Chủ nhật, 15 Tháng 10 2017 06:38

Hoàn thiện và thực thi có hiệu quả luật pháp, chính sách về quản lý môi trường của Nhật Bản – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Việc hoàn thiện và thực thi hiệu quả các chính sách pháp luật về quản lý môi trường là giải pháp quan trọng nhất trong nhóm các giải pháp được đề xuất vì là công cụ làm nền tảng cho công tác quản lý nhà nước về môi trường ở bất cứ một quốc gia nào. Xuất phát từ tính địa lý - môi trường, ứng với từng quốc gia có điều kiện địa lý tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau thì có hệ giải pháp luật pháp, chính sách phù hợp nhằm giải quyết môi quan hệ tất yếu giữa phát triển kinh tế, nâng cao. đời sống cộng đồng và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi luật pháp, chính sách từ các quốc gia phát triển sẽ là những kinh nghiệm bổ ích cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Cũng xuất phát từ yếu tố trên, khi áp dụng vào thực tế quản lý môi trường đô thị, chúng ta cần phải xem xét kỹ lưỡng, chi tiết nội dung các chính sách, luật pháp mà Nhật Bản thực hiện cũng như điều kiện thực tế tại Việt Nam để đưa ra những gợi ý về chính sách, luật pháp, đồng thời tính đến các giai đoạn thực thi cho phù hợp.

Như đã biết, Nhật Bản là một “quốc gia đô thị” vận hành theo chế độ quân chủ lập hiến. Cơ sở pháp lý cao nhất và duy nhất của hoạt động quản lý nhà nước về môi trường là các đạo luật. Trong vòng 50 năm qua, Quốc hội Nhật Bản đã ban hành gần 50 đạo luật có đối tượng điều chỉnh là các vấn đề môi trường. Nhờ đó, công tác quản lý môi trường được thực hiện thông nhất trên phạm vi toàn quốc. ở Nhật Bản, cũng như ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, không có nghị định, quy định dưới luật; ở đây chỉ có các đạo luật được Quốc hội - cơ quan lập pháp - ban hành mới có giá trị pháp lý, ngoài ra không có một văn bản nào kiểu nghị định, quy định của Chính phủ v.v… được sử dụng để điều tiết hoặc can thiệp vào công việc quản lý kinh tế - xã hội, trong đó có công tác quản lý môi trường. Chính phủ chỉ là cơ quan hành pháp thực thi các công việc quản lý xã hội dựa trên các đạo luật do Quốc hội ban hành. Điều này cũng có nghĩa là Chính phủ không thể thực thi công việc quản lý xã hội dựa trên các quyết định do mình ban hành. Đây là điểm khác biệt căn bản trong công tác quản lý mọi mặt xã hội của nhà nước, kể cả quản lý môi trường của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển so với các nước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Và đây cũng chính là điểm khác biệt trong quản lý nhà nước giữa Nhật Bản và Việt Nam.

Phải thừa nhận rằng, cách xây dựng và ban hành các đạo luật về quản lý nhà nước đối với môi trường đô thị của Nhật Bản là kinh nghiệm tốt để Việt Nam có thể vận dụng. Nói cách khác đó là việc thực hiện luật hóa các văn bản quản lý môi trường. Ở Việt Nam cho đến nay, Quốc hội mới chỉ ban hành hai luật liên quan đến môi trường đó là Luật bảo vệ môi trường Luật thuế bảo vệ môi trường.

Chính phủ, các bộ, ngành ban hành các văn bản hướng dẫn dưới luật như nghị định, nghị quyết, thông tư để thực hiện luật. Chính quyền địa phương, thành phố ban hành các văn bản hành chính để hướng dẫn thực hiện nghị định, thông tư, v.v... Như vậy, việc thực hiện luật phải thông qua hàng loạt các văn bản hướng dẫn khác nhau sẽ gây khó khăn nhất định trong quá trình thi hành. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, cần phải luật hóa các loại văn bản này và các đạo luật được Quốc hội ban hành phải tương đối chi tiết mà không cần các văn bản dưới luật giải thích. Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, việc hoàn thiện hệ thông luật theo thông lệ quốc tế là một đòi hỏi bức xúc, trong đó có các luật liên quan tới bảo vệ môi trường. Khi đó, các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng không cần có các văn bản kiểm soát và xử lý môi trường riêng mà chỉ cần thực thi nghiêm chỉnh các đạo luật do Quốc hội ban hành là đủ.

Tuy nhiên, nước ta có hệ thống chính trị đặc trưng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, nhận thức của cán bộ quản lý và người dân về môi trường còn hạn chế cho nên việc luật hóa các văn bản cần thời gian và lộ trình thực hiện phù hợp.

Để thực hiện có hiệu quả các chính sách, pháp luật về quản lý môi trường, nhất, là môi trường đô thị nhà nước cẩn thiết phải kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức và tăng cường vai trò gương mẫu của Chính phủ, các bộ, ngành. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, ngay từ những năm 1970, Nhật Bản đã thành lập riêng MOE trong đó có Cục Phòng, chống ô nhiễm nhằm thực hiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và quản lý chất thải rắn, kiểm soát và xử lý các chất độc hại. Trong khi ở nước ta mặc dù đã có Bộ Tài nguyên và Môi trường trong đó có Tổng cục Môi trường nhưng cơ quan này quản lý quá nhiều hạng mục dẫn đến tình trạng chồng chéo nội dung quản lý. Một số thời điểm quản lý môi trường chưa thực sự được đầu tư quan tâm một cách hợp lý hoặc quản lý môi trường lại được “phân công” cho nhiều bộ cùng tham gia. Ví dụ, Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý chất thải rắn, Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý chất thải y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ xem xét cấp phép hoạt động xả thải, v.v...

Như chúng ta đã biết, xét về truyền thống, các chính phủ tại các nước công nghiệp phát triển có vai trò không lớn trong điều tiết các hoạt động kinh tế, xã hội, Nhật Bản cũng không là một ngoại lệ. Trong quản lý môi trường, vào thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là thời kỳ tăng trưởng nhanh, chính quyền địa phương có vai trò rất lớn trong việc đưa ra các quy tắc cũng như áp dụng chúng vào việc bảo vệ môi trường nhưng dần dần vị trí này đã được chính quyển Trung ương thay thế. Ý thức được tầm quan trọng của môi trường đối với sự phát triển bền vững của quốc gia cũng như yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái tại các đô thị trong bối cảnh đô thị hóa khiến Chính phủ Nhật Bản gia tăng vai trò của họ đối với lĩnh vực quan trọng này.

Theo chính giới Nhật Bản, ngoài vai trò là một cơ quan hành chính Trung ương hoạt động tuân theo hiến pháp và pháp luật, Chính phủ Nhật Bản còn có vai trò như một doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh tế, bảo vệ môi trường và là một thực thể tiêu dùng lớn. Để thực hiện vai trò này, ngay từ năm 1995, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng chương trình “Hành động xanh”. Chương trình này được coi là nhiệm vụ cụ thể mang tính thường niên. Mục tiêu của chương trình là hướng tới giảm tải ô nhiễm môi trường đặc biệt là tại các khu vực đô thị bằng cách hướng các tổ chức hành chính của Chính phủ, chính quyền các địa phương, doanh nghiệp và công chúng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Nội dung của chương trình này bao gồm: gắn việc bảo vệ môi trường khi mua và sử dụng các loại hàng hóa dịch vụ đối với các cơ quan hành chính Trung ương và địa phương, gắn việc bảo vệ môi trường với xây dựng và quản lý các tòa nhà cao tầng, gắn nội dung bảo vệ môi trường khi tổ chức đào tạo đội ngũ viên chức và thiết lập hệ thống kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chương trình.

Chương trình hành động xanh được cụ thể hóa theo năm tài chính. Theo đó, mức sử dụng giấy tái chế trong công việc hành chính của Chính phủ sẽ gia tăng hằng năm. Cụ thể là nội dung các văn bản, tài liệu phải ngắn gọn; in trên cả hai mặt giấy; tiết kiệm điện trong các đơn vị thuộc Chính phủ; tiết kiệm xăng dầu khi sử dụng xe công; giảm tiêu hao năng lượng đối với các vật dụng thuộc công sở Chính phủ ở mức xấp xỉ 10% hằng năm kể từ năm 2000, v.v.. Chương trình hành động xanh là ví dụ điển hình trong việc thực thi có hiệu quả chính sách và các đạo luật liên quan tối quản lý môi trường ở Nhật Bản. Thực hiện tốt chương trình này cũng có nghĩa là Chính phủ Nhật Bản đã giúp các cơ quan quản lý thực hiện tốt luật tái chế và sử dụng sản phẩm tái chế, luật tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, luật thúc đẩy sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, v.v..

Đáng lưu ý là chỉ tiêu thực hiện cụ thể được Văn phòng Nội các giao cho các cơ quan trực thuộc. Đây là điều mà ít ai nghĩ tới bởi Nhật Bản là một quốc gia giàu có. Chẳng hạn, khi triển khai nội dung công việc gắn với việc bảo vệ môi trường trong mua sắm và sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ cho các cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Thủ tướng thừa lệnh Thủ tướng quy định các cơ quan này chỉ mua các loại giấy nhãn hiệu Eco Mark và Green Mark, đây là các loại sản phẩm được tái chế từ nguyên liệu phế thải, khuyến khích các cơ quan này chỉ dùng email qua hệ thống mạng khu vực (mạng LAN) mà không dùng giấy để in email và bản tin. Cụ thể hơn, người ta quy định Văn phòng Thủ tướng, cơ quan phát triển Hôkkaiđô và Cục Kinh tế phải dùng giấy tái chế 100%; Bộ Bưu chính Viễn thông dùng 100% giấy tái chế để làm bưu thiếp, bì thư, v.v. và các cơ quan này phải lắp đặt hệ thống phân loại chất thải rắn ngay tại văn phòng. Thêm vào đó, định mức sử dụng giấy tái chế được quy định chi tiết cho từng Bộ, ngành.

Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản yêu cầu các cơ quan trực thuộc Chính phủ phải đưa nội dung chương trình hành động xanh vào kế hoạch hằng năm của đơn vị. Trong đó, các chương trình tập huấn cán bộ, nhân viên nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường thông qua các hành động cụ thể như tiết kiệm điện, nước, giảm làm việc ngoài giờ, giảm các cuộc họp, v.v… và một thí dụ được coi là duy nhất trên thế giới diễn ra ở đất nước mặt trời mọc là vào mùa hè 2005, Thủ tướng Kôizumi đã phát động phong trào mặc áo mỏng, không complê cà vạt khi tới công sở để giảm việc sử dụng điều hòa nhiệt độ tại các văn phòng. Điều này ngược với quy định phải y phục nghiêm chỉnh - complê cà vạt khi đến công sở do Chính phủ quy định trước đó hàng thập niên và đã tạo ra một nét văn hóa công sở rất đặc trưng kiểu Nhật Bản, cho dù việc làm này của ông Kôizumi chỉ là một giải pháp tình thế nhằm tiết kiệm năng lượng trong bối cảnh giá dầu thế giới tăng cao. Gần đây, sau thảm họa kép sóng thần - thảm họa hạt nhân (năm 2011), Chính phủ của Thủ tướng Nôđa Abê còn thực thi chính sách tiết kiệm điện năng chặt chẽ hơn. Và suy cho cùng đây cũng là một biện pháp để giảm tải trọng phế thải vào môi trường.

Ở nước ta, những năm gần đây, Chính phủ rất nỗ lực trong việc bảo vệ môi trường đô thị. Nhiều nghị định, nghị quyết, chương trình hành động liên quan đến bảo vệ môi trường được ra đời. Điển hình là chương trình cải cách hành chính, trong đó Chính phủ ban hành nhiều quyết định về chống lãng phí, thực hành tiết kiệm như chống lãng phí trong lĩnh vực mua sắm tài sản, trang thiết bị và vật tư văn phòng, cũng như tiết kiệm điện, nước, xăng xe, xe công vụ trong các cơ quan nhà nước, v.v.. Xét trên khía cạnh bảo vệ môi trường, các quyết định này là những văn bản pháp quy bảo vệ môi trường và đang từng bước đi vào cuộc sống. Nhiều cơ quan trực thuộc Chính phủ như Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện tiết kiệm trong mua sắm tài sản cố định, không mua thêm xe mới, ưu tiên sử dụng phương tiện công cộng, tắt điện công sở sau giờ làm việc, v.v.. Tuy nhiên, việc thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động này còn rất hạn chế. Như vậy, trên thực tế Chính phủ nước ta cũng đưa ra các văn bản, chương trình hành động về bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả thực thi thì không cao, chưa đồng bộ và còn gặp phải nhiều vướng mắc như đã phân tích ở phần trên. Kinh nghiệm của Nhật Bản chỉ ra rằng, cần có các quy định chi tiết hơn, nhất là trong việc mua sắm vật tư văn phòng phẩm của các cơ quan nhà nước.

Thiết nghĩ, nhiều nước có thể vận dụng chương trình hành động xanh mà Chính phủ Nhật Bản sử dụng, trong đó có Việt Nam. Không có lý do gì khi một quốc gia giàu có như Nhật Bản làm được mà một nước đang phát triển như Việt Nam, Chính phủ lại không vận dụng, bởi đây là kinh nghiệm có thể được thực hiện thông qua mệnh lệnh của Chính phủ mà không mất kinh phí để thực thi.

Đã xem 50 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành