Chủ nhật, 22 Tháng 4 2018 07:24

Một số thuộc tính cơ bản của kiến thức dưới góc độ kinh tế

Dưới góc độ kinh tế học, kiến thức được coi như một hàng hóa công cộng và những ngoại ứng (ảnh hưởng ngoại hiện) về học tập. Quan trọng nhất, kiến thức là một hàng hóa công các chi phí cận biên của một người hoặc doanh nghiệp khác được hưởng lợi ích của kiến thức (ngoài các chi phí truyền tải) là không sử dụng, không có tính cạnh tranh.

Với nguyên lý của thị trường, khi sản xuất và phân phối hàng hóa công cộng, thị trường không sẽ không đạt được hiệu quả theo bản chất của nó, kể cả đối với việc lan tỏa và phổ biến tri thức với tư cách là một loại hàng hóa công cộng. Vì vậy, miễn là có lan tỏa, thì sẽ có cầu - doanh nghiệp sẽ không tính toán các lợi ích cộng dồn vào các khoản khác. Như vậy, với một nhà cải cách, một nhà phát minh, họ có thể kiếm lợi nhuận lớn từ việc phát minh, tuy nhiên số tiền đó chỉ là một phần nhỏ so với GDP của một quốc gia. Điều này đặc biệt rõ ràng trong trường hợp của những người có những khám phá quan trọng nhất những người có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của khoa học và công nghệ cơ bản nhận được những giải thưởng tương đối thấp so với những đóng góp xã hội của họ.

Tuy nhiên, cùng với các yếu tố ngoại sinh, những đổi mới, phát minh nhiều khi không được luật sở hữu trí tuệ bảo vệ toàn diện, hầu hết những đổi mới không thể được bảo vệ ngay cả bởi các luật lệ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt nhất. Bên cạnh đó, một vài kiến thức có tác động lan tỏa đến các ngành công nghiệp đặc biệt, trong khi những lợi ích của kiến thức khác có thể lan rộng hơn. Dây chuyền lắp ráp và sản xuất tức thời chuyển qua các quá trình sản xuất trải rộng khắp nền kinh tế. Việc phát hiện ra sợi dây nhân tạo này có thể được tạo ra và trở thành động lực cho những khám phá khác để tìm thấy các sợi thay thế không bị giới hạn bởi các bằng sáng chế. Các cá nhân tìm hiểu về những cách thức tốt hơn để làm kinh doanh truyền tải kiến thức đó khi họ chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác.

Hàng hóa công cộng với tư cách là sản phẩm của thị trường có hai thuộc tính quan trọng: Đó là không cạnh tranh và không loại trừ, và quyền sở hữu trí tuệ phần nào nhm mục đích giải quyết vấn đề để loại trừ. Điều này thể hiện bằng cách không cho phép người khác sử dụng các kiến thức trong một giai đoạn nhất định về thời gian mà không được sự đồng ý của những người sáng tạo ra kiến thức đó (chủ sở hữu bằng sáng chế). Khi làm như vậy, bằng sáng chế có gắng để làm giảm mức độ lan tỏa. Nhưng nỗ lực sử dụng lợi nhuận đối với kiến thức được phát minh, sáng chế đó bằng cách hạn chế sự phổ biến của nó dẫn đến những hệ lụy khác trong việc sử dụng kiến thức hiệu quả.

Ngoài ra, việc phân bố nguồn lực tối ưu với những ngoại ứng về học tập trực giác cơ bản. Cụ thể là, việc này dễ dàng được mô tả bằng sự phân bố nguồn lực hiệu quả mà không cần yếu tố học tập: trong từng thời kỳ, lợi ích cận biên của một đơn vị sản xuất lớn hơn đơn vị hàng hóa phải bằng chi phí cận biên. Theo đó, ta có cách tính như sau: Giá trị sản phẩm cận biên = Chi phí cận biên hiện tại.

Trong trường hợp chỉ riêng người lao động sản xuất ra hàng hóa, điều này có thể được đặt chính thức hơn: tỷ lệ thay thế cận biên giữa hàng hóa và thời gian nhàn rỗi (mà phải là giống nhau đối với tất cả mọi người) cân bằng tỷ lệ chuyển đổi cận biên, có nghĩa là sản phẩm biên của lao động.

Với tính chất là một loại hàng hóa công, kiến thức được tính toán dựa trên công thức sau: Học tập trong sản xuất hoặc đầu tư có lợi ích tương lai chi phí sản xuất tương lai thấp hơn và điều này cần phải được tính toán. Điều này có thể dễ dàng được thực hiện:

Cận biên sản phẩm + tổng mức tiết kiệm chi phí trong tương lai = chi phí hiện tại (1).

Thêm vào đó, với những lợi ích thiết thực từ việc học tập, dưới góc độ thị trường, việc cân bằng cạnh tranh với học tập sẽ đòi hỏi mức độ sản xuất cao hơn. Nhưng với những ngoại ứng về học tập, lợi ích xã hội của việc học tập (tổng tiết kiệm chi phí trong tương lai) lớn hơn nhiều so với lợi ích của việc học tập cộng dồn vào doanh nghiệp. Do vậy:

Giá trị xã hội của học tập > Giá trị cá nhân của học tập (2).

Như vậy, mức độ sản xuất sẽ nhỏ hơn mức tối ưu xã hội. Trên thực tế, với các doanh nghiệp rất nhỏ, giá trị của việc học tập đối với mỗi doanh nghiệp từ sản xuất của mình là rất nhỏ, thậm chí nếu giá trị của việc học tập đối với toàn thể xã hội (đối với tất cả doanh nghiệp trong nghành công nghiệp) có thể rất lớn. Kết quả là sự cân bằng cạnh tranh với việc học tập và nếu không học tập sẽ khác nhau. Sau đó, rõ ràng, sản xuất sẽ ít, và do đó học tập cũng ít.

Thuộc tính riêng biệt thứ hai của kiến thức xuất phát từ thuộc tính thứ nhất: đổi mới được đánh dấu bằng quy mô lợi nhuận. Như vậy, trường hợp hạn chế nhất định, trường hợp không có sự bù đắp tính phi kinh tế do quy mô, thì có sự độc quyền tự nhiên. Trong các trường hợp khác, có thể có độc quyền nhóm. Trong tất cả các trường hợp nghiên cứu và phát triển rất quan trọng, nghiên cứu và phát triển đối với sản xuất, dịch vụ có thể hạn chế được số lượng đối thủ cạnh tranh.

Những kết quả này được duy trì ngay cả khi có tác động lan tỏa và ngay cả khi các tác động lan tỏa không hoàn hảo thì doanh nghiệp tham gia vào việc học tập hay nghiên cứu và phát triển sẽ có lợi thế và chi phí hơn các đối thủ học tậphay nghiên cứu và phát triển ít hơn. Trên thực tế, có thể có sự lan tỏa không hoàn hảo, do đó các thị trường nơi đổi mới giữ vai trò quan trọng có khả năng đánh dấu bởi các yếu tố ngoại sinh và mức độ không hoàn hảo trong cạnh tranh cao. Như vậy, cả hai mức độ sản xuất và mức độ đổi mới sẽ bị bóp méo.

Cách duy nhất mà có thể có được sự cạnh tranh hiệu quả trong tình hình vừa được mô tả (chi phí sản xuất cận biên cố định) là có các tác động lan tỏa đầy đủ đến những doanh nghiệp khác trong cùng ngành; nhưng nếu đó là trường hợp, sau đó mỗi doanh nghiệp sẽ không mất phí xoay quanh những nỗ lực nghiên cứu của các doanh nghiệp khác, và nếu số lượng doanh nghiệp lớn, sẽ không có đủ ưu đãi để tham gia vào nghiên cứu và phát triển. Nếu kiến thức (học tập) là một sản phẩm của sản xuất hoặc đầu tư, mỗi doanh nghiệp sẽ có đủ ưu đãi để sản xuất hoặc đầu tư. Cạnh tranh có thể được duy trì nếu có một số yếu tố bù đắp cho việc giảm lợi nhuận. Với nhiều doanh nghiệp hơn, các biến dạng trong sản xuất sẽ giảm, nhưng các biến dạng trong sự thay đổi mới có thể tăng.

Không chỉ có khả năng nhân đôi thất bại của thị trường, mà sự không hoàn hảo trong một số cuộc đua sẽ dẫn đến sự thất bại ở các thị trường khác. Một số nhà kinh tế đã chỉ ra 50 năm trước đây, việc tạo ra các kiến thức thường là sản phẩm chung với sản xuất hàng hóa (học tập thông qua thực tiễn), có nghĩa là sản xuất hàng hóa sẽ không phải đơn giản chỉ là hiệu quả mà còn là quá trình tích lũy kiến thức phục vụ đổi mới.

Một vấn đề nữa là độc quyền (hay chính xác hơn, cạnh tranh độc quyền) cung cấp một trường hợp hạn chế. Khi cạnh tranh bị hạn chế, phân bổ thị trường không hiệu quả thì ngoài việc có thể thiếu hiệu quả ổn định kết hợp với việc thực hiện quyn độc quyền, có thể có sự thiếu hiệu quả năng động.

Như ước tính ban đầu, những sự thiếu hiệu quả được phản ánh trong các điều kiện sản xuất tối ưu:

Sản phẩm doanh thu cận biên+ tiết kiệm chi phí trong tương lai cho doanh nghiệp = chi phí cận biên hiện tại (3).

Như vậy, có thể thấy, các doanh nghiệp cạnh tranh có tính độc quyền đánh giá thấp lợi ích sản xuất ổn định, bỏ qua lợi ích học tập đối với các doanh nghiệp khác và vì sản xuất có thể thấp hơn, chỉ định một giá trị thấp hơn ngay cả với các tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp (hơn là trường hợp có sự tối ưu xã hội). Các sản phẩm trong đó các doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền nhiều hơn sẽ sản xuất ít hơn, và sản xuất thấp hơn sẽ dẫn tới học tập ít hơn. Theo đó, sự tăng trưởng về sản xuất trong các lĩnh vực này sẽ chậm hơn. Ngoài những hậu quả cố định của thiệt hại thặng dư tiêu dùng dưới mức sản xuất, thì còn chi phí năng động: Càng ít học tập và chi phí càng cao trong những giai đoạn tiếp theo liên quan trực tiếp đến đc quyền hiện nay dẫn đến sản lượng càng thấp trong tương lai.

Ở đây, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa học tập và tiền lương thu được, cụ thể lao động không được sử dụng trong lĩnh vực độc quyền sẽ được di chuyển sang lĩnh vực khác, nhưng nếu những ngành này ít học tập hay nghiên cứu phát triển, tổng tỷ lệ tăng trưởng nói chung của nền kinh tế sẽ dẫn đến tiền lương thực tế thấp; tiền lương thực tế thấp hơn bình thường sẽ dẫn đến sự cân bằng cung ứng lao động thấp hơn và do đó ít có yếu tố học tập.

Một trong những ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của việc phân tích là không phải chỉ xem xét đồng thời cơ cấu thị trường và đổi mới (cả hai đều là nội sinh), mà phân tích phải được tiến hành trong khuôn khổ cân bằng chung. Trong một bối cảnh cân bằng, có thể kết luận rằng độc quyền tốt hơn so với cạnh tranh vì nó tạo ra lợi ích của việc học tập, mà không cần chú ý ảnh hưởng bất lợi của cân bằng nói chung, phát sinh từ những tác động với mô hình sản xuất và cung ứng lao động nói chung.

Như vậy, việc hiểu được cấu trúc học tập và phổ biến kiến thức là điều cần thiết để tăng tính hiệu quả của hoạt động sản xuất. Vấn đề cần quan tâm đây là học tập của cả xã hội, không chỉ học tập theo ngành hay học tập của doanh nghiệp. Ví dụ, một số ngành có thể có các đường cong học tập mạnh mẽ hơn; nghĩa là, độ co giãn của việc học có thể lớn hơn đối với một số doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng không chỉ ở khả năng học tập của một doanh nghiệp hay một ngành mà còn ở lợi ích mà ngành (doanh nghiệp) truyền lại cho các ngành khác và mức độ không thích hợp đối với những lợi ích của việc học tập. Nếu việc học tập trong một lĩnh vực tạo ra nhiều yếu tố ngoại sinh đối với các lĩnh vực khác, thì sản xuất trong lĩnh vực đó phải được tăng lên (so với những gì có ở trạng thái cân bằng thị trường mà qua những ngoại tác về học tập) sử dụng chi phí của các lĩnh vực khác. Những lợi ích năng độngtrong tương lai cần phải được bù trừ vào chi phí cố định ngắn hạn.

Một đặc tính khác biệt nữa của việc tạo ra kiến thức dẫn đến sự thất bại của thị trường lan tỏa trong đổi mới một đặc tính tương tác với hai đặc tính trước đó phát sinh từ thực tế là nghiên cứu và phát triển vốn mang tính rủi ro, và các thị trường rủi ro với sự đổi mới vốn không hoàn hảo. Các kết quả nghiên cứu và học tập có thể không thường được dự kiến đầy đủ cụ thể như trường hợp nghiên cứu là sự thăm dò những vấn đề chưa được biết đến. Khi tiến hành nghiên cứu, các ý tưởng mới được phát triển và các sản phẩm mới không lường trước được có thể xuất hiện.

Người ta không thể mua bảo hiểm đối với rủi ro mà một liên nghiên cứu sẽ chứng minh không có kết quả hoặc là sẽ học được rất ít khi người ta có được sự trải nghiệm. Một phần của điều này giải thích bằng lý thuyết về thông tin bất đối xứng. Có những vấn đề cố hữu của rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi. Nhà nghiên cứu có nhiều điều kiện biết thêm về khả năng thành công hay thất bại của một nghiên cứu hơn bất kỳ người ngoài nào khác. Các thị trường bảo hiểm, nơi sự bất đối xứng thông tin là lớn, thường không tồn tại, và thậm chí cả khi chúng tồn tại thì việc cung cấp bảo hiểm bị hạn chế.

Ngoài ra còn các vấn đề cơ bản về khái niệm: Người ta không thể mua bảo hiểm đối với một sự kiện trước khi khái niệm hóa sự kiện đó ví dụ trường hợp về nghiên cứu phát triển năng lượng hạt nhân. Người ta cũng không thể có một thị trường bảo hiểm đối với “sự phát nổ” của một lò phản ứng hạt nhân trước khi phát triển năng lượng hạt nhân, và người ta không thể có một thị trường bảo hiểm về năng lượng hạt nhân thay thế nhiên liệu hóa thạch trước khi có sự phát triển những hiểu biết vật lý hiện đại mà năng lượng hạt nhân dựa trên những hiểu biết này.

Như vậy, việc đầu tư nghiên cứu mang đầy rủi ro và không thể bắt buộc cạnh tranh trong trường hợp này, hay được coi là cạnh tranh không hoàn hảo. Sự vắng mặt của các thị trường rủi ro không hoàn hảo bao gồm những vấn đề gây ra bởi các thị trường vốn không hoàn hảo. Lý thuyết hiện đại về sự bất đối xứng thông tin đã giúp giải thích tại sao các thị trường vốn thường không hoàn hảo: ví dụ, tại sao các thị trường này có thể được đặc trưng bởi sự phân phối tín dụng. Sự không hoàn hảo của thị trường vốn có thể đặc biệt bất lợi cho việc học tập. Bởi vì các khoản đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (hay tổng quát hơn,đầu tư vào học tập”) thường không thể được thế chấp, không giống như các khoản đầu tư vào các tòa nhà, máy móc hoặc hàng tồn kho, có nhiều khả năng là sẽ có phân phối tín dụng và chứng khoán, dẫn đến việc thiếu đầu tư trong các lĩnh vực này, so với các lĩnh vực khác. Hơn nữa, có những lý do cơ bản khác cho sự không hoàn hảo của thị trường vốn: một người đi vay với một ý tưởng tốt lo lắng về việc nói ý tưởng của mình với người cho vay tiềm năng sẽ dẫn đến bị ăn cắp ý tưởng, hoặc lợi dụng kiến thức đó để lợi dụng mình mà người đi vay phải chịu chi phí.

Bởi vì sự không hoàn hảo trong thị trường vốn và rủi ro, các doanh nghiệp hoạt động một cách không thích rủi ro, đặc biệt là sự hiện diện của chi phí phá sản và điều này không khuyến khích đầu tư vào những đổi mới mạo hiểm hơn. Điều này cũng giải thích lý do tại sao biến động theo chu kỳ không tốt cho sự đổi mới: trong thời kỳ suy thoái kinh tế, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là một trong các loại chi phí kém nhất.

Có thêm nhiều biến dạng khác gắn liền với các thị trường rủi ro và thị trường vốn không hoàn hảo. Việc học thường yêu cầu kết quả trước đó hoặc mang rủi ro hiện tại, với hy vọng đạt được kết quả cao hơn trong tương lai; do đó ngay cả khi các doanh nghiệp có thể sở hữu lợi ích tương lai mà bắt nguồn từ nghiên cứu và quá trình học tập của họ ngày nay, họ có thể giảm những lợi ích với hệ số chiết khấu cao, dẫn đến mức độ học tập và nghiên cứu tối ưu.

Thêm vào đó, sự gia nhập của một số doanh nghiệp, và các khoản đầu tư và chiến lược nghiên cứu của doanh nghiệp đó có ảnh hưởng đến rủi ro của các khoản đầu tư của các doanh nghiệp khác mà rõ ràng doanh nghiệp không tính đến. Nhưng sự thay đổi trong rủi ro ảnh hưởng đến đầu tư của họ, đặc biệt là bởi vì các doanh nghiệp hành động không thích rủi ro.

Với những thất bại thị trường sâu rộng, có thể thấy, bản chất của kiến thức - hàng hóa công cộng, sự thâm nhập của các yếu tố ngoại sinh/sự lan tỏa kiến thức, những hạn chế cạnh tranh, sự không hoàn hảo của các thị trường rủi ro và thị trường vốn, do đó không có lý do để lạc quan rằng các thị trường có hiệu quả về mức độ hoặc hướng đổi mới. Trong thực tế, các vấn đề dễ trở nên tồi tệ hơn: có một số thất bại của một số thị trường khác liên quan mật thiết đến đổi mới. Hơn nữa, những thất bại thị trường khác nhau thường được liên kết với nhau; một thất bại thị trường có thể tăng cường sự thất bại thị trường khác. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự nghiên cứu sâu hơn của các nhà quản lý trong tương lai.

Đã xem 26 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành