Thứ ba, 21 Tháng 8 2018 08:12

Kiến nghị về định hướng điều hành chính sách tài khóa ở Việt Nam trong thời gian tới

1. Quan điểm điều hành chính sách tài khóa ở Việt Nam

Chính sách tài khóa của Việt Nam trong thời gian gần đây được thực hiện trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến tích cục, song còn nhiều biến động bất ổn. Trước tình hình đó, chính sách tài khóa cần được định hướng và triển khai theo hướng chủ động, linh hoạt, chặt chẽ và tiết kiệm, đảm bảo nguồn lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đây là cơ sở vững chắc để đảm bảo thắng lợi cho việc thực hiện chính sách tài đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững. Với mục tiêu đó, quan điểm chỉ đạo thực hiện chính sách tài khóa trong thời gian tới cần theo định hướng sau:

Thứ nhất, về tổ chức thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo ổn định, bền vững nguồn thu; Bảo đảm sự công bằng giữa các chủ thể; quá trình thực hiện minh bạch, rõ ràng công khai, đơn giản hóa thủ tục; phù hợp với thông là quốc tế.

Thứ hai, về chi ngân sách nhà nước cần bám sát trên số ngân sách nhà nước thu được để bố trí hợp lý các khoản chi; bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong chi ngân sách nhà nước; kết hợp việc chi ngân sách nhà nước và sự tham gia vốn của xã hội; tập trung chi ngân sách nhà nước có trọng điểm, phân bổ nguồn vốn từ ngân sách nhà nước tập trung vào các chương trình trọng điểm, các ngành, lĩnh vực đột phá; thực hiện có hiệu quả việc phân cấp chi ngân sách nhà nước gắn với trách nhiệm trong quản lý chi ngân sách nhà nước của từng cấp; phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa với việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ.

Từ quan điểm trên, để tăng cường hiệu quả trong điều hành chính sách kinh tế, Chính phủ cần có sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ theo hướng sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần có kế hoạch tổng thể giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong những năm tới. Nhấn mạnh việc cân đối bội chi ngân sách, cân đối đầu tư công, tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng cần được tính toán thận trọng, nghiên cứu để tránh hiện tượng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát thì chính sách tài khóa nới lỏng cho đầu tư công như thời gian qua.

Thứ hai, việc phát hành trái phiếu chính phủ với khối lượng lớn trong thời gian qua dẫn tới nhiều tác động đến hoạt động sản xuất. Do đó, Chính phủ cần nghiên cứu bảo đảm mức độ phát hành trái phiếu chính phủ phù hợp hơn, lãi suất trái phiếu chính phủ nằm trong tổng thể mặt bằng lãi suất huy động chung trong các năm tiếp theo để tránh việc các ngân hàng thương mại đầu tư quá nhiều cho trái phiếu chính phủ, không ưu tiên vốn cho khu vực sản xuất thực của nền kinh tế.

Thứ ba, kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước, cải thiện cân đối ngân sách nhà nước. Chỉ được sử dụng vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nguyên tắc này. Đối với chi đầu tư phát triển cần lựa chọn thực chất các công trình trọng điểm để sử dụng vốn nhà nước, tăng cường sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân trong đầu tư vào các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đầu tư hạ tầng với hình thức hợp tác công tư (PPP).

Thứ tư, Chính phủ cần ưu tiên kiểm soát nợ công, lạm phát trong thời gian tới, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh 5 tế bền vững, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế hướng tới phát triển nhanh, bền vững. Do đó, cần kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, trong đó tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là hướng chủ đạo, được thực hiện trên tảng thể chế kinh tế thị trường hiện đại phù hợp với đi kiện thực tế ở Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Thứ năm, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp hiệu quả với các chính sách khác, nhất là chính sách, tệ và chính sách đầu tư nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô kiềm chế lạm phát, bảo đảm tăng trưởng hợp lý. Giảm dần tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dở 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP.

2. Định hướng điều hành chính sách tài khóa ở Việt Nam

Để khắc phục được các vấn đề nổi cộm trong chính sách tài khóa thời gian qua, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2020 và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020, việc đổi mới chính sách tài khóa và đầu tư công trong giai đoạn tới cần phải hướng tới thực hiện có hiệu quả các yêu cầu sau:

Thứ nhất, thực hiện cơ cấu lại nền tài chính quốc gia; thu hút hợp lý các nguồn lực xã hội để tập trung đầu tư cho hạ tầng kinh tế xã hội, giải quyết các điểm nghẽn của phát triển, tạo nên đề đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi n hình tăng trưởng.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài c công, đặc biệt là nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. hiện cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng hợp lý tỷ trọng chi đầu tư, giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên gắn với đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập theo cách tiền lương. cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế, thực hiện cải cách tiền lương.

Thứ ba, bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia; duy trì dư nợ chính phủ và nợ nước ngoài quốc gia trong giới hạn an toàn, trong đó cần kiên trì mục tiêu giảm bội chi ngân sách để bảo đảm sự bền vững tài khóa trong trung và dài hạn.

Trên cơ sở các yêu cầu nêu trên, việc thực hiện cải cách trong giai đoạn tới nên tập trung vào các nội dung sau:

- Cơ cấu lại nền tài chính quốc gia với mục tiêu xuyên suốt là nâng cao hiệu quả trong huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính, trong đó ưu tiên đẩy mạnh cơ cấu lại đầu tư công. Việc cơ cấu lại nguồn lực tài chính quốc gia trên cơ sở thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới; hoàn thiện môi trường thể chế tài chính; nâng cao năng lực quản lý, điều hành; cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin.

- Nâng cao chất lượng trong đầu tư công, tiếp tục giảm dần tỷ trọng đầu tư nhà nước, coi đây là “vốn mồi” thu hút nguồn vốn của các thành phần kinh tế. Điều chỉnh tỷ trọng chi của cấp ngân sách trung ương hợp lý, chỉ thực hiện hỗ trợ đổi với các chương trình, dự án hạ tầng quan trọng phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo của địa phương.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về phân cấp và hệ thống phân bổ ngân sách nhà nước, cần tạo sự chủ động cho địa phương trong việc phân cấp đi kèm với việc tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quyết định đầu tư và cân đối nguồn vốn đầu tư. Tăng cường quản lý giám sát, nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn vốn ngân sách nhà nước trên cơ sở tăng cường quá trình đánh giá, kiểm tra thanh tra việc quản lý các dự án đầu tư.

Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách xã hội hóa” đầu tư trong một số lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao để góp phần tăng thêm nguồn vốn đầu tư, tăng tính cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm dịch vụ. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm lợi ích thỏa đáng của nhà đầu tư, mở rộng hình thức xã hội hóa, hài hòa quyền lợi của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân.

- Cơ cấu lại nguồn thu ngân sách nhà nước theo hướng bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bảo đảm cơ cấu cân đối hợp lý giữa thuế gián thu và thuế trực thu, khai thác tốt các khoản thu từ tài sản, đất đai và tài nguyên khác; mở rộng cơ sở thu thuế, duy trì mức thuế suất hợp lý, bảo đảm công bằng, bình đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; thực hiện đơn giản hóa hệ thống chính sách ưu đãi thuế; hoàn thiện hệ thống phí, lệ phí, chuyển các loại phí bản chất là quan hệ cung ứng dịch vụ sang cơ chế giá dịch vụ.

Sửa đổi, bổ sung chính sách thu từ đất, tài nguyên khác đồng bộ với Luật đất đai hiện hành và sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan; hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính về khai thác tài nguyên.

Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế, xử lý các khoản nợ đọng thuế và các vi phạm về thuế, cũng như đổi mới phương thức quản lý ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước.

Việc phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính phải phù hợp, hỗ trợ việc thực hiện các lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn; việc phân bổ nguồn lực theo hướng ưu tiên là một nguyên tắc, yêu cầu quan trọng nâng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước trong bối cảnh nguồn lực từ ngân sách nhà nước ngày càng bị hạn chế. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp tài chính, công tác lập và phân bổ dự toán ngân sách nhà nước, hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội của hệ thống thuế; hoàn thiện phương pháp lập dự toán và phân bổ dự toán ngân sách nhà nước gắn với kết quả và hiệu quả công việc.

Tăng cường triển khai và giám sát thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch tài chính ngân sách nhà nước 3 năm. Đồng thời, thực hiện đổi mới kế hoạch đầu tư, xem kế hoạch chi đầu tư là một cấu phần của kế hoạch tài chính ngân sách nhà nước 3 năm, bảo đảm chi đầu tư được giới hạn trong khả năng nguồn lực ngân sách nhà nước và thống nhất với các mục tiêu ưu tiên về phát triển kinh tế xã hội. T

Đẩy mạnh cơ chế tài chính đối với khu vực sự nghiệp công, phát triển hệ thống an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo.

Đẩy mạnh cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công từng bước cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập được tính đủ chi phí trong giá dịch vụ cung ứng; đồng có chính sách tạo điều kiện cho đối tượng nghèo, người thể tiếp cận được các dịch vụ công thiết yếu; bảo đảm công bằng xã hội.

Đổi mới cơ chế, chính sách tài chính khuyến khích việc huy động các nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển sự nghiệp công, đa dạng hóa đối tượng cung ứng các hình dịch vụ công. Thực hiện có hiệu quả các chính sách tài chính ưu đãi đối với các đơn vị xã hội hóa cung cấp dịch vụ, sự nghiệp công.

Phát triển mạng lưới an sinh xã hội trên cơ sở kết hợp hài hòa và hiệu quả nguồn lực nhà nước và nguồn lực xã hội. Tiếp tục tăng chi ngân sách nhà nước ở mức hợp lý để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm công bằng xã hội; tăng tổng nguồn vốn giảm nghèo, bảo đảm giảm nghèo bền vững, nâng cao hiệu quả đầu tư trong việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp, các ngành trong việc sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước và trong hoạt động đầu tư công.

Đẩy mạnh việc thực hiện minh bạch, công khai trong quy trình ngân sách thông qua việc mở rộng hình thức và nội dung công khai theo hướng đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu hoàn thiện các mẫu biểu và cơ chế thực hiện hệ thống báo cáo theo các tiêu chí thống nhất và theo thông lệ quốc tế.

Hình thành khung khổ pháp lý phù hợp để nâng cao trách nhiệm giải trình, khắc phục tình trạng giải trình thay của cơ quan tài chính như hiện nay. Tăng cường chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với quản lý ngân sách, đầu tư công.

Đã xem 4 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành