Chủ nhật, 15 Tháng 4 2018 07:03

Giới thiệu tổng quan về sự hoàn thiện chính sách chống tham nhũng từ 1945 đến nay

          1. Chính sách về chống tham nhũng giai đoạn 1945-1990

Cách mạng tháng Tám thành công (1945) đã mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo quy luật chung của sự hình thành Nhà nước. Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành nhiều văn bản pháp luật xây dựng bộ máy Nhà nước để điều hành hoạt động của đất nước. Đồng thời, Đảng và Chính phủ đã bổ nhiệm những người có chức vụ giữ những trọng trách nhất định trong bộ máy Nhà nước. Thực tế điều hành hoạt động của bộ máy Nhà nước đã xuất hiện những sự vi phạm pháp luật của những người có chức vụ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, nhất là những hành vì phạm tội. Vụ án Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân lương là một điển hình. Chính vì vậy, văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà liên quan đến đấu tranh chống tội phạm về chức vụ là Sắc lệnh số 223/SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 về trừng trị các tội biển thủ và hối lộ. Trong Sắc lệnh này đã chỉ rõ: tội đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ bị phạt tù từ 5 năm đến 20 năm và phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ... Công chức bao gồm nhân viên trong Chính phủ, trong các Uỷ ban hành chính các cấp các cơ quan do nhân dân bầu lên, trong quân dội và tất cả những người phụ trách một công vụ.

Khi nói đến tội phạm tham nhũng không thể không nói đến tội phạm hối lộ. Chính vì vậy, ngoài văn bản pháp luật đầu tiên nói trên, trong quá trình phát triển lịch sử của mình, Nhà nước còn quy định việc trừng trị tội phạm này trong Điều 7 Sắc luật số O3/SL-76 ngày 15 tháng 3 năm 1976 về trừng trị các tội lạm dụng chức vụ quyền hạn và tội hối lộ; Pháp lệnh ngày 20 tháng 5 năm 1981 về trừng trị tội hối lộ. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và trong phạm vi cả nước từ 1946 đến 1985, để đảm bảo nhiệm vụ của những người có chức vụ làm việc trong bộ máy Nhà nước; Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ra các văn bản pháp luật liên quan đến đấu tranh chống hành vi hối lộ nhũng nhiễu nhân dân của những người có chức có quyền.

Văn bản có liên quan trực tiếp đến việc lợi dụng chức vụ để phạm tội xâm phạm tài sản Nhà nước phải kể đến Sắc lệnh số 223/SL ngày 17 tháng 11 năm 1946 quy định truy tố tội biển thủ của công; Thông tư số 4421/1T g của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng năm 1955 hướng dẫn các Toà án trừng trị một số tội phạm liên quan đến tài sản; Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 về trừng trị âm mưu hoạt động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hoá: Chỉ thị số 639 ngày 1 tháng 6 năm 1964 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối xét xử các loại tội phạm quyền sở hữu xã hội chủ nghĩa. Hai văn bản pháp luật quan trọng là hai Pháp lệnh cùng được ký ngày 21 tháng 10 năm 1970 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân quy định rất cụ thể về hành vi chiếm đoạt tài sản Nhà nước và tài sản công dân bằng cách lợi dụng chức vụ quyền hạn của những người có chức vụ. Những văn bản pháp luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh chống tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Tầm quan trọng của nó được thể hiện ngay trong Tờ trình về hai Pháp lệnh ngày 19 tháng 10 năm 1970 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an gửi Uỷ ban thường vụ Quốc hội về hiện trạng xâm phạm tài sản và tham nhũng:

Một điều đáng chú ý là hiện nay, có nhiều trường hợp kẻ phạm pháp lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình. Cố tình làm trái các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính để xoay sở tài sản xã hội chủ nghĩa. Ví dụ, trong ngành thương nghiệp, bạn phạm tội lợi dụng tình hình cung cầu khó khăn mà móc ngoặc, cp phát trái chính sách, chế độ để qua đó kiếm lợi riêng; trong công nghiệp thì chúng móc ngoặc nhau phân phối vật tư ngoài kế hoạch, trái chế độ, có đơn vị còn dùng thành phẩm của xưởng mình đem trao đổi lấy thực phẩm, hàng hoá chia nhau; ở khu vực hợp tác xã thủ công nghiệp, khá phổ biến là những việc đút lót cán bộ có trách nhiệm về đăng ký và duyệt giá... để hợp tác xã được hoạt động bất hợp pháp. hoặc dễ dàng ăn cắp bớt xén nguyên vật liệu của Nhà nước… Tình hình trên đây đang tồn tại ở nhiều ngành, nhiều cấp, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa, làm rối loạn chế độ quản lý theo phương thức xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, đến tư tưởng và đạo đức cán bộ, nhân viên và nhân dân.

Ngoài các văn bản pháp luật chủ yếu nói trên, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau này đổi tên là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều văn bản pháp luật đấu tranh chống các tội phạm về tham nhũng như Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 quy định về tội cố ý làm sai công tác phụ trách, gây hậu quả nghiêm trọng; Sắc luật số 01/SL ngày 19 tháng 4 năm 1957 về việc cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế. Luật ngày 24 tháng 1 năm 1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân; Quyết định số 50/TTg ngày 16 tháng 2 năm 1971 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm các quỹ trái phép trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, v.v... Nói chung các văn bản pháp luật quy định về tội phạm tham nhũng và đấu tranh đối với chúng còn được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau.

          2. Chính sách về chống tham nhũng giai đoạn đổi mới (1990 đến nay)

Từ khi đất nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liệu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do nhiều lý do khác nhau mà tội phạm tham nhũng có điều kiện phát triển và gây nên những khó khăn nhất định cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung. Trước tình hình này, tháng 6 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 240/HĐBT về đấu tranh chống tham nhũng và đã tổ chức thực hiện quyết định nói trên. Từ năm 1990 đến nay, rất nhiều văn bản pháp luật của nhà nước quy định về tổ chức đấu tranh chống tham nhũng. Trong những văn bản đó phải kể đến Chỉ thị số 416/CT ngày 3 tháng 12 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra. điều tra, xử lý với các việc tham nhũng, buôn lậu; Nghị quyết của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ tư ngày 30 tháng 12 năm 1993 về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, buôn lậu: Công văn số 169/TATC ngày 26 tháng 7 năm 1990 của Toà án tối cao về việc Toà án phục vụ đấu tranh chống tham nhũng: Công văn số 08/CT-TATC ngày 6 tháng 12 năm 1990 của Chánh án Toà án tối cao về đường lối xử lý một số tội phạm phục vụ Chỉ thị 416/CT ngày 3 tháng 12 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tăng cường công tác thanh tra. điều tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Chỉ thị số 05/VP ngày 15 tháng 8 năm 1990 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát phục vụ cuộc đấu tranh chống Tham nhũng; Quyết định số 114/QĐ của Thủ tướng Chính phủ ngày 21 tháng 11 năm 1992 về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng. buôn lậu. v.v... và gần đây nhất, trong kỳ họp Quốc Hội thứ 11. khoá IX từ ngày 2 tháng 4 năm 1997 đến 10 tháng 5 năm 1997, Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự liên quan đến các tội phạm về tham nhũng. Như vậy, quan điểm đấu tranh cương quyết với các hành vi tham nhũng nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng được đặt ra như là một yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Mặc dù vậy, nếu xem xét các văn bản pháp luật ở nước ta trước khi ban hành Pháp lệnh chống tham nhũng, Luật phòng chống tham nhũng và Bộ luật hình sự năm 1999 trên các khía cạnh về cuộc đấu tranh chống tham nhũng thì còn tồn tại nhiều vấn đ, nhưng có thể rút ra những nhận định chính sau đây:

Thứ nhất, trong các văn bản pháp luật chưa nêu khái niệm các tội phạm về tham nhũng mà chỉ quy định một cách chung chung về tội phạm được thực hiện bằng cách lạm dụng chức vụ quyền hạn. Điều này có ảnh hưởng đến phân loại tội phạm và gây nên hạn chế nhất định trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn.

Thứ hai, do được quy định trong nhiều văn bản pháp luật những quy định về các tội phạm liên quan đến chức vụ, quyền hạn chưa phản ánh hết tính chất nguy hiểm của các tội phạm này trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước trong những thời điểm lịch sử đó. Điều đó ảnh hưởng cả đến việc áp dụng loại và mức hình phạt tương xứng.

Chính vì vậy cần thiết phải pháp điển hoá những tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Xây dựng pháp luật cho một Nhà nước không phải là công việc một sớm một chiếu có thể làm được. Công việc này đòi hỏi phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Chính vì vậy, sự mắc phải những thiếu sót, sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lập pháp là điều tất yếu. Điều cơ bản là trong những giai đoạn sau, những thiếu sót, nhược điểm đó cần được sửa chữa khắc phục để từng bước hoàn chính pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm nói chung và các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Pháp lệnh chống tham nhũng, Luật phòng chống tham nhũng và Bộ luật hình sự năm 1999 đã ra đời đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, chống tham nhũng nói riêng trong thời kỳ mới.

Đã xem 42 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành