụng vốn trong một số khía cạnh như bảo đảm chống lạm dụng và thiếu hiệu suất trong sử dụng các nguồn nhân lực và tài lực; bảo vệ an toàn tài sản; hoàn thành các mục tiêu về ngân sách được đề ra trong các chính sách và kế hoạch chi tiêu của chính phủ; chống gian lận và sai sót; đảm bảo thoả đáng về hồ sơ chứng từ kế toán sao cho cơ quan, tổ chức có thể cung cấp các báo cáo tài chính và quản trị một cách kịp thời và đáng tin cậy . Như vậy, kiểm toán nội bộ có thể được coi là một trong những nền tảng để điều hành tốt nền tài chính công của một quốc gia và là tuyến đầu để phòng chống những sai trái. Các biện pháp kiểm soát nội bộ cũng nhằm đem lại sự “đảm bảo hợp lý” với công chúng rằng nếu những sai trái đó diễn ra, chúng sẽ được công khai minh bạch và xử lý hợp lý .

Một trong những biện pháp kiểm soát quản lý nội bộ hiệu quả là kiểm toán nội bộ, đây là hình thức kiểm soát của cấp quản lý được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và đưa ra kiến nghị nhằm cải thiện hiệu quả việc quản lý sử dụng ngân sách nhà nước tại cơ quan đơn vị có sử dụng ngân sách Nhà nước. Việc sử dụng kiểm toán nội bộ nhằm cung cấp cho người quản lý cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước về mục tiêu và ý kiến độc lập về sự hợp lý của các hoạt động nội bộ, đồng thời giúp cho các nhà quản lý thực hiện biện pháp khắc phục để cải thiện hiệu quả các hoạt động của cơ quan, đơn vị mình.

Thông qua các hoạt động kiểm tra, đánh giá và tư vấn, kiểm toán nội bộ đưa ra các đảm bảo mang tính độc lập, khách quan và các khuyến nghị về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đã được thiết lập và vận hành một cách phù hợp nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các rủi ro của đơn vị; khuyến nghị về các quy trình quản trị và quy trình quản lý rủi ro của đơn vị đảm bảo tính hiệu quả và có hiệu suất cao, cũng như các khuyến nghị về các mục tiêu hoạt động và các mục tiêu chiến lược, kế hoạch và nhiệm vụ công tác mà đơn vị đạt được. Như vậy, các chức năng chính của kiểm toán nội bộ vừa nhằm đảm bảo trong nội bộ của tư vấn cho cấp quản lý về các vấn đề liên quan đến rủi ro và kiểm toát trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ như:

Tính độc lập của người làm công tác kiểm toán nội bộ quy định cụ thể về việc không được đồng thời đảm nhận các công việc thuộc đối tượng của kiểm toán nội bộ. Đơn vị phải đảm bảo rằng kiểm toán nội bộ không chịu bất cứ sự can thiệp nào trong khi thực hiện nhiệm vụ báo cáo và đánh giá. Đồng thời, người làm công tác kiểm toán nội bộ phải đảm bảo khách quan, chính xác, trung thực, công bằng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.

Luật kiểm toán cũng quy định rõ về tính tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kiểm toán nội bộ. Nhiệm vụ này được thực hiện cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước, do một uỷ ban kiểm toán nội bộ để thống nhất về phạm vi hoạt động, vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của bộ phận kiểm toán nội bộ trong đơn vị và mối quan hệ với các bộ phận khác; trong đó có các yêu cầu về tính độc lập, khách quan, các nguyên tắc cơ bản, yêu cầu về trình độ chuyên môn, việc đảm bảo chất lượng của kiểm toán nội bộ và các nội dung có liên quan khác. Điều này khác với cơ quan kiểm toán độc lập khi thực hiện nhiệm vụ. Luật kiểm toán độc lập quy định kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra và đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán. Tuy nhiên, ở một số nước chức năng kiểm toán độc lập bên ngoài được thực hiện bởi cơ quan kiểm toán tối cao (SAI), thưởng có sự độc lập về mặt pháp lý với cơ quan hành pháp để đưa ra ý kiến độc lập về báo cáo tài chính của một thể chế của chính phủ và hiệu quả hoạt động của thể chế đỏ trong việc thực hiện các mục tiêu chính sách của mình. Cơ quan này được bảo vệ khỏi sự quản lý của cơ quan hành pháp về nguồn lực công được cơ quan lập pháp phân bổ. Như được thảo luận dưới đây, sự phối hợp giữa hai chức năng này đóng vai trò quan trọng.

Một số quốc gia đã có nhiều tiến triển trong việc vạch ra thông lệ tốt nhất về kiểm toán nội bộ trong hơn hai thập kỷ vừa qua. Các chuẩn mực quốc tế về kiểm toán có thiên hướng tuân theo các thông lệ kiểm toán tại khu vực tư nhân và phản ánh các thủ tục kiểm toán nội bộ của khu vực công tại một số quốc gia tiên tiến thông qua việc hiện đại hóa đáng kể các hệ thống quản lý tài chính công của mình

Trong hai thập kỷ qua, có nhiều tiến triển đã đạt được trong việc vạch ra những thông lệ tốt nhất về kiểm toán nội bộ. Các chuẩn mực quốc tế về kiểm toán được xây dựng chi tiết, có ảnh hưởng lớn tới bản chất và phạm vi các thủ tục kiểm toán, sổ ghi chép hồ sơ kiểm toán và chi phí của cuộc kiểm toán. Trong đó, cấu trúc cũng như các chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) được chia thành các phần riêng biệt:

Thứ nhất, phần giới thiệu: bao gồm thông tin về mục đích, phạm vi và vấn đề được đề cập trong chuẩn mực, trách nhiệm của kiểm toán viên và các bên khác liên quan đến vấn đề trình bày trong chuẩn mực.

Thứ hai, về mục tiêu: mục tiêu của kiểm toán viên trong lĩnh vực được đề cập trong chuẩn mực.

Thứ ba, định nghĩa các thuật ngữ chính được sử dụng chuẩn mực.

Thứ tư, yêu cầu đối với mỗi mục tiêu được làm rõ bằng những yêu cầu cụ thể.

Và cuối cùng là hướng dẫn áp dụng, trong đó giải thích chính xác hơn ý nghĩa của các yêu cầu hoặc cung cấp ví dụ về các thủ tục thích hợp trong các tình huống cụ thể.

Một trong những mục đích chính của hệ thống chuẩn mực là khuyến khích kiểm toán viên xem xét mục tiêu và các thủ tục kiểm toán trong từng trường hợp cụ thể, thay vì thực hiện kiểm toán một cách máy móc. Kiểm toán viên cần phân tích mục đích của cuộc kiểm toán dựa trên đặc điểm của từng khách hàng, thay vì việc chỉ tích vào các bảng câu hỏi đã được lập sẵn. Vì vậy, các kiểm toán viên cần tích cực hơn trong việc xem xét các rủi ro lớn và duy trì mức độ hoài nghi nghề nghiệp phù hợp trong quá trình kiểm toán. Trong phần lớn các trường hợp, kiểm toán viên có thể đạt được các mục tiêu bằng cách tuân thủ theo các quy định của chuẩn mực, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là kiểm toán viên không phải xem xét hoàn cảnh cụ thể và các thủ tục cần thiết để đạt được mục tiêu. Trong các báo cáo giám sát, việc cách diễn đạt trong các chuẩn mực cũng rõ ràng với việc nêu rõ các yêu cầu đối với kiểm toán viên, sử dụng cụm từ kiểm toán viên phải, thay vì kiểm toán viên nên và động từ thì hiện tại như trong các chuẩn mực cũ.

Trên thế giới, việc đánh giá về các chuẩn mực cho thấy các chuẩn mực quốc tế có thiên hướng tuân theo các thông lệ kiểm toán tại khu vực tư nhân và phản ánh các thủ tục kiểm toán nội bộ của khu vực công tại các quốc gia tiên tiến đã hiện đại hoá đáng kể các hệ thống quản lý tài chính công của mình. Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nơi các hệ thống ngân sách truyền thống vẫn vận hành trên cơ sở tuân thủ và kiểm soát, và tại đó kiểm soát nội bộ thường được coi là yếu, thì những “thông lệ tốt nhất” đó phù hợp đến phù hợp đến mức nào.

Từ những phân tích nêu trên có thấy, các chuẩn mực quốc tế có thể thông lệ “tốt” chứ không phải tốt nhất cho một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Sự vận dụng các chuẩn mực quốc tế một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam là cần thiết và phải được nghiên cứu áp dụng cũng như phải giám sát chặt chẽ trong quá trình áp dụng. Việc nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận mang tính tập trung hơn về kiểm toán nội bộ sẽ là phương án tối ưu nhất để xây dựng chức năng kiểm toán nội bộ, ít nhất là trong thời gian đầu chủ yếu tập trung vào các nhiệm vụ đảm bảo thực hiện thay vì các nhiệm vụ tư vấn, đây là điều được nhấn mạnh nhiều hơn trong các thông lệ tốt nhất.

Kiểm toán nội bộ được xem là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở 165 quốc gia từ những năm 50 của thế kỷ 20. Kiểm toán nội bộ đảm bảo về việc đơn vị có thể kiểm soát một cách hữu hiệu rủi đối với cả các khu vực kinh tế công, kinh tế tư nhân, và cả các tổ chức phi lợi nhuận trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.

Mỹ là quốc gia đầu tiên thành lập học viện kiểm toán nội bộ (IIA) và cũng là tổ hức có uy tín trên thế giới trong việc định hướng và tạo lập khuôn khổ hoạt động cho kiểm toán nội bộ. Theo Học viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ, kiểm toán nội bộ sẽ cung cấp các dịch vụ đảm bảo cho hệ thống nội bộ vận hành một cách có hiệu quả nhằm đạt được đồng thời các mục tiêu đã đề ra, trong đó tập trung chủ yếu vào công tác quản trị của đơn vị thông qua quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ đối với các vấn đề về đạo đức, vấn đề môi trường, vấn đề tuân thủ mang tính trách nhiệm xã hội. Đồng thời, cũng đảm bảo tính độc lập và tránh xung đột về lợi ích, kiểm toán nội bộ thường chịu trách nhiệm trực tiếp trước ủy ban kiểm toán. Như vậy, kiểm toán nội bộ là hoạt động đưa ra sự đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập và khách quan được thiết lập nhằm mang lại giá trị và tăng cường hoạt động của một tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua phương pháp tiếp cận có hệ thống và có nguyên tắc để đánh giá và tăng cường tính hiệu quả của công tác quản trị rủi ro, của hệ thống kiểm soát nội bộ và của các tổ chức.

Thực tế cho thấy, một số quốc gia công nghiệp xây dựng chức năng kiểm toán nội bộ của họ gắn liền với một văn bản pháp luật cụ thể, nhưng các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia theo mô hình Anh và kể cả Pháp lại áp dụng quy định của chính phủ, điển hình như Luật Tổng thanh tra Mỹ năm 1978 và Luật Kế toán Chính phủ của Hà Lan năm 2001. Điều này ngược lại với Australia, Canada, và Anh chỉ áp dụng quy định của ngân khố và Thụy Điển, nơi chính phủ ban hành một pháp lệnh (nghĩa là quy định về kiểm toán nội bộ các cơ quan của chính phủ năm 1994. Tuy nhiên, trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển, khuyến nghị đưa ra là cải cách chức năng kiểm toán nội bộ (IA) cần được hỗ trợ bởi một văn bản luật liên quan. Yêu cầu pháp lý về thiết lập chức năng kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo vốn hoạt động và tính độc lập của nó, đồng thời tạo cơ hội để vạch rõ và thống nhất về các mục tiêu và chức năng của nó, và để xác định vai trò của nó trong hệ thống quản lý tài chính công[1]. Đây là vấn đề quan trọng khi xác định hoặc thực hiện cải cách căn bản về chức năng kiểm toán nội bộ. Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó có thể tạo ra sự cứng nhắc cho một chức năng cần có sự thay đổi về sau. Khi chức năng kiểm toán nội bộ được xác định tốt, thay đổi qua quy định của chính phủ sẽ tạo sự linh hoạt cao hơn so với văn bản luật. Lý tưởng nhất là cả hai mục tiêu đều có thể thực hiện bằng cách triển khai văn bản luật nhằm tạo điều kiện cho phép thay đổi các quy định về tài chính trong phạm vi khuôn khổ đó khi chức năng kiểm toán nội bộ có sự thay đổi về sau.

Tại Việt Nam, Quy chế kiểm toán nội bộ được ban hành kèm theo Quyết định số Quyết định số 832-TC/QĐ/CĐKT ngày 28 tháng 10 năm 1997 của Bộ tài chính áp dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước nhằm kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt; Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc doanh nghiệp; Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của doanh nghiệp; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, theo quy định của của chế này, số liệu, tài liệu kế toán, báo cáo tài chính của doanh nghiệp là căn cứ pháp lý để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước, với các bên liên quan của doanh nghiệp.

Trong quy chế kiểm toán nội bộ đối với các doanh nghiệp nhà nước quy định cụ thể về nội dung kiểm toán, trình tự và phương pháp kiểm toán nội bộ. Trên cơ sở đó, các quy định về kiểm toán hoạt động, kiểm toán về tính tuân thủ cũng như kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị được quy định cụ thể, rõ ràng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước giai đoạn này.

Đối với các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước cũng đã có khung pháp lý về kiểm toán nội bộ được quy định tại Quyết định số 67/2004/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành “Quy chế về tự kiểm tra tài chính, kế toán tại các cơ quan, đơn vị có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước”, đây là khung pháp lý cao nhất tại thời điểm này. Theo quy định tại Quyết định số 67/2004/QĐ-BTC các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước phải xây dựng và vận hành hệ thống tự kiểm tra tài chính, kế toán theo quyết định này. Hoạt động tự kiểm tra tài chính, kế toán của các đơn vị được tổ chức thành bộ phận chuyên trách đặt dưới sự điều hành trực tiếp của thủ trưởng đơn vị và là một hoạt động bắt buộc. Việc đặt bộ phận tự kiểm tra tài chính, kế toán dưới sự điều hành trực tiếp của thủ trưởng đơn vị làm ảnh hưởng tới tính độc lập, tính khách quan, dẫn đến làm giảm hiệu quả hoạt động của bộ phận này. Chức năng tự kiểm tra tài chính, kế toán bị đồng nhất với chức năng kiểm toán nội bộ. Trách nhiệm giữa các cấp lãnh đạo với bộ phân tự kiểm tra tài chính, kế toán của đơn vị chưa phân định rõ ràng. Công tác tự đánh giá đối với bộ phận kiểm tra tài chính, kế toán chưa được thực hiện và bị coi nhẹ. Hoạt động tự kiểm tra tài chính, kế toán của các đơn vị trong thời gian qua mới chỉ dừng lại công tác hậu kiểm, những vấn đề phát hiện thường là những sai phạm đã xảy ra, chưa có tác dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa, quản lý rủi ro và nhất là tư vấn cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hiện có của đơn vị.

Đến đầu năm 2019 Chính phủ ban hành Nghị định 05/2019/NĐ- CP ngày 22/1/2019 về kiểm toán nội bộ trong đó quy định cụ thể về đối tượng áp dụng là các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị sự nghiệp công lập và các doanh nghiệp; mục tiêu kiểm toán nội bộ được xác định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các rủi ro của các đơn vị trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời nghị định quy định rõ về tính độc lập, khách quan và nguyên tắc tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động kiểm toán nội bộ.

Theo quy định tại Nghị định 05/2019/NĐ-CP cũng quy định chi tiết về công tác kiểm toán nội bộ đối với các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp Nhà nước cũng như tiêu chuẩn, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của kiểm toán viên nội bộ và bộ phận kiểm toán nội bộ.

Bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, các đơn vị có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước đang phải đối mặt với những tồn tại như năng lực quản trị điều hành yếu kém, công nghệ thông tin lạc hậu, nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp ngày càng hạn hẹp,… Để khắc phục những hạn chế này, đồng thời nâng cao năng lực quản trị điều hành và phát triển bền vững thì một trong những yêu cầu cấp bách nhất hiện nay là các đơn vị có sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước cần phải xây dựng kiểm toán nội bộ và khung pháp lý đối với kiểm toán nội bộ phải được nâng lên thành luật.

 


[1] Trường hợp Luật Cơ quan Kiểm toán Nội bộ của Ghana năm 2003 là một mô hình hữu ích.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành