Thứ sáu, 19 Tháng 10 2018 02:51

Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1. Hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến vấn đề chuyển giá

Từ ngày 1-1-2016, Việt Nam đã thực hiện lộ trình giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, với mức thuế suất cơ bản là 20%. Tuy nhiên, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam vẫn cao hơn so với các quốc gia trong khu vực và nhiều quốc gia/vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Khi các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam thực hiện giao dịch với bên liên kết ở các nước, vùng lãnh thổ nêu trên, động cơ và cơ hội chuyển giá sẽ xuất hiện, trong khi hệ thống luật pháp liên quan đến giá chuyển giao của Việt Nam chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp các chuẩn mực và xu hướng quốc tế chung.

Yếu tố luật pháp có khả năng chi phối mạnh mẽ hành vi chuyển giá. Một thời gian dài hành lang pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chuyển giá chưa đầy đủ và rõ ràng. Hiện nay, tuy hệ thống pháp luật liên quan đến chuyển giá đã đầy đủ hơn nhưng vẫn còn nhiều bất cập, cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Việt Nam vẫn chưa có luật riêng về chuyển giá, các nội dung liên quan đến vấn đề này chỉ nằm rải rác trong một số văn bản pháp luật và mới đây ngày 24-2-2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2017/NĐ-CP “Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết”. Trước đó, Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22-4-2010 của Bộ Tài chính “Hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết” có hiệu lực thi hành trong một thời gian dài. Mặt khác, Việt Nam chưa có văn bản mang tính pháp lý quy định quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong và ngoài nước để giúp cơ quan thuế thu thập thông tin trong thực thi các hoạt động ứng phó với chuyển giá; ngân sách phục vụ các hoạt động ứng phó với chuyển giá như chi phí để mua thông tin, chi phí điều tra, xác minh... cũng chưa được quy định rõ ràng.

Từ thực trạng nêu trên, có thể thấy hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp FDI xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, còn nhiều kẽ hở mà lợi dụng điều đó, doanh nghiệp FDI vận dụng, “lách luật” để chuyển giá. Do vậy, nền tảng pháp lý để ứng phó với chuyển giá cần được gia cố vững chắc, tạo thuận lợi cho cả các cơ quan chức năng lẫn các doanh nghiệp áp dụng thực hiện, trên nguyên tắc công khai, minh bạch, chi phí vận hành và tuân thủ thấp, hướng đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng nhất, cần được ưu tiên thực hiện cả trước mắt lẫn lâu dài. Kinh nghiệm của Mỹ, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan... cho thấy, một khi có cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng, sự tuân thủ của doanh nghiệp sẽ tốt hơn và việc kiểm soát giá chuyển giao trên cơ sở nguyên tắc giá thị trường của cơ quan thuế cũng thuận lợi hơn. Chính vì vậy, việc xây dựng cơ sở pháp lý liên quan đến kiểm soát chuyển giá là ưu tiên hàng đầu và đã được các nước này nâng lên ở cấp độ nghị định, luật. Ở Việt Nam, cơ sở pháp lý cần hoàn thiện bao gồm luật, các văn bản dưới luật như nghị định, quyết định, thông tư, các chế tài xử phạt hành vi vi phạm... Việc hoàn thiện cơ sở pháp lý nêu trên cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về cấp độ của văn bản quy phạm pháp luật, cần nghiên cứu ban hành nghị định hoặc luật về chống chuyển giá hoặc đưa thêm một số điều khoản cụ thể liên quan đến vấn đề chuyển giá vào các luật, như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật quản lý thuế, Luật đầu tư, Luật thanh tra, Luật kiểm toán..., khắc phục tình trạng các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi chuyển giá mới chỉ dừng lại ở cấp độ thông tư, hiệu lực pháp lý chưa cao. Nội dung các quy định (mới) của nghị định, luật về chống chuyển giá (hoặc điều luật) cần “bắt kịp” với thông lệ quốc tế và những hướng dẫn chung của OECD. Chẳng hạn, quy định cơ chế thực hiện “Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế” (APA) trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định hướng dẫn thi hành luật này, cần phải mở rộng thêm phạm vi đối tượng và hướng đến tính ổn định, chủ động hơn; thay vì “nhường” quyền chủ động cho doanh nghiệp (khi quy định việc áp dụng cơ chế này được thực hiện “trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế” và cho phép “dừng đàm phán hoặc chấm dứt hiệu lực tại bất kỳ thời điểm nào trước khi kết thúc hiệu lực chính thức theo yêu cầu của người nộp thuế hoặc cơ quan thuế”),,. Khắc phục những vấn đề nêu trên sẽ giúp Việt Nam tiến gần hơn với các thông lệ quốc tế và ứng phó với chuyển giá tốt hơn.

Thứ hai, cần rà soát, điều chỉnh các quy định về đối tượng áp dụng phương pháp định giá chuyển giao. Một mặt, định nghĩa về các doanh nghiệp có quan hệ liên kết được thể hiện tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC là quá rộng so với Hướng dẫn của OECD cũng như so sánh với các nước đã được nghiên cứu. Chẳng hạn, theo thông tư này, một doanh nghiệp có 20% vốn trong một doanh nghiệp khác hoặc đơn giản có quan hệ hợp tác kinh doanh với một doanh nghiệp khác có thể được xem là một bên liên kết; hoặc một nhà cung cấp cung ứng từ 50% chi phí nguyên vật liệu hay chi phí bản quyền sở hữu trí tuệ cho một doanh nghiệp FDI cũng được coi là bên liên kết của doanh nghiệp FDI này. Sự mở rộng các đối tượng được xem là các bên liên kết như vậy là bất thường vì đã bỏ qua sự khác biệt thực chất và sự xung đột lợi ích giữa các chủ thể kinh tế này, một khi hành vi định giá chệch khỏi nguyên tắc thị trường được thực hiện một cách có chủ ý xảy ra. Việc mở rộng quá mức đối tượng nghi vấn có hành vi chuyển giá sẽ làm gia tăng khối lượng công việc của các cơ quan chống chuyển giá một cách không đáng có, và do đó, làm giảm hiệu quả của công tác này (nội dung này đã được phân tích ở trên). Vì thế, các doanh nghiệp được xem là các bên có quan hệ liên kết cần được định nghĩa lại theo hướng thu hẹp. Mặt khác, hành vi chuyển giá mặc dù có thể không mang tính phổ biến song vẫn có thể xảy ra trong các doanh nghiệp nội địa. Do vậy, đối tượng này cũng cần được đặt trong “tầm ngắm” của các hoạt động ứng phó với chuyển giá nói chung.

Thứ ba, cần có những quy định “mềm dẻo”, theo hướng đơn giản hóa hơn để việc áp dụng nguyên tắc “giá thị trường” trong các phương pháp định giá chuyển giao để trở nên khả thi hơn. Trong những trường hợp nhất định, cần đưa ra các khung giá hay khung lợi nhuận/tỷ suất lợi nhuận hợp lý, phù hợp với từng nhóm ngành hay ngành, làm cơ sở để xác định các nghi án chuyển giá cũng như xác định lại mức giá chuyển giao gần đúng với giá thị trường. Trong trường hợp này, lợi ích của việc tiết giảm chi phí thu thập thông tin, tăng tính khả thi có thể bù đắp được một phần mất mát về nguồn thu thuế so với trường hợp lý thuyết. Phương hướng đơn giản hóa như vậy cũng có thể được áp dụng cho các quy định có liên quan đến các thông tin, dữ liệu, chứng từ mà doanh nghiệp phải lưu giữ hay cơ quan thuế phải thu thập, cũng như trong việc thiết lập các nguyên tắc cho phép xác định trường hợp doanh nghiệp phải kê khai các giao dịch liên kết, trường hợp cơ quan thuế được quyền ấn định mức giá để kê khai tính thuế hoặc ấn định thu nhập chịu thuế hay số thuế thu nhập phải nộp.

Thứ tư, cần bổ sung quy định về cơ chế bảo mật và trách nhiệm tương ứng của cán bộ thuế có liên quan đối với các thông tin cần bảo mật (như bí quyết kỹ thuật, công nghệ) mà doanh nghiệp có giao dịch liên kết có nghĩa vụ phải cung cấp cho cơ quan thuế.

Thứ năm, rà soát, hoàn thiện các quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan đến vấn đề chuyển giá để đảm bảo tính tương thích và thống nhất chung trong ứng phó với chuyển giá. Chẳng hạn: Tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư để bảo đảm các chủ sở hữu phải góp đủ vốn điều lệ đã đăng ký và có quy định giao quyền cho một cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền (có thể là cơ quan đăng ký doanh nghiệp, cơ quan thẩm định đầu tư) có quyền kiểm tra, thanh tra quá trình góp vốn vào vốn điều lệ của doanh nghiệp. Trong các điều khoản luật liên quan, cần có quy định yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thành lập doanh nghiệp mới hoặc liên doanh với bên Việt Nam nếu góp vốn bằng cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình hoặc công ty mẹ góp vốn bằng tài sản không phải bằng tiền vào công ty con, thì phải có chứng thư thẩm định giá của đơn vị thẩm định giá có năng lực. Đơn vị thẩm định giá và thẩm định viên khi đã cấp chứng thư thẩm định giá phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định của mình; nếu cố tình thẩm định sai, sẽ phải chịu hình thức phạt bằng tiền tính theo tỷ lệ phần trăm so với khoản đã thẩm định sai.

Nghiên cứu, bổ sung quy định về “dừng hoạt động” trong Luật đầu tư, quy định về “kiểm soát đặc biệt” trong Luật phá sản đối với những doanh nghiệp liên tục báo lỗ và mất vốn chủ sở hữu, không đủ tư cách pháp nhân để tiếp tục hoạt động. Chẳng hạn khi doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, lỗ nhiều năm liên tục với số lỗ vượt quá vốn sở hữu dẫn đến không tuân thủ các quy định của pháp luật về chế độ, chính sách đối với người lao động và các nghĩa vụ tài chính khác có liên quan đối với nhà nước, thì có thể phải dừng hoạt động, phải quay trở lại cơ quan cấp giấy phép và nơi đó có thể thu hồi giấy phép kinh doanh; hoặc phải được đưa vào diện “kiểm soát đặc biệt”.

Bổ sung các quy định ràng buộc về quyền được mở rộng kinh doanh trong trường hợp doanh nghiệp thua lỗ gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ thuế và các cam kết khác. Điều này tăng cường hiệu lực kiểm soát những doanh nghiệp liên tục báo lỗ, tình trạng “lỗ giả, lãi thật”, đồng thời góp phần hạn chế đến mức thấp nhất có thể việc doanh nghiệp FDI với điệp khúc lỗ nhiều năm liên tiếp nhưng vẫn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào Luật kiểm toán một số quy định nhằm tăng cường nghĩa vụ pháp lý của cơ quan kiểm toán trong kiểm toán về giá chuyển giao khi kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp FDI. Theo hướng này, cơ quan kiểm toán phải chịu trách nhiệm kết luận kiểm toán liên quan đến chuyển giá trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp FDI.

Thứ sáu, cần xây dựng và quy định cơ chế phối kết hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan ngoại giao, cơ quan quản lý về đầu tư, ngân hàng, thuế, hải quan, công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra...) cũng như các hoạt động có liên quan đến quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI (cấp giấy phép, giám sát các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; quản lý thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; điều tra chuyển giá; xử lý các tranh chấp, gian lận về giá..,) trong hoạt động ứng phó với chuyển giá sao cho vừa nâng cao được hiệu quả quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, vừa chống thất thu ngân sách nhà nước.

Thứ bảy, cần ban hành quy chế xử phạt riêng cho các trường hợp phát hiện hành vi chuyển giá, với mức phạt cao hơn so với hành vi vi phạm hành chính thông thường trong lĩnh vực thuế, coi đây là hành vi vi phạm tương đương với hành vi trốn thuế của người nộp thuế và lớn hơn so với lợi ích mà doanh nghiệp thu được khi thực hiện hành vi chuyển giá để bảo đảm tính răn đe, ngăn ngừa. Tùy theo tính chất, quy mô chuyển giá và những tác động của hành vi này đến môi trường đầu tư, kinh doanh, chính sách thuế của nhà nước và các vấn đề khác về kinh tế - xã hội, có thể gia tăng hình thức phạt, kể cả hình thức hình sự. Việc cụ thể hoá, gia tăng mức phạt và hình thức phạt như kinh nghiệm của Mỹ, Anh, Trung Quốc..., sẽ tạo nên sự công bằng và hiệu quả trong công tác kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm, đồng thời giảm các tiêu cực có thể xảy ra trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Với doanh nghiệp bị phát hiện thực hiện chuyển giá, ngoài tiền phạt, cần xem xét để có thêm các hình phạt bổ sung như xoá bỏ các ưu đãi về thuế và những trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp có thể bị rút giấy phép đầu tư, bị nêu danh trên phương tiện thông tin đại chúng.

Đã xem 199 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành