Tình hình thế giới giữa những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX diễn ra nhiều biến động sâu sắc, phức tạp, tác động đến tất cả các quốc gia dân tộc. Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào khủng hoảng toàn diện dẫn đến sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào. Trật tự thế giới hai cực (Xô - Mỹ) tan vỡ, cục diện chính trị thế giới thay đổi bất lợi cho phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới.

Cách mạng khoa học - công nghệ thế giới phát triển mạnh mẽ, chủ nghĩa tư bản do lợi dụng được những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ, cùng với những biện pháp điều chỉnh về kinh tế - xã hội, đã tạo nên bước phát triển mới, song cũng có nhiều nan giải khó khắc phục. Các nước mới giành được độc lập dân tộc sau quá trình phi thực dân hóa bước vào thời kỳ phát triển mối rất khó khăn, vừa phải tìm kiếm mô hình phát triển, vừa phải đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.

Thế giới đối diện với những vấn đề toàn cầu cấp bách đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của tất cả các quốc gia, dân tộc mới có thể giải quyết được.

 

Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn tài liệu xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Việt Nam là nước dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH). Theo đánh giá hàng năm của ODV (Open Development) về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoạn giai đoạn 1997-2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI)[1].

Những diễn biến của BĐKH tại Việt Nam bao gồm các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ngày càng gia tăng về tần suất và thường khó dự đoán. Lượng mưa tháng cao nhất tăng từ 270 mm trong giai đoạn 1901-1930 lên 281 mm trong giai đoạn 1991-2015, trong khi nhiệt độ tháng cao nhất tăng từ 27,1°C (1901-1930) lên 27,5°C (1991-2015)[2].

Năm 2017 được coi là năm kỷ lục về thảm họa thiên tai tại Việt Nam, với hơn 16 cơn bão, lũ lịch sử trái quy luật.3 Nhiệt độ trung bình tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện tại cao hơn từ 0,5 -1,0°C so với nhiệt độ trung bình của các năm trước theo tính toán dựa trên dữ liệu cập nhật của 30 năm trở lại đây. Số đợt không khí lạnh giảm rõ rệt, các đợt lạnh bất thường tăng cao. Biến đổi khí hậu đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của nông dân, nhất là các hiện tượng khí hậu cực đoan như: tình trạng nước biển dâng, xâm nhập mặn đang và sẽ làm mất đi nhiều diện tích trồng cây lương thực. Sự bất thường của chu kỳ khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất mùa màng, mà còn gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác. Theo tính toán của các nhà khoa học, biến đổi khí hậu đang làm cho năng suất lúa xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm 2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả.

Cho đến nay, Việt Nam đã ba lần xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu. Vào năm 1994, kịch bản biến đổi khí hậu đầu tiên cho Việt Nam được xây dựng dưới sự tài trợ của Ngân hàng Pháttriển châu Á (ADB). Bước sang năm 1998, trong quá trình chuẩn bị Thông báo quốc gia lần thứ nhất của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), Việt Nam đã xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu lần thứ hai.

Đến năm 2009, các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng và công bố lần thứ ba, theo các kịch bản phát thải khí nhà kính ở mức thấp (Bl), trung bình (B2) và cao (A2, A1FI), trong đó kịch bản trung bình B2 được khuyến nghị cho các bộ, ngành và địa phương làm định hướng ban đầu để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biến dâng và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu đã có và kết quả tính toán của các mô hình khí hậu ở Việt Nam, những kịch bản phát thải khí nhà kính được chọn nhằm cập nhật kịch bản biến đổi khỉ hậu và nước biển dâng cho Việt Nam trong thế kỷ XXI được dựa trên các kịch bản phát thải của IPCC bao gồm: Bl, A1T (nhóm kịch bản phát thải thấp); B2, A1B (nhóm kịch bản phát thải trung bình); A2, A1FI (nhóm kịch bản phát thải cao). Thời kỳ cơ s đ so sánh sự thay đổi của khí hậu trong thế kỷ XXI là giai đoạn 1980-1999, đây cũng là giai đoạn được IPCC dùng trong báo cáo đánh giá năm 2007. Xu hướng biển đổi khí hậu ở Việt Nam trong thời gian tới được dự đoán như sau[3]:

Thứ nhất, về nhiệt độ trung bình năm. Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thể kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 1,6°c đến hơn 2,2°c trên đại bộ phận diện tích phía Bắc và tăngtừ 1,0 °c đến l,6°cởđại bộ phận diện tích phía Nam. Theo kịch bản phát thải trung bình, đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình năm tăng từ 2°Cđến 3°Ctrên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hom so với những nơi khác. Theo kịch bản phát thải cao, đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bĩnh năm có mức tăng phổ biến từ 2,5°Cđến trên 3,7°Chầu hết diện tích cả nước. Khu vực có mức tăng thấp nhất (từ l,6°Cđến 2,5°C) là ở một phần diện tích thuộc Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Thứ hai, về lượng mưa năm. Theo kịch bản phát thải thấp, lượng mưa năm tăng khoảng 5% vào giữa thế kỷ XXI và trên6% vào cuối thế kỷ XXI. Mức tăng thấp nhất là ở Tây Nguyên, chỉ vào khoảng dưới 2% vào giữa và cuối thế kỷ XXI. Theo kịch bản phát thải trung bình, mức tăng phổ biến của lượng mưa năm trên lãnh thổ Việt Nam từ 1% đến 4% (vào giữa thế kỷ) và từ 2% đến 7% (vào cuối thế kỷ). Tây Nguyên là khu vực có mức tăng thấp hơn so với các khu vực khác trên cả nước với mức tăng khoảng dưới 1% vào giữa thế kỷ và từ dưới 1% đến gần 3% vào cuối thế kỷ XXI. Theo kịch bản phát thải cao, lượng mưa năm vào giữa thế kỷ tăng phổ biến từ 1% đến 4%; đến cuối thế kỷ, mức tăng có thể từ 2% đến trên 10%. Khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít nhất, khoảng dưới 2% vào giữa thế kỷ và từ 1% đến 4% vào cuối thế kỷ XXI.

Thứ ba, về nước biển dâng. Các kịch bản phát thải khí nhà kính được lựa chọn để xây dựng kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam là kịch bản phát thải thấp (kịch bản Bl), kịch bản phát thải trung bình của nhóm các kịch bản phát thải trung bình (kịch bản B2) và kịch bản phát thải cao nhất của nhóm các kịch bảnphát thải cao (kịch bản A1FI). Theo kịch bản phát thải thấp (B1), vào giữa thế kỷ XXI, trung bình trên toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 18cm đến 25cm. Đến cuối thế kỷ XXI, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54cm đến 72cm; thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 42cm đến 57cm. Trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 49cm đến 64cm. Theo kịch bản phát thải trung bình (B2), vào giữa thế kỷ XXI, trung bình trên toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 24cm đến 27cm. Đến cuối thế kỷ XXI, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62cm đển 82cm; thấp nhất khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 49cm đến 64cm. Trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57cm đến 73cm. Theo kịch bản phát thải cao (A1FI), vào giữa thế kỷ XXI, trung bình trên toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 26cm đến 29cm. Đến cuối thế kỷ XXI, nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85cm đến 105cm; thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66cm đến 85cm. Trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 78cm đến 95cm.

Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng ở Việt Nam, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Theo ước tính, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lờ đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 10% GDP, ảnh hưởng tới khoảng10-12% dân số cả nước. Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng và sẽ gây trở ngại cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, sự phát triển bền vững của đất nước.

Những ngành, lĩnh vực được đánh giá là dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu ở Việt Nam bao gồm: nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khỏe và nơi cư trú. Các khu vực dễ bị tổn thương bao gồm: dải ven biển (bao gồm cả vùng đồng bằng ven biển hàng năm chịu ảnh hưởng của bão, nước biển dâng và lũ lụt), vùng núi (những nơi thường xuyên xảy ra lũ quét, sạt lở đất). Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long là những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm nông dân, ngư dân, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, phụ nữ, trẻ em và nhóm người nghèo ở các khu đô thị[4]&[5].

Các nghiên cứu quốc tế cũng đánh giá Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Báo cáo Phát triển con người 2007-2008 cũng đưa ra một số dự đoán về thiệt hại mà Việt Nam phải gánh chịu trước tác động của biến đổi khí hậu. Theo đó, nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm 2°Cvà mực nước biển tăng thêm lm vào cuối thế kỷ XXI thì khoảng 22 triệu người ở Việt Nam sẽ bị mất nhà, 12,3% diện tíchđất trồng trọt sẽ bị mất; 40.000km[6]&[7] diện tích đồng bằng và 17km2 bờ biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Mekong sẽ chịu tác động của lũ ở mức độ không thể dự đoán và Việt Nam sẽ đối mặt với mức thiệt hại khoảng 17 tỷ USD/năm. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai khu vực sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu ở Việt Nam1. Trong một nỗ lực nhằm tìm ra các vấn đề ưu tiên phục vụ cho công tác thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam, Carew-Reid đã sử dụng công nghệ GIS để xác định các khu vực sẽ bị ngập ở Việt Nam nếu mực nước biển dâng lm vào cuối thế kỷ XXI, từ đó phân tích những tổn thương về kinh tế, xã hội và môi trường đối với các khu vực này. Theo Carew-Reid, đến cuối năm 2010, 39/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam, khoảng 4,4% diện tích đất, 7,3% dân số (6 triệu người), 4,3% diện tích đường, 36 khu bảo tồn thiên nhiên sẽ bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng lm của mực nước biển, trong đó 12 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cu Long sẽ bị ảnh hưng nghiêm trọng nhất: 85% diện tích ngập lụt, 90% người nghèo bị ảnh hưởng và 90% diện tích đường bị ảnh hưởng đều nằm ở khu vực này.

 


[1]  David Eckstein, Vera Künzel và Laura Schäfer 2017, “Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu 2018: Quốc gia nào sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ những hiện tượn thời tiết cực đoan?”, truy cập tháng 8/2018

[2] sdwebx.worldbank.org, “Nhiệt độ trung bình và lượng mưa trung bình theo tháng của Việt Nam từ 1901 – 2015”, truy cập tháng 8/2018

[3] Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biến dăny cho Việt Nam, Nxb.Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, H.2012, ừ. 1-2.

[4]  Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu, Ban hành kèm theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05-12-2011 của Thủ tướng Chính phủ, 2011.

[5]  Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đỗi khí hậu, Triển khai thực hiện Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03-12-2007 của Chính phủ, H.2008, tr.10.

349

[6] UNDP: Cuộc chiến chong lại biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhăn loại trong một thế giới còn chia cách, Báo cáo Phát triển con người 2007-2008.

[7]  J.Carew-Reid: Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Vietnam, ICEM - International Centre for Envứonmental Management, Indoorpilly, Queensland, Australia, 2008.

An ninh môi trường hiện nay là hiện tượng bức bách của đời sống xã hội trong những năm gần đây, đặc biệt là ở các khu đô thị và khu công nghiệp. Tại Việt Nam, chất lượng môi trường đang biến đổi theo chiều hướng xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của con người. Chính vì vậy, an ninh môi trường đang là vấn đề cấp thiết được xếp vào …an ninh quốc gia phi truyền thống không chỉ đối với Việt Nam mà đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, nên việc dự báo tình hình an ninh môi trường là rất cần thiết để mỗi quốc gia có các biện pháp ứng phó và các giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định môi trường.

Trong những năm sắp tới, an ninh môi trường Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ, đặc biệt là các nguy cơ sau:

Thứ nhất, biến đổi khí hậu, nước biển dâng là một thách thức lớn, đe dọa nghiêm trọng mục tiêu phát triển bển vững và sinh kế của người dân. Quốc tế cảnh báo Việt Nam là một trong 5 quốc gia khu vực châu Á phải chịu nhiều hậu quả nhất do biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong gần 50 năm qua, thời tiết nước ta đã có nhiều biến đổi bất thường. Nhiệt độ trung bình năm giai đoạn1961-2000 cao hơn trung bình năm của giai đoạn 1931-1960. Hà Nội, Đà Nng, Thành phố Hồ Chí Minh, nhiệt độ trung bình năm trong giai đoạn 1991-2007 đều cao hơn trung bình giai đoạn 1931-1940. Số đợt không khí lạnh đã giảm rõ rệt trong 20 năm qua nhưng lại có diễn biến bất thường, sốcơn bão trên biển Đông, trung bình đều có xu hướng tăng và cường độ ngày một mạnh hơn, quỹ đạo có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía Nam và mùa bão cũng kết thúc muộn hơn. Bản đồ phân bố mưa ở nước ta có nhiều thay đổi, phân bố không đều và nhiều dị thường.

Biến đổi khí hậu đã và tiếp tục tác động mạnh hơn đến cuộc sống, kế sinh nhai của người dân, làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên, thay đổi cấu trúc xã hội, kết cấu hạ tng của nền kinh tế và gây ra những bất ổn chính trị - xã hội. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang đẩy nhiều người dân vào tình trạng nguy hiểm, mất sinh kế hoặc buộc phải rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn đến khu vực khác sinh sống (quốc tế gọi hiện tượng này là “tị nạn môi trường”). Các chuyên gia môi trường quốc tế cảnh báo, trong tương lai, cứ 10 người Việt Nam lại có một người phải đối mặt với nguy cơ mất chỗ ở do suy thoái môi trường, thiên tai và biến đổi khí hậu. Tình trạng trên sẽ làm thay đổi cơ cấu dân số vùng, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Nếu nước biển dâng lm thì 10,8% người dân Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp, tỷ lệ lớn nhất trong 84 nước đang phát triển; 40.000km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập lụt hằng năm, trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn toàn.

Ngoài ra, tuy không nằm trong vùng nguy hiểm về động đất và sóng thần nghiêm trọng của thế giới nhưng nước ta cũng lànước có hiểm họa động đất khá cao (có 30 khu vực có thể động đất từ 5,5 đến 6,8 độ richter; từ năm 1914 đến 2003, đã xảy ra 1.600 trận động đất từ 3 độ richter trở lên, trong đó có 3 vụ trên độ richter).

Thứ hai, tranh chấp tài nguyên nước trong khu vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây xung đột. An ninh nguồn nước đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của thế giới. Tháng 3-1997, Liên họp quốc chính thức cảnh báo: Sau nguy cơ về dầu mỏ, loài người đang và sẽ phải đối mặt với nguy cơ phổ biến về thiếu các nguồn nước sạch cần thiết cho duy trì và phát triển đời sống kinh tế - xã hội của mình, vấn đề cạn kiệt nguồn nước đã và tiếp tục là nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột quốc tế, thậm chí là xung đột chủ yếu trong thế kỷ XXI.

Do tính đặc thù về địa lý, hơn 60% nước mặt của Việt Nam bắt nguồn từ nước ngoài (lưu vực sông Cửu Long, 95% lượng nước chảy về từ thượng lưu sông Mekong; gần 40% lượng nước mặt sông Hồng - sông Thái Bình bắt nguồn từ Trung Quốc; 30% của sông Mã, 22% của sông Cả chảy về từ Lào; 17% của sông Đồng Nai chảy về từ Campuchia). Do phải phụ thuộc chủ yếu vào nguồn cấp từ bên ngoài lãnh thổ, an ninh nguồn nước của ta có thể bị đe dọa từ sự sử dụng của các nước láng giềng, đặc biệt là sông Mekong và sông Hồng. Trên thực tế, hai con sông này đang bị các quốc gia vùng thượng nguồn (đặc biệt là Trung Quốc và Thái Lan) sử dụng bất chấp hậu quả gây ra đối với Việt Nam. Nhiều đập và hồ chứa lớn, nhỏ được Trung Quốc, Thái Lan, Lào xây dựng trên sông Mekong đang đe dọa trực tiếp cuộc sống của hàng chục triệu người dân đồng bng sông Cửu Long. Sông Hồng cũng đang bị cạn kiệt và ô nhiễm, trong đó có một phầnnguyên nhân là do các khu công nghiệp phía bên kia biên giới xả nước thải độc hại, nguy hiểm nhất là nguy cơ rò ri phóng xạhạt nhân từ các nhà máy điện nguyên tử của Trung Quốc phía thượng nguồn.

Trong tương lai gần, nếu các quốc gia có quyền lợi gắn vớicác dòng sông chung với nước ta cố tình triển khai các dự ánpháttriển một cách thiếu trách nhiệm với các nước liên quan, thì tranhchấp tài nguyên nước giữa Việt Nam và các nước trong khu vực cũng trở nên căng thẳng, nghiêm trọng.

Thứ ba, xâm lược sinh thái” đe dọa mất cân bằng sinh thái và nguy cơ biến nước ta thành bãi rác công nghiệp ngày càng tr thành hiện thực. Trong cơn lốc của toàn cầu hóa, sự dịch chuyn ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia được cảnh báo từ những năm cuối của thế kỷ trước, nay đã trở thành hiện thực. Quốc tế gọi đólà hành động “xâm lược sinh thái”.

Ở nước ta, các hành vi “xâm lược sinh thái” đang diễn biến rất phức tạp và rất khó kiểm soát. Các tổ chức tội phạm về môi trường trong nước móc nối với một số cán bộ, các ngành chức năng, lợi dụng sơ hở, thiếu sót, bất cập trong hệ thống pháp lut và yếu kém trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, thực hiện nhiều hành vi tiếp tay cho các cuộc “xâm lược sinh thái” của nước ngoài, như nhập khẩu phế liệu công nghiệp, biến nước ta thànl bãi rác công nghiệp của thế giới; nhập nông sản có hóa chất độc hại gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng; du nhập các loài sinh vật lạ làm mất cân bằng sinh thái và hủy hoại môi sinh. Tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào trong nước dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu diễn ra công khai nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn triệt để. Hàng trăm sân golf do nước ngoài đầu tư được xây dựng ở hầu hết các tỉnh, thành phố, chiếm hàng trăm nghìn hécta đất canh tác, đe dọa an ninh lương thực và hủy diệt môi sinh chưa được kiểm soát.

Th tư, “tự hủy diệt” luôn là nhân tố nội tại trực tiếp đe dọa an ninh môi trường quốc gia. Ngoài các nguy cơ từ bên ngoài và t các yếu tố thiên nhiên, an ninh môi trường Việt Nam còn bị đe dọa bởi các nguy cơ từ bên trong, hay còn gọi là nguy cơ “tự hủy diệt”. Sự yếu kém về nhận thức và trách nhiệm của mỗi con người, mỗi tổ chức, sự thúc bách về chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, bất chấp hậu quả về môi trường làm cho mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển với mục tiêu bảo vệ môi trường ngày càng trầm trọng là mối đe dọa trực tiếp đến an ninh môi trường quốc gia. Trong khi đó, tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn biến phức tạp, xảy ra trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng hiệu quả đấu tranh, xử lý còn rất hạn chế. Nạn chặt phá rừng nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ và tình trạng săn, bắt có tính chất hủy diệt động vật hoang dã, nguồn lợi thủy sản diễn ra công khai, trắng trợn nhưng chưa được ngăn chặn triệt để, việc xử lý còn lúng túng, thiếu kiên quyết. Tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi, thiếu kế hoạch, bỏ qua trách nhiệm hoàn nguyên môi trường, sử dụng hóa chất độc hại bừa bãi vẫn tiếp diễn, chưa được kiểm soát.

1. Kinh nghiệm của Mỹ

Mỹ là nước có hệ thống luật pháp về phòng, chống rửa tiền toàn diện và nghiêm khắc nhất trên thế giới mà tất cả các định chế tài chính và nhân viên đều phải tuân theo.

Một trong những đạo luật quan trọng nhẩt liên quan đến phòng, chống rửa tiền là Luật Bí mật ngân hàng (BSA) năm 1970 và những quy tắc của nó. Mục đích của BSA là tạo ra một văn bản pháp lý tạo điều kiện điều tra tội phạm rửa tiền, trốn thuế...bằng cách yêu cầu các tổ chức tài chính phải lưu giữ những chứng từ liên quan đến giao dịch trên 10.000 USD. Sau đó, Luật được sửa đổi cho phép Chính phủ và các cơ quan chức năng cỏ thể hạ thấp mức chuẩn 10.000 USD trong các cuộc điều tra.

Một số luật quan trọng khác trong việc phòng, chống rửa tiền tại Mỹ gồm Luật Quản lý toàn diện tội phạm năm 1984 Luật Quản lý rửa tiền năm 1986, Luật Chống sử dụng ma túy năm 1988, Luật Chống rửa tiền Annunzio - Wylie năm 1992 Những luật và quy định về phòng, chống rửa tiền tại Mỹ luôn được bổ sung, sửa chữa cho phù hợp với những thay đổi của tội phạm rửa tiền.

Luật Chống rửa tiền quy định nghĩa vụ của tất cả các đối tượng, từ các cá nhân đến các tổ chức khi phát hiện có sự tham gia vào bất kỳ hoạt động rửa tiền nào và là căn cứ để tịch thu, sung quỹ tiền và tài sản liên quan đến hoạt động rửa tiền. Việc không tuân thủ những quy tắc và luật lệ liên quan đến hoạt động phòng, chống rửa tiền của nhân viên các tổ chức tín dụng có thểdẫn tới bị phạt dân sự và hình sự. về mặt dân sự, nhân viên ngân hàng có thể bị phạt tới 100.000 USD cho việc cố tình vi phạm những quy định về báo cáo và lưu giữ chứng từ của BSA. Về mặt hình sự, người vi phạm có thể bị phạt tiền tới 250.000 USD, 5 năm tù hoặc cả hai.

Một trong những vụ sớm nhất và nổi tiếng nhất liên quan đến việc ngân hàng bị phạt do vi phạm các quy định và luật l liên quan đến hoạt động rửa tiền tại Mỹ là trường hợp Ngân hàng Boston. Mặc dù đã được yêu cầu phải tuân thủ chặt chẽ hơn trongviệc lưu giữ các chứng từ giao dịch vào năm 1980, song Ngân hàng Boston vẫn tiếp tục giao dịch với các ngân hàng nướcngoài, bao gồm cả các ngân hàng đại lý của nó mà không hề lưu giữ hồ sơ chứng từ đến tận năm 1984. Nghiêm trọng hơn, các chi nhánh của Ngân hàng Boston đã tiếp tục thực hiện các giao dịch vớinhững tội phạm nổi tiếng qua nhiều năm. Những nhân vật này đã thực hiện những phi vụ kinh doanh bất động sản, nhưng nhânviên của Ngân hàng Boston đã không báo cáo và không lưu giữchứng từ của những giao dịch này theo các quy định và luật l về tài chính. Đến năm 1985, Ngân hàng Boston mới thực hiện đúng các yêu cầu về phòng, chống rửa tiền theo các quy định, luật lệ nên cuối cùng đã bị kết án và bị phạt 500.000 USD.

2. Kinh nghiệm của Anh

Tại Anh, các định chế tài chính cũng hoạt động theo những quyđịnh về phòng, chống rửa tiền tương tự như tại Mỹ. Tháng 12-1990, nước Anh ban hành một loạt văn bản hướng dẫn các ngân hàng trong việc phát hiện và chấm dứt các hoạt động rửa tiền, trong đó tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ của ngân hàng trong việc cảnh báo cho các cơ quan quyền lực những hoạt động giao dịch đáng ngờ. Các hướng dẫn này được xây dựng bởi Ngân hàng Trung ương Anh và các ngân hàng thương mại với sự phối hợp, tham gia của cơ quan tình báo quốc gia, hải quan, cảnh sát. Theo đó, ngân hàng phải đích thân nhận dạng tất cả các khách hàng bằng mọi cách có thể, kể cả bằng cách gặp mặt trực tiếp. Hướng dẫn cũng chỉ rõ các cách thức xác nhận thông tin cá nhân, trong đó hộ chiếu là hình thức được ưu tiên, ngoài ra các nh thức khác cũng được chấp nhận như thẻ nhân viên, bằng lái xe... Hơn nữa, các ngân hàng phải lưu giữ tất cả các chứng từ giao dịch trong 6 năm để phục vụ điều tra.

Cũng giống như tại Mỹ, việc không tuân theo những hướng dẫn và các luật, quy định sẽ dẫn tới những trách nhiệm pháp luật. Những trách nhiệm pháp lý dân sự có thể nảy sinh nếu vi phạm các quy định về sự bảo mật của khách hàng. Hướng dẫn tại Anhchỉ ra rằng, nhân viên của các định chế tài chính phải hợp tác một cách toàn diện với các cơ quan pháp luật và phải thông báo trước cho các cơ quan này những giao dịch đáng ngờ. Trong khi cácngân hàng là chủ thể chính, các tổ chức tài chính khác như côngty bảo hiểm, tổ chức môi giới cũng phải thực hiện những hướng dẫn này.

Những quy định, luật lệ khác liên quan đến phòng, chống rửa tiền tại Anh bao gồm: Luật Chống buôn bán ma túy năm 1986; Luật Phòng, chống khủng bố năm 1987; Luật Hình sự (Hợp tác quốc tế) năm 1990; Luật Hình sự năm 1993. Bộ luật đầu tiên cho phép cảnh sát có quyền điều tra những tài sản đáng ngờ có liên quan đến ma túy, phong tỏa chúng và khi có chứng cứ sẽ tịch thu những tài sản này. Luật Phòng, chống khủng bố năm 1987 quy định sẽ kết tội những người sử dụng hoặc sở hữu quỹ khủng bố. Luật Hình sự năm 1990 cho phép kết tội nhữngngười che giấu, biển thủ, chuyển nhượng hoặc vận chuyển tài sản hoặc giúp đỡ người khác làm việc đó khi biết hoặc nghi ngờ những tài sản đó do phạm tội buôn bán ma túy mà có. Luật hình sự năm 1993 mở rộng quyền lực của tòa án trong việc kết tội rửa tiền như một tội phạm hình sự.

Hệ thống luật lệ ngân hàng và các hướng dẫn thực hành giám sát của Cộng đồng châu Âu yêu cầu tất cả các nhân viên ngân hàng đều phải nhận biết khách hàng của họ; đồng thời cải thiện hệ thống lưu giữ chứng từ, ngăn chặn kịp thời những hành động đáng ngờ và tập huấn nhân viên để họ tuân theo các luật lệ ngân hàng một cách chủ động và có thể nhận biết, báo cáo các hành động rửa tiền.

3. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh không chỉ cần đến một hệ thống quản lý thông tin về chống rửa tiền tốt mà nó cần phái có các biện pháp phòng ngừa và một cơ chế thích hợp. Ngân ng Trung ương Trung Quốc đã nỗ lực ở nhiều cấp độ nhằm xây dựng một hệ thống chống rửa tiền. Trước hết, dưới sự chỉ đạo của y ban Nhà nước, Hội nghị cấp bộ trưởng về chống rửa tiền do Ngân hàng Trung ương chủ trì đã được tổ chức với sự tham gia của 23 cơ quan chính phủ, trong đó có cơ quan tư pháp, an ninh, thương mại, thuế, hải quan... Hội nghị đã nghiên cứu, đề ra chiến lược xây dựng các hướng dẫn và chính sách về chống rửa tiền, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng quy chế và kiểm tra hành vi vi phạm.

Cấp độ thứ hai là hệ thống quản lý chống rửa tiền. Đây là một hệ thống quốc gia do Ngân hàng Trung ương điều hành bao gồm hệ thống kiểm tra các hành vi vi phạm chống rửa tiền tập trung vào lĩnh vực tài chính và một trung tâm theo dõi thông tin chống rửa tiền. Trung tâm này là một hệ thống xử lý dữ liệu lớn giúp phát hiện ra các hoạt động bất hp pháp thông qua việc thu thập, phân tích thông tin về các giao dịch nghi ngờ và có giá trị lớn do các ngân hàng thương mại báo cáo.

Cuối cùng là hợp tác với các tổ chức chống rửa tiền quốc tế các hoạt động rửa tiền luôn đi kèm với vận chuyển ma túy và khủng bố. Hiện nay, Trung Quốc đang n lực để tham gia vào lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) và các tổ chức quốc tế khác, thiết lập sự hợp tác giám sát song phương và trao đổi thôngtin về chống rửa tiền với các nước khác để tạo ra môi trường thuận lợi cho các tổ chức tài chính, các chủ thể kinh tế trong các hoạt động kinh doanh.

4. Đi phó vi các vấn đề an ninh tài chính tại một số nước khác

Tại châu Âu: Hệ thống luật lệ ngân hàng và các hướng dẫn thực hành giám sát của Cộng đồng châu Âu yêu cầu tất cả các nhân viên ngân hàng đều phải nhận biết khách hàng của họ; đồnp thời cải thiện hệ thống lưu giữ chứng từ, ngăn chặn kịp thời những hành động đáng ngờ và tập huấn nhân viên để họ ttuân theo các luật lệ ngân hàng một cách chủ động và có thể nhận biết báo cáo các hành động rửa tiền.

Ôxtrâylia cũng thực hiện hệ thống báo cáo giao dịch tiền tệ tương tự như tại Mỹ. Bất kỳ một giao dịch tiền tệ nào tương đương hoặc lớn hơn 10.000 USD đều phải báo cáo. Những dữ liệu này sau đó được truyền tự động tới cơ quan báo cáo giao dịch tiền tệ.

Tại Nhật Bản, các ngân hàng được yêu cầu phải báo cáo tất cả các giao dịch tiền tệ trong nước vượt quá 30 triệu Yên và các giao dịch tiền tệ quốc tế vượt quá 5 triệu Yên. Hơn nữa, trongtrường hp liên quan đến ma túy, tòa án có thể kết án ngân hàng và các tổ chức tín dụng về tội rửa tiền.

Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Xingapo, Thái Lan, Mianma, Inđônêxia, Philippin đều có các văn bản về chống rừa tiền với những phạm vi và mức độ khác nhau. Các nước này cũng đã thành lập những cơ quan chuyên trách riêng xử lý vấn đề liên quan đến phòng, chống rửa tiền như AMLO hay AMLC. Cáccơ quan này có chức năng chủ yếu là thu thập và xử lý thông tin về tài sản liên quan đến buôn bán ma túy và rửa tiền[1].

 


[1] Chủ yếu tham khảo tại trang: http://www.tapchitaichinh.vn/Viet-Nam-chong- rua-tien-tai-tro-khung-bo/Luat-Phong-chong-rua-tien-tai-mot-so-nuoc-tren-the- gioi/49421.tctc

231

Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh đặt ra 3 mục tiêu chính cho tái cơ cấu đầu tư, trong đó trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công.

Sau một thời gian thực hiện, chủ trương tái cơ cấu đầu tư công đã đạt được một số kết quả bước đầu như: Đảm bảo tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP cũng như tỷ trọng đầu tư nhà nước theo mục tiêu đã đặt ra ; hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung vốn cho các công trình, dự án quan trọng, cấp thiết; nợ đọng xây dựng cơ bản từng bước được giải quyết... Tuy nhiên, đến nay, hiệu quả của tái cơ cấu đầu tư công vẫn chưa thực sự rõ rệt, các kết quả đạt được mới chỉ dừng ở bề nổi mà chưa có tác dụng chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, chưa định hướng rõ ràng những lĩnh vực ưu tiên dành cho phát triển.

Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế chưa khai thác hết tiềm năng phát triển của ngành. Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp khoảng 20% cho GDP và tương đối ổn định trong giai đoạn 2010- 2020, nhưng tỷ trọng đầu tư cho khu vực này trong tổng vốn đầu tư nhà nước đã giảm mạnh từmức 8,6% giai đoạn 2010 - 2015 xuống còn 6,1% giai đoạn 2016- 2019, cho thấy đầu tư cho nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chưa được chú trọng đúng mức.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, trong thời gian tới đối với nông nghiệp như các lợi thế về điều kiện tự nhiên để tăng trưởng không còn nhiều (do giảm diện tích đất, thâm dụng nước tưới để tăng vụ... ), sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ với hàm lượng cao trong khi công nghệ canh tác thấp. Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm ngành nông nghiệp trong thời gian qua thay đổi chậm, chưa đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp về chất lượng, giá cả và chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm còn yếu kém. Đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thường phải chịu nhiều rủi ro trong khi lợi nhuận thấp, do đó việc thu hút đầu tư tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này gặp nhiều khó khăn, dẫn đến thiếu nguồn lực thực hiện, hiệu quả chưa cao.

Đối với ngành công nghiệp: Quyết định số 339/QĐ-TTg và Quyết định số 2146/QĐ-TTg6 ngày 01/12/2014 về phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành công thương phục vụ CNH, HĐH và phát triển bền vững giai đoạn đến năm2020, tầm nhìn đến năm 2030 đưa ra định hướng chuyển từ nền công nghiệp gia công sang sản xuất, tăng hàm lượng KHCN và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm, kết nối tốt giữa khâu sản xuất và tiêu dùng, những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh... để cải thiện và nâng cao phát triển nền kinh tế, giảm dần các lĩnh vực sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản và lao động giản đơn. Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn lực đầu tư nhà nước vào những lĩnh vực này chưa đạt hiệu quả cao, sản xuất công nghiệp vẫn chưa khắc phục được tình trạng phát triển theo chiều rộng, theo hướng gia công lắp ráp; nhiều doanh nghiệp vẫn bị động, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu ; nguồn nhân lực có tay nghề cao chưa đáp ứng được thị trường lao động ; tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm của các ngành có định hướng ưu tiên bị hạn chế, khả năng cạnh tranh vẫn còn thấp và giá thành cao.

Đối với ngành dịch vụ thì mục tiêu đa dạng hóa loại hình dịch vụ và nâng cao trình độ phát triển của các ngành dịch vụ được đặt ra; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh (dịch vụ thương mại, dịch vụ xây dựng , khách sạn, nhà hàng, du lịch, viễn thông, tài chính - ngân hàng, dịch vụ logistics, giáo dục và đào tạo, chăm sóc y tế, các loại dịch vụ sản xuất nông nghiệp); hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch với sản phẩm du lịch chất lượng cao và có năng lực cạnh tranh... Tuy nhiên, chủ trương tái cơ cấu đầu tư công trong lĩnh vực này cũng chưa đạt được những kết quả như mong đợi, một số ngành dịch vụ chủ chốt chưa tăng trưởng bền vững, chất lượng của dịch vụ còn thấp, đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) vẫn còn tập trung vào một số ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm , tình trạng đầu tư dàn trải, chậm tiến độ vẫn còn xảy ra. Việc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý giữa các vùng, ngành, lĩnh vực vẫn chưa tạo ra được sự lan tỏa, làm động lực cho nền kinh tế. Công nghiệp phụ trợ cho ngành điện tử - tin học mới tập trung ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp chiếm 90% tổng vốn đầu tư, doanh nghiệp trong nước chiếm 2/3 số cơ sở sản xuất, sử dụng 60% lực lượng lao động, song, chỉ chiếm chưa đầy 10% số vốn đầu tư. Điều này cho thấy, công nghiệp phụ trợ của các doanh nghiệp nội địa chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp đối với doanh nghiệp có sản phẩm toàn cầu.

Phân bổ vốn đầu tư phát triển hợp lý, có hiệu quả là vấn đề quan trọng được đặt ra khi nguồn lực từ đầu tư công ngày càng hạn hẹp. Tiêu chí phân bổ nguồn lực theo vùng thể hiện chủ trương đúng trong việc đề cao vai trò động lực của các vùng kinh tế trọng điểm, song, cũng thể hiện mặt trái của tái cơ cấu đầu tư công là chưa chú trọng đến việc đầu tư cho các vùng khó khăn để tạo sự phát triển cân bằng và bền vững. Điểm của tiêu chí tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương sẽ được tính càng cao nếu tỷ lệ điều tiết về trung ương càng lớn, tuy nhiên trên thực tế, các tỉnh có tỷlệ điều tiết về trung ương lớn là các tỉnh phát triển hơn và có nguồn thu lớn, do đó các tỉnh này cũng sẽ nhận được vốn phân bổ dành cho đầu tư lớn hơn các tỉnh nghèo. Hệ quả là kéo theo khoảng cách ngày càng chênh lệch giàu nghèo giữa các địa phương và vùng kinh tế nếu như các địa phương được ưu tiên không thực hiện được vai trò dẫn dắt những địa phương nghèo cùng khu vực phát triển.

Thời gian qua, vấn đề nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) được nhắc đến như một rủi ro mới cho việc quản lý ngân sách và bền vững nợ công. Nợ đọng XDCB dẫn đến tình trạng các nhà thầu không có vốn để thực hiện tái sản xuất: Chủ đầu tư nợ khối lượng nhà thầu, kể cả ở các dự án chưa hoàn thành hoặc đã đưa vào sử dụng, khai thác trong nhiều năm, hệ quả là nhà thầu không có vốn thi công lại phải vay nợ ngân hàng, nợ các doanh nghiệp cung ứng vật liệu, nợ lương công nhân, nợ thuế Nhà nước gây ảnh hưởng đến luồng vốn lưu thông của nền kinh tế và ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia. Tính đến nay tổng nợ đọng XDCB khoảng gần 3% GDP, trong đó chủ yếu là nợ XDCB của địa phương. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng phát sinh nợ đọng XDCB này là việc thiếu giám sát trong phân cấp quản lý đầu tư tại các địa phương (92% dự án trong kế hoạch vốn TPCP giai đoạn 2011 - 2015 về giao thông, thuỷ lợi, y tế đầu tư dở dang), việc đầu tư vào các dự án tại các địa phương chưa được xác định theo tính ưu tiên, một số dự án được phê duyệt nhưng đến hết thời hạn quy định vẫn không thực hiện hoặc giải ngân hết số vốn kế hoạch được giao, phải xin kéo dài thời hạn, chưa có các chế tài xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm... gây lãng phí nguồn lực, kéo dài dự án đầu tư và nợ đọng XDCB tăng. Các khoản nợ đọng XDCB tuy không được tính vào nợ công nhưng địa phương hay Chính phủ vẫn có nghĩa vụ đối với các khoản nợ này.

Bên cạnh những điểm đạt được do tái cơ cấu đầu tư công mang lại thì tái cơ cấu đầu tư công trong thời gian qua chủ yếu mới tập trung vào việc cắt giảm, giãn, hoãn tiến độ các dự án đầu tư công. Việc tái cơ cấu đầu tư công về cơ bản mang tính ngắn hạn và còn bị động, chủ yếu xử lý tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ trong việc sử dụng vốn đầu tư. Trong giai đoạn 2014 - 2018, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN xấp xỉ 20% có xu hướng giảm so với giai đoạn 2006 - 2010 (28%). Huy động vốn từ trái phiếu chính phủ để đầu tư trong thời gian qua có xu hướng tăng , trong khi đó huy động đầu tư của tư nhân mới chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông, năng lượng nhưng cũng rất hạn chế. Tỷ lệ tổng đầu tư của 3 nguồn vốn từNSNN, chi đầu tư từ nguồn trái phiếu chính phủ và từ sổ xố kiến thiết trong GDP chiếm khoảng gần 10% GDP giai đoạn hiện nay. Điều này cho thấy, quá trình tái cơ cấu đầu tư công vẫn chưa thu hút được vốn huy động của các khu vực khác.

Năm 2017-2019, đóng góp của khu vực ngoài nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP, đứng thứ hai là khu vực kinh tế nhà nước và cuối cùng là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong khi đó vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội chỉ chiếm tỷ trọng đứng thứ hai, điều này cho thấy, vai trò kinh tế của khu vực đầu tư ngoài nhà nước trong những năm qua đóng góp quan trọng vào tăng trưởng.

Xét theo quy mô thì đầu tư công vẫn có xu hướng tăng, tỷ trọng đầu tư công vào các ngành xã hội như giáo dục, y tế hay ngành nông, lâm, thuỷ sản còn khá thấp và có xu hướng giảm, trong khi vẫn tiếp tục tập trung vào các ngành kinh tế có khả năng thu hút vốn của các khu vực kinh tế khác như vận tải, kho bãi và điện nước. Điều này thể hiện khu vực đầu tư công đang lấn át khu vực đầu tư tư nhân và vai trò của đầu tư công trong thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân còn hạn chế.

Về bản chất mối quan hệ giữa tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tái cơ cấu ngân hàng thương mại (NHTM) có mối liên kết khá chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau trong tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế. Điều này được thể hiện qua mối quan hệ là đầu tư của khu vực nhà nước bao gồm: vốn của DNNN nhưng việc quản lý và sử dụng vốn của các DNNN trong thời gian qua vẫn chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, việc thu hẹp vốn đầu tư công cũng nhằm vào mục đích khuyến khích vốn của khu vực tư nhân phát triển tuy nhiên tái cơ cấu NHTM vẫn còn nhiều điểm hạn chế khiến cho việc thu hút vốn từ khu vực tư nhân gặp nhiều rào cản khó khăn.

Để tái cơ cấu đầu tư công hiệu quả, trong thời gian tới cần làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần làm rõ các nội dung cụ thể của tái cơ cấu đầu tư công, theo đó xác định rõ ngành, lĩnh vực trọng tâm cần đầu tư. Phát huy hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư theo ngành và lĩnh vực, thể hiện vai trò định hướng của nguồn lực đầu tư công.

Thứ hai, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ làm căn cứ xây dựng các chương trình và kế hoạch đầu tư trung và dài hạn, bảo đảm tính thống nhất trong công tác quy hoạch. Phối hợp bố trí vốn đầu tư công trên cơ sở quy hoạch đầu tư công được xây dựng bảo đảm chất lượng cao và ổn định. Nâng cao chất lượng và giữ ổn định các quy hoạch đầu tư phát triển lĩnh vực, ngành nghề được lập ở cấp quốc gia, ngành và địa phương. Bên cạnh đó, giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng XDCB.

Thứ ba, cần tiếp tục khuyến khích và thu hút dòng vốn đầu tư ngoài nhà nước và FDI bằng cách tiếp tục ổn định môi trường đầu tư, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng đến các các lĩnh vực, sản phẩm có tính cạnh tranh cao, nâng cao hiệu quả đầu tư của vốn đầu tư từ ngân sách làm động lực thúc đẩy thu hút vốn của khu vực tư nhân và khu vực FDI.

Thứ tư, để tái cơ cấu đầu tư công có hiệu quả cần tăng cường liên kết giữa ba trọng tâm tái cơ cấu, các nhiệm vụ trên gắn liền và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, thực hiện đồng bộ thông qua một hệ thống chính sách nhất quán sẽ tạo được sự hài hòa, tương trợ, bổ sung cho nhau trong tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế. 

Trong những năm qua, nền tài chính quốc gia đặc biệt là ngân sách nhà nước (NSNN) đã có sự cải thiện đáng kể, song, áp lực điều chỉnh quy mô và cơ cấu chi NSNN vẫn còn rất lớn do những bất cập tích tụ từ nhiều năm trước và các yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới. Thực hiện mục tiêu đổi mới, Việt Nam đã chủ động thực hiện cơ cấu lại căn bản, toàn diện nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Có thể thể rằngđây là hướng tiếp cận đúng đắn trong giai đoạn hiện nay. Tái cấu trúc nền kinh tế có quan hệ hữu cơ với tái cấu trúc nền tài chính quốc gia, nhất là tái cấu trúc ngân sách nhà nước. Nếu cấu trúc kinh tế mà không gắn với cấu trúc nền tài chính quốc gia thì cấu trúc kinh tế về thực chất chỉ diễn ra bề mặt khách thể; tái cấu trúc nền tài chính quốc gia chính là tái cấu trúc mặt bên trong và nội dung cốt lõi của tái cấu trúc nền kinh tế, nó là hệ truyền dẫn đến thay đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế cũng như tính chất phát triển của nền kinh tế.

Điều chỉnh quy mô, tái cấu trúc NSNN cho phép xác định khuôn khổ thâm hụt NSNN, quy mô, cơ cấu nợ và định hình lại đầu tư công. Căn cứ vào quy mô NSNN hợp lý, từ đó định hình mức độ động viên vào NSNN; tái cấu trúc NSNN (chi tiêu thường xuyên) cũng sẽ tạo ra cú huých lớn cho tiến trình xã hội hóa... Như vậy, tái cấu trúc NSNN là chìa khóa, là cái van chủ yếu điều chỉnh toàn bộ tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế.

Khâu then chốt của tiến trình tải cấu trúc NSNN theo hướng hình thành quy mô và cơ cấu chi NSNN hợp lý, hiệu quả phải bắt đầu từ khống chế “thâm hụt NSNN” phù hợp. Khống chế thâm hụt NSNN có vai trò định vị quy mô NSNN, thúc đẩy tái cấu trúc các cấu phần và tương quan các bộ phận của chi NSNN; mặt khác, khống chế thâm hụt NSNN còn là mục tiêu rõ ràng, có thể theo dõi và giám sát được.

Điểm xuất phát cho tái cấu trúc NSNN “phải là đầu tư công”, do quan hệ trực diện giữa đầu tư công - nợ công - thâm hụt NSNN, đầu tư công là nguyên do trực tiếp phải vay nợ, làm tăng nợ công và duy trì thâm hụt NSNN cao. Giảm đầu tư công là khả thi và giảm ngay áp lực lên NSNN; hơn nữa là loại mục tiêu rõ ràng dễ giám sát (Điều chỉnh chi thường xuyên phải thay đổi hàng loạt chế độ, cần có thời gian...).

Mục tiêu trực tiếp của tái cấu trúc quy mô là chủ động điều chỉnh các cấu phần chi NSNN, đi sâu điều chỉnh từng cấu phần nhằm giảm áp lực chi và cân đối NSNN, trên cơ sở đó từng bước tạo ra quy mô, cơ cấu chi NSNN hợp lý mà ở đó Nhà nước vừa thực hiện tốt chức năng của mình và góp phần tối ưu hóa dần tiềm năng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (hướng tới NSNN với kết cấu hợp lý, cân đối bền vững, vận hành an toàn và hiệu quả).

Mục tiêu cơ bản và dài hạn đó là tái cấu trúc quy mô, cơ cấu NSNN cần hướng tới quá trình huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia ở tất cả các khâu, lĩnh vực; trực tiếp phục vụ cho tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; hướng đến nền tài chính vững mạnh, hiệu quả; góp phần đảm bảo vững chắc an ninh tài chính quốc gia.

Bên cạnh đó, tái cấu trúc ngân sách nhà nước phải gắn liền với “Định vị lại chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và thực hiện nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước trên nền tảng vững chắc”.

Quan điểm này xuất phát từ thực tế là chức năng, nhiệm vụ, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước là nhân tố cơ bản quy định quy mô, cơ cấu sử dụng NSNN - Bộ máy quản lý nhà nước càng gia tăng thì quy mô chi NSNN càng lớn, cơ cấu chi càng sai lệch, hiệu quả chi giảm dần. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước còn nhiều điểm chưa phù hợp, kém hiệu quả, gây cản trở hoặc tăng thêm khó khăn cho sự vận hành của thể chế kinh tế. Nhà nước can thiệp trực tiếp vào nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Do vậy, cần định vị lại chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước theo hướng “Nhà nước kiến tạo và hỗ trợ”. Tính bền vững và ổn định cơ cấu, quy mô thu - chi NSNN những năm gần đây giảm, thu NSNN cũng giảm mạnh, trong khi áp lực chi vẫn gia tăng, thu NSNN vẫn còn phụ thuộc khá lớn vào các nguồn thu liên quan đến xuất nhập khẩu, ít có khả năng tái tạo. Nếu cân đối theo kiểu cũ sẽ dễ bị động, vì vậy nên thực hiện cân đối các khoản chi bắt buộc (chi thường xuyên và tất cả nghĩa vụ trả nợ) dựa trên nền tảng thu bền vững, trước hết là thu nội địa từ sản xuất - kinh doanh; thặng dư dành cho đầu tư phát triển, vay đầu tư phải nằm trong khung khổ thâm hụt NSNN cho phép.

Quan điểm chủ đạo và phương châm tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi ngân sách nhà nước là chủ động, căn bản, toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm. Điều này xuất phát từ hiện trạng nền tài chính quốc gia, kết cấu, áp lực tái cấu trúc và tính tới những vấn đề đặt ra từ tầm nhìn phát triển đến năm 2030 cho thấy, cần thực hiện tái cấu trúc NSNN là sự lựa chọn đúng đắn (nếu chậm trễ hoặc để rơi vào tình thế bị động thì tác động tiêu cực của tái cấu trúc sẽ lớn hơn, chi phí và tổn thất cho tái cấu trúc sẽ rất cao).

Thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ngay cả tái cấu trúc ở một vài lĩnh vực tài chính đã là vấn đề rất phức tạp và không phải nước nào cũng thành công (châu Âu chỉ tái cấu trúc NSNN gắn với xử lý nợ công, Đông Nam Á (1997) tái cấu trúc chủ yếu ở hệ thống tài chính…), trong khi Việt Nam phải tái cấu trúc tất cả các cấu phần của quy mô, cơ cấu chi NSNN trong bối cảnh tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng thì tính phức tạp càng gia tăng. Do vậy, chủ trương tái cấu trúc “căn bản, toàn diện” nhưng không thể “đồng thời” mà cần “có trọng tâm, trọng điểm”. Nếu không tuân thủ yêu cầu này thì nguy cơ rối loạn, bất ổn, thậm chí khủng hoảng gia tăng.

Tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo quan điểm “kiên quyết, nhất quán nhưng thận trọng và theo lộ trình rõ ràng; tránh nguy cơ đổ vỡ và tối thiểu hóa chi phí cho tái cấu trúc nền tài chính”. Tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN sẽ liên quan đến lợi ích các tầng lớp trong xã hội, do đó, đây là vấn đề rất khó khăn và nan giải, nó cóthể làm nhụt ý chí, bản lĩnh của giới lãnh đạo, trong tiến trình này còn có thể phát sinh nhiều trở ngại, khó khăn mới. Nếu tái cấu trúc nửa vời hoặc dừng lại thì không chỉ không đạt mục tiêu đặt ra mà có nhiều khả năng làm cho chính nền tài chính quốc gia trở nên kém hơn lúc khởi đầu. Vì vậy, cần chủ động quán triệt yêu cầu “kiên quyết, nhất quán”; đồng thời chủ động đánh giá tình hình, “phát hiện những nguy cơ thách thức mới phát sinh” để có kế sách ứng phó hiệu quả đảm bảo cho tiến trình này tiếp tục đi về phía trước. Các giải pháp tái cấu trúc phải được đánh giá hết sức nghiêm ngặt để không tạo ra nguy cơ đổ vỡ; đồng thời phải có hệ thống giải pháp đi kèm cho phép đảm bảo sự quản lý giám sát hiệu quả toàn bộ tiến trình tái cấu trúc và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.

Phương châm cơ bản để tối thiểu hóa chi phí chính là “Giải pháp tái cấu trúc đúng, khả thi và phù hợp theo lộ trình tái cấu trúc”.

Chủ động sửa cơ chế thị trường trong sự phối hợp với vai trò điều tiết của Nhà nước để tiến hành tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi ngân sách nhà nước. Hiện nay, nước ta xây dựng nền tài chính của kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, vì vậy, không thể nhấn mạnh quá mức vai trò của Nhà nước vào tiến trình tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN, song, cũng không thể xem nhẹ vai trò của Nhà nước (tạo lập thể chế, tổ chức triển khai, thậm chí phải sử dụng cả nguồn lực NSNN khi cần thiết để can thiệp vì đại cục hay lợi ích quốc gia…). Tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN sẽ có tác động và liên hệ chặt chẽ với hầu hết các cấu phần của kinh tế thị trường, vì vậy, khi chủ động sử dụng, phối hợp với thị trường, cơ chế thị trường thì hiệu ứng tổng thể sẽ rất lớn, chuyển biến nhanh, bền vững và sẽ xử lý tốt các vấn đề:

Thứ nhất,giảm đầu tư công cần sử dụng cơ chế thị trường, nâng cấp môi trường kinh doanh, khuyến khích đầu tư tư nhân để giảm dần đầu tư công.

Thứ hai,phát triển mạnh TTTC, nhất là thị trường TPCP để có thể tái cấu trúc nợ công vay vốn đầu tư với thời hạn dài hơn, lãi suất thấp hơn, nhờ đó giảm áp lực vay đáo nợ, giảm nghĩa vụ trả nợ...

Thứ ba,tạo cơ chế cung ứng dịch vụ công theo nguyên tắc thị trường thì việc cắt giảm chi thường xuyên sẽ không ảnh hưởng đáng kể, thậm chí còn có tác động tích cực hơn.

Mặt khác, tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi ngân sách nhà nước phải được tiến hành đồng bộ với quy mô, cơ cấu thu ngân sách nhà nước và đạt được sự tương thích về nhịp độ. Lý luận và kinh nghiệm các nước cho thấy, khi tái cấu trúc NSNN (thu hoặc chi) nếu không xử lý tốt và hài hòa trong quan hệ với cấu phần còn lại (thu hoặc chi) thì khó có thể đạt được kết quả mong đợi . Việt Nam tiến hành tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN trong bối cảnh thu NSNN có thể dự đoán được căn cứ vào hệ thống thuế hiện hành (giảm so với thời kỳ trước và dừng ở mức ổn định tương đối 21 - 22% GDP), do vậy, phải căn cứ vào thu, cơ cấu thu, mục tiêu của tái cấu trúc quy mô, cơ cấu chi NSNN để định hình khung chi và mức chi tương thích. Đối với các cấu phần khác cũng vậy, không thể cắt giảm một cách cơ học mà không tính đến các biện pháp bổ trợ, lộ trình cụ thể; hoặc trong các cấu phần của chi NSNN có mối quan hệ liên thông trực tiếp (nợ công - đầu tư công - thâm hụt NSNN...), do đó, tái cấu trúc bộ phận này sẽ tác động đến bộ phận kia...

Ở nhiều quốc gia, việc thực hiện vay nợ nước ngoài là hoạt động diễn ra thường xuyên và là nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng đối với việc bổ sung nguồn vốn nhằm đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, cân đối lại ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình hình nợ công Eurozone và những khó khăn nội tại của nền kinh tế đã có ảnh hưởng nhất định đến tình hình nợ công của Việt Nam cả về quy mô, cơ cấu, nghĩa vụ trả nợ, làm phát sinh một số rủi ro đối với danh mục nợ công... Do đó, an toàn và bền vững nợ công là vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn hiện nay.

1. Phạm vi nợ công

Ở Việt Nam, theo Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 ngày 23/11/2017, phạm vi nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương (CQĐP).

Theo cách tiếp cận của Ngân hàng thế giới, nợ công là nợ của khu vực công, bao gồm chính quyền trung ương (CQTW) và các cơ quan trực thuộc, CQĐP, ngân hàng trung ương (NHTW), các tổ chức độc lập mà chính phủ sở hữu trên 50% vốn hoặc việc quyết lập ngân sách phải được chính phủ phê chuẩn, hoặc chính phủ chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ. Tuy nhiên, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lại cho rằng, khu vực công bao gồm chính phủ, CQĐP, cơ quan quản lý tiền tệ (thường là NHTW); các công ty công (DNNN, định chế tài chính chính sách của chính phủ). Như vậy, nếu chính phủ có bất kỳ nghĩa vụ ngầm định nào đối với một khoản nợ thì khoản nợ đó có thể được xếp vào nợ công.

Thực tiễn các nước cho thấy, ngoài nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh, một số nước quy định nợ công còn bao gồm cả nợ CQĐP (như Anh, Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Bồ Đào Nha, Đài Loan, Bun-ga-ri, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Ba Lan), nợ của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phi tài chính (như Thái Lan). Một số nước loại bỏ nợ của NHTW, trừ trường hợp khoản nợ đó được chính phủ bảo lãnh (Bun-ga-ri). Một số nước loại bỏ nợ của ngân hang thương mại (NHTM) nhà nước hoặc định chế tài chính nhà nước (Thái Lan).

Tuy nhiên cũng cần xem xét đến trách nhiệm nợ dự phòng mà Nhà nước có thể phải gánh chịu bởi nợ công của Việt Nam hiện nay vẫn chưa tính đến các gánh nặng nợ tiềm tàng từ hoạt động của khu vực ngoài ngân sách như hoạt động của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ngân hang phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội và đặc biệt là khu vực DNNN.

Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam, khoản nợ của DNNN không được tính vào nợ công. Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 quy định DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Về nguyên tắc, các khoản vay của DNNN chủ yếu là vay thương mại, tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật được ràng buộc trong hợp đồng vay. Nhà nước chỉ đứng ra trả nợ đối với các doanh nghiệp được Nhà nước bảo lãnh không có khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, việc không tính nợ DNNN vào nợ công là để các DNNN nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý, hoạt động kinh doanh trên cơ sở mở rộng và trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong trường hợp DNNN làm ăn thua lỗ, có nguy cơ phá sản sẽ ảnh hưởng tới nền kinh tế và có tác động tiêu cực tới xã hội, với tư cách là chủ sở hữu, Chính phủ cần có biện pháp hỗ trợ, cơ cấu lại nợ của những DNNN này.

Tương tự như các khoản nợ của DNNN, đối với các các khoản nợ của ngân hang phát triển (NHPT) Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, nếu không thuộc phạm vi bảo lãnh của Chính phủ cũng không được tính vào nợ công. Tuy nhiên, theo điều lệ của các ngân hàng này thì Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm đảm bảo khả năng thanh toán. Với quy định này thì các khoản huy động của NHPT Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội thực chất là các khoản huy động của Chính phủ, cần được giám sát và quản lý chặt chẽ.

Với Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH), nguyên tắc hoạt động là dùng các khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm để trang trải chi phí và cho người có nhu cầu hiện tại. Trường hợp quỹ không đủ nguồn lực trả bảo hiểm cho những người đóng góp, theo quy định, Chính phủ sẽ dùng ngân sách để trang trải.

Xét theo phạm vi quản lý nợ công của Việt Nam, một số khoản nợ như nợ Quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng, nợ phí quản lý và cấp bù chênh lệch lãi suất đối với NHPT Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, nợ đầu tư xây dựng cơ bản của các địa phương, nợ chi ứng trước của NSTW cho các dự án đầu tư nguồn vốn NSNN là các khoản nợ phát sinh trong quá trình điều hành thực hiện các nhiệm vụ tài chính, ngân sách của Chính phủ không được tính vào nợ công. Về bản chất, đây lại là những khoản vay mà Chính phủ hoặc CQĐP phải có trách nhiệm hoàn trả nên cần có sự giám sát chặt chẽ, xem xét, đánh giá để đảm bảo bao quát hết các nghĩa vụ thanh toán nợ có thể phát sinh trong tương lai.

Đối với khoản nợ Quỹ hoàn thuế GTGT, mặc dù dự toán NSNN hàng năm đã bố trí khoản hoàn thuế GTGT nhưng trong thực tế điều hành và thực hiện, mức hoàn thuế GTGT có thể cao hơn dự toán nên phải tạm ứng từ các nguồn khác. Đặc biệt trong những năm gần đây, do tác động không thuận của tăng trưởng kinh tế thế giới và trong nước, một số doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tình trạng doanh nghiệp không có thuế GTGT đầu ra trong khi vẫn phát sinh thuế GTGT đầu vào dẫn đến số hoàn thuế GTGT tăng mạnh.

Đối với khoản nợ phí quản lý và cấp bù chênh lệch lãi suất đối với NHPT Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, hàng năm dự toán chi đầu tư phát triển từ NSNN đã dự toán khoản cấp bù chênh lệch lãi suất ưu đãi cho các ngân hàng khi thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi nhà nước. Trong quá trình thực hiện, do có những nhiệm vụ mới nảy sinh đã làm tăng quy mô huy động vốn, từ đó làm gia tăng chi phí quản lý và số ngân sách phải cấp bù.

Đối với khoản nợ XDCB của các địa phương, nguyên nhân chủ yếu là việc thiếu giám sát và bất cập trong quy định về phân cấp quản lý đầu tư tại địa phương, đặc biệt là sự tách bạch về thẩm quyền quyết định đầu tư với yêu cầu đảm bảo nguồn lực thực hiện cũng như các chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh gây thất thoát nguồn vốn và kéo dài dự án. Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng XDCB tại các địa phương, Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 30/4/2015 về tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản nguồn vốn đầu tư công. Do vậy, trong ngắn hạn, cần hạch toán đầy đủ các khoản nợ để phản ánh thực trạng nợ công, tuy nhiên, trong dài hạn, cần giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng XDCB tại các địa phương.

Theo Đồng hồ nợ công toàn cầu, năm 2019, nợ công của Việt Nam ở mức trên 3,4 triệu tỷ đồng chiếm 56,1% GDP. Tính bình quân nợ công theo đầu người là trên 30 triệu đồng. Quy mô nợ công tăng cao tác động tới tốc độ tăng của nợ công trong những năm gần đây đòi hỏi cần có sự quan tâm. Nợ công của Việt Nam đã liên tục tăng tốc mạnh, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, cao hơn tốc độ tăng thu NSNN và tương đương tốc độ tăng chi NSNN.

2. Giải pháp cụ thể tăng cường bền vững nợ công

Kiểm soát chặt chẽ, tăng cường kỷ luật tài khóa, đảm bảo nợ công trong giới hạn quy định là một trong những giải pháp để giữ an ninh, an toàn tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô. Hiện nay, một mặt Chính phủ tiếp tục thực hiện một số chính sách giãn, giảm thuế, ưu đãi thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, mặt khác yêu cầu tăng chi NSNN cho đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Do đó, trong thời gian tới, cần giảm bội chi NSNN, giảm áp lực vay nợ để bù đắp bội chi ngân sách. Để giải quyết mâu thuẫn chính sách, phải thực hiện hài hòa, cân đối và đồng bộ các giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, tiếp tục tái cơ cấu nợ công. Cơ cấu lại các khoản vay về cho vay lại, các khoản vay bảo lãnh chính phủ đang gặp khó khăn. Tái cơ cấu nợ công theo hướng chuyển từ cơ cấu vay ngắn hạn sang vay dài hạn; tăng tỷ trọng nợ trong nước và giảm nợ nước ngoài. Phát hành trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài hơn và lãi suất hợp lý để vừa giảm thiểu rủi ro thanh toán, rủi ro thanh khoản, vừa nhằm tái cơ cấu nợ. Kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ đọng XDCB NSTW và NSĐP, nợ của Quỹ hoàn thuế GTGT, nợ Quỹ BHXH, nợ phải trả NHPT Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội và nợ tồn ngân kho bạc nhà nước.

Thứ hai, tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, duy trì lãi suất ở mức hợp lý để không ảnh hưởng đến chi phí nợ và khả năng vay nợ của Chính phủ, tạo niềm tin của nhà đầu tư vào các công cụ nợ của Chính phủ.

Thứ tư, đối với thu NSNN, trong điều hành ngân sách hàng năm cần ưu tiên sử dụng số tăng thu so với dự toán để giảm mức bội chi hoặc để trả nợ trước hạn. Hệ thống thuế cần được cải cách bảo đảm các tiêu chí tạo nguồn thu bền vững, hiệu quả, công bằng và minh bạch.

Mặt khác cần thiết phải cơ cấu lại chi NSNN. Đối với chi thường xuyên, để nâng cao hiệu quả, cần sắp xếp lại tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, đối tượng hưởng lương từ ngân sách, rà soát các chính sách an sinh xã hội và thực hiện đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập, trọng tâm là cải cách cơ chế giá, phí dịch vụ, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng và tăng tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp nói chung. Đối với chi đầu tư, Nhà nước chỉ nên đầu tư vào những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không làm được hoặc chưa có điều kiện làm nhưng có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc biệt cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các chương trình, dự án đang triển khai, cần rà soát, đánh giá và loại bỏ những dự án không hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí. Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ những dự án quan trọng, có hiệu quả, ưu tiên cao. Đối với những dự án bổ sung mới, cần lựa chọn, có kế hoạch tài chính rõ ràng.

1. Vai trò của vốn đầu tư và tác động của cơ cấu vốn đầu tư

Trong kinh tế học, khái niệm về đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế. Hầu hết các mô hình tăng trưởng kinh tế cơ bản đều dựa vào một số phương trình liên hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và lao động để giải thích nguồn gốc và động lực của tăng trưởng. Theo Aschauer – nhà kinh tế học người Đức thì tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân có thể theo hai kênh trái chiều nhau: Tăng lãi suất làm giảm đầu tư tư nhân và hỗ trợ trực tiếp cho đầu tư tư nhân thông qua việc tăng cường hạ tầng cơ sở. Còn Robert Barro, nhà kinh tế học người Mỹ đã chỉ ra rằng, chi tiêu chính phủ ở mức thấp có vai trò hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên nếu chi tiêu ngày càng lớn sẽ có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăng trưởng. Ngoài ra, một số nhà kinh tế học khác như Zou, Swaroop… cũng chỉ ra rằng, tăng chi tiêu thường xuyên có tác động tích cực đối với tăng trưởng. Tuy nhiên, chi đầu tư và tăng trưởng kinh tế (bình quân đầu người) có quan hệ tỷ lệ nghịch, chi tiêu cho đầu tư quá mức dẫn đến những tác động tiêu cực và nhiều nước đang phát triển đã phân bổ chỉ tiêu chưa hợp lý.

Nghiên cứu quan hệ tương tác giữa đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân ở Việt Nam, kết quả cho thấy, đầu tư công và luồng vốn FDI có quan hệ hai chiều và tỷ lệ thuận. Đầu tư công không có ảnh hưởng nhiều đến đầu tư tư nhân và ảnh hưởng qua lại của đầu tư tư nhân và FDI cũng không rõ rệt. Hiện tượng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân thể hiện khá rõ ràng. Theo đó, hiện nay, 1% tăng vốn đầu tư công ban đầu sẽ làm đầu tư tư nhân thu hẹp khoảng 0,6% và chỉ đóng góp 0,03% cho tăng trưởng GDP. Nghiên cứu cũng cho thấy tác động của đầu tư công đến GDP nhỏ hơn nhiều so với tác động của đầu tư tư nhân.

Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng là chưa rõ ràng vì hoạt động của chính phủ ảnh hưởng đến nền kinh tế theo hai hướng chủ yếu. Về mặt tích cực, chi tiêu chính phủ, đặc biệt là chi đầu tư (như chi cho giáo dục và hạ tầng cơ sở, cung cấp hàng hóa công cộng thiết yếu), có thể trực tiếp đáp ứng được nhu cầu của khu vực tư nhân, các hoạt động của chính phủ cũng có thể gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ nguồn lực của tư nhân thông qua việc sửa chữa thất bại thị trường, bảo đảm quyền sở hữu và thực thi của các cam kết. Tuy nhiên, quy định của chính phủ có thể áp đặt gánh nặng quá mức lên khu vực tư nhân. Ví dụ, đánh thuế cao hoặc vay nợ nhiều có thể bóp méo các động cơ kinh tế của khu vực tư nhân, hoặc làm cho lãi suất tăng lên gây hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân. Vì tất cả những hiệu ứng này có khả năng xảy ra cùng lúc, nên hiệu ứng ròng của vốn đầu tư nhà nước là một vấn đề mang tính thực nghiệm.

2. Cơ cấu vốn đầu tư tại Việt Nam

Qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư có những thay đổi nhất định. Phân tích cơ cấu vốn đầu tư từ khi thực hiện mở cửa nền kinh tế cho thấy một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, đầu tư công có tính xu hướng khá rõ. Cụ thể 7 năm đầu đổi mới (1986 - 1992) là chu kỳ giảm của đầu tư nhà nước với tỷ trọng đầu tư công giảm gần một nửa trong tổng đầu tư. Sau đó, 9 năm tiếp theo (1993 - 2001) là chu kỳ tăng của đầu tư nhà nước với tỷ trọng đầu tư công tăng, lên mức gần 60% trong năm 2001. Tiếp đến, 7 năm tiếp theo (2002 -2008) là chu kỳ giảm với tỷ trọng của đầu tư nhà nước chỉ còn khoảng 33% trong năm 2008. Từ 2009 đến nay, tỷ trọng của đầu tư công tương đối ổn định. Đầu tư công thường tập trung cho các dự án lớn (đặc biệt là các dự án về hạ tầng cơ sở (HTCS)), thực hiện trong thời gian dài và theo các kế hoạch đã được phê duyệt nên có thể dẫn tới việc tăng, giảm kéo dài trong một giai đoạn nhất định.

Tuy nhiên, tính phản chu kỳ của chính sách tài khóa (CSTK) chưa được thể hiện rõ nét qua sự điều chỉnh tỷ trọng của đầu tư công. Chỉ trong đầu giai đoạn đổi mới, cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ trọng đầu tư cũng giảm mạnh, thể hiện rõ xu hướng phản chu kỳ kinh tế. Giai đoạn 1992 - 1997 là giai đoạn kinh tế tăng trưởng mạnh nhất với tốc độ trung bình đạt khoảng 8,8% nhưng tỷ trọng của đầu tư công cũng gia tăng mạnh trong tổng đầu tư, điều này thể hiện tính khuếch đại theo chu kỳ hơn là tính phản chu kỳ. Trong hai năm 1998 - 1999, khi kinh tế trong nước chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực, tỷ trọng đầu tư công tăng mạnh nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế vượt qua khủng hoảng. Khi nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu hồi phục, GDP giai đoạn 2000- 2007 tăng trưởng ở mức hơn 6,7%/năm, đầu tư công có xu hướng điều chỉnh giảm. Tuy nhiên, từ khi khủng hoảng tài chính - kinh tế thế giới diễn ra, đầu tư công có những động thái điều chỉnh: Tăng trở lại mức khoảng 40% năm 2009 nhưng ngay sau 2 năm tiếp theo, tỷ trọng đầu tư công giảm sút rõ nét, từ năm 2012 lại có xu hướng tăng. Sự thay đổi nhanh chóng của tỷ trọng đầu tư công trong một giai đoạn ngắn (2009 đến nay) cho thấy những định hướng chưa rõ ràng trong chính sách đầu tư của Chính phủ trong bối cảnh tăng trưởng GDP đang có xu hướng thấp hơn các giai đoạn trước.

Thứ hai, giai đoạn đầu mở cửa (1986 -1999), đầu nước ngoài có xu hướng diễn biến tương thích với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Trong giai đoạn nền kinh tế bắt đầu mở cửa và tốc độ tăng trưởng tăng dần, tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng dần và chiếm khoảng 30% tổng đầu tư toàn xã hội những năm 1994 -1995. Sau đó, với sự giảm tốc của nền kinh tế và ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ Đông Á, đầu tư nước ngoài cũng giảm sút về tỷ trọng trong tổng đầu tư, xuống mức khoảng 14 - 20% trong những năm 1998 - 2005.

Diễn biến của FDI giai đoạn gia nhập WTO có những đột biến mang tính kỳ vọng. Bắt đầu từ khi triển vọng gia nhập WTO của Việt Nam rõ nét hơn và khi việc gia nhập WTO được chính thức hóa, FDI tăng rất mạnh từ mức 16% lên mức 30,9% vào năm 2008. Tuy nhiên, kể từ sau khi gia nhập WTO và nền kinh tế Việt Nam xuất hiện những dấu hiệu bất ổn vĩ mô với tỷ lệ tăng trưởng thấp trong bối cảnh lạm phát thất thường, tỷ trọng FDI liên tục xu hướng giảm, từ mức 30,9% năm 2008 xuống còn 22% năm 2015; 20% năm 2019. Việc FDI có những diễn biến tương thích với tốc độ tăng trưởng kinh tế cho thấy những vai trò nhất định của FDI đối với tăng trưởng.

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng giữa đầu tư tư nhân (tổng đầu tư hay đầu tư theo các thành phần kinh tế) và đầu tư nhà nước đều tồn tại các quan hệ trong dài hạn và quan hệ đó được thể hiện qua một cơ chế điều chỉnh: Nếu ở thời kỳ trước thấp hơn mức cân bằng trong dài hạn thì thời kỳ sau sẽ có sự điều chỉnh để dài hạn sẽ quay về mức cân bằng.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, đầu tư tư nhân luôn tỷ lệ thuận với tăng trưởng kinh tế. Khi GDP tăng trưởng 1% thì đầu tư của khu vực tư nhân tăng tới 1,26%. Phân tích đầu tư theo đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư tư nhân nước ngoài cho thấy, tác động của tăng 1% GDP là mạnh hơn đối với tư nhân trong nước (tăng 1,4%) so với FDI (tăng 0,76%).

Mặt khác, giữa GDP và tổng đầu tư của khu vực tư nhân có mối quan hệ nhân quả hai chiều. Điều đó hàm ý rằng, nêu khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân sẽ làm gia tăng GDP. Khi GDP tăng lại có tác động tích cực trở lại, tiếp tục khuyến khích đầu tư tư nhân. Quan hệ nhân quả hai chiều rõ ràng hơn với trường hợp FDI và GDP góp phần khẳng định nhận xét ở phần thực trạng về sự tương thích giữa FDI và tốc độ tăng trưởng kinh tế, còn đối với đầu tư tư nhân trong nước và GDP mối quan hệ nhân quả không được xác định.

Các quan hệ cũng cho thấy, đầu tư tư nhân có quan hệ tỷ lệ nghịch với đầu tư công. Xét tổng đầu tư khu vực tư nhân cho thấy, trong ngắn hạn có quan hệ tỷ lệ nghịch với đầu tư công chủ yếu do đầu tư tư nhân trong nước có quan hệ trái chiều với đầu tư công, động thái của FDI đối với đầu tư công không rõ ràng vì tuy có quan hệ cùng chiều nhưng tác động khá nhỏ và không có ý nghĩa thống kê. Mối quan hệ ngược chiều giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong ngắn hạn thường diễn ra do xét một khoảng thời gian nhất định với những nguồn lực để đầu tư nhất định thì tăng đầu tư ở một khu vực sẽ làm giảm nguồn lực để khu vực khác có thể sử dụng.

Mặt khác, quan hệ nhân quả giữa đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân trong nước cho thấy, mối quan hệ là từ đầu tư nhà nước tới đầu tư tư nhân chứ không có chiều ngược lại. Điều này hàm ý rằng, các quyết định đầu tư công sẽ có tác dụng khuyến khích hoặc chèn ép đầu tư tư nhân trong nước, trong khi đó, các quyết định của đầu tư công lại khá độc lập với động thái của đầu tư tư nhân. Việc chưa có mối quan hệ tương tác hai chiều giữa đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nhà nước có thể dẫn tới những giả thiết như: Một, CSTK (quyết định đầu tư công) không phản ứng kịp thời với các diễn biến kinh tế của khu vực tư nhân trong nước; hai, các quyết định đầu tư công có thể theo các kế hoạch, quyết định đã xác định trước chứ chưa căn cứ vào tình hình thị trường.

Bên cạnh đó, quan hệ nhân quả giữa đầu tư nhà nước và FDI cho thấy mối quan hệ là từ đầu tư nước ngoài tới đầu tư nhà nước. Điều này có thể được lý giải qua việc nhiều dự án FDI lớn đầu tư vào Việt Nam đã khiến Chính phủ phải tăng cường đầu tư cho hạ tầng cơ sở phục vụ các dự án lớn này.

Các yếu tố hiệu chỉnh sai số cho thấy tổng đầu tư khu vực tư nhân (đầu tư của khu vực tư nhân trong nước, FDI) đều có xu hướng nhỏ hơn giá trị cân bằng dài hạn của nó trong mối tương quan với tăng trưởng và đầu tư công.

An ninh kinh tế luôn đặt ổn định kinh tế trong mối tương quan với khái niệm đối lập là bất ổn kinh tế. Về cơ sở lý luận, ổn định chỉ là một chỉ báo về an ninh kinh tế nên ổn định phải gắn với tăng trưởng và phát trển kinh tế thì an ninh kinh tế mới thực sự bền vững.

Ổn định kinh tế là một dấu hiệu của an ninh nếu đặt nó trong tương quan với khái niệm đối lập là bất ổn kinh tế. Tuy nhiên ổn định chỉ là một chỉ báo về an ninh kinh tế nên ổn định phải gắn với tăng trưởng và phát triển kinh tế thì an ninh kinh tế mới thực sự vững bền.

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là một chỉ báo thứ hai của an ninh kinh tế khi tăng trưởng đều đặn, với tốc độ hợp lý, tăng trưởng gắn với phát triển cũng báo hiệu một nền kinh tế duy trì được an ninh.

Trong chiến lược phát triển bền vững, nếu theo cách hiểu tương đối thống nhất hiện nay an ninh kinh tế là sự phát triển hài hoà được cân đối giữa ba thành tố kinh tế, xã hội và môi trường. Từ đó, phát triển bền vững sẽ là khái niệm có nội hàm rộng hơn và bao trùm lên nội hàm của khái niệm an ninh kinh tế. Phát triển bền vững nhấn mạnh đến sự hài hoà của ba hệ thống chủ yếu trong quá trình phát triển thì an ninh kinh tế nhấn mạnh đến nguy cơ đe doạ, uy hiếp lợi ích kinh tế cốt lõi của quốc gia, đương nhiên có những nguy cơ xuất phát từ hệ thống tự nhiên, có nguy cơ đến từ hệ thống xã hội và có những nguy cơ đến từ bản thân hệ thống kinh tế.

Trên thế giới hiện nay, vai trò quan trọng của an ninh kinh tế trong chiến lược an ninh quốc gia đã được cả thế giới thừa nhận, nhưng nội hàm của an ninh kinh tế vẫn chưa có sự thống nhất do những khác biệt trong giới định an ninh kinh tế. Căn cứ vào tình hình quốc nội và mục tiêu chiến lược an ninh quốc gia tại các thời điểmkhác nhau, trong các bối cảnh khác nhau, ở từng giai đoạnphát triển khác nhau, các quốc gia đã không ngừng thay đổi cách nhìn của mình về vấn đề an ninh kinh tế. Mỹ kiên trì tìm kiếm quan niệm an ninh kinh tế bá quyền quốc tế trên cơ sở kinh tế thị trường tự do, mậu dịch tự do. Nga thì coi trọng quan niệm an ninh kinh tế trên cơ sở nhấn mạnh địa vị của quốc gia đang phục hồi nhanh chóng, tái ổn định nội chính, giảm tránh ảnh hưởng nước ngoài, đề phòng các nguy cơ, chấn hưng kinh tế.

Nhật Bản đề cao quan niệm an ninh kinh tế cùng ứng phó, lấy cải cách để phục hưng kinh tế trên cơ sở giải quyết tốt các mâu thuẫn “nước nghèo tài nguyên” với “nước kinh tế lớn”; “nước kinh tế lớn” với “chính trị tiểu quốc”. Quan niệm an ninh kinh tế của EU lại nhấn mạnh đến việc xây dựng một thị trường thống nhất, mở rộng và tăng cường các thành viên, xây dựng thể chế kinh tế toànchâu Âu, đồng thời lấy kinh tế tri thức để thúc đẩy sự phát triển năng động của các nền kinh tế. Trong khi đó, các quốc gia mới nổi lại nhấn mạnh kiên trì với phương châm phát triển trong cải cách, bảo đảm an ninh ổn định trong cải cách mở cửa. Còn Liên hợp quốc, trong vấn đề an ninh kinh tế, lại nhấn mạnh đến quyền làm việc của cá nhân trong lĩnh vực kinh tế, tức là đặc biệt coi trọng vấn đề thất nghiệp.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể các chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, có thể khái quát thành một số trường phái quan điểm chủ yếu như sau:

Thứ nhất, trường phái quan điểm lợi ích cho rằng, an ninh kinh tế là việc các quốc gia có thể lợi dụng các thủ đoạn hiệu quả để đối phó với những uy hiếp (trong nước và ngoài nước), bảo đảm lợi ích quốc gia, bảo đảm sự ổn định, phát triển và phồn thịnh của kinh tế đất nước, khiến cho các lợi ích kinh tế tổng thể không bị tổn hại, khiến cho phương hướng phát triển kinh tế tổng thể không bị đảo lộn, bảo đảm lợi thế trong cạnh tranh nhà nước, duy trì môi trường kinh doanh quốc tế thuận lợi.

Thứ hai, trường phái quan điểm tổng hợp cho rằng, nếu chỉ dựa vào thủ đoạn kinh tế, rất khó bảo đảm an ninh kinh tế, chính vì vậy tất yếu sử dụng các thủ đoạn khác nhau như chính trị, ngoại giao, văn hóa... nhằm bảo đảm an ninh tổng thể.

Thứ ba, trường phái quan điểm toàn cầu nhấn mạnh, trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế, một quốc gia đơn lẻ nếu chỉ dựa vào tiềm lực của riêng mình rất khó có thể đảm bảo an ninh, chính vì vậy cần thiết xây dựng, tìm kiếm hợp tác song phưong và đa phương để có thể đạt được mục tiêu của an ninh kinh tế. Ngoài ra, cũng cần đặt an ninh kinh tế của từng quốc gia trong khuôn khổ kinh tế, chính trị khu vực và toàn cầu để tìm hiểu, đánh giá, tìm ra phưorng hướng giải quyết các nguy cơ chung và riêng.

Thứ tư, trường phái quan điểm dự đoán lại cho rằng, an ninh kinh tế của một quốc gia liệu có được đảm bảo hay không phụ thuộc nliiều vào việc đánh giá hình thái an ninh kinh tế quốc gia, việc phán đoán, đánh giá việc được - mất của lợi ích kinh tế quốc gia, dự đoán hình thế phát triển kinh tế, chính trị tương lai của quốc gia và quốc tế. Trong thời đại chính trị đa cực hóa, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các quốc gia khi chế định chiến lược an ninh kinh tế quốc gia cần phải cân nhắc kỹ càng, phán đoán và dự đoán chính xác hình thái phát triển của chính trị và kinh tế quốc tế, cũng như quy luật biến đổi của quan hệ quốc tế.

Thứ năm, trường phái quan niệm toàn dân chỉ ra, bảo đảm an ninh kinh tế không thể chỉ dựa vào quốc gia và chính phủ, mà nhất thiết phải vận động sự tham gia chung của toàn thể nhân dân, doanh nghiệp và địa phương, từ đó xây dựng nên một thể chế ứng phó với các nguy cơ tương ứng, giảm thiểu và loại bỏ các nguycơ nội ngoại đe dọa đến an ninh kinh tế[1].

Trên thực tế hiện nay, các vấn đề trực tiếp đang uy hiếp đến an ninh kinh tế, có thể khái quát gồm:

Thứ nhất, sự uy hiếp nghiêm trọng của toàn cầu hóa kinh tế đối với chủ quyền kinh tế của các quốc gia, với biểu hiện cụ thể là việc nhượng bộ (cho thuê) chủ quyền kinh tế của các quốc gia cho các tổ chức kinh tế quốc tế. Việc xuất hiện các công ty xuyênquốc gia đã và đang xâm hại không nhỏ đến chủ quyền kinh tế quốc gia.

Thứ hai, việc cạnh tranh bất bình đẳng trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã dẫn đến sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo giữa các quốc gia, xuất hiện hiện tượng trái chiều giữa toàn cầu hóa sự thịnh vượng và khu vực hóa nghèo đói.

Thứ ba, sự tồn tại của dòng vốn lưu động quốc tế đã tạo ra sự uy hiếp lớn đối với an ninh tài chính thế giới, đặc biệt là đổi với các quốc gia đang phát triển. Những dòng vốn quốc tế lưu động cực lớn đã và đang là nguy cơ tiềm tàng cho các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và toàn cầu.

Thứ tư, các nhân tố trong nước như cơ sở phát triển kinh tế quốc dân ổn định, thể chế tài chính vững chắc, kết cấu sản xuất hợp lý, sức cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp trong nước, cũng như năng lực cung ứng các nguồn tài nguyên phục vụ kinh tế đang ảnh hưởng ngày một lớn đến an ninh kinh tế.

Thứ năm, an ninh năng lượng đang trở thành lĩnh vực then chốt trong an ninh kinh tế, nó trực tiếp ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, sự phát triển liên tục và ổn định của xã hội. Thậm chí hiện nay, vấn đề an ninh năng lượng không chỉ thuộc về vấn đề an ninh kinh tế đơn thuần, mà giờ đây còn có liên hệ mật thiết với các vấn đề quân sự, ngoại giao, chính trị..., là một vấn đề mang tính chiến lược ảnh hưởng đến sự phát triển, hòa bình của quốc gia, khu vực và quốc tế.

 


[1] Lục Trung Vĩ (Lu Zhongwei): Luận bàn an ninh phi truyền thống, Nxb.Thời sự Bắc Kinh, 2003, tr. 100-101

1. Liên hợp quốc

Liên hợp quốc giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm an ninh phi truyền thống toàn cầu. Điều này trước tiên thể hiện qua việc xác lập “quan niệm an ninh mới”.

Nếu như nửa đầu những năm 70 của thế kỷ XX, chủ thể chính trong quan niệm an ninh của Liên hợp quôc là an ninh truyền thống”, như trong “Tuyên ngôn về tăng cường an ninh” ra đời năm 1970 nhấn mạnh: Các quốc gia cần tôn trọng chủ quyên và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đặc biệt nhấn mạnh các quốc gia có quyền được hưởng hòa bình và an ninh, không phải chiu sự uy hiếp vũ lực.

Đến nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc bắt đầu chú trọng đến tính phụ thuộc lẫn nhau của các vấn đề an ninh, điển hình như “Tuyên ngôn môi trường nhân loại” thông qua năm 1972 đã nhấn mạnh mối liến hệ mật thiết giữa sự sinh tồn của loài người với sự sinh tồn của trái đất, tình trạng hủy hoại môi trường sinh thái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, thiếu hụt lương thực, tăng trưởng dân số..., đã và đang trở thành những vấn đề hết sức bức thiết mà loài người đang phải đối mặt.

Bước vào nửa sau những năm 80 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc bắt đầu xuất hiện hiện tượng “an ninh hóa vấn đề phi truyền thống”, một vài vấn đề ngoài lĩnh vực an ninh như môi trường, lương thực, nhân quyền... đã được nâng lên thành các vấn đề an ninh, đề ra yêu cầu phải mở rộng nội hàm của vấn đề an ninh. Bước sang những năm 90 của thế kỷ XX, Liên hợp quốc tiếp tục chỉ ra, an ninh quốc tế không chỉ giới hạn trong ý nghĩa truyền thống của nó, mà còn bao gồm những hàm nghĩa an ninh mới xuất hiện cùng với thời đại và tương lai.

Tóm lại, nội dung chủ yếu và đặc trưng quan niệm an ninh mới của Liên hợp quốc đó là: Quan niệm an ninh toàn cầu nhằm đối phó với các uy hiếp mang tính toàn cầu; quan niệm an ninh nhân dân nhằm đối phó với các nguy cơ uy hiếp an ninh; quan niệm an ninh có tính tổng hợp, tính nhất thể; vấn đề an ninh mới có thể thông qua các biện pháp dự phòng và con đường phi quân sự để giải quyết. Nhìn nhận vấn đề dưới lăng kính của tổ chức quốc tế, theo Liên hợp quốc, an ninh phi truyền thống bao gồm bảy lĩnh vực là: kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính tr[1].

2. Liên minh châu Âu (EU)

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, môi trường an ninh của châu Âu đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, an ninh châu Âu lại đối diện với nhiều uy hiếp và thách thức mới. Đó là hàng loạt các vấn đề như xung đột khu vực cục bộ, mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo, tranh chấp biên giới, cạnh tranh mậu dịch, di độngdân cư, vấn đề môi trường, chủ nghĩa khủng bố, buôn bán ma túy... Chính vì vậy, an ninh của EU và mục tiêu phòng vệ của khu vực này đã không còn phải đối diện với các nguy cơ xâm hại quân sự từ bên ngoài, mà đã chuyển hướng sang dự phòng cácnguy cơ tiềm ẩn, điều đó đưa đến sự ra đời một mô hình khống chế nguy cơ của châu Âu.

Trong bối cảnh như vậy, năm 1996, EU trong ứng phó với cácvấn đề an ninh phi truyền thống đã nêu ra quan niệm về “an ninh cộng đồng” (common security). “An ninh cộng đồng” là chỉ an ninh thông qua hợp tác trên lĩnh vực an ninh của tất cả các quốc gia trong khu vực nhằm bảo đảm an toàn cho các nước, chủ trương xây dựng một khuôn khổ an ninh chung giữa các nước trong khu vực trên cơ sở công bằng, chính nghĩa, phối hợp tương trợ lẫn nhau và thực lực. Trong đó, phối hợp tương trợ lẫn nhau là chỉ các thành viên trong EU tất yếu phải phối hợp hành động thống nhất, cùng nhau đối phó với các uy hiếp mới tiềm ẩn, tăng cường phối họp và hợp tác quốc tế. Liên minh châu Âu cho rằng, cần tăng cường phối hợp hành động giữa các quốc gia trong khu vực, đồng thời hợp tác mật thiết với các quốc gia chính trên thế giói như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Canada..., từ đó xây dựng hệ thống phòng vệ tập thể, trong đó hợp tác châu Âu và Mỹ đóng vai trò lực lượng quyết định đối với an ninh và ổn định thế giới.

Thực lực ở đây chính là tăng cường năng lực, là cơ sở nền tảng giúp châu Âu có thể ứng phó và xử lý các nguy cơ tiềm ẩn. Chính vì vậy, các quốc gia trong khu vực tất yếu phải tăng cường thực lực của chính mình, bao gồm thực lực về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao... Quan điểm này được đề ra trên cơ sở văn hóa, lịch sử tương đồng của các quốc gia trong khu vực, khu vực hóa luôn là động lực phát triển trong hiện tại và tương lai của các quôc gia châu Âu. Chiến lược an ninh cộng đồng của EU cho ràng, các uy hiếp chủ yếu mà thế giới hiện nay đang phải đối mặt đó là xung đột khu vực, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, phổ biến vũ khí sát thương quy mô lớn, tội phạm có tổ chức, buôn bán ma túy và di dân phi pháp. Trong đó, uy hiếp của chủ nghĩa khủng bố quốc tế là “uy hiếp mang tính chiến lược”, các phần tử khủng bốthông qua mua bán và sử dụng vũ khí sát thương quy mô lớn, sẽtạo ra các uy hiếp rất lớn cho thế giới. Riêng đối với châu Âu, hiện nay các vấn đề an ninh phi truyền thống mà khối này phải đối mặt đang ngày càng trở nên phức tạp, về tổng thể có thể phân thành ba phương diện: uy hiếp tự nhiên, uy hiếp kinh tế và uy hiếp xuyên quốc gia. về cụ thể, các vấn đề chính khiến cả châu Âu đang tập trung đối phó là vấn đề an ninh năng lượng, vấn đề di dân, chủ nghĩa khủng bố, biến đổi khí hậu.[2]

Sau sự kiện 11 -9 ở Mỹ, EU cũng nhấn mạnh chủ nghĩa khủng bố là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với khu vực này, đồng thời thông qua “Cương lĩnh hành động chốngkhủng bố”. Nhưng chiến lược chống khủng bố của EU không giống như Mỹ. Họ đề cao “an ninh cộng đồng” với mục tiêu “hợp tác, dự phòng, phát triển”, nhấn mạnh vai trò và vị trí của Liên hợp quốc, kiên trì phát động hợp tác quốc tế chống khủng bố theo khuôn khổ của Liên hợp quốc; nhấn mạnh lập trường đa phương trong chống khủng bố, phát huy vai trò chủ đạo của cơ chế quốc tế, mà hạt nhân của nó là Liên hợp quốc; đề cao quan điểm: chiến tranh không phải là không thể tránh khỏi, sử dụng vũ lực tất yếu là thủ đoạn cuối cùng. Bên cạnh đó, EU cũng tích cực viện trợ cho các quốc gia đang phát triển, giảm thiểu các biến động xã hội đến từ đói nghèo, từ đó xóa đi một trong những căn nguyên dẫn đến chủ nghĩa khủng bố. Quan điểm hợp tác trong phòng chống khủng bố của EU lấy dự phòng là phương châm chủ yếu. Vì vậy, họ tăng cường các biện pháp phòng tránh xung đột và quản lý các nguycơ, đề cao cảnh giác với các nguy cơ dẫn đến bạo lực, khủng bố.

EU cũng rất coi trọng “an ninh của con người”, và thực hiện nó trong khuôn khổ chiến lược “an toàn và sức khỏe nghề nghiệp”. Hiện nay, EU là khu vực tốt nhất trên thế giới trong việc bảo đảm an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, với các kinh nghiệm chủ yếu là: chú trọng bảo đảm, cải thiện điều kiện môi trường làm việc; chú trọng giáo dục bồi dưỡng; coi trọng giám sát, kiểm tra môi trường làm việc.

Một trong những vấn đề an ninh phi truyền cũng đang trực tiếp đe dọa đến các nước EU là vấn đề di dân xuyên biên giới, cũng giống như Mỹ, EU là một trong những khu vực có tỷ lệ dân di cư, nhập cư lớn nhất thế giới, các vấn đề dân tộc, chủng tộc đang trực tiếp đe dọa đến an ninh và ổn định của khu vực. Hiện nay, khu vực Tây Âu có khoảng 15 triệu người nước ngoài di cư đến, trong đó có khoảng hơn 45% đến từ châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh. Dân nhập cư mới đã gây ra những vấn đề xã hội nghiêm trọng, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và phúc lợi xã hội không được đảm bảo, chủ nghĩa bài xích, phân biệt đối xử với người nhập cư nước ngoài, thậm chí dẫn đến phát sinh xung đột bạo lực, gây bất ổn cho xã hội. Chính vì vậy, vấn đề di cư, nhập cư quy mô lớn đã ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát hiển của khu vực, trở thành một trong những chủ đề cấp bách cần giải quyết của EU. Trước tình trạng này, các nước EU đang có nhiều chính sách quản lý chặt chẽ vấn đề nhập cư, di cư, hướng tới xây dựng một hệ thống luật mới về vấn đề di dân ở châu Âu, nhằm hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của vấn đề này.

Ngoài ra, trong số các tác giả ở châu Âu, nhóm tác giả Rita Floyd, Stuart Croft là người công bố nhiều công trình hơn cả về an ninh phi truyền thống ở châu Âu, theo đó, an ninh phi truyền thống ở châu Âu bao gồm những vấn đề sau: buôn bán ma túy, khủng bố, dịch bệnh, di cư, nhập cư bất hợp pháp... Trong số những vấn đề đó, buôn bán ma túy được coi là mối đe dọa an ninh phi truyền thống lớn nhất của EU, bởi nó tác động đến xã hội thông qua nghiện ngập, tội phạm và bệnh tật; nó làm trầm trọng thêm nạntham nhũng ở nhiều nước, làm suy yếu kinh tế và chính trị. Hơnthế, thông qua mối liên hệ với những lực lượng nổi dậy và khủng bố sẽ làm cho an ninh chính trị bất ổn. Buôn bán ma túy sẽ ảnh hưởng đến cả an ninh cứngan ninh mềm của EU.

3. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Trên bình diện ASEAN, tổ chức này cũng hết sức coi trọng 82 in đề an ninh phi truyền thống. Ngay từ năm 1976, các nước ASEAN đã thông qua Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), nêu ra nhiệm vụ khống chế tăng trường dân số, ngăn chặn các hoạt động buôn bán ma túy trong khu vực. Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, vấn đề an ninh phi truyền thống mà các quốc gia Đông Nam Á phải đối diện ngày càng nghiêm trọng hơn. Các vấn đề an ninh phi truyền thống như an ninh tài chính, chủ nghĩa ly khai dân tộc, chủ nghĩa khủng bố, ô nhiễm môi trởng, vấn đề hải tặc... đều đang trực tiếp đe dọa đến các quốc gia trong khu vực. Chính vì vậy, các nước ASEAN đã chủ động tiến hành hợp tác có hiệu quả với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế nhằm đối phó với các uy hiếp phi truyền thống này.

Cụm từ an ninh phi truyền thống được xuất hiện chính thức trong Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ sáu, giữa các nước ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Campuchia) ngày 01-11-2002. Đó là những vấn đề về các lọai tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt là tội phạm khủng bố và ma túy đe dọa an ninh khu vực và thế giới, đồng thời tạo ra những thách thức mới đối với hòa bình, ổn định trong và ngoài khu vực. Cũng trong Tuyên bố trên, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã bày tỏ sự quan ngại về những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng như buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao. Kể từ đó đến nay, vấn đề an ninh phi truyền thống thường được đề cập tới trong các cuộc gặp, tiếp xúc giữa những nhà lãnh đạo cao nhất của ASEAN và Trung Quốc.

Có thể thấy, cơ chế hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thông của Đông Nam Á là hợp tác an ninh đa phương, tăng cường tin cậy lẫn nhau, tăng cường minh bạch trong đầu tư quân sự, hướng trọng tâm bảo đảm an ninh của khu vực tới các nhân tố bất ổn định chung như hoạt động hải tặc, buôn lậu, buôn ma túy, di dân bất hợp pháp, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm xuyên biên giới..đồng thời nỗ lực xây dựng một cộng đồng an ninh khu vực với các nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc hiệp thương thống nhất giữa các nước trong khu vực, nguyên tắc linh hoạt trong đàm phán các vấn đề nhạy cảm, nguyên tắc hợp tác giữa các chính phủ.

Trên bình diện nghiên cứu lý luận, nhóm tác giả Saw SweeHock, Sheng Lijun, Chin Kin Wah khi xuất bản công trình Quan hệ ASEAN - Trung Quốc: Thực trạng và triển vọng(ASEAN - China relations: Realities and prospects), đã nêu lên tổng quan về quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc; vai trò củaASEAN và Trung Quôc trong ASEAN+3 và tự do thương mại khu vực; quan hệ Nhật - Mỹ, Mỹ - ASEAN, Nhật - ASEAN và ảnh hưởng đối với Trung Quốc; an ninh môi trường ở Đông NamÁ; hợp tác và an ninh trên biển giữa Trung Quốc và ASEAN; hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc trong sự phát triển kinh tố lưu vực sông Mekong; sự tranh chấp vùng biển phía nam Trung Quốc sau tuyên bố năm 2002,... Trong nghiên cứu này cũng như nhiều nghiên cứu gần đây, tranh chấp hàng hải trên biển Đôg được nhấn mạnh, đặt ra yêu cầu các nước hợp tác cùng giải quyết. Cách tiếp cận đa phương cho việc giải quyết các tranh châp hàng hải được nhấn mạnh trong trường hợp này.

Nội dung vấn đề an ninh phi truyền thống của ASEAN cũng được V.R.Raghavan tập trung làm rõ trong công trình Ấn Độ và ASEAN: Những thách thức an ninh phi truyền thống (India and ASEAN: Non-Traditional Security Threats), đề cập sâu sắc các chiều cạnh về an ninh phi truyền thống. Phần I- An ninh kinh tế Eonomic Security) đã tập trung luận giải mối quan hệ thương mạigiữa ASEAN với Ấn Độ, so sánh sự phát triển kinh tế giữa TrungQuốc, Ấn Độ và các nước ASEAN, cuộc khủng hoảng kiinh tế năm 1997 với vấn đề an ninh kinh tế của các nước trong khu vực. Phần II- An ninh môi trường(Environmental Security) . Đã đề cập đến vấn đề an ninh môi trường ở Đông Nam Á, môi trường nước, về mối quan hệ hợp tác nhằm ứng phó với tai biến môi trường của ASEAN và Ấn Độ, đặc biệt là cạnh tranh tiếp cận tài nguyên nước của các quốc gia tiểu vùng Mekong, giữa Xingapo và Malaixia... Phần III- sắc tộc và an ninh(Ethnicity mill Security) đã trình bày về vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo ở Đông Nam Á, ở Inđônêxia và những bài học đối với Ấn Độ[3]

 


[1] Tham khảo tại trang điện tử của Liên hợp quốc: http://www.un.org.

[2]Tống Lê Lôi (Song Lilei): Vấn để và xu thế vấn để an ninh phi truyền thống cùa châu Âu. Trích từ Từ Tiêu Phong (Xu Yufeng): Báo cáo nghiên cứu anninh phi truyền thống Trung Quốc (2011-2012), Nxb.Văn hiến khoa học hội, Bắc Kinh, 2012, tr.73.

[3]Tham khảo tại trang: www.rsis.edu.sg/.../MacArthurworkmgpaper Mely

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành