Thứ năm, 15 Tháng 2 2018 08:21

Chiến lược xã hội hóa giáo dục của nhật bản

a) Cải cách giáo dục là quá trình liên tục

Người Nhật Bản bước vào thế kỷ XXI với tham vọng xây dựng đất nước hùng cường và dẫn đầu thế giới. Giáo dục được coi là nền tảng trong một trăm năm tới của quốc gia. Muốn vậy phải đẩy mạnh cải cách giáo dục để xây dựng một đất nước của giáo dục và nguồn lực con người, một đất nước dựa trên sáng tạo và khoa học công nghệ. Cuộc cải cách giáo dục trong thế kỷ XXI này được gọi là cuộc cải cách giáo dục thứ ba.

Cuộc cải cách giáo dục thứ nhất ở Nhật Bản bắt đầu từ năm 1872, năm đầu tiên của vương triều Minh Trị. Thành công của cuộc cải cách này là chuyển nền giáo dục truyền thống của Nhật Bản sang hệ thống giáo dục mới, với các nhà trường hiện đại, bắt nhịp với cuộc cách mạng công nghiệp.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bước vào cuộc cải cách giáo dục thứ hai. Triết lý cơ bản của nó là bình đẳng về cơ hội học tập cho mọi người. Triết lý này được thể chế hóa trong Luật cơ bản về giáo dục ban hành năm 1947, trong đó quy định giáo dục bắt buộc 9 năm. Cuộc cải cách này kéo dài cho đến cuối thế kỷ XX, được bổ sung và hoàn thiện không ngừng và được đánh giá là động lực hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản.

Tuy nhiên, Hội đồng quốc gia cải cách giáo dục của Nhật Bản cho rằng, cả hai cuộc cải cách giáo dục vừa qua đều theo đuổi một định hướng về chính sách như nhau. Đó là chính sách giáo dục đuổi kịp các nước đi trước. Chính sách này dẫn đến một tình trạng nghiêm trọng gọi là sự phân rã giáo dục mà nhiều biểu hiện bức xúc của nó đang gây lo lắng trong dư luận xã hội.

b) Sự phân rã giáo dục

Đó là tình trạng trong đó đã mất đi sự liên kết cần thiết giữa ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và cộng đồng. Việc đô thị hóa xã hội Nhật Bản cùng việc giảm bớt tỷ lệ trẻ em trong cơ cấu dân số đã dẫn đến việc buông lỏng vai trò giáo dục của gia đình và cộng đồng. Về phía học sinh, do việc quá đề cao quyền tự do cá nhân, cùng việc thay đổi mạnh mẽ môi trường sống (trẻ em có buồng riêng, sử dụng rộng rãi điện thoại di động, chơi nhiều với thiết bị điện tử hơn là chơi với bạn bè), nên các em ít quan tâm đến giao tiếp gia đình và quan hệ cộng đồng, sống ích kỷ hoặc có mình trong thế giới riêng.

Nhà trường cũng có trách nhiệm trong hiện tượng phân rã này. Quy định cứng nhắc về việc tiêu chuẩn hóa giáo dục đã dẫn đến việc dạy và học trong nhà trường trở thành đơn điệu, thậm chí quá tải, miễn sao các em đều được cung cấp những kiến thức và kỹ năng như nhau theo quy định. Năng lực cá nhân không được quan tâm và càng học lên thì học sinh giỏi cũng như học sinh kém càng cảm thấy chán theo cách riêng của mình.

Hệ quả của sự phân rã giáo dục này là hiện tượng mất kỷ cương trường lớp, một vấn đề nhức nhối trong xã hội Nhật Bản hiện nay. Trong trường là các hành vi trốn học, bỏ học, bạo lực học đường. Ở nhà nảy sinh vấn đề con hư, “thế giới cô lập” của trẻ, sự phá vỡ các quan hệ truyền thống trong gia đình. Ngoài xã hội, có chiều hướng gia tăng các tội phạm hình sự do vị thành niên gây nên.

c) Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI của Nhật Bản

Bộ Giáo dục Nhật Bản đặt vấn đề xây dựng Chương trình cải cách giáo dục từ năm 1997. Nguyên tắc cơ bản là phải đặt cuộc cải cách giáo dục này trong mối quan hệ gắn bó với các cải cách khác về hành chính nhà nước, cơ cấu kinh tế, hệ thống tài chính, an sinh xã hội trong bối cảnh thế giới đang chuyển từ xã hội công nghiệp truyền thống sang xã hội dựa trên tri thức.

Chương trình cải cách giáo dục được lấy ý kiến và chỉnh lý hàng năm. Đến năm 2000, Thủ tướng Nhật Bản thành lập Ủy ban quốc gia cải cách giáo dục. Cuối năm 2000, Ủy ban này trình Báo cáo với 17 đề xuất về thay đổi giáo dục. .

Trong Báo cáo của mình, Ủy ban xuất phát từ một tư duy giáo dục chủ đạo hướng tới xã hội học tập suốt đời, trong đó năng lực cá nhân được tôn trọng và người học có khả năng ứng đáp linh hoạt trước những thay đổi của đời sống kinh tế - xãhội, trong đó có vấn đề quốc tế hóa và tin học hóa. Vì vậy, cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI phải là cải cách về Cơ cấu giáo dục để toàn bộ hệ thống giáo dục đáp ứng được tốt hơn các nhu cầu của người dân và yêu cầu của xã hội, trong đó những vấn đề ưu tiên là đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các nhà trường, đổi mới cách đánh giá. Ủy ban đưa ra hai nguyên tắc cơ bản: Một là, phải chuyển từ giáo dục theo chuẩn sang giáo dục phát huy năng lực cá nhân; Hai là, phải huy động toàn bộ nhà trường, gia đình và cộng đồng để thực hiện cải cách. Trên cơ sở đó, ba mục tiêu cơ bản được đề ra là: Thứ nhất, người học được bồi dưỡng tinh thần nhân văn phong phú; Thứ hai, hệ thống giáo dục tạo điều kiện phát huy năng lực cá nhân và bồi dưỡng tài năng sáng tạo; Thứ ba, tạo dựng các nhà trường mới phù hợp với các yêu cầu của thời đại mới.

Để đạt được các mục tiêu trên, Ủy ban đề xuất 17 giải pháp cụ thể. Trong đó rất đáng quan tâm là các giải pháp sau: giáo dục phải được bắt đầu tại nhà, ở đó, các em được trau dồi những thói quen tốt, được nuôi dưỡng những đức tính cần thiết, được làm quen với những quy tắc xã hội cơ bản; nhà trường phải đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức; cộng đồng phải tạo điều kiện và lôi cuốn học sinh vào các hoạt động xã hội; xây dựng hệ thống giáo dục mềm dẻo phù hợp với tính cách và năng lực khác nhau của người học; đa dạng hóa công tác tuyển sinh đại học, khắc phục tình trạng học vẹt; nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong trường đại học để có những nhân tài lãnh đạo trong các lĩnh vực; đẩy mạnh phân cấp quản lý trong giáo dục phổ thông để nhà trường có nhiều quyền tự chủ hơn về chuyên môn, tài chính và nhân sự, chú trọng đánh giá, bồi dưỡng giáo viên, khen thưởng giáo viên giỏi, chuyển giáo viên yếu sang làm việc khác.

d) Kế hoạch cầu vồng

Đó là kế hoạch hành động do Bộ trưởng Giáo dục Nhật Bản ban hành để triển khai thực hiện các đề xuất của Ủy ban quốc gia cải cách giáo dục. Kế hoạch này nhằm đem lại sức sống mới cho nhà trường, gia đình và cộng đồng để giáo dục được thay đổi và nhà trường được hoàn thiện. Nó dựa trên bảy ưu tiên chiến lược và vì vậy được gọi là kế hoạch cầu vồng.

Các ưu tiên chiến lược là:

- Nâng cao thành tích học tập cơ bản của học sinh trong các “lớp học dễ hiểu”;

- Bồi dưỡng cho tuổi trẻ tinh thần cởi mở và nhân văn thông qua việc tham gia các dịch vụ cộng đồng và nhiều chương trình khác;

- Hoàn thiện môi trường học tập đem lại niềm vui và không có âu lo;

- Tăng cường sự tin tưởng của các bậc phụ huynh và cộng đồng đối với nhà trường;

- Đào tạo giáo viên thành các nhà chuyên nghiệp thực thụ về giáo dục;

- Thúc đẩy thành lập các trường đại học đạt chuẩn quốc tế;

- Hình thành triết lý giáo dục phù hợp với thế kỷ mới và hoàn thiện việc cung ứng giáo dục;

- Để tổ chức thực hiện kế hoạch cầu vồng, Bộ Giáo dục Nhật Bản đã triển khai nhiều giải pháp, mở đầu bằng cuộc “vận động quốc gia và cải cách giáo dục” trong đó Bộ trưởng Giáo dục cùng các quan chức giáo dục đi khắp cả nước để giao lưu và đối thoại trực tiếp với dân chúng.

đ) Triển khai vững chắc

Khẩu hiệu trong cải cách giáo dục Nhật Bản hiện nay là “đầu tư cho giáo dục là chiến lược quốc gia”. Nhà nước tăng cường đầu tư cho giáo dục, coi đó là điều kiện cần để cải cách thành công. Tuy nhiên, để bảo đảm sử dụng có hiệu quả tiền đóng thuế của người dân, yêu cầu đặt ra là phải cung cấp thông tin kịp thời và minh bạch về các khoản chi cho cải cách và kết quả đạt được.

Một trong những hoạt động đầu tiên mà người dân Nhật Bản quan tâm là việc triển khai chế độ tuần học 5 ngày toàn diện. Mục tiêu của chế độ học tập này là giảm áp lực học tập cho học sinh, dành cho các em nhiều thời gian hơn ở nhà và cộng đồng, tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động xã hội và thiên nhiên, qua đó các em sẽ nuôi dưỡng niềm vui sống, khả năng tự học, tự suy nghĩ, nhân cách phong phú, sức khỏe dồi dào.

Ngành giáo dục Nhật Bản triển khai chế độ học tập này một cách thận trọng từ năm 1992. Thoạt đầu chỉ là có thêm một ngày nghỉ học vào thứ bảy trong tuần thứ hai của mỗi tháng. Trong hai năm liên tiếp, nhà trường, gia đình và cộng đồng phối hợp chặt chẽ để đánh giá mặt được và chưa được của chế độ học tập đó theo mục tiêu đề ra. Trên cơ sở kết quả tích cực đạt được, từ năm 1995, thực hiện chế độ có hai ngày nghỉ học vào các ngày thứ bảy trong tuần thứ hai và thứ tư của tháng và phải đến năm 2002, mới triển khai đại trà trong toàn quốc chế độ tuần học 5 ngày toàn diện.

Sở dĩ phải làm như vậy vì việc thay đổi chế độ học tập này đòi hỏi phải có sự thiết kế lại chương trình giáo dục nhằm đáp ứng mục tiêu đề ra, đồng thời chú trọng đến từng cá nhân học sinh. Chương trình cũng phải tính đến những hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, trong đó điều quan trọng là làm thế nào lôi kéo được sự tham gia của mọi người, xây dựng cho họ năng lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Đến nay, những kết quả tích cực đạt được về đạo đức, phẩm cách và năng lực của học sinh qua chế độ tuần học 5 ngày được khẳng định và đem lại niềm tin cho xã hội trong việc khắc phục tình trạng phân rã giáo dục.

Một hoạt động khác được đánh giá cao là việc xây dựng mới Luật cơ bản về giáo dục. Hơn nửa thế kỷ qua, giáo dục Nhật Bản hoạt động trong khuôn khổ của Luật cơ bản về giáo dục ban hành từ năm 1947. Cuộc cải cách giáo dục ngày nay đòi hỏi phải xây dựng mới luật này với các mục tiêu cơ bản là: phát triển ở người học các năng lực cá nhân, tinh thần độc lập, trái tim nhân hậu và đời sống khỏe mạnh để trở thành người dẫn đầu sáng tạo trong thế kỷ tri thức, nuôi dưỡng ý thức công dân để người học đóng góp tích cực vào việc hình thành nhà nước và xã hội của thế kỷ XXI; người học biết giữ vững truyền thống và văn hóa Nhật Bản để sống trong thế giới toàn cầu hóa.

Dự thảo luật đã được xây dựng từ năm 2001, được đóng góp ý kiến rộng rãi và đã được trình thông qua vào tháng 12-2006 với nhiều quy định mới về: xây dựng giáo dục nhà trường tin cậy đẩy mạnh học tập suốt đời; thúc đẩy cải cách đại học, khôi phục năng lực giáo dục tại nhà, trách nhiệm công dân; sự tôn trọng truyền thống văn hóa, tình yêu đối với gia đình, đất nước và tinh thần quốc tế.

e) Kế hoạch cơ bản để đẩy mạnh giáo dục

Thực thi Luật cơ bản về giáo dục (sửa đổi), năm 2008 Chính phủ Nhật Bản ban hành Kế hoạch cơ bản lần thứ nhất về đẩy mạnh giáo dục. Kế hoạch này xác định tầm nhìn trong 10 năm tiếp theo là: Một là, tạo dựng nền móng về tinh thần độc lập cho mọi trẻ em khi kết thúc giáo dục cưỡng bức; Hai là, phát triển nguồn nhân lực đủ năng lực thúc đẩy và phát triển xã hội Nhật Bản, đồng thời dẫn dắt cộng đồng quốc tế. Bốn định hướng chính cách được đưa ra: Một là, huy động toàn xã hội cải thiện giáo dục; Hai là, xây dựng nền tảng để từng người sống với tư cách cá nhân, đồng thời là thành viên của một xã hội biết tôn trọng và phát triển năng lực cá nhân; Ba là, bồi dưỡng những con người trí tuệ có giáo dục và chuyên sâu để hỗ trợ sự phát triển xã hội; Bốn là, bảo đảm an toàn và an sinh cho trẻ em, duy trì một môi trường chất lượng cao cho giáo dục.

Đánh giá việc thực hiện Kế hoạch lần thứ nhất, Chính phủ Nhật Bản cho rằng, giáo dục vẫn còn xa với tầm nhìn đặt ra. Đó là vì ba lý do chính sau đây trong tổ chức thực hiện của ngành giáo dục: 1) Thiếu viễn kiến trong đánh giá các điểm mạnh của cá nhân; 2) Thiếu gắn kết giữa các giai đoạn học tập, cũng như giữa nhà trường và xã hội; 3) Thiếu hiệu quả trong việc thực hiện chu trình PDCA (Plan-Do-Check-Act, tạm dịch là Hoạch định - Thực thi - Kiểm tra - Hành động, một chu trình chuẩn gồm bốn bước trong quản lý sự thay đổi để bảo đảm có bước tiến không ngừng trong tổ chức thực hiện). Vì thế, cùng với những bài học từ thảm họa động đất, sóng thần năm 2011, Kế hoạch lần thứ hai cho giai đoạn 5 năm 2013 - 2017 cụ thể hóa tầm nhìn trong định hướng xây dựng một xã hội học tập suốt đời với ba đặc trưng cơ bản: 1) Tính độc lập của cá nhân; 2) Tinh thần hợp tác giữa người với người; 3) Việc sáng tạo các giá trị mới dựa trên tính độc lập và tinh thần hợp tác.

Bốn định hướng chính sách mới được đưa ra: 1) Bảo đảm rằng các kết quả học tập đầu ra đem lại cho người học những năng lực xã hội để sinh tồn trong những bối cảnh biến động; 3) Phát triển nguồn nhân lực để tạo ra bước tiến nhanh hướng đến tương lai; 3) Xây dựng những mạng lưới học tập an toàn đường đến tính độc lập và tinh thần tham dự trong xã hội;4) Thiết lập các mối liên kết và cộng đồng sôi động để tạo nên một vòng phát triển, trong đó xã hội nuôi dưỡng con người và con người thúc đẩy xã hội.

Ngoài ra, với tinh thần áp dụng hiệu quả mô hình PDCA, bốn định hướng chính sách trên được cụ thể hóa thành tâm mục tiêu cụ thể, cùng với những chỉ tiêu và giải pháp thực hiện. Trên hết là một yêu cầu về nhận thức đối với toàn xã hội là nước Nhật Bản đang trong tình trạng khủng hoảng, với một ngành công nghiệp đang rỗng ruột, một dân số già hóa với lực lượng lao động giảm, cùng nhiều vấn đề nghiêm trọng khác trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh chóng và phức tạp. Nhật Bản cho rằng, chẳng có giải pháp nào là trọn vẹn, vấn đề là ở chỗ mỗi người cùng hiểu rõ tình thế để thấy rằng không làm gì cả là điều nguy hiểm nhất, rằng cải cách giáo dục không phải là công việc của một ngày, nó cần sự hỗ trợ của toàn xã hội để giáo dục hoàn thành được chiến lược nguồn lực con người với các mục tiêu cơ bản là: đào tạo những người Nhật Bản khỏe mạnh, suy nghĩ và hành động tự tin, nuôi dưỡng các tài năng dẫn đầu thế kỷ tri thức, phát huy người Nhật Bản trong việc giữ gìn và phát triển một xã hội văn hóa phong phú về tinh thần; khuyến khích người Nhật Bản được giáo dục trong đời sống quốc tế. Việc triển khai chiến lược đang được sự quan tâm của toàn xã hội, với tầm nhìn là đưa Nhật Bản trở thành “một quốc gia giáo dục và văn hóa”, “một quốc gia dựa trên sáng tạo khoa học và công nghệ”.

Đã xem 224 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành