Thứ sáu, 16 Tháng 3 2018 08:23

Sự hình thành và phát triển về trách nhiệm giải trình trong phòng chống tham nhũng ở indonexia

Indonexia được xếp là nước có tệ nạn tham nhũng nghiêm trọng nhất trên trường quốc tế và hoạt động kiểm soát tham nhũng của Chính phủ Indonexia ngày càng tồi tệ, trong khi người dân Indonexia coi tham nhũng là một tệ nạn cần phải đấu tranh và tố giác đối với tất cả những vụ việc được phát giác. Những vấn đề này ảnh hưởng tới nền dân chủ ở Indonexia, nhưng do hậu quả nặng nề từ tham nhũng đã để lại cho nền kinh tế – xã hội và làm mất niềm tin của người dân vào Chính phủ Indonexia.

Vấn đề đặt ra là tại sao Trật tự mớiIndonexia lại có thể đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và giảm đói nghèo đáng kể hơn ba thập kỷ mặc dù vẫn ở trong tình trạng tham nhũng hoành hành. Chế độ Trật tự mới ở Indonexia đã hạn chế được phạm vi và tính không lường trước được của tham nhũng sao cho tham nhũng không cản trở đầu tư và hủy hoại những “con ngỗng đẻ trứng vàng” nhưng sự tham lam đã làm cho cơ chế được xây dựng một cách cẩn trọng mất ổn định kéo Chính phủ Indonexia vào tình trạng nợ công chồng chất, môi trường bị phá hoại và hậu quả nặng nền nhất là chế độ yếu kém và tham nhũng. Khi Tổng thống Suhacto đã bị phế truất nhưng những thế lực được Tổng thống ủng hộ vẫn tiếp tục phát triển và lợi dụng những cơ hội mới để tái lập quyền lực trong môi trường đầy biến động diễn ra đồng thời với quá trình chuyển đổi nền kinh tế và chính trị ở Indonexia. Ngày nay, tình trạng tham nhũng đã được hạn chế nhiều, nhưng vẫn rất nghiêm trọng.

Vậy đã có những thay đổi gì? những quy tắc chính thức đang dần được thiết lập một cách toàn diện nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình. Bầu cử tự do và dân chủ, kiềm chế và đối trọng chính thức, hạn chế ảnh hưởng chính thức của quân đội, một lực lượng truyền thông mạnh mẽ và xã hội dân sự, tất cả đang làm cho người dân trở nên gần hơn với những người đại diện của họ. Những đạo luật mới và một nghị viện cảnh giác hơn đang bắt đầu tăng cường quyền lực cho các chính trị gia có mong muốn kiểm soát tham nhũng trong những cơ quan của Chính phủ và những thể chế mới đã tiếp thêm sức mạnh cho cuộc chiến chống tham nhũng của Chính phủ. Bên cạnh đó, những cơ quan thực thi Pháp luật đang hoạt động được đặt dưới sự kiểm soát chặc chẽ của công chúng. Tất cả những thay đổi đó là kết quả của những nỗ lực của các nhà cải cách nhằm chuyển đổi Indonexia từ một xã hội dựa trên những quy định ngầm và các mối quan hệ sang một xã hội dựa trên những quy định chính thức, đây là nhiệm vụ khó khăn. Những nỗ lực chống tham nhũng kể từ thời Suhacto phần lớn chỉ là những lời hứa và sáng kiến bị phá hỏng bởi hoạt động thực thi nghèo nàn và kém hiệu quả. Quyết tâm chính trị đang mất đi, phản ánh uy tín hạn chế của các đảng chính trị khi tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng. Hệ thống chính trị bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tư tưởng vị đảng của Indonexia đồng nghĩa với việc trách nhiệm giải trình là nghĩa vụ đối với các vị lãnh đạo đản hơn là với các cử tri. Chi phí cao cho các chiến dịch tranh cử hiện nay là nguyên nhân thúc đẩy tham nhũng. Đây không phải là môi trường thuận lợi cho một chiến lược chống tham nhũng toàn diện, cơ bản và rộng khắp đạt hiệu quả, nhưng là môi trường có thể phát huy hiệu quả cac giải pháp cục bộ mà chính quyền các cấp hoặc các ngành đưa ra và những nhà cải cách có thể thúc đẩy đi theo đường vòng này. Điều đó xử ra, chính quyền trung ương sẽ phải góp phần tạo ra một môi trường khuyến khích những cải cách theo chiều hướng đó.

Người dân Indonexia nhìn nhận về tham nhũng không quá khắc khe vì họ không phủ nhận tham nhũng ở nước mình. Tuy nhiên, theo đánh giá của ngân hàng thế giới thì Indonexia đã có tiến bộ trong việc thực thi quyền lực và trách nhiệm giải trình, nhưng các chỉ số về hiệu quả quản trị, chất lượng các quy định pháp luật và sự kiểm soát tham nhũng lại có chiều hướng xấu hơn. Sự tiến bộ phản ánh thành công của một Chính phủ được bầu cử dân chủ và lực lượng truyền thông mạnh mẽ cùng với sự vận động của xã hội dân chủ. Chiều hướng xấu hơn thể hiện sự thay đổi không đáng kể đối với chế độ lãnh đạo tập quyền và chính quyền tập trung, đồng thời phản ánh những yếu kém trong năng lực quản lý của nhà nước.

Tất cả những phương pháp này chủ yếu dựa trên nhận thức của những thương nhân, những chuyên gia phân tích rủi ro và những hộ gia đình đã được khảo sát tại một số quốc gia khác nhau và dựa trên những quan điểm chủ quan. nhận thức về tham nhũng tại Indonexia có thể đã bị ảnh hưởng từ chính những thay đổi của đất nước. tham nhũng được phơi bày nhiều hơn từ sau sự sụp đổ của chế độ Trật tự mới, đặc biệt là sự xuất hiện của lực lượng truyền thông mạnh mẽ chĩa mũi nhọn vào tham nhũng, điều này có thể đã hướng người dân tới kết luận là thực trạng đất nước tồi tệ hơn thực tế đang diễn ra. Vì vậy, mức độ tham nhũng của Indonexia có thể không khác mấy so với một số nước đang phát triển khác.

Cuộc khảo sát quốc gia về tham nhũng ở Indonexia trong chương trình đối tác cải cách quản trị đã cung cấp nguồn thông tin dồi dào về nhận thức của người dân, công chức và thương gia ddaxx đưa ra kết quả là 75% số người được hỏi trả lời rằng tham nhũng là chuyện bình thường trong khu vực công. Ngoài ra, 65% người dân trả lời rằng họ có kinh nghiệm về tham nhũng và 70% trong số tất cả những người được hỏi nhận thức tham nhũng như là một căn bệnh và tất cả người dân nên chống tham nhũng, tố cáo tất cả các vụ việc mà họ biết. Dưới 5% đồng ý tham nhũng là một sự kiện tự nhiên và là một phần trong đời sống thường nhận nên tố giác tham nhũng là điều không cần thiết.

Có thể thấy rằng, người dân Indonexia rất ít niềm tin vào cơ quan nhà nước. Những cơ quan được coi là tham nhũng nhất như các cơ quan tư pháp chủ yếu là cảnh sát, tòa án, công bố và Bộ Tư pháp, những cơ quan quan trọng trong lĩnh vực thu thuế và quản lý, Bộ công trình công cộng và ngân hàng trung ương. Ngược lại, các thiết chế phi nhà nước gồm các tổ chức tôn giáo, giới truyền thông mới các tổ chức phi Chính phủ được xếp vào những thể chế ít tham nhũng nhất.

Thứ hai, những cơ quan bị xếp loại tham nhũng nhất thì đồng thời hiệu quả hoạt động cũng thấp nhất. Người dân thường tìm đến các thiết chế phi nhà nước đáng tin cậy hơn, coi đó như một nguồn thay thế để cung cấp một số dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tư pháp và giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, từ những phân tích trên có thể thấy nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan của tham nhũng tại Indonexia. Mặc dù những nhận định đó chỉ rõ niềm tin mạnh mẽ rằng tham nhũng có thể bị quy là hậu quả của tình trạng lương thấp trong hoạt động công vụ, thiếu đạo đức cá nhân, thiếu sự kiểm soát và trách nhiệm giải trình, nhưng một phân tích dữ liệu thận trong hơn đã đưa đén một kết luận phức tạp hơn. Các nhà nghiên cứu đã xây dựng một chỉ số tham nhũng từ các biến số nhất định nhằm đạt được một phạm vi nhận thức về mức độ của tham nhũng từ cao xuống thấp. Sử dụng phép phân tích hồi quy, họ tìm ra bốn nhân tố có liên quan chặt chẽ tới nhận thức tham nhũng ở mức thấp là quản lý chất lượng cao, đây là sự hiện diện của những quy tắc chính thức, sự thực hiện hiểu quả những quy định đó và hạn chế sự tùy tiện; những giá trị chống tham nhũng mạnh mẽ về mặt tổ chức; quản lý công chức chất lượng cao và quản lý mua sắm công chất lượng cao. Lương công chức và đạo đức của họ không ảnh hưởng nhiều tới nhận thức thấp về tham nhũng, cá yếu tố khác như độ tuổi, giới tính và trình độ của công chức cũng ít ảnh hưởng đến nhận thức của họ về mức độ tham nhũng. Từ những nhận định của chuyên gia cho thấy chất lượng quản lý trong khu vực công là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc chiến chống tham nhũng mà không gì có thể thay thế được.

Xét về hậu quả kinh tế xã hộinặng nền của tham nhũng để lại hậu quả kinh tế xã hội nặng nền đối với Indonexia. Mặc dù tham nhũng gây hậu quả lên toàn bộ xã hội nhưng gây ra hậy quả nặng nền nhất đối với người nghèo. Tham nhũng gây hậu quả trên nhiều phương diện và được biểu hiện chủ yếu là những hành vi không có ích và nó hạn chế động lực tại ra những hành vi có ích. Hậu quả kinh tế của tham nhũng gồm những thiệt hại về mặt hiệu quả kinh tế phát sinh từ việc lãng phí hoặc phân phối không hợp các nguồn lực, thủ tiêu cạnh tranh và chi phí giao dịch cao. Chi phí cơ hội ở Indonexia là một minh chứng. Khoảng 35% doanh nghiệp Indonexia được hỏi cho biết họ đang từ bỏ đầu tư trong nước vì chi phí cao do tham nhũng. Trong chương trình đối tác cải cách quản trị ở Indonexia 2001 đã cố gắng định lượng một vài hậu quả kinh tế của tham nhũng trong cuộc khảo sát. Kết quả cho thấy hơn một phần tư công chức nước ngày có sai phạm về ngân sách trong năm 2000- 2001 vì gian lận, sử dụng quỹ sai mục đích hoặc những hình thức lạm dụng địa vị khác. Đồng thời, các cơ quan nhà nước phải trả tiền để được phân bổ ngân sách. Việc sử dụng quỹ sau mục đích dẫn đến những thất thoát công quỹ và làm giảm mức độ dịch vụ công mà các cán bộ có thể cung cấp.

Người dân và doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả kinh tế bởi những khoản chi phí không chính thức, người dân nước này cho biết họ đang phải mất đi khoảng 1% thu nhập hàng tháng cho những khoản chi phí như vậy và các doanh nghiệp phải chi khoảng 5% tổng thu nhập doanh nghiệp hàng tháng của họ, nhưng ảnh hưởng của tham nhũng lên những chi phí kinh doanh là không giống nhau: khoản chi không chính thức mà các nhà kinh doanh quy mô nhỏ phải bỏ ra thường chiếm một phần lớn hơn trên thu nhập của họ so với các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn.

Tham nhũng gây ra hậu quả đối với xã hội, thông qua sự phát triển nhanh chóng của những mạng lưới bất quy tắc và không minh bạch, những quy tắc ngầm này làm suy yếu các quy định của luật pháp và quyền lực của chính quyền, giảm trách nhiệm giải trình là hiệu lực của cơ quan công quyền trong việc thực thi quyền lực công vụ. Thực tiễn đã chứng minh khi quân đội, cảnh sát, cơ quan hải quản trong các vụ buôn lậu, tống tiền và những hình thức tội phạm có tổ chức khác đã được kết hợp với sự gia tăng của tình trạng không tuân thủ pháp luật của rất nhiều cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ công dân. Vì vậy, có lẽ tác hại lớn nhất của tham nhũng là sự mất niềm tin của người dân vào chính quyền và hậu quả trực tiếp nhất là người nghèo bị ảnh hưởng bởi họ không biết giá trị thực của hàng hóa và dịch vụ mà họ sử dụng bởi … các mức thuế của các hàng hóa dịch vụ sẽ bị áp đặt mà các cơ quan có trách nhiệm kiểm soát sẽ khó thực hiện được nhiệm vụ. Những người nghèo thường rơi vào tình trạng bị động bởi họ bị phụ thuộc vào hàng hóa công nên khi nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi tham nhũng các hoạt động cung cấp hàng hóa công bị ảnh hưởng và làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế, đẩy người nghèo vào dòng xoáy của cuộc khủng hoảng kinh tế.

Có 4 dạng tác hại chính của tham nhũng:

Thứ nhất, hậu quả về tài chính vì tham nhũng bòn rút ngân sách vốn rất eo hẹp

Thứ hai, hậu quả về tài chính vì tham nhũng làm xói mòn những nguyên tắc pháp luật và củng cố “văn hóa tham nhũng”

Thứ ba, làm mất nền tảng xã hội, vì tham nhũng hủy hoại niềm tin gây tổn hại những mối quan hệ và làm mục rỗng những mối liên kết cộng đồng

Thứ tư, ăn mòn nguồn lực con người, vì tham nhũng làm giảm cơ hội sử dụng những dịch vụ xã hội và hơn nữa là hạn chế tác dụng của những dịch vụ này.

Ở Indonexia tham nhũng có nguồn gốc từ thời kỳ thuộc địa, nhưng cũng là một phần di chứng từ thế kỷ của thời kỳ hậu thuộc địa, trong ba thập kỷ của Tổng thống Suhacto (1966-1998) thì tham nhũng là một hậu quả có thể lường trước được của một Nhà nước the chủ nghĩa can thiệp cao độ. Hệ thống chủ Chính phủ đã “được thiết lập có chủ định nhằm kiếm chác những khoản phí theo ý muốn của Suhacto vì lợi ích của phe cánh của ông ta”.

Mối quan hệ giữa Nhà nước và những kẻ tham nhũng là mối quan hệ cộng sinh, nó không có nghĩa là những tập đoàn có liên quan tới Suhacto trực tiếp làm lũng đoạn Nhà nước. Thay vào đó, những tập đoàn này là một phần của một hệ thống cấp phép phức tạp. Suhacto với vai trò là người đứng đầu hệ thống cấp phép, đã bóp méo vai trò xây dựng chính sách của một quốc gia để biến các chính sách thành một thứ hàng hóa có thể bán và trao đặc quyền về độ quyền cho những người thân tín của ông ta và sự bảo hộ trước hàng hóa nhập khẩu; trao các hợp đồng của Chính phủ, quyền sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và ban phát những đặc ân về thuế. Những văn bản của Tổng thống đem đến những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho những người được cấp phép. Các doanh nghiệp phải tiếp cận những người thân tín của Tổng thống để có được những dự án lớn. Việc cấp phép chỉ có ý nghĩa trong một chừng mực nhất định. Việc dùng thuật ngữ cấp phép có vẻ chứa đựng tính tích cực và hiện đại vì dễ làm cho người ta quên đi nguồn gốc phong kiến của những mối quan hệ này.

Trong ba thập kỷ qua mặc dù tham nhũng ở mức nghiêm trọng dẫn đến khủng hoảng tài chính nhưng Indonexia vẫn thu hút đầu tư mạnh mẽ, nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng và giảm nghèo đáng kể. Những thành tích tăng trưởng kinh tế được duy trì ở Indonexia, trong khi các nước Đông Nam Á khác đang phải đối mặt với vấn đề tham nhũng trầm trọng đã làm cho nhiều học giả cho rằng quản trị kém không phải là trở ngại đối với tăng trưởng kinh tế. có thể nhận thấy rằng các hình thức tham nhũng sẽ thay đổi cùng với các chính sách theo thời gian, các khoản phí có được từ hoạt động kiểm soát việc thực hiện các quy định được thay thế bằng các khoản bớt xén được từ mua sắm công, sau đó được thay thế bằng những khoản thuế trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng. Đến đầu những năm 1990 nhân tố phổ biến là sự tự hạn chế những lợi ích của sự duy trì quyền lực và kiểm soát dẫn đến mức thuế tăng lên nhưng tổng thu nhập từ thuế lại giảm. Tổng thống Suhacto đã trừng phạt nghiêm khắc những người có hành vi lạm dụng đặc quyền cấp phép, sa thải Bộ trưởng có hành vi tham nhũng quá mức và tư nhận hóa tạm thời dịch vụ hải quan. Điều này mang lại niềm tin và một kết quả có thể dự toán đối với tham nhũng trong hệ thống Indonexia và cũng có thể là lý do để quyết định đầu tư.

Từ năm 1970, Tổng thống Suhacto đã mở một tài khoản vốn với mục đích làm giảm những rủi ro, hạn chế những hành vi không thể dự báo của những nhà xây dựng chính sách trong nước vốn có thể châm ngòi cho các đồng vốn ra đi và đây cũng là cơ hội đảo ngược các quyết định chính sách để làm yên làm các nhà đầu tư khi cần thiết.

Các nhà phân tích cho rằng, năng lực được sử dụng để kiểm soát tham nhũng còn được sử dụng để dập tắt bất kỳ một sự chống đối nghiêm trọng nào đối với những thế lc thống trị. Điều này để lại hậu quả nặng nề đối với sự phát triển lâu dài của Indonexia. Những hậu quả này đã bộc lộ sức tấn công của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 khi Indonexia nhận thấy sự tích tụ nhanh chóng của các khoản nợ công và sự sụt giảm quá mức giá trị tài sản của ngân hàng. Ngoài ra, còn có những hậu quả khác đi liền với ự suy yếu có hệ thống của những nguồn tài nguyên rừng của Indonexia, đó là sự phá hủy về môi trường trong một thời gian dài.

Tóm lại, nền dân chủ non trẻ của Indonexia đã kế thừa một nền hành chính yếu kém và tham nhũng, những cơ quan điều tiết năng lực nghèo nàn và tham nhũng ẩn trong hệ thống pháp luật, nền kinh tế và cấu trúc chính trị quốc gia. Sự cấu kết giữa các doanh nghiệp với Chính phủ đã dẫn đến hậu quả là một nền kinh tế méo mó, kém phát triển và chỉ bảo vệ lợi cho tài chính của những nhóm quyền lực chính trị ngay cả khi những lợi ích xung đột với quyền lợi cộng đồng. Các thế lực kinh doanh hùng hậu của Indonexia đã trưởng thành và thành công trong một môi trường chủ yếu dựa trên những mạng lưới và mối quan hệ hơn là dựa trên nền tảng pháp luật.

Đã xem 48 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành