Thứ tư, 23 Tháng 4 2014 00:00

Kinh nghiệm của một số nước về chế độ tài sản theo thỏa thuận khi kết hôn

1. Tình hình phát triển chế độ tài sản theo thỏa thuận khi kết hôn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới:

Sau ngày giải phóng, thống nhất hai miền, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình 2000 lần lượt được ban hành nhằm khắc phục những nhược điểm và hạn chế của bộ luật trước nhưng quy định về quyền tự do lập hôn ước không được khôi phục lại trong hai văn bản này. Các nhà làm luật đã cho rằng chỉ chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật là hợp pháp và được công nhận, vì vậy mọi thỏa thuận của vợ chồng về khối tài sản của họ đều bị coi là vô hiệu.

Tuy nhiên trong Nghị định số 70 của Chính phủ ngày 3 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 lại có dấu hiệu thừa nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản của họ. Như vậy, mặc dù quy định về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật hôn nhân và gia đình không được duy trì cho đến nay ở nước ta nhưng ý tưởng khôi phục lại nguyên tắc trên đã được bàn bạc và cân nhắc trong thời gian gần đây. Sự cần thiết và tính cấp thiết của việc luật hóa quy định này ở nước ta càng rõ ràng hơn khi mà các nước trong khu vực và hầu hết các quốc gia có nền lập pháp tiên tiến trên thế giới đều đã thừa nhận và áp dụng.

Ở Trung Quốc, trước khi ban hành Luật hôn nhân năm 2001, hôn ước không được công nhận. Theo quy định của luật cũ thì mọi tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu chung theo pháp luật. Tuy nhiên do sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với sự gia tăng của cải cá nhân và mức độ phức tạp ngày càng tăng của vấn đề liên quan đến của cải có được từ quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu đối với cổ phần và phần vốn góp mà việc thay đổi quy định pháp luật trở nên cần thiết hơn.

Hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình ở Nhật Bản về hình thức không giống các quốc gia khác, Nhật Bản có riêng một văn bản pháp luật điều chỉnh về hình thức của hôn ước và vấn đề đăng ký hôn ước. Về nội dung, nội dung của hôn ước được quy định tại điều 755 Bộ luật dân sự Nhật Bản ghi nhận quyền được lập hôn ước của các cặp vợ chồng. Luật cũng quy định, nếu vợ chồng có một thỏa thuận về tài sản mà trong đó quy định khác với chế độ tài sản pháp định thì hôn ước này không được chống lại người thừa kế hàng thứ nhất của vợ hoặc chồng hoặc người thứ ba trừ khi nó được đăng ký trước khi đăng ký kết hôn.

Có thể nói rằng không có một quốc gia nào mà vấn đề lập hôn ước lại trở nên phổ biến như ở Hoa Kỳ. Những người có mức sống cao hoặc những người thừa kế giàu có thường gặp rất nhiều phiền toái với vợ/chồng cũ của mình cũng như luật sư của họ trong suốt thời kỳ giải quyết việc ly hôn. Thêm vào đó, những luật sư làm về luật gia đình khi giải quyết các vụ ly hôn thường có thu nhập rất cao, Hoa Kỳ còn cho phép các cặp vợ chồng lập một thỏa thuận tương tự như hôn ước trong thời kỳ hôn nhân.

Phần lớn các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay đều quy định cả hai chế độ tài sản vợ chồng: theo pháp luật và theo thỏa thuận, tiêu biểu có Hoa Kỳ và PHáp. Trong khi đó, môt số quốc gia xã hội chủ nghĩa như Bulgari, Hungari, Roumani, Tiệp Khắc, Việt Nam, ngoài ra còn có Argentina và một số bang ở Mehico còn duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng. Trong khu vực, Trung Quốc trước đây không có quy định chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, nay cũng đã công nhận chế độ này. Nhật Bản vốn là quốc gia nặng về truyền thống cộng đồng và gia đình cũng đã có quy định về thỏa thuận vợ chồng đối với tài sản. Trên thực tế, việc áp dụng chế độ chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận ở Việt Nam đã được tiến hành trong khoảng thời gian khá dài trước khi đất nước thống nhất. Sau năm 1975, quy định này không còn nữa, chúng ta áp dụng duy nhất chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật cho đến nay.

2. Các quy định cụ thể về chế độ tài sản theo thỏa thuận khi kết hôn ở một số nước trên thế giới:

Các quy định về hình thức thỏa thuận:Có rất nhiều các gọi khác nhau thỏa thuận của vợ chồng liên quan đến tài sản, dù tồn tại dưới tên nào thì nhìn chung hầu hết các quốc gia đều quy định thỏa thuận của vợ chồng phải được viết thành văn bản và có chữ ký của hai bên. Nếu như ở Hoa Kỳ, quyền tự do định đoạt tài sản cá nhân được đề cao nên hôn ước chỉ cần lập thành văn bản và có chữ ký của hai bên thì sẽ có hiệu lực mà không cần bất kỳ một xem xét nào thì ở Trung Quốc điều này vẫn chưa đủ, văn bản đó cần phải được công chứng để có thể phát huy hiệu lực. Tương tự như vậy, hôn ước ở Nhật Bản được xác lập ngay trước khi kết hôn. Việc xác lập hôn ước và hình thức của loại giấy giờ này được tiến hành cùng với thủ tục xin đăng ký kết hôn. Hôn ước được lập phải được đem đến phòng tư pháp nơi có địa chỉ thường trú của bên còn lại có thẩm quyền đối với việc đăng ký kết hôn. Cơ quan này sau đó sẽ cung cấp cho người đó một tờ chứng nhận đăng ký và giấy tờ này sẽ được nộp cùng với những tài liệu như hộ khẩu, giấy tờ chứng minh tình trạng độc thân, giấy tờ chứng minh không phải là người Nhật đối với người nước ngoài để làm thủ tục đăng ký kết hôn. Như vậy, ngoài hình thức văn bản bắt buộc và chữ ký hợp lệ của các bên thì luật pháp các nước còn ràng buộc thêm điều kiện có công chứng viên hoặc được xác nhận bởi cơ quan có thẩm quyền đối với hôn ước. Việc quy định như vậy làm tăng thêm tính chặt chẽ của hôn ước và giúp chúng ta kiểm soát được tính xác thực và tự nguyện của các hôn ước, tránh những xung đột, tranh chấp liên quan đến hôn ước sau này.

Các quy định về nội dung của thỏa thuận: Nhìn chung khi chấp nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, nhà lập pháp thường chỉ quy định chặt chẽ về mặt hình thức, phần nội dung do vợ chồng tự do lựa chọn miễn là không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật các nước vẫn để một số điều khoản quy định nội dung của hôn ước để làm cơ sở cho vợ chồng thực hiện. Không có ràng buộc về mặt thủ tục chặt chẽ như các nước khác nhưng Hoa Kỳ lại có quy định về nội dung rất rõ ràng bao gồm: Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với bất kỳ tài sản của riêng từng người và của chung, thu được hoặc có sẵn; Quyền mua bán, sử dụng, trao đổi, từ bỏ, cho thuê, tiêu thụ, mở rộng và bảo mật trong việc thế chấp, quản lý hoặc kiểm soát tài sản; Định đoạt tài sản khi chia, kết thúc hôn nhân, chết hoặc có sự kiện nào khác; Việc sửa đổi hay loại bỏ hỗ trợ giữa vợ chồng; Sự thể hiện ý chí, niềm tin và các hành động khác để thực hiện các điều khoản của thỏa thuận; Các quyền sở hữu và định đoạt từ bảo hiểm sau khi chết; Lựa chọn luật điều chỉnh việc thỏa thuận hôn ước; Các vấn đề khác bao gồm quyền, nghĩa vụ của cá nhân không vi phạm chính sách công cộng hoặc hình sự. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, phần nội dung không được làm rõ, nhà lập pháp chỉ khuyến khích hai bên làm rõ thời điểm thực hiện, tài sản thuộc sở hữu của bên nào, trong trường hợp phân chia thì phân chia theo tỷ lệ nào và cách thức ra sao.

Pháp là quốc gia có những quy định chặt chẽ cả về hình thức và nội dung. Theo họ, điều này nhằm đảm bảo quyền lợi của người thứ ba, trật tự xã hội cũng như của chính người vợ hoặc người chồng. Pháp luật nước Pháp cho phép vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng. Chế độ cộng đồng động sản và tạo sản về cơ bản gần giống với chế độ tài sản pháp định nhưng cũng có một số điểm khác biệt như vợ chồng có thể thỏa thuận về việc phân chia tài sản không đều nhau, về việc trích khấu tài sản có bồi thường. Chế độ tài sản riêng tương đối được coi là một chế độ tài sản hỗn hợp: tách riêng tài sản trong thời kỳ hôn nhân và cộng đồng tài sản khi chấm dứt hôn nhân. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng thực hiện chế độ tách riêng tài sản, mỗi bên giữ một phần tài sản riêng và quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt. Vợ chồng, có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ riêng bằng tài sản riêng của mình. Tuy nhiên khi chấm dứt hôn nhân, mỗi bên được hưởng một nửa những tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà hiện còn. Ngoài những quy định chung trên, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng là doanh nhân, pháp luật có những yêu cầu mang tính đặc thù đối với việc sản xuất kinh doanh. Có thể thấy, so với quy định của các quốc gia khác, quy định của nước Pháp đơn giản và ít phức tạp hơn. Vợ chồng không phải xác định đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung và việc chuyển hóa tài sản này. Quy định như vậy vừa chặt chẽ, vừa cô đọng, súc tích, vừa giúp vợ chồng tránh được những khó khăn khi soạn thảo hôn ước. Đây thực sự là kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc xây dựng các quy định liên quan đến hôn ước.

Đã xem 787 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành