Thứ ba, 17 Tháng 10 2017 06:47

Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và hoạch định chính sách quản lý môi trường

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang diễn ra ngày một mạnh mẽ với nhiều thành tựu to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội, dẫn đến quá trình đô thị hóa cũng đang diễn ra hết sức nhanh chóng, đây là một bước phát triển quan trọng của đất nước trong tiến trình thúc đẩy công nghiệp phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, mức độ đô thị hóa đang tăng lên nhanh chóng ở Việt Nam cũng làm nảy sinh nhiều vấn để bất cập trong quy hoạch và quản lý đô thị liên quan đến các khía cạnh về kinh tế - xã hội và môi trường. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trở thành xu thế tất yếu trên thế giới, ở nước ta, nhờ thực hiện chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho cấu trúc cảnh quan sinh thái thay đổi từng ngày, từng giờ, đặc biệt là cảnh quan đô thị. Nhiều diện tích đất nông nghiệp bị chuyển thành đất đô thị, khu công nghiệp, đường giao thông gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Nhiều vấn đề môi trường trong đô thị nảy sinh như ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường nước, chất thải rắn v.v... có nguyên nhân xuất phát từ nước thải đô thị chưa được xử lý trước khi xả thải vào sông ngòi, các chất gây ô nhiễm không khí thoát ra từ các nhà máy, từ hoạt động giao thông, sinh hoạt. Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn nguy hại ngày càng trở thành vấn đề bức xúc trong khi công tác thu gom, xử lý còn nhiều hạn chế.

Để tạo điều kiện cho việc quản lý môi trường phát triển nhằm giữ vững sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là nhiệm vụ hết sức cần thiết đặt ra với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việc nghiên cứu những kinh nghiệm của các quốc gia có nhiều thành công trong quản lý môi trường sẽ giúp Việt Nam xây dựng những chính sách cụ thể, thiết thực và hiệu quả nhằm thực hiện tốt nhất công tác quản lý môi trường, mà cấp bách nhất hiện nay là môi trường đô thị.

1. Trên thế giới

Xét ở phương diện tổng thể, cơ sở pháp lý của quản lý môi trường là Luật quốc tế về môi trường. Cho đến nay, Luật quốc tế về môi trường vần đang trong quá trình hình thành nên chưa có một định nghĩa cụ thể nào được nêu ra song có thể tạm hiểu Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ các thiệt hại do các nguồn khác nhau gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường thiên nhiên ngoài phạm vi tài phán quốc gia.

Như vậy, Luật quốc tế về môi trường còn là một lĩnh vực tương đối mới, phát triển trong một số năm gần đây. Các quốc gia trên thế giới đang có nhiều cố gắng để xây dựng những luật chung song những hiệp ước, điều ước được đưa ra vẫn đang trong tình trạng tản mạn, trùng lặp. Bên cạnh đó, quy định pháp lý về môi trường mang tính chất giải pháp tình huống, đối phó là chính, chưa có quy định mang tính định hướng, lâu dài. Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào chỉ rõ các quy phạm, nguyên tắc ràng buộc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn cầu mà chỉ dừng lại ở các quy định mang tính khu vực, hợp tác song phương. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, các khía cạnh pháp lý quốc tế về môi trường ngày càng có xu hướng hòa nhập vào luật kinh tế và thương mại. Điều này mở ra cơ hội thuận lợi cho việc xây dựng luật môi trường chung song cũng gây khó khăn nhất định, đòi hỏi các quốc gia phải nhạy bén để đưa ra các quyết định hợp lý về môi trường.

Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi song đối tượng điều chỉnh của Luật quốc tế về môi trường chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa các quốc gia về môi trường, mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể khác về môi trường, môi quan hệ giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế. Những mối quan hệ này thực chất là việc tìm ra tiếng nói chung trong vấn để sử dụng môi trường, bảo vệ môi trường giữa các quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, các tổ chức liên chính phủ, kể cả Liên hợp quốc.

Phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế về môi trường khá rộng lớn, bao gồm các vấn đề liên quan đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Như đã nói ở trên, hiện nay, Luật quốc tế về môi trường tồn tại dưới các hình thức như các hiệp định, nghị định, công ước, ghi nhớ v.v. về môi trường. Các văn bản này có thể do hai hoặc nhiều nước ký kết với nhau nhằm cùng hướng đến mục tiêu là duy trì bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên trên phạm vi lãnh thổ hoặc khu vực mà nó điều chỉnh.

2. Ở Việt Nam

Ở nước ta, mục tiêu cơ bản của công tác quản lý môi trường là ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Văn kiện của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định quan điểm cơ bản của Đảng ta đối với vấn đề bảo vệ môi trường: 1) Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; 2) Bảo vệ môi trường phải được tiến hành trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở mọi cấp, làm cơ sở cho phát triển bền vững; 3) Phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo, kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường sống và bảo tồn thiên nhiên, kết hợp với hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường.

Có 5 nhiệm vụ chủ yếu cần phải thực hiện để bảo vệ môi trường: 1) Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường; 2) Bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; 3) Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; 4) Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường; 5) Đáp ứng yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Như vậy, ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường đã và đang được quan tâm một cách đúng đắn, điều này được thể hiện cụ thể trong hệ thống các văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường đã được Quốc hội và các cơ quan quản lý khác ban hành. Hiện nay, hệ thống văn bản này vẫn tiếp tục được chỉnh lý và hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho công tác nghiên cứu, quản lý môi trường. Các văn bản pháp quy về quản lý môi trường được tác giả thống kê theo nhóm, bao gồm: nhóm chính sách, quy định chung về môi trường (28 văn bản); nhóm chính sách, quy định liên quan đến môi trường toàn cầu (1 văn bản); nhóm chính sách, quy định liên quan đến chất thải rắn (9 văn bản); nhóm chính sách, quy định liên quan tới môi trường không khí (1 văn bản); nhóm các chính sách, quy định liên quan tới môi trường đất, nước (8 văn bản); nhóm chính sách, quy định liên quan đến hóa chất và sức khỏe (2 văn bản); nhóm chính sách, quy định khác (1 văn bản).

3. Ở Nhật Bản

Trong vòng 20 năm kể từ khi cơ quan môi trường được thành lập vào năm 1971, Nhật Bản đã xây dựng cho mình hệ thống văn bản luật khá hoàn chỉnh về bảo vệ môi trường, bao gồm: nhóm luật chung về bảo vệ môi trường; nhóm luật liên quan đến môi trường toàn cầu; nhóm luật về chất thải rắn và tái chế chất thải rắn; nhóm luật về bảo vệ môi trường không khí và giao thông vận tải; nhóm luật liên quan đến môi trường đất, nước; nhóm luật liên quan tới sức khỏe và các hợp chất hóa học; nhóm luật liên quan đến thiên nhiên và công viên; nhóm luật khác .

Như vậy, quản lý môi trường ở Nhật Bản được chi tiết hóa thành trên 50 luật, quy định cụ thể cho từng lĩnh vực quản lý: không khí, đất, nưốc, chất thải rắn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, V.V.. Mặc dù phải trải qua một khoảng thời gian dài để xây dựng, hoàn thiện, bổ sung song các văn bản này đã phát huy được hiệu quả giúp Nhật Bản thực hiện thành công mục tiêu bảo vệ môi trường.

Từ những phân tích nêu trên có thấy thấy, về khía cạnh lý luận và khoa học, khía cạnh pháp lý của hoạt động quản lý môi trường có thể rút ra một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoạch định chính sách quản lý về môi trường ở Việt Nam như sau:

Thứ nhất, về khái niệm quản lý môi trường, mặc dù có rất nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có một định nghĩa thống nhất, song có thể hiểu một cách khái quát như sau: Quản lý môi trường là hoạt động trong lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội, có tác động điều chỉnh hoạt động dựa trên cách tiếp cận hệ thông, điều phối thông tin xuất phát từ quan điểm định tính và định lượng, xuất phát từ quan điểm phát triển bền vững.

Thứ hai, quản lý môi trường nói chung, quản lý môi trường đô thị nói riêng đều trải qua một quá trình phát triển mà mục tiêu chung là hướng tới phát triển bền vững. Mặc dù có nguyên tắc, nội dung thực hiện mang tính quốc tế nhưng việc tổ chức thực hiện lại mang tính quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội ở từng nước.

Thứ ba, cả Việt Nam và Nhật Bản đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp quy. Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan chức năng thực thi các nhiệm vụ quản lý môi trường đô thị và bảo vệ môi trường sinh thái trên phạm vi quốc gia. Điểm khác biệt ở đây là ở chỗ Nhật Bản chỉ ban hành các đạo luật mà không ban hành các văn bản dưới luật trong khi đó Việt Nam ban hành cả hai loại văn bản kể trên và dựa vào các quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đã xem 337 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành