Thứ năm, 22 Tháng 3 2018 08:34

Cải cách giáo dục ở Thái lan: mục tiêu giáo dục nghề nghiệp và xã hội học tập

Cải cách giáo dục không mệt mỏi

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, kinh tế Thái Lan có bước tăng trưởng theo hướng quốc tế hóa. Yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế cùng định hướng phát huy ảnh hưởng trong khu vực đặt giáo dục Thái Lan trước nhiệm vụ cải cách. Mục tiêu của cuộc cải cách này là chuẩn bị những công dân tương lai đủ năng lực đáp ứng các thách thức của toàn cầu hóa và quốc tế hóa. Các nội dung và giải pháp chủ yếu được trình bày trong báo cáo “Giáo dục Thái Lan trong kỷ nguyên toàn cầu hóa: tầm nhìn của một xã hội học tập”. Toàn bộ các hoạt động cải cách giáo dục từ cải cách việc học ở trường phổ thông, cải cách giáo dục đại học, đến cải cách cơ chế tài chính, cải cách hệ thống quản lý đều hướng tới việc xây dựng một xã hội học tập.

Đó là một chương trình đồ sộ đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp tổng thể, tức là nỗ lực đóng góp và hợp tác không mệt mỏi của tất cả các bên có liên quan: gia đình, nhà giáo và nhà trường, các chức sắc cộng đồng và tôn giáo địa phương, các doanh nhân, các phương tiện truyền thông, v.v.. Và trước hết là vai trò của chính phủ với tư cách là cơ quan đầu não phát động và thúc đẩy tiến trình cải cách.

Báo cáo cải cách được đưa ra năm 1996 thì năm 1997, Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ. Kinh tế sa sút nghiêm trọng và cải cách giáo dục chưa kịp triển khai. Tuy nhiên, nhìn theo một góc độ khác, chính cuộc khủng hoảng này đã buộc Thái Lan đánh giá nghiêm khắc các yếu kém của hệ thống giáo dục cùng việc chuẩn bị nguồn lực con người cho đất nước, trong đó đáng quan tâm là sự tụt hậu của giáo dục so với kinh tế và tình trạng bất cập của nguồn nhân lực tri thức. Một số nhà bình luận cho rằng, chính khủng hoảng đã tạo cơ hội cho giáo dục. Vì thế, trong chiến lược khôi phục kinh tế, cải cách giáo dục được coi là một nhu cầu bức thiết và có vai trò sống còn đối với sự phát triển lâu dài của đất nước. Từ đó đến nay, Thái Lan bước vào cuộc cải cách giáo dục mới với một tinh thần được đánh giá là không mệt mỏi.

a) Luật giáo dục quốc gia năm 1999

Trong lịch sử giáo dục Thái Lan, cuộc cải cách giáo dục hiện nay được coi là toàn diện nhất và có tầm nhất. Toàn diện nhất vì nó bao gồm phát triển giáo dục mầm non; cải cách chương trình dạy và học ở giáo dục Cơ sở; phát triển giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; cải cách giáo dục nghề; cải cách giáo dục không chính quy và phi chính quy; cải cách giáo dục đại học. Có tầm nhất vì nó hướng tới xây dựng thế hệ mới với phẩm chất, năng lực và tính cạnh tranh ở chuẩn quốc tế, nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm trong việc đưa đất nước trở thành nền kinh tế dựa trên tri thức.

Cơ sở pháp lý của cuộc cải cách này là Luật giáo dục quốc gia năm 1999. Văn bản này thể chế hóa sự đổi mới tư duy giáo dục của Thái Lan theo hướng đoạn tuyệt với các chuẩn giáo dục truyền thống dựa trên kiểu truyền thụ một chiều và cách học vẹt. Giáo dục phải có nhiệm vụ kiến thiết quốc gia, tăng sức mạnh cá nhân và tạo thêm công ăn việc làm. Muốn vậy, mục tiêu cơ bản của giáo dục là bảo đảm sự phát triển đầy đủ của người dân trên mọi phương diện: sức khỏe vật chất và tinh thần, trí tuệ, kiến thức, đạo đức tính trung thực và lối sống phù hợp với xã hội, hài hòa với mọi người. Việc cung ứng giáo dục phải dựa trên các nguyên tắc: giáo dục suốt đời cho mọi người, toàn xã hội tham gia vào cung ứng giáo dục; không ngừng phát triển các quy trình học tập cùng những khối tri thức. Giáo dục bắt buộc 9 năm trước đây được mở rộng thành giáo dục phổ cập 12 năm, có chất lượng và miễn phí. Các cơ sở giáo dục được phép cung ứng một hoặc cả ba loại hình giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy trên cơ sở bảo đảm sự liên thông giữa các loại hình này và chịu sự kiểm định về chất lượng giáo dục 5 năm một lần. Công tác quản lý phải được phân cấp mạnh mẽ theo nguyên tắc thống nhất về chính sách và đa dạng trong việc tổ chức thực hiện. Vì vậy, nhà trường và nhà giáo có quyền chủ động nhiều hơn trong việc cụ thể hóa chương trình giáo dục, huy động và sử dụng nguồn lực, miễn là đúng mục đích, minh bạch và tuân thủ trách nhiệm giải trình.

b) Cải cách học tập

Tâm điểm trong cải cách giáo dục ở Thái Lan là cải cách việc học với quan điểm lấy người học là trung tâm. Nghĩa là bất kỳ người học nào cũng có khả năng học và thành công trong học tập. Vì vậy, quá trình dạy học phải giúp người học phát triển theo tiến độ riêng, phù hợp với tiềm năng của họ, người học phải được tham gia vào quá trình tự phát triển để đạt được kết quả mong muốn, để nâng cao lòng tự tin và tìm thấy niềm vui học tập. Về phía nhà giáo, họ cũng phải tự phát triển, đi đầu trong việc học tập suốt đời, không ngừng hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, đạo đức và chuẩn nghề nghiệp để theo kịp bước tiến của xã hội. Hiệu trưởng nhà trường, các cán bộ quản lý giáo dục, các cán bộ giảng dạy trường sư phạm cũng phải có sự phát triển tương ứng trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Và cuối cùng để có cơ sở đánh giá khách quan kết quả của cải cách học tập, cần xây dựng các chuẩn học vấn trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục và sự đóng góp ý kiến rộng rãi của các bên có liên quan.

Như vậy, cải cách học tập phải là cải cách toàn trường (whole - school reform) theo phương thức quản lý lấy nhà trường làm cơ sở (school - based management). Các trường tham gia thí điểm được khuyến khích lựa chọn, quyết định, thay thế, điều chỉnh và chịu trách nhiệm về các giải pháp thực hiện trên cơ sở tuân theo các chỉ dẫn quốc gia. Việc đánh giá được thực hiện bằng sự phối hợp giữa bảo đảm chất lượng từ bên trong với kiểm định chất lượng từ bên ngoài.

Từ kết quả triển khai thí điểm, các chuyên gia giáo dục Thái Lan khẳng định tính khả thi của chương trình cải cách học tập toàn trường, đồng thời đưa ra nhiều khuyến nghị cho việc triển khai đại trà. Đáng quan tâm là khuyến nghị về cách tiếp cận toàn thể: ở cấp hệ thống là tính toàn thể trong chính sách, kế hoạch và tổ chức thực hiện; ở cấp trường là tính toàn thể đối với nhà trường, nhà giáo, người học. Mọi nỗ lực cải cách đều bắt đầu từ nhà trường; vì vậy nhà trường phải có quyền tự do và linh hoạt trong cải cách học tập thông qua tự quản, tự đề xuất cách thức và mô hình thực hiện một cách sáng tạo, phù hợp với khả năng và bối cảnh cụ thể. Cơ quan quản lý giáo dục các cấp cần từ bỏ thói quen cầm tay chỉ việc đối với nhà trường.

c) Cải cách giáo dục nghề

Cũng như tình trạng chung ở nhiều nước đang phát triển, giáo dục nghề ở Thái Lan hướng tới cung hơn là hướng tới cầu và còn rất nhiều khiếm khuyết, nổi bật là tình trạng yếu kém về chất lượng. Đội ngũ giáo viên nhìn chung không có kinh nghiệm của thực tế công nghiệp, thiếu động lực trong giảng dạy. Nhà trường cũng thiếu gắn bó với nhà máy. Công tác nghiên cứu triển khai trong giáo dục nghề không được quan tâm. Và trên ret là sự không nhất quán trong chính sách giáo dục nghề, với 9 bộ cùng có trách nhiệm về phát triển nguồn nhân lực nhưngkhông có một chương trình tổng thể nào. Điều này được giải thích một phần là do tình trạng thường xuyên thay đổi chính phủ ở Thái Lan.

Trước yêu cầu nâng cao năng suất của nguồn nhân lực để chuyển từ lao động giá rẻ sang lao động với giá trị gia tăng cao, Luật giáo dục quốc gia năm 1999 quy định giáo dục nghề là lĩnh vực ưu tiên. Các tổ chức tư nhân được khuyến khích tham gia quá trình xây dựng chính sách, quy định chuẩn, bảo đảm chất lượng và đào tạo nghề. Nhận thức xã hội về giáo dục nghề được định hướng lại để thấy rõ giá trị của việc làm, từ bỏ thói quen quá coi trọng văn bằng.

Để chuẩn bị cho cải cách giáo dục nghề, Luật giáo dục nghề Thái Lan đã được xây dựng và ban hành năm 2008. Yêu cầu Cơ bản về tầm nhìn là tạo chuyển biến cơ bản về giáo dục nghề trên cơ sở bảo đảm: chất lượng, chuẩn và hiệu quả; bình đẳng về cơ hội, học suốt đời, đa dạng và kết nối, hiện đại và quốc tế; đào tạo theo năng lực, chú trọng kỹ năng thành thục, đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Muốn vậy, giáo dục nghề sẽ phát triển theo định hướng: cung cấp cơ hội cho bất kỳ ai có nhu cầu được đào tạo nghề, học sinh phải được làm quen với giáo dục nghề ngay từ giáo dục cơ sở giáo dục nghề phải liên thông với các trình độ đào tạo cao hơn; người lao động được quyền quay trở lại nhà trường để nâng cao trình độ khi có nhu cầu.

d) Cải cách giáo dục đại học

Ở cấp hệ thống, cải cách giáo dục đại học Thái Lan có mục tiêu là đưa giáo dục đại học thành một cơ chế hiệu quả trong việc tăng sức mạnh đất nước để trở thành một xã hội dựa trên tri thức. Ở cấp trường, mục tiêu là tạo điều kiện để các trường đại học trở thành nguồn cung cấp sinh viên tốt nghiệp có chất lượng và là nguồn lực khoa học trong việc nâng cao tri thức của cộng đồng, tăng cường kinh tế cơ sở của cộng đồng, đem lại cho cộng đồng sức mạnh tự lập và khả năng phát triển chất lượng cuộc sống.

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định có liên quan của Luật giáo dục quốc gia năm 1999, cải cách giáo dục đại học ở Thái Lan được triển khai theo sau chiến lược cơ bản như sau:

Chiến lược thứ nhất là cải cách cơ cấu và hệ thống quản lý hành chính của giáo dục đại học. Mục đích là đem lại sự mềm dẻo và quyền tự do học thuật trong quản lý và hoạt động của các trường đại học, sao cho các trường thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao, phù hợp với chính sách và định hướng phát triển quốc gia, phù hợp với sự tiến bộ của cộng đồng và kinh tế CƠ sở, dưới sự giám sát của nhà nước về chính sách, kế hoạch, chất lượng và tiêu chuẩn mong muốn.

Chiến lược thứ hai là cải cách tài chính giáo dục đại học. Mục đích là sử dụng việc phân bổ ngân sách như một cơ chế giám sát các trường đại học sao cho các trường hoạt động có hiệu quả và đạt được các tiêu chuẩn quy định. Hệ thống phân bổ ngân sách sẽ được điều chỉnh từ cấp tài chính theo đầu vào sang cấp tài chính theo đầu ra, dựa trên kết quả thực hiện. Các trường có trách nhiệm ký hợp đồng thực hiện phù hợp với điều kiện và tiêu chí đề ra, có sự giám sát của nhà nước qua hậu kiểm.

Chiến lược thứ ba là đẩy mạnh cung cấp nhân lực và mở rộng quy mô giáo dục đại học. Mục đích là nâng cao nguồn nhân lực, trước hết trong các lĩnh vực còn thiếu, nhất là lĩnh vực khoa học và công nghệ; đồng thời tạo bình đẳng cho mọi người trong tiếp cận giáo dục đại học, đặc biệt là những đối tượng thiệt thòi; cũng như cung cấp cơ hội để mọi người được học tập suốt đời.

Chiến lược thứ tư là cải cách dạy, học và nghiên cứu khoa học. Mục đích là làm cho giáo dục đại học trở thành một cơ chế đào tạo nhân lực đạt chuẩn và chất lượng quốc tế, có năng lực sáng tạo tri thức để tăng cường khả năng của đất nước trong cạnh tranh quốc tế và phát triển sức mạnh tự lập. Cải cách về chương trình giáo dục phải được thực hiện để sinh viên có được các kỹ năng tư duy phê phán, khả năng giải quyết vấn đề, tinh thần sáng tạo và ham muốn học suốt đời, năng lực tạo nhiệm vụ mới, tự thích nghi với thế giới công việc, tự lập và đem lại các lợi ích xã hội.

Chiến lược thứ năm là cải cách hệ thống phát triển đội ngũ cán bộ và giảng viên giáo dục đại học. Mục đích là phát triển liên tục đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên hiện có, tiếp tục nâng cao giá trị đạo đức và tinh thần cùng đạo đức nghề nghiệp để họ hoàn thành chức trách và nhiệm vụ có chất lượng, gắn bó với hệ thống và thích ứng với những thay đổi khác nhau. Phát triển có chất lượng giáo dục sau đại học, đồng thời tạo cơ chế thu hút những người có chuyên môn, chính trực, năng lực và nhiệt huyết tham gia đội ngũ giảng dạy.

Chiến lược thứ sáu là sự tham gia của khu vực tư nhân vào quản lý và điều hành giáo dục đại học. Mục đích là khuyến khích, hỗ trợ, vận động giới doanh nghiệp, cộng đồng và địa phương đầu tư vào giáo dục đại học, đặc biệt trong những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội. Chính sách của nhà nước sẽ được rà soát lại, các quy định phiền hà sẽ được chỉnh sửa để bảo đảm quyền tự do trong quản lý và điều hành của khu vực tư nhân đi đôi với sự giám sát và theo dõi thực hiện để đạt chuẩn và chất lượng quy định.

đ) Đề án giáo dục quốc gia 15 năm (2002 - 2016)

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 được coi là hồi còi thức tỉnh Thái Lan. Toàn ngành giáo dục bước vào cải cách vô cách tiếp cận toàn thể: toàn hệ thống, toàn nhà trường, toàn nhàgiáo, toàn người học. Tuy nhiên, giáo dục Thái Lan vẫn đứng trước những vấn đề bức xúc nghiêm trọng: chất lượng giáo dục thấp, chính sách giáo dục không nhất quán, quản lý giáo dục yếu kém, cơ sở giáo dục cứng nhắc, sự tham gia của cộng đồng và xã hội hầu như không có gì, v.v... Nguyên nhân cốt lõi nằm ngay trong xã hội Thái Lan mà nhiều giá trị truyền thống đã bị mai một bởi làn sóng toàn cầu hóa.

Vì thế, Đề án giáo dục quốc gia 15 năm (2002 - 2016) đã đề xuất một sự thay đổi về triết lý phát triển. Nếu trước kia triết lý phát triển đặt trọng tâm vào tăng trưởng kinh tế, ít chú trọng đến tiến bộ xã hội thì bước vào thế kỷ XXI, triết lý phát triển là coi trọng mọi vốn - kinh tế, xã hội, tự nhiên và con người - cùng việc giữ gìn bản sắc văn hóa Thái Lan trong một trật tự kinh tế mới. Triết lý này được cụ thể hóa thành các quan điểm phát triển giáo dục sau đây: 1) Hướng tới nền kinh tế khá giả; 2) Lấy con người làm trung tâm; 3) Tiếp cận nhất quán và tổng thể: 4) Bảo đảm sự phát triển đầy đủ của con người; 5) Xây dựng xã hội hùng mạnh và cân bằng.

Ba mục tiêu cụ thể được đề ra là: 1) Phát triển con người cần đối và toàn diện làm cơ sở cho phát triển trong các lĩnh vực khác; 2) Xây dựng xã hội Thái Lan thành xã hội của học tập, thông tuệ và đạo đức; 3) Phát triển môi trường xã hội làm cơ sở cho phát triển con người. Việc thực hiện các mục tiêu này được dẫn dắt bởi 11 chính sách với kết quả đầu ra và hoạt động cụ thể liên quan đến người học, người dạy, nhà trường, các phương thức giáo dục, các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, công tác nghiên cứu khoa học, cơ chế tài chính, áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông, vv...

Đến nay, Đề án trên đã được thực hiện 13 năm với nhiều bước tiến quan trọng như triển khai Chương trình giáo dục phổ thông cốt lõi 2008, thực hiện từ năm 2009, giáo dục miễn phí cóchất lượng 15 năm (gồm 3 năm mẫu giáo và 12 năm phổ thông), xây dựng năm bước kỹ năng hướng đến học tập suốt đời, tiến hành cải cách nhà giáo và nhân viên giáo dục (2004 - 2013), cải tổ bộ máy quản lý, thành lập Cơ quan Đánh giá chất lượng và chuẩn giáo dục quốc gia, bước vào thập kỷ thứ hai về cải cách giáo dục (2009 - 2018) với tầm nhìn: Mọi người dân Thái Lan được tiếp cận học tập suốt đời với chất lượng cao.

Tuy vậy, do bất ổn xã hội, giáo dục Thái Lan rơi vào tình trạng tiến được một bước thì lại lùi hai bước. Hiện tại, giáo dục Thái bị coi là đang ở trạng thái khủng hoảng trong các lĩnh vực chất lượng, quản lý, đào tạo giáo viên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học mà minh chứng là kết quả thấp của học sinh Thái Lan trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế cùng tình trạng thất nghiệp của sinh viên ra trường.

Đã xem 15 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành