Thứ sáu, 30 Tháng 11 2018 09:47

Vai trò của kế hoạch hóa kinh tế trong nền kinh tế Nhật Bản

Kế hoạch hoá kinh tế giữ vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế ở Nhật. Bản báo các năm 1965 của Ủy ban Nghiên cứu các vấn đề cơ bản trong kế hoạch hoá kinh tế thuộc Hội đồng Kinh tế (do ông Kazushi Olkawa đứng đầu) đã đưa ra những vai trò quan trọng của kế hoạch hóa kinh tế ở Nhật Bản.

Thứ nhất là vai trò giáo dục và thông tin do dự đoán kinh tế đảm nhiệm. Trong kế hoạch kinh tế chính phủ sẽ trình bày khái quát quan điểm của mình về nền kinh tế, phù hợp với lập trường chính sách kinh tế của nó. Sau đó, các công ty tư nhân có thể lập các kế hoạch dài hạn riêng của mình.

Các công ty tư nhân Nhật Bản tin vào các dự án của chính phủ và dựa vào đó để lập các kế hoạch dài hạn của riêng mình. Điều này không phải vì mối quan hệ chặt chẽ truyền thống giữa chính phủ và xí nghiệp tư nhân, mà là do chính phủ cố gắng tính đến các xu hướng kinh doanh trong quá trình kế hoạch hoá để những dự án cuối cùng được công bố được sự nhất trí chung của các xí nghiệp tư nhân. Để khẳng định điều này, chúng tôi có thể chứng minh rằng tốc độ tăng trưởng dự tính trong các kế hoạch kinh tế là phù hợp với cái gọi là sự hình thành thích hợp các dự tính. Nói cách khác, những dự tính hiện hành cho giai đoạn tiếp sau được hình thành một phần trên cơ sở sự khác nhau giữa những dự tính trước đây và kết quả thực tế. Ví dụ, khi so sánh tốc độ tăng trưởng dự tính và tốc độ tăng trưởng thực tế, chúng ta thấy rằng tốc độ dự tính năm đó ở khoảng giữa tốc độ dự tính trước đây và tốc độ thực tế. Nói cách khác, nếu tốc độ thực tế cao hơn tốc độ dự tính thì tốc độ dự tính tiếp theo cũng sẽ cao hơn tốc độ dự tính trước kia, nhưng lại thấp hơn tốc độ thực tế đạt ở thời kỳ trước. Tuy vậy, hai kế hoạch thông qua trong những năm 1980 lại có những dự tính về tốc độ tăng trưởng không phù hợp với giả thiết nêu trên và thấp xa so với kết quả thực tế. Có nhiều lý do để giải thích sự thay đổi này: (1) quan tâm của nhân dân đã chuyển từ tăng trưởng kinh tế sang các vấn đề xã hội; (2) chính phủ không muốn đưa ra những dự tính tăng trưởng lạc quan mà sẽ làm tăng chi tiêu của chính phủ; (3) người ta tin rằng tốc độ tăng trưởng sẽ giảm xuống do những cú sốc ở nước ngoài như cuộc khủng khoảng dầu mỏ lần thứ hai và việc tăng giá đồng yên.

Vai trò thứ ba có liên quan đến quá trình kế hoạch hoá. Có hai cách để đánh giá lợi ích của kế hoạch hoá kinh tế. Một là căn cứ vào kết quả kinh tế và đánh giá xem liệu kế hoạch hoá kinh tế có thể giúp đỡ để đạt được các kết quả đó không. Thứ hai là đánh giá bản thân quá trình lập kế hoạch. Tầm quan trọng của kế hoạch hoá kinh tế Nhật Bản là ở việc soạn thảo và lập kế hoạch. Thông qua quá trình kế hoạch hoá, tất cả các tác nhân kinh tế, cả công cộng lẫn tư nhân, tạo thành nền kinh tế quốc dân đều có thể chia sẻ cùng một thông tin.

Có ba bước chính để hoàn tất một kế hoạch kinh tế. Thứ nhất, Thủ tướng chính phủ yêu cầu Hội đồng Kinh tế (Keizai Shigikai), Ban cố vấn cho Thủ tướng, soạn thảo một kế hoạch kinh tế mới. Đặc biệt, Thủ tướng chỉ đưa ra mục tiêu chung của kế hoạch, còn các chi tiết sẽ bàn sau. Thứ hai, Hội đồng Kinh tế tiến hành thảo luận các vấn đề kinh tế khác nhau và trình bản dự thảo kế hoạch mới lên chính phủ. Nói chung, quá trình này thường mất khoảng từ vài tháng đến một năm. Hội đồng Kinh tế bao gồm những người hiểu biết và có kinh nghiệm thuộc các lĩnh vực khác nhau như giới học thuật, kinh doanh, lao động, báo chí và quan chức chính phủ. Khi soạn thảo kế hoạch kinh tế, Hội đồng này sẽ chỉ định thêm những thành viên tạm thời. Tổng cộng, có hơn 200 người tham gia vào quá trình soạn thảo. Cuối cùng, khi chính phủ thông qua bản dự thảo thì nó trở thành kế hoạch kinh tế chính thức của chính phủ. Đặc biệt, dự thảo ban đầu được chính phủ thông qua mà không hề sửa đổi.

Một câu hỏi quan trọng phát sinh khi xem xét quá trình này. Đó là, làm thế nào mà một bản dự thảo do Hội đồng Kinh tế, một tổ chức độc lập bao gồm các cá nhân đơn lẻ, lại có thể trở thành kế hoạch dài hạn chính thức của chính phủ? Liệu điều đó có nghĩa là một nhóm tư nhân đã ấn định chương trình quản lý kinh tế dài hạn không? Nếu đúng vậy, thì Hội đồng này có quyền hành to lớn hơn cả chính phủ hoặc Quốc hội. Ở phía khác, có vài người lại cho rằng Hội đồng này chỉ là con rối do chính phủ giật dây.

Để trả lời câu hỏi này cần phải tính đến Cục Kế hoạch Kinh tế, hoạt động như một điều phối viên trong quá trình soạn thảo kế hoạch. Một mặt, Cục này chuẩn bị tư liệu thảo luận cho Hội đồng Kinh tế theo yêu cầu của các thành viên. Mặt khác, Cục này phấn đấu để đạt được sự nhất trí giữa các bộ và cục trong chính phủ.

Khi Cục Kế hoạch Kinh tế phân phát kế hoạch kinh tế dự thảo cho tất cả các bộ và cục, thì nó nhận được hơn một nghìn nhận xét. Những nhận xét này đã được thảo luận và đã đạt được thoả hiệp. Ông Masahiko Aoki (1981) đã giả thiết rằng mỗi một bộ và cục hoạt động như một “người đại diện của một nhóm lợi ích của xã hội trong quá trình soạn thảo kế hoạch .Ông nói rằng các cuộc đàm phán giữa các bộ và cục khác nhau được xem là một kiểu mặc cả ngoài xã hội. Theo kinh nghiệm của tôi, khi tham gia vào quá trình soạn thảo kế hoạch, tôi tin rằng đây là một giả thuyết hợp lý. Chúng ta có thể xem mỗi một thành viên trong Hội đồng Kinh tế là một “đại diện” cũng như là một cá nhân đơn lẻ. Khi kế hoạch “Quản lý kinh tế trong bối cảnh toàn cầu” được vạch ra vào năm 1988, thì Hội đồng Kinh tế gồm có tám đại diện của các ngành (điện, xây dựng, điện tử, thép, may mặc, ô tô, ngân hàng và bảo hiểm), ba đại diện của công đoàn, năm nhà bác học, một thành viên của hội người tiêu dùng, một nhà báo, và tám cựu quan chức chính phủ. Ví dụ, đại diện công đoàn tham gia vào quá trình soạn thảo kế hoạch bằng cách đưa ra những yêu cầu chính sách này sẽ có lợi cho người lao động. Sau khi các chính sách đã được quyết định, giới lao động được thuyết phục chấp thuận dự thảo.

Do đó, khi cuối cùng dự thảo được đệ trình lên chính phủ, thì nội dung của nó đã được tất cả các cơ quan của chính phủ thông qua.

Như vậy, có thể nhìn nhận quá trình kế hoạch hoá kinh tế như một quá trình chia sẻ kinh nghiệm.

Thứ nhất, lập trường chính sách cơ bản của Thủ tướng được công bố qua việc kế hoạch hoá kinh tế. Một trong những vai trò quan trọng nhất của kế hoạch kinh tế là giới thiệu những nhận định kinh tế tầm xa của Thủ tướng. Khi một Thủ tướng mới được bổ nhiệm, ông nhất thiết phải đưa ra những mục tiêu và chính sách kinh tế mới trong kế hoạch kinh tế mới. Thủ tướng Ikeda đã vạch ra “Kế hoạch tăng gấp đôi thu nhập quốc dân”(1960) chính thức bày tỏ quyết tâm của mình thực hiện lời hứa trong chiến dịch tranh cử là tăng gấp đôi tiền lương trung bình trong vòng mười năm. Thủ tướng Sato đưa ra “Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội” vào năm 1967 để thể hiện quan điểm của mình về phát triển xã hội. Cũng như thế, Thủ tướng Okira cũng đưa ra “Kế hoạch bảy năm phát triển kinh tế và xã hội mới” trong năm 1979 để thực hiện “Kế hoạch Thành phố Nông thôn” của mình (Denen Toshi Koso).

Tính khả thi của chương trình nghị sự của mỗi Thủ tướng được Hội đồng Kinh tế và chính phủ xem xét lại thông qua quá trình kế hoạch hoá và chương trình chính sách trọn gói thực tế hơn sẽ được công bố dưới hình thức một kế hoạch kinh tế.

Thứ hai, thông tin được các công ty tư nhân và chính phủ chia xẻ. Trong kế hoạch kinh tế, những dự án kinh tế dài hạn về tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu công nghiệp và tình hình thị trường lao động sẽ được trình bày.

Dĩ nhiên, những dự án trong kế hoạch kinh tế chỉ là những định hướng. Tuy nhiên nhiều người cho rằng, việc đưa ra các định hướng sẽ cải thiện được việc tăng trưởng kinh tế thông qua cái gọi là hiệu ứng thông báo. Kazuo Sato (1990) giải thích hiệu ứng này như sau: khi chính phủ dự đoán một mức tăng trưởng kinh tế nhất định, các công ty tư nhân sẽ tin rằng tốc độ tăng trưởng này sẽ được bảo đảm thông qua việc sử dụng các công cu chính sách. Họ dựa theo dự án này lập ra những mục tiêu riêng của mình. Trong quá trình hoạch định các mục tiêu, tốc độ tăng trưởng dự tính chính thức sẽ được đặt ở mức thấp nhất, và họ cố gắng thực hiện tốt hơn. Do đó, tốc độ tăng trưởng đạt được hoá ra lại cao hơn những dự tính đưa ra trong kế hoạch kinh tế.

Tại sao chính phủ Nhật Bản lại thành công như vậy trong việc chiếm được lòng tin của khu vực tư nhân, để hiểu được mối quan hệ này, trước hết chúng ta cần phải hiểu rất nhiều thông tin được trao đổi giữa chính phủ và các doanh nghiệp tự nhân trước khi vạch ra những định hướng kế hoạch. Khi chúng ta nghĩ về những định hướng này, chúng ta thường coi đó là sản phẩm của chính phủ đơn thuần giao xuống cho các doanh nghiệp tư nhân. Nhưng quan niệm như vậy là không đúng. Có một luồng thông tin hai chiều giữa chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân và một thái độ cho và nhận ở cả hai bên. Chính phủ cố gắng thu thập thông tin về thực trạng của mỗi ngành công nghiệp, và giới kinh doanh tư nhân thì cố gắng hiểu các điều kiện kinh tế vĩ mô. Vì vậy khi các định hướng cuối cùng đã được định hình, thì giới kinh doanh tư nhân đã hiểu rõ hướng phát triển chủ yếu của các định hướng.

Chúng ta cũng cần phải nhớ lại rằng chính phủ Nhật Bản đã duy trì cái được gọi là chính sách kinh tế hợp thời bằng cách đưa các cam kết chính sách dài hạn vào kế hoạch kinh tế. Blan-lớt và Phi-sơ (1989) cho rằng một chính phủ hứa cam kết lâu dài thực hiện các chính sách sẽ mang lại kết quả tốt đẹp hơn một chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế từ quan điểm ngắn hạn. Việc chia sẻ thông tin và chính sách kinh tế hợp thời sẽ tạo ra lòng tin của khu vực tư nhân vào việc quản lý kinh tế của chính phủ, những ước tính dài hạn, ổn định và cũng như thái độ tiết kiệm và đầu tư hướng vào viễn cảnh dài hạn.

Tóm lại, kế hoạch hoá kinh tế Nhật Bản đã đóng góp vào việc phát triển kinh tế thắng lợi thời kỳ sau chiến tranh. Không hẳn kế hoạch hoá kinh tế đã là nhân tố chính trong thành công kinh tế ở Nhật Bản. Tuy nhiên, kế hoạch hoá kinh tế đã có tác dụng như một khuôn khổ thể chế quan trọng để quản lý nền kinh tế quốc dân theo cách sau.

Thứ nhất, nó đã đưa ra các thông tin kinh tế quan trọng như những dự án kinh tế dài hạn và xu hướng tương lai của các chính sách kinh tế. Thứ hai, trong quá trình kế hoạch hoá, các bên khác nhau cùng chia xẻ thông tin kinh tế và việc mặc cả xã hội đã được thực hiện một cách có hiệu quả. Việc chia xẻ thông tin như vậy đã củng cố lòng tin vào chính phủ và các chính sách của nó.

Vấn đề nữa là liệu kinh nghiệm kế hoạch hoá kinh tế của Nhật Bản có thích hợp với các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây không. Đương nhiên, chính phủ và nhân dân của mỗi nước cần phải phát triển một hệ thống quản lý kinh tế thích hợp với giai đoạn phát triển kinh tế của nước họ.

Ở đây, chỉ có thể nói rằng về việc chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường, thì kinh nghiệm của Nhật Bản từ năm 1945 đến năm 1955 có thể có tính chất gợi ý. Trong suốt thời kỳ đầu sau chiến tranh, chính phủ Nhật đã cố gắng kiểm soát trực tiếp cung cầu các nguyên vật liệu quan trọng. Đồng thời nó cố gắng làm cho nhân dân hiểu được các điều kiện kinh tế bằng cách cung cấp những thông tin chi tiết.

Để xây dựng một hệ thống quản lý kinh tế có hiệu quả sau giai đoạn chuyển dịch, kinh nghiệm của Nhật Bản sau năm 1955 cũng có thể là tham khảo bổ ích. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy rằng kế hoạch hoá kinh tế chỉ có vai trò hạn chế trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nó có thể hoạt động một cách có hiệu quả như một khuôn khổ thể chế quan trọng gắn chính phủ với các cơ sở kinh tế tư nhân.

Đã xem 22 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành