Thứ năm, 24 Tháng 4 2014 00:00

Tổng quan về độc lập tư pháp

1. Tổng quan về độc lập tư pháp:

Quan niệm:

Độc lập tư pháp là một khái niệm phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố như vị thế của tư pháp và thẩm phán, môi trường, cơ chế để tư pháp và thẩm phán hoạt động, các cơ chế chính thức bổ nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán. Trong đó, mối quan hệ giữa các yếu tố này cũng có những tác động ảnh hưởng đến tính độc lập của tòa án.

Độc lập tư pháp bao gồm độc lập của cả hệ thống và độc lập của cá nhân thẩm phán không chịu sự can thiệp từ các thiết chế, cá nhân khác. Sự độc lập của cả hệ thống tư pháp tập trung vào các vấn đề như mức độ, phạm vi mà tư pháp được kiểm soát các hoạt động bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt cũng như vận hành hệ thống tòa án.

Ý nghĩa của tư pháp độc lập:

Sự độc lập của tư pháp đòi hỏi sự áp dụng và giải thích luật bình đẳng và không thiên vị; yêu cầu thiết yếu cho việc thực thi các điều khoản về con người cũng như các đảm bảo khác của Hiến pháp; tăng cường khả năng của tư pháp tham gia một cách độc lập và có ý nghĩa vào việc giải quyết các tranh chấp vào quá trình kiểm hiến.

Ở nhiều nước, độc lập của tư pháp được coi trọng để ngành này có thể đảm bảo quyền cá nhân của công dân, bảo vệ những người có ý kiến thiểu số, bảo đảm rằng tư pháp có khả năng phán xét công bằng mọi tranh chấp trong xã hội không phân biệt ý kiến thuộc ý chí của đa số hay thiểu số. Ở các nước, nhiều khi các tòa án, nhất là Tòa án tối cao, Tòa án hiến pháp mặc dù gặp phải sự phản đối gay gắt nhưng đã đưa ra những phán quyết ngược lại với quan niệm thịnh hành của cả xã hội, quan điểm chung của các nhà chính trị tại thời điểm đó.

2. Các yếu tố của độc lập tư pháp:

Lựa chọn thẩm phán:

Những người được lựa chọn làm thẩm phán phải là các cá nhân liêm khiết, được đào tạo chuyên sâu về luật pháp. Việc bổ nhiệm thẩm phán không được thực hiện với những động cơ không chính đáng và không được mang tính chất phân biệt đối xử dựa trên bất kỳ yếu tố nào, trừ một yêu cầu thẩm phán phải là công dân của quốc gia có liên quan.

Để đảm bảo tính độc lập, ở các nước, quy trình lựa chọn thẩm phán thường được thực hiện thông quan một phương thức hoặc kết hợp nhiều phương thức với nhau. Đó có thể là do hành pháp bổ nhiệ thẩm phán; do lập pháp thực hiện việc lựa chọn; do cơ quan độc lập thực hiện hoặc do cơ quan tư pháp lựa chọn. Tuy nhiên cũng có những nước kết hợp nhiều các với nhau. Bầu cử là phương thức thường được áp dụng để lựa chọn các thẩm phán không phải là luật gia, ví dụ trong các tòa án lao động hoặc thương mại.

Phần lớn các Hiến pháp trao quyền bổ nhiệm thẩm phán cho các nhánh chính trị mà thường là Tổng thống hay Thủ tướng nhưng hiếm khi Hiến pháp cho phép Tổng thống hay Thủ tướng quyền quyết định này mà không có sự ủng hộ, đề xuất hay phê chuẩn của một nhánh quyền lực khác. Tại một số quốc gia khác, lập pháp có nhiều kiểm soát hơn đối với việc bổ nhiệm thẩm phán.

Bằng việc trao quyền lựa chọn thẩm phán cho nhiều chủ thể, hiến pháp có thể làm giảm thiểu rủi ro rằng bất cứ cá nhân nào cũng có thể có ảnh hưởng quá nhiều đối với sự phát triển của luật. Một hệ thống như vậy cũng có thể loại bỏ những thẩm phán có ý thức hệ quá cực đoan, bởi phần lớn các ứng cử viên được lựa chọn sau khi đã đạt được thỏa hiệp thông quan thương lượng chính trị.

Nhiệm kỳ thẩm phán:

Thẩm phán dù được bổ nhiệm hay bầu ra đều phải được đảm bảo thời gian làm việc cho đến tuổi về hưu hay hết nhiệm kỳ quy định. Thẩm phán cũng phải được đảm bảo các điều kiện về tính độc lập, an ninh, được trả thù lao thích đáng và được hưởng các chế độ bảo hiểm và bạo trợ xã hội. Việc đề bạt thẩm phán phải dựa vào những yếu tố khách quan về năng lực, tính liêm khiết và kinh nghiệm. Việc phân công thẩm phán xét xử các vụ việc phải là vấn đề nội bộ trong quản lý của các tòa án.

Ở nhiều nước, để đảm bảo được tính pháp lý cho sự độc lập của tư pháp, pháp luật đã quy định về nhiệm kỳ của thẩm phán theo hướng nhiệm kỳ suốt đời. Trong khi đó, có những nước lại có những quy định khác về độ tuổi nghỉ hưu. Theo cách quy định này, các quốc gia cho rằng sẽ loại bỏ được sự lo lắng của thẩm phán về việc tái bổ nhiệm. Cũng có những nước có quy định về nhiệm kỳ dài hạn 10 - 12 năm hoặc quy định về nhiệm kỳ khởi đầu ngắn và sau đó nhiệm kỳ tiếp theo kéo dài suốt đời.

Mỗi cách thức đều có những ưu, nhược điểm riêng. Mặc dù quy định thẩm phán có nhiệm kỳ dài sẽ tăng cường sự độc lập của tư pháp, nó cũng có thể làm suy yếu tính chịu trách nhiệm giải trình của tư pháp đối với cả các nhánh quyền lực khác và với cử tri. Một nhiệm kỳ ngắn và chế độ tái bổ nhiệm hiển nhiện có hiệu ứng trái ngược, thẩm phán sẽ cần phải công tác có hiệu quả để giữ công việc của mình.

Bãi nhiệm, thuyên chuyển thẩm phán:

Việc kỷ luật, bãi nhiệm thẩm phán sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến sự độc lập của tòa án. Nếu quy trình kỷ luật thẩm phán vận hành đúng, nó sẽ đảm bảo sự liêm chính và sự độc lập của tư pháp, tuy nhiên nếu không đúng quy trình, tính độc lập sẽ bị ảnh hưởng nhiều. Để duy trì việc áp dụng pháp luật khách quan và không thiên vị, thẩm phán phải không bị ảnh hưởng bởi khả năng bị bãi nhiệm hoặc thuyên chuyển tùy tiện.

Cũng cần có quy định một cách rõ ràng những trường hợp thẩm phán có thể bị bãi nhiệm. Quá trình kỷ luật, bãi nhiệm thẩm phán cũng phải minh bạch. Đặc biệt, không một nhánh quyền lực nhà nước được có thẩm quyền quá nhiều trong việc bãi nhiệm này. Ngoài ra, để hạn chế sự bãi nhiệm tùy tiện, ở các nước còn có quy định trao quyền giám sát quá trình đó cho một cơ quan độc lập và tạo ra những sự bảo vệ mang tính miễn trừ. Những điều khoản trao quyền miễn trừ cho thẩm phán khi họ hành động trong phạm vi thẩm quyền của mình cũng đồng thời nhắm tới việc ủng hộ quá trình ra quyết định độc lập của tư pháp.

Quản lý hành chính, bảo đảm ngân sách:

Quản lý hành chính đối với tòa án có mối quan hệ chặt chẽ với sự độc lập tư pháp, vì nó ảnh hưởng đến công việc hằng ngày của thẩm phán. Thông thường có hai kênh quản lý hành chính là kênh nội bộ và kênh bên ngoài. Trong nội bộ hệ thống tòa án nhiều nước có hệ thống thứ bậc rõ ràng nên thường xảy ra mâu thuẫn giữa các thẩm phán cấp thấp hơn với cấp cao hơn. Các thẩm phán cho rằng sự độc lập của tư pháp cộng với vị thế của một thẩm phán chuyên nghiệp giữ chức danh công, họ không phải chịu sự phân công nhiệm vụ hay mệnh lệnh của ai cả. Tuy nhiên thứ bậc trong nội bộ hệ thống tòa án là một thực tế không thể chối bỏ, khi thẩm phán cấp cao hơn có vai trò quản lý.

Trong mối quan hệ với các thiết chế công khác, tinh thần độc lập tư pháp thể hiện rõ nhất ở chỗ không được can thiệp vào công việc của tòa án, của thẩm phán nhất là việc xét xử của thẩm phán. Thẩm phán xét xử dựa trên chứng cứ, khách quan, không phải tuân theo mệnh lệnh hay ý chí của bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào khác.

Đã xem 517 lần

Đăng ký nhận email

Đăng ký email để có thể có được những cập nhật mới nhất về tải liệu được đăng tải trên website

Tập san đã phát hành