Thứ năm, 26 Tháng 4 2018 07:38

Thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác thi hành hình phạt tù

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt phạt tù

Mặc dù trong thời gian gần đây, chúng ta đã đạt được một số thành tựu trong việc hoàn thiện Quản lý nhà nước nói chung và Quản lý nhà nước về thi hành hình phạt tù (THHPT) nói riêng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Riêng về lĩnh vực Thi hành án hình sự, pháp luật điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực này còn quá ít. Cho đến nay, ngoài BLTTHS năm 1988. Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, BLTTHS năm 2003, chúng ta chưa có văn bản pháp luật quy định trực tiếp các nội dung Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự. Một số văn bản pháp luật về thi hành hình phạt tù chưa đảm bảo tính hệ thống, chưa thật phù hợp. Nhiều vướng mắc nảy sinh trong hoạt động quản lý và tổ chức thi hành hình phạt tù chưa được điều chỉnh kịp thời bằng các quy phạm pháp luật về thi hành hình phạt tù hoặc đã được điều chỉnh nhưng không còn phù hợp, cụ thể như sau:

Một là , về việc phân loại trại giam

Trước đây, căn cứ vào BLHS năm 1985 phân loại tội phạm thành tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng. Pháp lệnh thi hành án phạt tù đã chia trại giam thành 3 loại: trại giam loại I, trại giam loại II, trại giam loại III.

BLHS năm 1999 đã thay đổi cách phân loại tội phạm, chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; bỏ khái niệm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia: nâng mức hình phạt tù trong trường hợp tổng hợp hình phạt tù từ 20 năm đến 30 năm. Do đó, các quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 về trại giam loại I, trại giam loại II, trại giam loại III đã không còn phù hợp với BLHS năm 1999, dẫn tới việc phân loại, chuyển phạm nhân đến các trại có cùng tính chất gặp khó khăn, vướng mắc.

Về mặt lý luận, quan niệm về hệ thống nhà tù (hay gọi là trại giam) cho đến nay vẫn chưa thực sự thống nhất: Nhà tù là công cụ bạo lực của Nhà nước hay nhà tù là nơi giam giữ phạm nhân, nhà tù được tổ chức theo nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất hay phân cấp, phân tán theo đơn vị hành chính... không được làm rõ những quan niệm này dẫn đến lúng túng trong việc tổ chức thi hành án.

Hai là, về một số thủ tục sau khi xét xử

Trong thực tế, nhiều người bị kết án tù, bản án và quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật, nhưng họ chưa đi chấp hành hình phạt tù ở trại giam vì còn thiếu các thủ tục thi hành án: bản sao bản án, quyết định chấp hành hình phạt tù hoặc nhiều người có nhiều bản án nhưng không được Tòa án tổng hợp hình phạt nên vẫn phải giam giữ ở các trại tạm giam. Điều này đã gây khá nhiều khó khăn cho cơ quan Thi hành án hình sự và trại giam bị quá tải. Nguyên nhân của việc bị án chờ làm đủ thủ tục để đi chấp hành là do Tòa án chậm chuyển bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Ba là: về thi hành hình phạt tù đối với người nước ngoài

Hiện nay, số phạm nhân là người nước ngoài và mang hộ chiếu nước ngoài đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam ngày càng tăng, nhưng cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn việc thi hành hình phạt tù đối với phạm nhân là người nước ngoài và mang hộ chiếu nước ngoài. Việc quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo, thực hiện chế độ chính sách đối với phạm nhân là người nước ngoài đã gặp khó khăn, lúng túng, nhất là đối với những nước mà Nhà nước ta chưa có quan hệ hợp tác tư pháp. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ đa phương hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự đang trở thành vấn đề hết sức cần thiết. Trong khi đó, những chế định của pháp luật về Thi hành án hình sự như việc quản lý, giam giữ, giáo dục, chế độ sinh hoạt, thăm gặp, nhận quà tiếp tế... chưa được quy định cụ thể. Vì vậy, hiện nay, trong thi hành án phạt tù với loại đối tượng này chúng ta đang gặp những rắc rối phức tạp, phí tổn rất lớn, nhất là việc thi hành phần dân sự trong bản án hình sự, đặc xá, tha tù và trao trả khi hết hạn tù đối với phạm nhân là người nước ngoài hoặc liên quan đến người nước ngoài.

Bốn là, về việc phòng, chống HIV/AIDS trong trại giam

Một thực trạng nảy sinh trong những năm gần đây là người bị nhiễm HIV/AIDS chấp hành trong các trại giam ngày càng nhiều và họ còn bị lây nhiễm các căn bệnh khác như lao, giang mai, nghiện hút, một số bị AIDS giai đoạn cuối.

Pháp luật Thi hành án hình sự hiện hành chưa quy định điều chỉnh về các vấn đề: chế độ chăm sóc, tư vấn, quản lý, điều trị; chế độ, chính sách cho cán bộ, chiến sỹ cảnh sát trại giam làm việc, tiếp xúc chữa trị cho phạm nhân nhiễm HIV/AIDS. Khó khăn nhất là nếu để họ trong trại giam thì rất phức tạp, đưa về gia đình hoặc cho ra ngoài xã hội thì tăng sự nguy hiểm cho cộng đồng và trái với quy định; nhiều trường hợp thuộc diện tạm đình chỉ chấp hành hình phạt hoặc sắp chết chuyển giao cho gia đình bị từ chối. Sự mâu thuẫn giữa tính nguy hiểm có khả năng xảy ra đối với việc đối xử nhân đạo và tuân theo pháp luật trở thành trở ngại cho việc giải quyết vấn đề.

Thứ hai, về tổ chức thực hiện thi hành hình phạt tù

Các cơ quan nhà nước hoạt động trong lĩnh vực tư pháp, hỗ trợ tư pháp vẫn chưa xem trọng chất lượng, hiệu quả của giai đoạn thi hành hình phạt. Thực tế chỉ mới chú trọng các khâu phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử, còn khâu thi hành hình phạt chưa được nhận thức, tổ chức thực hiện đúng với vai trò, vị trí quan trọng của nó.

Chúng ta chưa có bộ máy quản lý mang tính chuyên ngành, chuyên nghiệp hóa cao trong lĩnh vực Thi hành án hình sự, chưa phân định rõ chức năng của cơ quan xét xử (Tòa án) và cơ quan quản lý trong một số khâu, thủ tục Thi hành án hình sự.

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án hình sự bên cạnh những đặc điểm riêng, về cơ bản vẫn phải được nhận thức và thực hiện như đối với các lĩnh vực khác. Trước hết, thuộc chức năng của tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; trong đó Bộ Công an là cơ quan quản lý ngành, là lực lượng trực tiếp hướng dẫn, điều hành các ngành, lực lượng liên quan thực hiện trên cơ sở chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, do chưa có được một cơ chế kết hợp đồng bộ, hợp lý năng lực trách nhiệm của các ngành, các cấp, chưa đề cao và phát huy tác dụng nên tiêu cực, sơ hở còn khá phổ biến.

Công tác Quản lý nhà nước về thi hành hình phạt tù còn có những sơ hở, thiếu sót, số đối tượng có án phạt tù chưa đi thi hành án còn nhiều, số trốn thi hành án, trốn trại từ trước đến nay chưa được giải quyết, truy nã triệt để.

Hiện nay, tuy có giảm song mỗi năm vẫn còn tồn tại một số lượng lớn người bị kết án tù, bản án đã có hiệu lực nhưng người bị kết án vẫn chưa đi thi hành án với nhiều lý do khác nhau.

Việc thực hiện chế độ giam giữ phạm nhân theo loại trại đã bộc lộ những bất cập, gây tốn kém, phức tạp cho việc dẫn giải phạm nhân đến các trại giam, gia đình phạm nhân đi thăm gặp khó khăn.

Chế độ giam giữ phạm nhân theo ba loại trại như hiện nay (loại I, II, III) chỉ mới thể hiện sự phân loại theo mức án, mà chưa phân loại triệt để theo tính chất tội phạm để giam giữ, làm cho công tác quản lý diện đối tượng nguy hiểm chưa tập trung và bị dàn trải quá rộng, việc giam giữ lẫn số lưu manh chuyên nghiệp với người phạm tội có mức án cao nhưng là phạm tội lần đầu, lịch sử nhân thân tốt là không có lợi cho công tác giáo dục, cải tạo. Các trại giam loại I chỉ giam giữ toàn số nguy hiểm sẽ không có phạm nhân án có mức án thấp để làm các việc phục vụ trại giam.

Việc phân bố và đặt địa điểm các trại giam theo khu vực chưa thật hợp lý, quy mô giam giữ phạm nhân của các trại giam không đồng đều.

Lao động sản xuất ở trại giam chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản, hiệu quả kinh tế thấp, quản lý phạm nhân khó khăn.

Điều kiện giam giữ, cải tạo phạm nhân tuy có được cải thiện, nhưng còn khó khăn; cơ sở y tế, kinh phí chưa đáp ứng được nhu cầu phòng, chữa bệnh, nhất là trong tình hình số phạm nhân mắc bệnh lao, viên gan B, nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng. Hoạt động giáo dục, chính trị, văn hóa, pháp luật chưa được quan tâm đúng mức. Hiệu quả dạy nghề chưa thích hợp với nhu cầu lao động xã hội. Nghề được dạy ở trại giam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, mộc, nề... rất khó kiếm việc sinh sống cho số phạm nhân có hộ khẩu thường trú ở các đô thị khi họ mãn hạn tù. Sự phối hợp trong quản lý, giáo dục phạm nhân ra trại ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng chưa chặt chẽ. Tỷ lệ tái phạm tội của phạm nhân được tha tù về cư trú ở các đô thị còn ở mức cao.

Tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan quản lý và tổ chức chấp hành hình phạt tù còn chưa tương xứng với trách nhiệm, phạm vi quản lý được giao, thẩm quyền pháp lý quy định. Do những điều kiện lịch sử để lại của nhiều năm chiến tranh và sau ngày đất nước được thống nhất, số lượng phạm nhân tăng nhanh, đòi hỏi phải bổ sung biên chế cho các trại giam nên phần đông số lượng cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng cảnh sát trại giam ít được đào tạo chính quy và cơ bản. Ngoài số cán bộ, chiến sỹ công tác ở Cục quản lý trại giam, số cán bộ, chiến sỹ công tác ở các bộ phận theo dõi, quản lý người bị kết án tù, tổ chức thi hành một số công tác thi hành án phạt tù ở Công an các tỉnh thành và Công an cấp huyện hầu như chưa được đào tạo chuyên ngành lĩnh vực thi hành án phạt tù. Công tác trong lĩnh vực thi hành án phạt tù nhưng hiện nay vẫn không có cơ sở đào tạo chính quy riêng về lĩnh vực này, mà chỉ có các chuyên khoa hẹp về nghiệp vụ cảnh sát trại giam ở các trường trung học cảnh sát và Học viện Cảnh sát nhân dân.

Đã xem 41 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành