Sau khi miền Nam được giải phóng, để giải quyết vấn đề đất đai, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 188-CP ngày 25-9-1976 về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam, nêu rõ chủ trương: Nhà nước tiến hành quốc hữu hóa các đồn điền vồ ruộng đất của tư sản nước ngoài. Đối với từng trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ xem xét có bồi thường hay không bồi thường; Nhà nước trực tiếp quản lý, sử dụng tất cả các loại ruộng đất cho đến ngày công bố các chính sách này mà còn bỏ hoang không có lý do chính đáng. Thu hồi toàn bộ ruộng đất thuộc sở hữu quốc gia, ruộng đất của tư sản mại bản, của địa chủ phản quốc, của bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền, cầm đầu tổ chức phản động, của gián diệp, tay sai đế quốc. Thu hồi đất do sĩ quan và nhân viên ngụy quyền dựa vào quyền thế cưõng đoạt hoặc cưỡng mua của nông dân; ruộng đất “công quản” của ngụy quyền trước đây từ ấp, xã trở lên; ruộng đất của địa chủ, phú nông đã bán cho Mỹ, ngụy nhưng thực tế họ vẫn để sử dụng. Khi tịch thu ruộng đất sẽ để lại cho mỗi người trong gia đình địa chủ sống ở nông thôn một số ruộng đất nhất định, nhưng không quá mức bình quân chiếm hữu ruộng đất của một nhân khẩu nông nghiệp ở địa phương, để tạo điều kiện cho vợ con họ, bản thân họ làm ăn và lao động cải tạo.

         Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Các quy tắc tài khóa được thiết kế tốt và thực hiện hiệu quả đem lại rất nhiều lợi ích như giúp kiềm chế xu hướng thâm hụt ngân sách, giảm bớt tình trạng thiếu nhất quán theo thời gian của các chính sách ngân sách, củng cố độ tin cậy của các cam kết chính phủ đối với bền vững tài khóa và tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý tài khóa ngược chu kỳ. Bằng cách cải thiện khả năng dự báo trước chính sách tài khóa, các quy tắc tài khóa cũng có thể giúp giảm thiểu sự biến động đầu ra và thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn. Tuy nhiên, thiết kế tốt và thực hiện hiệu quả các quy tắc tài khóa có thể là những mục tiêu đầy thách thức. Hơn nữa, chúng cần được đánh giá một cách đồng bộ. Một quy tắc tài khóa được thiết kế hoàn hảo nhưng không được thực hiện một cách thành công trong khuôn khổ thể chế quản lý tài chính công (PFM) hiện hành có thể mất đi tính phù hợp và độ tin cậy một cách nhanh chóng. Tương tự, một quy tắc được thực hiện hiệu quả nhưng thiết kế tối sẽ không thể đem lại những lợi ích tiềm tàng nêu trên. Thậm chí quy tắc đó có thể trở nên phản tác dụng khi thực hiện một chính sách tài khóa đúng đắn. 

Trên thế giới, khuôn khổ pháp lý làm nền tảng cho hệ thống tài chính công bao gồm các luật thuế, luật hệ thống ngân sách (BSL) và các luật tài chính của chính quyền địa phương cũng như Hiến pháp của mỗi nước. Ở các chính quyền liên bang, cơ quan lập pháp thông qua luật quy định về hệ thống ngân sách liên bang, trong khi các chính quyền cấp dưới quốc gia chỉ áp dụng luật khi liên quan đến hệ thống ngân sách ở chính cấp đó. Ở những chính quyền theo thể thức đơn nhất, nghị viện quốc gia có thể thông qua luật có phạm vi điều chỉnh tất cả các cấp chính quyền hoặc có thể thông qua hai luật hệ thống ngân sách, một cho chính quyền trung ương và một cho các chính quyền địa phương. Bên cạnh luật, còn có nhiều quy định điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của tài chính công.

Ở Việt Nam, hệ thống tài chính công cũng bao gồm các luật về thuế, Luật Ngân sách, Luật ngân hàng, luật các tổ chức tín dụng. Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 quy định, ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Sự ra đời của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa – tiền tệ.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Trên thế giới, khuôn khổ pháp lý làm nền tảng cho hệ thống tài chính công bao gồm các luật thuế, luật hệ thống ngân sách (BSL) và các luật tài chính của chính quyền địa phương cũng như Hiến pháp của mỗi nước. Ở các chính quyền liên bang, cơ quan lập pháp thông qua luật quy định về hệ thống ngân sách liên bang, trong khi các chính quyền cấp dưới quốc gia chỉ áp dụng luật khi liên quan đến hệ thống ngân sách ở chính cấp đó. Ở những chính quyền theo thể thức đơn nhất, nghị viện quốc gia có thể thông qua luật có phạm vi điều chỉnh tất cả các cấp chính quyền hoặc có thể thông qua hai luật hệ thống ngân sách, một cho chính quyền trung ương và một cho các chính quyền địa phương. Bên cạnh luật, còn có nhiều quy định điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của tài chính công.

Ở Việt Nam, hệ thống tài chính công cũng bao gồm các luật về thuế, Luật Ngân sách, Luật ngân hàng, luật các tổ chức tín dụng. Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 quy định, ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Sự ra đời của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa – tiền tệ.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

           Theo pháp luật của Việt Nam, công dân Việt Nam (một người hoặc nhóm người) chỉ có một số quyền hạn chế của chủ sở hữu, phần quyền còn lại thuộc về các cơ quan nhà nước khác nhau (theo cơ chế phân cấp trong bộ máy quản lý nhà nước), sở hữu toàn dân về đất đai bao gồm hai lớp quyền: quyền tối thượng của Nhà nước trong quyết định giao đất cho ai, thu hồi đất của ai - tức là quyết định ai được tham gia vào hệ thống các chủ thể thực thi quyền chủ sở hữu đất; quyền quyết định mục đích, phạm vi sử dụng đất theo quy hoạch; quyết định lợi ích của các bên trong giao dịch về đất với cơ quan nhà nước (giá đất, thuế đất). Công dân Việt Nam, với tư cách đồng sở hữu đất, chỉ có một số quyền hạn chế của chủ sở hữu: đó là quyền chiếm hữu đất trong thời hạn được Nhà nước giao; quyền sử dụng đất theo quy hoạch trong thời gian được giao; quyền định đoạt hạn chế dưới hình thức cho thuê, chuyển nhượng, để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy hoạch và thời hạn được Nhà nước giao đất.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin quý vị tải về tệp đính kèm.

Ngay từ khi mới ra đời (năm 1945), Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp với từng giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước. Đặc biệt thể hiện rõ nét nhất là từ sau thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), Nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai đáp ứng các yêu cầu quản lý và sử dụng đất trong cơ chế thị trường. Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đất đai đã nhiều lần được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước. Tuy nhiên, vấn đề sở hữu đất đai đã được hình thành từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945 và được điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật trong từng Triều đại cụ thể, trong suốt thời kỳ phong kiến ở Việt Nam chế độ sở hữu đất đai tồn tại hai hình thức sở hữu là chế độ công điền (ruộng công) và chế độ tư điền (ruộng tư) - nhưng thực chất đất đai thuộc sở hữu Nhà nước mà đại diện là nhà Vua. Chính vì vậy, trong chuyên đề này xin được phân tích những vấn đề liên quan đến chế định sở hữu đất đai từ trước cách mạng tháng 8 thông qua sự dẫn chiếu từ các chế định về sở hữu đất đai của Luật Đất đai năm 1987, năm 1993, năm 2003 và năm 2013 để phân tích các nội dung về sở hữu đất đai từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945.

Thứ ba, 26 Tháng 2 2019 08:32

Về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

Việc tổng kết những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại điển hình liên quan tới quá trình triển khai sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói chung cũng như cổ phần hóa nói riêng ở nước ta trở nên hết sức cần thiết và cấp bách hơn bao giở hết trong bối cảnh đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (đặc biệt là cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hiện nay), đồng thởi, nhiệm vụ quan trọng này cũng đã được khẳng định rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ. Đối với những vấn đề đã rõ, đã có nghị quyết thì phải khẩn trương, kiên quyết triển khai thực hiện; những vấn đề chưa đủ rõ thì phải tổ chức thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời uốn nắn các sai sót, lệch lạc để có bước đi thích hợp, tích cực nhưng vững chắc”.

Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) nhận thức về vị trí và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 18- 12-1986). Theo đó, thực hiện đẩy mạnh kinh tế xã hội chủ nghĩa với mục tiêu phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể trên ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối. Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế quốc doanh đã bị suy yếu và nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này đã được khẳng định rõ trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (ngày 18- 12-1986): “Việc chưa sắp xếp các ngành các cơ sở sản xuất, chậm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn tới làm suy yếu vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, làm cho kinh tế tập thể chậm được củng cố, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác”

Đối với việc cải cách doanh nghiệp nhà nước, ở Hàn Quốc, quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước vẫn đang được tiếp tục thực hiện và ngày càng triệt để hơn nữa mỗi khi có cuộc khủng hoảng nào đó xảy ra, ví dụ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Đặc điểm nổi bật bên cạnh quá trình cải cách quản trị doanh nghiệp ở Hàn Quốc đó là đã đưa ra được hệ thống đánh giá điều hành doanh nghiệp nhà nước (Performance Evaluation System). Hệ thống này dựa trên việc kiểm soát quản lý, đánh giá, cung cấp các biện pháp khuyến khích động cơ, thực hiện việc luật hóa mối quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước và Chính phủ, và củng cố sự tự chủ và trách nhiệm giải trình. Về cơ bản, nó đã kết hợp được cơ chế giám sát và cơ chế đãi ngộ nhằm: một là phi chính trị hóa và luật hóa việc quản lý doanh nghiệp nhà nước, hai là cải thiện quyền tự chủ quản lý và trách nhiệm giải trình, ba là thiết lập vai trò mới cho hội đồng quản trị, bốn là định rõ mục tiêu quản lý, và cuối cùng là để tổ chức lại các mức độ kỳ vọng của nhân viên, giám đốc điều hành cấp cao, các bên liên quan khác và Chính phủ.

           Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước đó là cách quản lý và điều hành doanh nghiệp nhà nước. Có thể nói cải cách về hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới đều nhằm thực hiện mục tiêu gia tăng tính minh bạch và bình đẳng hơn trong cạnh tranh giữa các loại hình doanh nghiệp.

Liên bang Nga đã đưa ra nhiều chính sách nhằm cải tổ cách thức quản lý và điều hành doanh nghiệp nhà nước. Văn phòng Tổng thống, Chính phủ, y ban quản lý tài sản Liên bang, Bộ Phát triển kinh tế Nga và các bộ, ngành hữu quan là các cơ quan nhà nước tham gia vào quản lý và điều hành cũng như thực hiện các chương trình cải tổ, quản lý tài sản quốc gia. Việc quản lý các tập đoàn kinh tế nhà nước tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và thường áp dụng các mô hình: mô hình tập trung, mô hình kép và mô hình đa ngành. Trong đó, với mô hình tập trung thường chịu sự quản lý trực tiếp của ủy ban Quản lý tài sản Liên bang là các doanh nghiệp chú trọng tới tối đa hóa lợi nhuận cũng như cổ phần hóa, còn ưu tiên ngành là thứ yếu. Mô hình tài sản Liên bang và của bộ, ngành tương ứng, theo đó ưu tiên phát triển ngành quan trọng hơn việc tối đa hóa lợi nhuận. Trong mô hình này, ủy ban Quản lý tài sản Liên bang đại diện cho cổ phần của Nhà nước tại doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm lựa chọn nhân sự từ các bộ, ngành phù hợp để làm đại diện quản lý, thường tham gia vào Hội đồng quản trị và bộ phận kiểm toán. Trong mô hình đa ngành áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước trọng yếu, mang tính chiến lược và thường bị chi phối bởi cả lợi ích chính trị, ngoài ủy ban Quản lý tài sản Liên bang, các bộ, ngành còn có các quan chức từ các cơ quan quyền lực như Văn phòng Tổng thống, Văn phòng Chính phủ tham gia.

            Trên đây là trích dẫn của tài liệu, để xem toàn văn xin tải về tệp đính kèm.

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành